1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC Ở TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY

110 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 763,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giá trị văn hóa của lễ hội trong đời sống cộng đồng 20 Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN 2.1.. Lễ hội biểu đạt những sáng

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

VÕ THANH XUÂN

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA

CỦA LỄ HỘI ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC

Ở TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY

Chuyên ngành : Văn hóa học

Mã số : 60 31 06 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ TRUNG KIÊN

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ

Võ Thanh Xuân

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ BẢO

TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỄ HỘI Ở TỈNH

1.1 Một số khái niệm cơ bản về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 11 1.2 Giá trị văn hóa của lễ hội trong đời sống cộng đồng 20

Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ

VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN

2.1 Sự ra đời của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực 35 2.2 Các giá trị văn hóa của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung

2.3 Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội Anh hùng dân tộc

Chương 3: XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA LỄ HỘI VÀ KIẾN NGHỊ

NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC Ở TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY 68 3.1 Xu hướng vận động của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực 68 3.2 Những vấn đề đặt ra trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn

hóa lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực 72

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

WON : Đơn vị tiền tệ Hàn Quốc

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền văn hóa Việt Nam tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống lâu đời của ông cha ta Ngoài ý nghĩa góp phần tạo nên sự cố kết cộng đồng, hướng về cội nguồn giúp cân bằng đời sống tâm linh đồng thời hàm chứa trong đó nhiều giá trị văn hóa truyền thống mà nổi bật

là giá trị giáo dục đạo đức, giáo dục truyền thống yêu nước cho nhân dân ta

Khắp các địa phương trong cả nước ta thấy ở mỗi gia đình đều có bàn thờ tổ tiên, dòng họ có nhà thờ họ, cộng đồng làng thì thờ thành hoàng Thành hoàng chính là vị thần cai quản che chở cho cả làng thường là người có công khai phá lập nghiệp cho dân làng, hoặc các Anh hùng dân tộc đã sinh hay mất

ở làng Với quan niệm “sinh vi tướng, tử vi thần” dân ta luôn trân trọng, biết

ơn những người đã xả thân vì dân vì nước Những phong tục thờ cúng đó trở thành lễ hội và lễ hội đó đã trở thành một trong những biểu tượng văn hóa của cộng đồng

Hàng năm, trên đất nước ta có hàng ngàn lễ hội được tổ chức với nhiều hình thức và quy mô khác nhau Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng nhưng bao giờ cũng là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần đặc biệt mang tính tập thể, cố kết cộng đồng dân tộc, giáo dục đạo đức con người hướng về cội nguồn, hướng về cái cao cả thiêng liêng của dân tộc

Lễ hội không chỉ là một không gian, một thời điểm, một hoạt động để các thành viên được thỏa mãn nhu cầu cộng sinh mà còn là một thành tố cấu thành nên bản sắc văn hóa của một cộng đồng Trong lễ hội nhiều hoạt động mang đậm nét truyền thống với phần lễ nhiều ý nghĩa và phần hội với các hoạt động đa dạng, phong phú đã tạo nên tính đặc thù của văn hóa cộng đồng

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần bắt nguồn và phát triển từ thực tiễn hoạt động của đời sống xã hội, sự giao lưu, tiếp biến của văn hóa cộng đồng Lễ hội là môi trường thuận lợi mà ở đó các yếu tố văn hoá truyền thống được bảo tồn và phát triển Những yếu tố văn hoá truyền thống

Trang 6

đó không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, vận hành cùng tiến trình phát triển lịch sử của mỗi địa phương trong lịch sử chung của đất nước Nó chính là hệ quả của cả quá trình lịch sử không chỉ một cộng đồng người Đây chính là tinh hoa được đúc rút, kiểm chứng và hoàn thiện trong chiều dài lịch sử của bất cứ một cộng đồng cư dân nào Lễ hội có sức lôi cuốn, hấp dẫn và trở thành nhu cầu, khát vọng của người dân cần được đáp ứng và thỏa nguyện qua mọi thời đại Bản chất của lễ hội là sự tổng hợp và khái quát cao đời sống vật chất, tinh thần trong xã hội ở từng giai đoạn của lịch sử Lễ hội biểu đạt những sáng tạo văn hóa được tích lũy và trao truyền qua nhiều thế hệ, in dấu trong các nghi lễ, nghi thức tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn chương nghệ thuật, lễ phục, ẩm thực, cúng tế, trò chơi, trò diển dân gian…

Lễ hội đáp ứng nhu cầu một cách hiện thực, hiệu quả đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trong tổ chức các nghi lễ và hưởng thụ các hoạt động hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các vùng miền, dân tộc; đồng thời là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, là hình thức giáo dục, tri ân công đức các Anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước đấu tranh giải phóng dân tộc Nó là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần của nhân dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Chính vì thế lễ hội góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Đối với tỉnh Kiên Giang, ngoài các giá trị nêu trên lễ hội còn trở thành một nguồn lực quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện hữu hiệu để quảng bá, giới thiệu văn hóa, vùng đất con người Kiên Giang, tạo nên thương hiệu du lịch đến đông đảo nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế

Kiên Giang là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở phía Tây Nam của Việt Nam Với diện tích tự nhiên 6.346 km2 Dân số 1.683.149 người Là tỉnh có địa hình đồng bằng, rừng núi, biển và hải đảo Kiên Giang được nhiều người biết đến là vùng đất với nhiều danh lam thắng cảnh và địa

Trang 7

danh lịch sử như: Hà Tiên, Phú Quốc, vườn Quốc Gia U Minh Thượng, di tích nhà tù Phú Quốc…Toàn tỉnh hiện có 360 cơ sở thờ tự, 43 danh thắng - di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng Theo thống kê, hiện nay trên địa bàn tỉnh Kiên Giang có 389 lễ hội trong đó có 235 lễ hội tôn giáo, 31 lễ hội dân gian,

62 lễ hội lịch sử cách mạng và một số lễ hội khác Đặc biệt hàng năm, cứ vào ngày 26, 27 và 28 tháng 8 âm lịch, lễ hội truyền thống kỷ niệm ngày hy sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực được tổ chức trang trọng nhằm tri

ân và tôn vinh đức tài, chiến công của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước và tinh thần quật cường chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng dân gian của nhân dân; đồng thời là dịp để bà con nhân dân trong và ngoài tỉnh tham gia các hoạt động giao lưu văn hóa, tăng cường tình đoàn kết gắn bó của các dân tộc sinh sống trong cộng đồng, giới thiệu, quảng bá tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực đã có sức lan tỏa ngày càng rộng, mỗi năm số lượt người dự lễ hội ngày càng tăng; nếu năm 2005 có 400 ngàn người tham gia lễ hội đến năm 2012 có hơn 800 ngàn lượt người tham gia lễ hội [106] Nét độc đáo mỗi khi nói đến lễ hội Nguyễn Trung Trực hàng năm là trước ngày chính thức diễn ra lễ hội, người dân khắp nơi về đây để làm công quả, chung tay sửa sang đình thờ, dựng trại, đắp lò nấu cơm đãi ăn miễn phí cho tất cả du khách đến tham gia

lễ hội bằng tấm lòng tôn kính, thành tâm chăm lo ngày giỗ của Cụ Nguyễn Chỉ nhìn vào nguồn thực phẩm đem dâng cúng, kinh phí đóng góp của các

tổ chức, cá nhân mới thấy sức đóng góp của người dân rất lớn Điều đáng nói trong lễ hội Anh hùng Nguyễn Trung Trực là tinh thần của những người tham dự lễ hội Dân cư khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long về

dự lễ hội như là trở về gia đình mình, làm giỗ ông bà mình Vì thế, tính cộng cảm, cộng mệnh, cộng sinh được thể hiện rất rõ nét trong lễ hội này Đây là lễ hội mang tính cộng đồng rất cao và là nét đẹp văn hóa vô cùng độc đáo ở tỉnh Kiên Giang hiện nay

Trang 8

Tuy hàng năm lễ hội thu hút lượng khách rất lớn nhưng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn và quy mô tổ chức chưa tương xứng, độc đáo, hấp dẫn du khách đến với Kiên Giang Phần nội dung tuy được cải tiến đổi mới, nhưng phần hội vẫn còn mang tính hình thức, rập khuôn gây nhàm chán cho người dự lễ Các trò chơi dân gian còn hạn chế làm cho nét đẹp văn hóa truyền thống vốn có của các dân tộc đang dần bị mai một Việc tuyên truyền, vận động người dân tham gia lễ hội, thực hiện quy định của lễ hội còn hạn chế Từ đó chưa thấy được mình cần phải làm gì để hưởng lợi bền vững khi biết cách giữ gìn bản sắc văn hóa, môi trường sinh thái và có trách nhiệm, hành vi văn minh Tình trạng mua bán lấn chiếm vỉa hè, lòng lề đường, giữ gìn an ninh trật tự, mua bán lưu hành ấn phẩm văn hóa không được phép xuất bản…vẫn còn xảy ra tại lễ hội

Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI viết:

Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về

sở hữu trí tuệ, về bảo tồn phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể

và phi vật thể của dân tộc Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa, văn nghệ, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hóa trong công chúng đặc biệt là thế hệ trẻ

và người nước ngoài Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa [28, tr.225]

Trong bối cảnh ấy, nghiên cứu việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa lễ hội Anh hùng Nguyễn Trung Trực nhằm giới thiệu, quảng bá rộng rãi hơn về cuộc đời, thân thế và sự nghiệp cũng như giá trị của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực là một việc làm có tính cấp thiết về lý luận và thực tiễn

Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang hiện nay”

làm luận văn tốt nghiệp bậc cao học ngành Văn hóa học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội đã được rất nhiều học giả từ xưa đến nay nghiên cứu và giới thiệu dưới nhiều phương

Trang 9

pháp, mục đích và góc độ khác nhau Trong những năm gần đây và đặc biệt

kể từ khi Nghị quyết TW 5 khóa VIII ra đời Đảng và Nhà nước đã quan tâm sâu sắc đến việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống thì ngày càng có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lễ hội, ý nghĩa và giá trị trong lễ hội được công bố

Có thể đếm được một khối lượng khổng lồ hàng ngàn đầu sách, bài báo, chuyên đề khoa học, nhiều góc độ tiếp cận khác nhau về vấn đề này như:

Việt Nam văn hóa sử cương của tác giả Đào Duy Anh, Lễ hội truyền thống và hiện đại của tác giả Thu Linh - Đặng Văn Lung, Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, của các tác giả GS Đinh Gia Khánh - GS.PTS Lê

Hữu Tầng…, Đình miếu và lễ hội dân gian của tác giả Sơn Nam, 60 lễ hội

truyền thống Việt Nam của tác giả Thạch Phương - Lê Trung Vũ, Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian của tác giả Hoàng Nam, Văn hóa ẩm thực trong

lễ hội truyền thống Việt Nam của TS Nguyễn Quang Lê… Trong quá trình

miêu tả các lễ hội, đi sâu giải mã về tín ngưỡng, tâm linh, các tác giả đã nghiên cứu về các hoạt động văn hóa trong lễ hội tạo nên một nét đẹp đa dạng phong phú giàu tính nhân văn sâu sắc

Đối với đề tài nghiên cứu lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

ở Tỉnh Kiên Giang hiện nay chưa có nhiều Chỉ có thể tìm thấy hình ảnh của cuộc khởi nghĩa và thủ lĩnh Nguyễn Trung Trực qua một số thư tịch và các công trình nghiên cứu chủ yếu sau:

Lịch sử 80 năm chống Pháp của Trần Huy Liệu (2003), Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội Tác giả nghiên cứu lịch sử đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam từ năm 1858 đến khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập Dựa vào tài liệu này tác giả có thể tìm hiểu bối cảnh lịch sử đất nước ở thế kỉ XIX, đặc điểm của các cuộc khởi nghĩa chống xâm lược trong đó có khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực

Đại cương lịch sử Việt Nam - tập II, Đinh Xuân Lâm (Chủ biên)

(2006), Nxb Giáo dục Ở chương I - Phần Một các tác giả đã nghiên cứu lịch

Trang 10

sử Việt Nam từ 1858 - 1896 Ở tài liệu này quá trình đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp được miêu tả một cách khá chi tiết Nhưng cuộc kháng chiến của Nguyễn Trung Trực không được đề cập nhiều

Ở lĩnh vực nghiên cứu về thân thế cũng như sự nghiệp về Anh hùng Nguyễn Trung Trực có thể kể đến những tác phẩm của Nhà giáo Lê Quang Khai (bút danh Vĩnh Xuyên) ở Kiên Giang Đó là:

Nguyễn Trung Trực (thân thế và sự nghiệp), Nxb Mũi Cà Mau, 2000 và Nguyễn Trung Trực - Cuộc đời và sự nghiệp, Nxb Văn nghệ, TP HCM, 2008

Cả hai tài liệu này cơ bản về nội dung nghiên cứu là giống nhau Tác giả đã giới thiệu về tiểu sử, gia phả, sự nghiệp cũng như một số truyền thuyết được người dân địa phương truyền miệng về Nguyễn Trung Trực một cách khá chi tiết Đây là nguồn tài liệu rất có giá trị cho những người muốn nghiên cứu về Anh hùng Nguyễn Trung Trực

Nguyễn Trung Trực (diễn ca), Nxb Mũi Cà Mau, 2000 Trong đó tác

giả miêu tả lại tất cả cuộc đời, sự nghiệp, những địa danh, nhân vật cũng như những sự kiện lịch sử có liên quan đến Nguyễn Trung Trực Đây là quyển sách mà tác giả Vĩnh Xuyên thể hiện lịch sử thông qua thơ ca, bằng cách này lịch sử được tái hiện một cách dễ đọc, dễ hiểu dễ nhớ nhưng vẫn đảm bảo được sự thật lịch sử

Tuy nhiên, ở các tác phẩm này, tác giả chưa đi sâu vào nghiên cứu chi tiết cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực ở các nơi khác mà chủ yếu là miêu tả lại hai chiến thắng tiêu biểu của Nguyễn Trung Trực là đốt tàu giặc trên sông Nhật Tảo và đánh chiếm đồn Rạch Giá

Nguyễn Trung Trực - Anh hùng kháng chiến chống Pháp của Giang

Minh Đoán (1991) viết trong quá trình sưu tập tài 1iệu, đi khảo cứu một số đình, đền, các di tích thờ phụng cụ Nguyễn trên đất Rạch Giá - Hà Tiên cũ, cùng những chuyện ghi chép được từ các kỳ lão - Nxb TP.HCM Tác giả cũng trình bày về tiểu sử, chiến công của cụ Nguyễn

Công trình Tìm hiểu Kiên Giang của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh

Kiên Giang do Dương Tấn Phát chủ biên (1986) Đây là nguồn tài liệu rất quí

Trang 11

cho những người muốn nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Kiên Giang trên tất cả các lĩnh vực Trong đó, tài liệu cũng có một phần trình bày về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực tại Kiên Giang cũng như sự thờ cúng Ông ở địa phương

Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nguyễn Trung Trực do Bảo tàng Kiên Giang

tổ chức (1989) Tham dự hội thảo có các nhà nghiên cứu, các nhà sử học, khoa học và những người quan tâm đến cuộc đời và sự nghiệp của Anh hùng Nguyễn Trung Trực Tuy nhiên, trong tham luận của những người tham dự hội thảo, có những ý kiến khác nhau về một vấn đề chẳng hạn về tiểu sử, quê hương, hoạt động đây là nguồn tư liệu rất có giá trị trong việc nghiên cứu sâu hơn về Nguyễn Trung Trực và cuộc kháng chiến của Ông ở miền Tây Nam bộ

Bản thảo kỷ yếu hội thảo về Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (2009) với nhiều ý kiến đề xuất phát huy vai trò của lễ hội đối với đời sống người dân Kiên Giang nhằm xây dựng lễ hội trở thành lễ hội tiêu biểu của cả nước

Tất cả các công trình kể trên chỉ có thể tham khảo để tìm hiểu về thân thế và cuộc đời sự nghiệp của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực Chưa có công trình nào nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Phân tích thực trạng vấn đề khai thác, bảo tồn giá trị văn hóa trong lễ hội này

Trang 12

- Đề xuất một số giải pháp mang tính tổng thể, đồng bộ, thiết thực, góp phần bảo tồn phát huy vốn văn hóa trong lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang hiện nay

Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa - xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét đánh giá giá trị văn hóa của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang

Phương pháp cụ thể: Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành như: văn hóa học, dân tộc học, xã hội học, quản lý văn hóa; phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp nghiên cứu tư liệu,

Để thực hiện luận văn này, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp: Phương pháp tổng hợp nhiều nguồn tài liệu, thư tịch của Pháp, các tác giả Việt Nam là những nhà sử học theo phương pháp luận Mácxit, hay các

Trang 13

nhà sử học Miền Nam dưới nhiều góc độ khác Phương pháp đối chiếu, so sánh giữa các nguồn tư liệu, từ đó tiếp tục phân tích rút ra nhận thức Phương pháp điền dã, nghiên cứu trên thực địa, thu thập tư liệu, phương pháp phỏng vấn chuyên sâu

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên giới thiệu một cách có hệ thống đầy đủ giá trị văn hóa của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực; những đề xuất trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

Thông qua luận văn nhằm bổ sung thêm những luận cứ khoa học góp phần minh chứng được tính phong phú, đặc sắc của văn hóa lễ hội dân gian của từng vùng miền ở nước ta;

Kết quả đề tài nghiên cứu là kênh tham khảo giúp cho nhân dân địa phương hiểu đúng nội dung, ý nghĩa, giá trị văn hóa, lịch sử qua các hoạt động và tính cộng đồng trong lễ hội ở địa phương mình, qua đó nâng cao tính đoàn kết, cố kết cộng đồng, tình yêu quê hương, góp phần vào việc giáo dục truyền thống yêu nước, tính năng động sáng tạo, giữ gìn nếp sống văn hóa trong lễ hội hôm nay Dự báo xu hướng vận động và phát triển của lễ hội nhằm đưa ra những kiến nghị góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

Làm tài liệu tham khảo cho những tác giả quan tâm đến lĩnh vực văn hóa lễ hội ở tỉnh Kiên Giang, cũng như giá trị, vai trò của tinh thần gắn kết cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn làm rõ các giá trị văn hóa của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội

Thông qua nội dung của luận văn, người đọc sẽ tìm hiểu được một số giá trị văn hóa tiêu biểu của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực Những xu hướng, dự báo, đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá

Trang 14

trị văn hóa của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực góp phần giữ gìn giá trị di sản văn hóa của tỉnh Từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Kiên Giang một cách bền vững

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

nội dung của luận văn gồm 3 chương, 11 tiết

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN

VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỄ HỘI

Ở TỈNH KIÊN GIANG

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA

1.1.1 Văn hóa và di sản văn hóa

Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu tồn tại và phát triển Do cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu trên từng lĩnh vực khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau về Văn hóa Hiện nay trên thế giới có hàng trăm định nghĩa về văn hóa Năm

1982, Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của liên hiệp quốc (UNESCO) đã tổ chức Hội nghị về văn hóa ở Mexico và đã đưa ra một định nghĩa chung nhất về văn hóa:

Văn hóa theo nghĩa chung nhất là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng [97] Trong mục đọc sách ở phần cuối tập Nhật ký trong tù (1942-1943), Hồ Chí Minh đã viết:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [60, tr.431]

Trang 16

Như vậy, nói đến văn hóa bao gồm cả vật chất và tinh thần Văn hóa vật chất là toàn bộ sản phẩm vật chất mà con người sáng tạo ra như các công trình điêu khắc, kiến trúc; công cụ lao động sản xuất và sinh hoạt; thức ăn, trang sức, các phương tiện vận chuyển…các sản phẩm văn hóa ở dạng vật chất ấy gọi là văn hóa vật thể

Văn hóa tinh thần là toàn bộ các sản phẩm do con người sáng tạo ra như: văn học và nghệ thuật, các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo… đây chính là dạng văn hóa phi vật chất còn gọi là văn hóa phi vật thể

Luật di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 xác định: di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [71, tr.32]

Đề cập đến vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, nghị quyết trung ương 5 khóa 8 cho rằng: di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu vǎn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng, bao gồm cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng

những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại

Trong những năm gần đây, vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa được đặc biệt quan tâm Đảng và Nhà nước đã xác định di sản văn hóa Việt Nam chính là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta

Khi đề cập đến một nền văn hóa, người ta thường quan tâm đến những giá trị đặc sắc của nền văn hóa đó Hay nói cách khác là bản sắc và giá trị của

nó tạo nên sự khác biệt giữa nền văn hóa này với nền văn hóa khác, giữa dân tộc này với dân tộc khác

Trang 17

Trong những giá trị đó thì di sản văn hóa có sự lan tỏa và thu hút đặc biệt sự quan tâm của cộng đồng Bởi vì nó chính là toàn bộ quá trình lao động, sáng tạo của các thế hệ đi trước để lại Trong di sản văn hóa được chia

ra là di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể:

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diển và hình thức khác

Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, bảo vật quốc gia [70, tr.33]

Mặc dù được phân chia thành hai loại: văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể nhưng 2 loại này luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ và gắn bó mật thiết lẫn nhau

Vì vậy, trong công tác bảo tồn các di sản văn hóa cần phải tiến hành một cách song song thì mới mang lại giá trị thiết thực

PGS.TS Đặng Văn Bài trong vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống cho rằng: Nhận diện di sản văn hóa là tiền đề khoa học cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội Từ góc độ di sản văn hóa có thể khẳng định, lễ hội - một yếu tố văn hóa phi vật thể đã và đang có những đóng góp quan trọng vào việc tạo lập, duy trì và phát huy “sức mạnh tinh thần Đại Việt”, với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và với lòng tự tôn dân tộc, ý thức liên kết cộng đồng…

1.1.2 Quan niệm về bảo tồn

Theo từ điển tiếng Việt: “bảo tồn” là “giữ lại không để cho mất đi” [94, tr.261] Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó, bảo tồn là không để mai một không để thay đổi, biến hóa hay biến thái

Quan niệm của GS.TS Trần Ngọc Thêm thì: Bảo tồn chính là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại,

Trang 18

hay nói cách khác bảo tồn có nghĩa là bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm xuống cấp của kết cấu đó [79, tr.289]

Đề cập đến vấn đề này, GS.TS Ngô Đức Thịnh quan niệm bảo tồn là những nổ lực nhằm gìn giữ các giá trị, bản sắc văn hóa tốt đẹp vốn có (truyền thống) của mỗi dân tộc, quốc gia [84, tr.252]

Khi con người hiểu được những tác động trong cuộc sống sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình tồn tại của các giá trị văn hóa thì họ đã nghĩ đến việc bảo tồn Do đó, trong tiến trình lịch sử, hoạt động bảo tồn di sản văn hóa xuất hiện ngay từ khi con người ý thức được giá trị của di sản văn hóa trong đời sống, đồng thời hiểu được mối nguy hại do tác động của thiên nhiên và chính con người gây ra, họ đã không ngừng tìm kiếm các biện pháp bảo tồn

Công tác bảo tồn di sản văn hóa có nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm các hoạt động như: bảo tồn nguyên trạng, trùng tu, gia cố, tái định vị, phục hồi, quy hoạch bảo tồn Tuy nhiên, cần phải hiểu bảo tồn di sản văn hóa là việc bảo vệ, giữ gìn những giá trị liên quan từ quá khứ đến hiện tại làm cho di sản văn hóa giàu có hơn và tất yếu, cái được bảo tồn phải phù hợp với thời đại

để nó có thể tiếp tục song hành cùng xu hướng đi lên của cuộc sống Bảo tồn chính là những nổ lực nhằm đảm bảo sự an toàn, phát triển qua việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục, tôn tạo, quảng bá và phát triển nhằm phục vụ các hoạt động tiến bộ của con người trong xã hội

1.1.3 Quan niệm về phát huy

Phát huy được hiểu là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt được lan tỏa và tiếp tục nảy nở, lan rộng, nhân lên từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp

Từ điển Tiếng Việt giải thích: “Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [94, tr.664]

Như vậy có thể hiểu rằng phát huy chính là việc làm cho cái hay, cái đẹp tiếp tục phát triển một cách có hiệu quả Vấn đề phát huy xuất phát từ nhu cầu thực tế, con người mong muốn sản phẩm của họ tạo ra phải được nhiều người cùng biết đến hoặc đem về những lợi ích kinh tế thiết thực Phát huy

Trang 19

cũng hiểu là phát triển những giá trị tốt đẹp, những thế mạnh của sự vật, hiện tượng Phát huy giá trị di sản văn hóa là một hoạt động có tính đồng bộ Đòi hỏi có sự tham gia của liên ngành, có tiêu chí chung, mục đích là nhằm phục

vụ cho sự tiến bộ của xã hội, cho việc phát triển du lịch bền vững và góp phần quan trọng trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời là nhịp cầu nối với các quốc gia dân tộc trên thế giới Cách thức phát huy của mỗi di sản, mỗi thời điểm có khác nhau, điều đó tùy thuộc vào văn hóa của mỗi vùng, vào nhận thức của từng người Nhưng tất cả các hoạt động này điều phải dựa vào giá trị sẵn có của di sản, làm tôn vinh vẽ đẹp và phát triển các giá trị văn hóa đó Hình thức chủ đạo của phát huy là đề cao các giá trị văn hóa vốn có của nó Đồng thời tăng cường quảng bá hình ảnh của di sản trên mọi phương diện nhằm khai thác, thu hút khách đến tham quan, đầu tư Từ đó giúp cho việc phục hồi tối đa các giá trị văn hóa truyền thống, tạo cơ hội giao lưu giữa các nền văn hóa khác nhau góp phần hiểu biết lẫn nhau và tăng cường mối quan hệ quốc tế vì hòa bình, vì sự phát triển của

xã hội Mặt khác, nếu biết phát huy lợi thế của di sản văn hóa thì đây được xem là một tiềm lực kinh tế

1.1.4 Quan niệm về giá trị văn hóa của lễ hội

1.1.4.1 Khái niệm giá trị

Trước hết, giá trị xã hội là một khái niệm thuộc về văn hóa Xã hội học văn hóa là chuyên ngành tiếp cận và nghiên cứu nhiều về vấn đề này Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc thì giá trị xã hội được xem xét trong hệ thống các khái niệm khác như : Tiêu chuẩn (criterion) - Chuẩn mực (norm) - Giá trị (value) Trong đó, giá trị là cái ao ước, là biểu hiện nhu cầu của cá nhân hay nhóm xã hội, trở thành mục đích hành động của cá nhân và nhóm xã hội đó Giá trị có vai trò định hướng chung cho hành động Chuẩn mực là một bước cụ thể hoá cái giá trị Nó là quy tắc cư xử, quy định cách thức hành động của cá nhân và nhóm Nó biểu hiện dưới dạng các thể chế (institution) thành văn (như luật của nhà nước) hay không thành văn (như phong tục, tập quán…) Còn các tiêu chuẩn chính là những khuôn mẫu ứng

Trang 20

xử trong các tình huống cụ thể cho các cá nhân và nhóm xã hội Nó là cái gắn với thực tế vô cùng đa dạng và phong phú của đời sống Nó bảo cá nhân hay nhóm xã hội phải làm gì, như thế nào

Ngoài ra, giá trị còn có hàng trăm định nghĩa khác Ví dụ: nhà Nhân học C.Kluckhohn (1905-1960) theo đó giá trị là “quan niệm thầm kín hay bộc

lộ về cái ao ước, riêng của một cá nhân hay một nhóm, chi phối đến sự lựa chọn các phương thức, các phương tiện và các mục đích khả thể của hành động” Giá trị có thể được phân loại theo nhiều cách Đó là: giá trị vật chất và giá trị tinh thần Chúng ta có thể dựa vào hai lĩnh vực cơ bản của đời sống con người mà phân ra các giá trị vật chất và giá trị tinh thần Các giá trị về vật chất như giàu có, khoẻ mạnh, sống lâu…Các giá trị về tinh thần như giá trị về thờ cúng tổ tiên, giá trị thờ thần (ví dụ khi hành lễ phải tôn nghiêm, ăn mặc quần áo truyền thống, làm theo những nghi thức được quy định)…Phân loại giá trị dựa vào việc đáp ứng nhu cầu xã hội Chúng ta có các hệ giá trị:

Giá trị thuộc lĩnh vực tự nhiên như sức khoẻ, môi trường, tuổi thọ; giá trị kinh tế (giàu có, sang trọng, biết làm ăn ); giá trị tri thức (hiểu biết, học vấn ); giá trị tâm linh (tôn giáo, tín ngưỡng ); Giá

trị chính trị (hệ tư tưởng, cách tổ chức ) [34, tr.25-26]

Ở nước ta hiện nay thường dùng thuật ngữ giá trị là để chỉ phẩm chất, phẩm giá, đức tính (giá trị đạo đức) Giá trị gắn liền với cái tốt, cái hay, cái đúng, cái đẹp, nhưng không nên và cũng không thể “đạo đức hóa” toàn bộ các giá trị Bởi lẽ, chỉ riêng cái tốt đã là thuộc tính của rất nhiều các giá trị khác nhau chứ không đơn thuần là thuộc tính riêng của đạo đức Bất kỳ sự vật nào cũng có thể được coi là “có giá trị”, dù đó là vật thể hay tư tưởng, là thực vật hay vật ảo nếu

nó được các thành viên xã hội thừa nhận và xem xét như một biểu tượng quan trọng trong đời sống tinh thần của họ và cần đến nó như một nhu cầu thực thụ

Giá trị có thể là lý tưởng xã hội cần vươn tới, là mục tiêu chính trị cần đạt được, là sự đam mê nghề nghiệp, là danh dự, tình yêu, sức khỏe, tiền bạc,

du lịch, vui chơi, giải trí Giá trị là nhân tố nền tảng góp phần quyết định nhận

Trang 21

thức và hành động các nhân cách; đóng vai trò điều chỉnh các nguyện vọng và hành động của con người và cộng đồng; là chỗ dựa để đánh giá hành động của người khác và để định đoạt lợi ích xã hội của các thành viên trong cộng đồng

Do đó, giá trị xác định tiêu chuẩn của thang bậc xã hội Hệ giá trị (hay bảng giá trị) là một tập hợp các phạm trù giá trị khác nhau, được cấu trúc theo những thứ bậc khác nhau, và có mối liên hệ có tính lịch sử cụ thể với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định Nó có tính chất phát triển nội tại và có khả năng chuyển hóa sang một hệ thống khác, nhằm thích ứng với điều kiện và môi trường lịch sử - xã hội

Hạt nhân của mỗi nền văn hóa là hệ thống giá trị Có thể coi hệ thống giá trị là chỉ số đánh giá trình độ và tính chất đã đạt được của một nền văn hóa

1.1.4.2 Khái niệm lễ hội

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa của nhân dân, mang đậm phong tục tập quán và bản sắc văn hóa của từng vùng, miền khác nhau Nó đã

ăn sâu vào tiềm thức của tất cả mổi người trên mỗi quốc gia, dân tộc

Từ lâu các nhà nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa, quan niệm khác nhau về lễ hội Trên thế giới khi nghiên cứu những đặc tính và ý nghĩa của lễ

hội ví dụ như ở nước Nga, M.Bachie (trong Lễ hội một nét đẹp trong sinh

hoạt văn hóa cộng đồng) cho rằng: Thực chất lễ hội là cuộc sống được tái

hiện dưới hình thức tế lễ và trò diễn, đó là cuộc sống lao động và chiến đấu của cộng đồng cư dân Tuy nhiên bản thân cuộc sống không thể thành lễ hội được nếu như chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới của tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên thế giới của những phương tiện và điều kiện tất yếu Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hữu hiệu, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở đó mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả

Nói đến lễ hội trong quyển “Việt Nam văn hóa sử cương” học giả Đào

Duy Anh thì gọi là đại hội (vào đám hay vào hội) Còn Toan Ánh trong cuốn

“Hội hè đình đám” thì quan niệm hội hè đình đám là những cuộc tổ chức hội

Trang 22

họp tại các thôn xã nhân dịp vào đám và trong dịp vào đám này có nhiều trò mua vui cho dân thôn giải trí

Cách quan niệm trên đã nhấn mạnh ý nghĩa tích cực của hoạt động vui chơi sinh hoạt tập thể có ý nghĩa giải trí, các yếu tố thuộc về nghi thức mang tính tâm linh tín ngưỡng thì chưa được đề cập sâu

Các nhà nghiên cứu như Đinh Gia Khánh, Lê Hồng Lý, Nguyễn Khắc

Dương, thì coi đó là hội lễ, coi danh từ hội lễ như một thuật ngữ văn hóa Ý

nghĩa của thuật ngữ này được xác định trên cơ sở ý nghĩa của hai thành tố hội

và lễ Hội là sự tập hợp đông người trong một sinh hoạt văn hóa cộng đồng

Lễ là tín ngưỡng (các niềm tin thiêng liêng) và các nghi thức đặc thù gắn với các tín ngưỡng ấy trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng

Như vậy, lễ hội có thể có nhiều cách gọi khác nhau nhưng cơ bản thống nhất và tập trung ở từ “lễ hội” Xét về mặt nghĩa của từ, nó bao gồm hai thành

tố “lễ” và “hội”

Trong “Từ điển tiếng Việt” do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên: Lễ là

những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu một kỷ niệm, một sự việc sự kiện nào đó Hội là cuộc vui, tổ chức chung cho đông đảo người dự theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt [68, tr.222]

Việc phân tích các quan niệm về lễ hội trên dựa vào cấu trúc lễ hội, theo đó lễ hội bao gồm phần lễ và phần hội tuy nhiên cách phân chia này chỉ mang tính tương đối Lễ hội là một hiện tượng văn hóa xã hội tổng thể, do vậy nếu phân chia lễ và hội một cách máy móc cơ học thì sẽ dẫn đến không thể hiểu được bản chất của lễ hội thậm chí hiểu sai lệch về lễ hội

Như vậy lễ trong lễ hội cần phải hiểu là nghi thức, cách thức tiến hành những quy tắc, luật lệ nhất định mang tính biểu trưng để đánh dấu kỷ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó với mục đích cảm tạ, tôn vinh, ước nguyện với mong muốn nhận được sự may mắn tốt lành, nhận được sự giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ cúng Đó là những sinh hoạt tinh thần của các cá nhân hay tập thể, là sinh hoạt cả cộng đồng người trong đời sống tín ngưỡng, tâm linh, đồng thời cũng là cách ứng xử của các tầng lớp nhân dân

Trang 23

dành cho thần, hướng về thần trong mối quan hệ “Người - Thần” vốn luôn tồn tại trong tâm thức và hành động của con người Từ những phân tích trên nhằm hiểu đúng bản chất của “lễ”, tránh cách hiểu chưa đúng, hoặc những quan niệm thông tục coi lễ chỉ là lễ bái, lễ vật, lễ lạt…

Xét về mặt cấu trúc và cội nguồn thì lễ và hội luôn gắn chặt với nhau, không có lễ thì không có hội và hội ở đây cũng mang tính nghi lễ chứ không phải hội chỉ là “đám vui chơi đông người” Nhìn một cách tổng thể, thì lễ hội thuộc phạm trù cái thiêng của thế giới thiêng liêng Ngôn ngữ lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, vượt lên trên đời sống hiện hữu thường nhật Vì vậy, phần hội luôn gắn với phần lễ, là bộ phận phái sinh của phần lễ, nó gắn với cái thiêng liêng với vị thần, nhân vật mà con người thờ phụng Các sinh hoạt vui chơi, giải trí, trò diễn trong các lễ hội như đua thuyền, các trò diễn mang tính phồn thực…thì nó vẫn mang tính nghi lễ phong tục chứ không phải trò, chơi trò diễn thuần túy trần tục, mà trò diễn ở đây đã được thiêng hóa Theo GS,TS Ngô Đức Thịnh cho rằng:

Lễ hội là một hiện tượng tổng thể, không phải thực thể chia đôi (phần lễ, phần hội) một cách tách biệt như một số học giả quan niệm mà nó hình thành trên cơ sở cốt lõi nghi lễ, tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử, hay một thần linh nghề nghiệp, thần linh huyền thoại…) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng sinh hoạt văn hóa phái sinh để tạo nên một tổng thể xã hội Cho nên trong lễ hội phần lễ là phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội

là phần phái sinh tích hợp [84, tr.336]

Đối với người dân Việt Nam, lễ hội là một trong những loại hình sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng lâu đời nhất Bản chất của lễ hội là sự tổng hợp và khái quát cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong xã hội ở từng giai đoạn lịch sử

Lễ hội là một tổng thể thống nhất không thể chia tách Lễ là phần tín ngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người Còn hội là phần tập hợp vui chơi giải trí, là đời sống văn hóa thường nhật, phần đời của

Trang 24

mỗi con người, của cộng đồng Hội gắn liền với lễ và chịu sự quy định nhất định của lễ, có lễ mới có hội

1.2 GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG

Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá tinh thần đặc biệt mang tính tập thể phản ánh nhiều mặt của đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội của cộng đồng Nó là sản phẩm tinh thần, là di sản văn hoá phi vật thể có giá trị to lớn trong đời sống tinh thần của nhân dân Lễ hội trong đời sống xã hội hiện nay

có thể khái quát thành năm giá trị cơ bản: Giá trị cố kết cộng đồng dân tộc, giá trị giáo dục, giá trị tâm linh, giá trị bảo tồn nền văn hoá dân tộc, giá trị kinh tế Từ các giá trị đó cho thấy, vai trò của lễ hội có giá trị rất lớn trong đời sống văn hóa hiện nay Qua lễ hội hoạt động tinh thần gắn kết mọi người đến với nhau để cùng chung một niềm tin cùng hướng về tổ tông dòng tộc, cùng chung một thần linh, thành hoàng

Các phong tục, tập quán, tín ngưỡng gắn với ngôi đình, mái chùa cùng với lễ hội là cái nôi giữ gìn bảo tồn văn hoá Việt Nam Lễ hội là một hình thức tái hiện cuộc sống quá khứ thông qua các hoạt động tế lễ, các trò diễn Bản chất lễ hội nói lên việc ứng xử của con người trong đời sống văn hóa cộng đồng Quá trình con người ứng xử với thần linh thể hiện ý thức về cội nguồn đó là phần lễ Phần hội, mọi người gặp gỡ, vui chơi với nhau tạo thành nét văn hóa đặc sắc Lễ hội với sự tham gia của nhiều cá nhân, nhiều tổ chức

xã hội, một mặt đã tạo nên tinh thần đoàn kết, sự cố kết cộng đồng nhưng đằng sau nó cũng đã ngầm ẩn những mâu thuẫn, xung đột, va chạm giữa các

cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với các tổ chức…Trên thực tế, các xung

đột trên xét cho cùng chính là sự mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ, giữa cái thiêng và cái trần tục, giữa việc bảo lưu và việc cải tiến…Vấn đề đặt ra là làm sao chúng ta có thể dung hòa được các mối quan hệ xã hội phức tạp đó để lễ hội thực sự là môi trường cho con người cùng nhau hưởng thụ, thỏa mãn nhu cầu tâm linh của mình

Các hoạt động ấy trong lễ hội không những tái hiện cuộc sống mà nó góp phần giữ gìn và bảo tồn nền văn hoá dân tộc, được lưu giữ từ đời này

Trang 25

sang đời khác Nói một cách khác lễ hội là kết quả của quá trình lịch sử hoá quá khứ và hiện tại, kết hợp quá trình huyền thoại hoá những nhân vật là sự kiện lịch sử được nhân dân thờ phụng Đồng thời còn là kết quả của quá trình sân khấu hoá đời sống xã hội và quá trình xã hội hoá trong tiến trình lịch sử Quá trình mô phỏng tái hiện cuộc sống quá khứ và những nhân vật sự kiện lịch sử trong lễ hội đã đạt đến tính xã hội hoá cao Hình thức và nội dung của

lễ hội phản ánh khá đầy đủ và sinh động đời sống vật chất là tinh thần xã hội trong một giai đoạn lịch sử cụ thể Đồng thời qua quá trình hình thành và tồn tại, lễ hội đã tác động mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu sắc tới toàn thể cộng đồng trong một khu vực làng xã, một vùng, một dân tộc, một quốc gia, tuỳ theo tính chất và mức độ của lễ hội ấy Và như vậy lễ hội góp phần bảo tồn văn hoá dân tộc ngay trong chính tâm thức của cộng đồng

Tính cố kết cộng đồng ấy thể hiện qua sự cộng mệnh và cộng cảm

Cộng mệnh là sự gắn bó giữa con người trong cộng đồng thông qua vận mệnh

của cộng đồng, thể hiện ở việc cả làng cùng suy tôn, cùng tôn thờ một sức mạnh siêu nhiên bảo vệ cho sự tồn vong của cả cộng đồng Đó là Đức quốc

Tổ Hùng Vương trong lễ hội Đền Hùng; Thành hoàng làng trong các lễ hội

Đình; Đức Phật, Thánh Mẫu trong các lễ hội, tôn giáo Cộng cảm là sự thể

hiện có chung thái độ tình cảm của các cá nhân và cả tập thể trong ứng xử văn hoá với tự nhiên, thần thánh và con người

Trong lễ hội các hoạt động của lễ và hội đều thể hiện tính cộng mệnh

và cộng cảm, tính quần thể Các lễ hội còn thấm đượm tinh thần đoàn kết, dân

chủ và nhân bản sâu sắc Khi tham dự lễ hội đứng trước thần linh hay nhân vật thiêng liêng thì dù là người tổ chức hay người dân tham gia lễ hội hay bất

kỳ cương vị nào cũng đều bình đẳng trước thánh thần và bình đẳng với nhau trong tư cách người tham gia Bất kể một lễ hội nào cho dù là lễ hội nông nghiệp, lễ hội lịch sử, lễ hội tôn giáo suy tôn các vị thần linh hay Anh hùng dân tộc thì các lễ hội ấy bao giờ cũng là lễ hội của một cộng đồng; biểu dương các giá trị văn hoá và sức mạnh của cộng đồng trên mọi bình diện

“Mọi hoạt động diễn ra trong các lễ hội ấy đều thể hiện tính cố kết cộng đồng,

Trang 26

mang tính biểu trưng nhằm kêu gọi, tập hợp quần chúng nhân dân trong một vòng tay lớn" [73, tr.74] Bởi vậy, tính cộng đồng và cố kết cộng đồng là nét đặc trưng và là giá trị văn hoá tiêu biểu nhất của lễ hội truyền thống Lễ hội truyền thống là biểu hiện của hai quá trình: lịch sử hóa và huyền thoại hoá những nhân vật được nhân dân thờ phụng

Lễ hội là hoạt động văn hoá tinh thần thể hiện tình cảm con người với

tổ tiên, thần thánh để cầu mong mọi lực lượng siêu nhiên che chở phù hộ cho con người Cũng từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giúp con người không bao giờ quên cội nguồn, con người đến với lễ hội là đến với lòng thành kính tổ tiên và các bậc tiền nhân, nhắc nhở mọi người nhớ đến bổn phận và trách nhiệm của mình với ông bà, tổ tiên, dòng tộc Do vậy lễ hội có giá trị lớn trong việc giáo dục đạo đức giáo dục truyền thống lịch sử của làng bản quê hương đất nước đối với mọi thành viên tham gia lễ hội

Chính vì vậy mà điều 25 luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi,

bổ sung năm 2009 đã nêu lên những định hướng lớn nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội như sau:

Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống thông qua các biện pháp sau đây:

1 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội;

2 Khuyến khích việc tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian truyền thống gắn với lễ hội;

3 Phục dựng có chọn lọc nghi thức lễ hội truyền thống;

4 Khuyến khích việc hướng dẫn, phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoài về nguồn gốc, nội dung, giá trị truyền thống tiêu biểu, độc đáo của lễ hội [71, tr.44]

Bảo tồn lễ hội chính là giữ gìn, lưu lại những giá trị văn hóa của lễ hội Phát triển là vận động theo quy luật khách quan, đem lại những biến đổi các giá trị văn hóa của lễ hội nhằm vươn tới cái đẹp hơn cho cuộc sống của con người Bảo tồn và phát triển lễ hội nhằm làm cho các giá trị văn hóa được lưu giữ và phát triển đúng hướng Thông qua phát triển, con người nhận thức và

Trang 27

thực hiện hoạt động bảo tồn các giá trị văn hóa của lễ hội nhằm thể hiện bản sắc riêng của mình

Thông qua lễ hội, các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được khơi dậy, nâng cao mức hưởng thụ của mọi người trong xã hội Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc mở rộng giao lưu văn hóa và phát triển du lịch là nhu cầu thiết yếu của mỗi quốc gia, dân tộc Lễ hội cũng là nhân tố chịu sự tác động mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa, các yếu tố của cơ chế kinh tế thị trường dẫn đến những biến đổi về nội dung, hình thức và quy mô

tổ chức của nó Vì vậy bảo tồn và phát huy lễ hội có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của nhân dân ta Bảo tồn và phát huy lễ hội là hoạt động quan trọng góp phần bảo vệ giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Bảo tồn và phát huy luôn gắn liền với nhau trong việc xây dựng và phát triển văn hóa

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay, vấn đề bảo tồn

và phát huy giá trị văn hóa lễ hội phải được thực hiện một cách khoa học, đòi hỏi những kiến thức chuyên sâu, sự phối hợp liên ngành và sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân, trong đó vai trò quản lý nhà nước cũng hết sức cần thiết Bảo tồn dựa vào mô hình: bảo tồn y nguyên, bảo tồn trên cơ sở

kế thừa và bảo tồn - phát triển

1.3 TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA TỈNH KIÊN GIANG

1.3.1 Đặc điểm về địa lý kinh tế

Tỉnh Kiên Giang ở toạ độ địa lý 10032' vĩ độ Bắc, 9023' kinh độ Ðông, cách thủ đô Hà Nội 1.976 km Kiên Giang là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long - phía Tây Nam của Tổ quốc; phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia; phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang; phía Tây giáp Vịnh Thái Lan Vị trí địa lý của Kiên Giang có tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, là cửa ngõ hướng ra biển Tây của tỉnh cũng như của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển, đảo và giao lưu với các nước trong khu vực và quốc tế với các ngành mũi nhọn như du lịch, thương mại, dịch vụ công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản…[106]

Trang 28

Kiên Giang có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, thị, thành phố: Thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên, huyện Kiên Lương; huyện Hòn Đất, huyện Tân Hiệp, huyện Châu Thành, huyện Giồng Riềng, huyện Gò Quao, huyện An Biên, huyện An Minh, huyện Vĩnh Thuận, huyện Phú Quốc, huyện Kiên Hải, huyện U Minh Thượng và huyện Giang Thành

Kiên Giang có tổng diện tích tự nhiên 6.346,27 km2 Theo kết quả điều tra ngày 01/04/2009, dân số tỉnh Kiên Giang là 1.683.149 người, mật độ

267 người/km², khu vực nông thôn 73,1%, thành thị 26,9%; dân tộc chủ yếu

là người Kinh, Khmer, Hoa Dân số của tỉnh phân bố không đều, thường tập trung ở ven trục lộ giao thông, kênh rạch, sông ngòi và một số đảo, quy mô dân số đến năm 2010 dự kiến dưới 1,8 triệu người [106]

Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của Kiên Giang là

634.627,21 ha, trong đó: Nhóm đất nông nghiệp 575.697,49 ha chiếm 90,71% đất tự nhiên (riêng đất lúa 354.011,93 ha chiếm 61,49% đất nông nghiệp); nhóm đất phi nông nghiệp 53.238,38 ha, chiếm 8,39% diện tích tự nhiên; nhóm đất chưa sử dụng 5.691,34 ha, chiếm 0,90% diện tích tự nhiên; đất có mặt nước ven biển 13.781,11 ha (là chỉ tiêu quan sát không tính vào diện tích đất tự nhiên) [106]

Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt khá dồi dào, nhưng đến mùa mưa (từ

tháng 5 đến tháng 10) phần lớn nước mặt của tỉnh đều bị nhiễm phèn mặn, do

vị trí ở cuối nguồn nước ngọt của nhánh sông Hậu, nhưng lại ở đầu nguồn nước mặn của vịnh Rạch Giá Toàn tỉnh có 3 con sông chảy qua: Sông Cái Lớn (60 km), sông Cái Bé (70 km) và sông Giang Thành (27,5 km) và hệ thống kênh rạch chủ yếu để tiêu nước về mùa lũ và giao thông đi lại, đồng thời có tác dụng tưới nước vào mùa khô [106]

Tài nguyên biển: Kiên Giang có 200 km bờ biển với ngư trường khai

thác thủy sản rộng 63.290 km2 Biển Kiên Giang có 143 hòn đảo, với 105 hòn đảo nổi lớn, nhỏ, trong đó có 43 hòn đảo có dân cư sinh sống; nhiều cửa sông, kênh rạch đổ ra biển, tạo nguồn thức ăn tự nhiên phong phú cung cấp cho các loài hải sản cư trú và sinh sản, là ngư trường khai thác trọng điểm của cả nước [106]

Trang 29

Tài nguyên khoáng sản: Có thể nói Kiên Giang là tỉnh có nguồn khoáng

sản dồi dào bậc nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Qua thăm dò điều tra địa chất tuy chưa đầy đủ nhưng đã xác định được 152 điểm quặng và mỏ của

23 loại khoáng sản thuộc các nhóm như: Nhóm nhiên liệu (than bùn), nhóm không kim loại (đá vôi, đá xây dựng, đất sét…), nhóm kim loại (sắt, Laterit sắt…), nhóm đá bán quý (huyền thạch anh - opal…), trong đó chiếm chủ yếu

là khoáng sản không kim loại dùng sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng [106]

Tiềm năng du lịch: Kiên Giang có nhiều thắng cảnh và di tích lịch sử nổi

tiếng như: Hòn Chông, Hòn Trẹm, Hòn Phụ Tử, núi Mo So, bãi biển Mũi Nai,Thạch Động, Lăng Mạc Cửu, Đông Hồ, Hòn Đất, rừng U Minh, đảo Phú Quốc… Để khai thác có hiệu quả tiềm năng phát triển du lịch, Kiên Giang đã xây dựng 4 vùng du lịch trọng điểm như:

* Phú Quốc: có địa hình độc đáo gồm dãy núi nối liền chạy từ Bắc

xuống Nam đảo, có rừng nguyên sinh với hệ động thực vật phong phú, có nhiều bãi tắm đẹp như Bãi Trường (dài 20 km), Bãi Cửa Lấp - Bà Kèo, Bãi Sao, Bãi Đại, Bãi Hòn Thơm và xung quanh còn có 26 đảo lớn nhỏ khác nhau Phú Quốc có truyền thống văn hóa lâu đời và nhiều đặc sản nổi tiếng, như: nước mắm phú Quốc, hồ tiêu, ngọc trai, rượu sim, cá trích, nấm tràm Chính từ sự phong phú, đa dạng của Phú Quốc, hàng năm khách du lịch đến Phú Quốc tăng nhanh, năm 2008 đã thu hút trên 200.000 lượt khách du lịch, trong đó khách quốc tế trên 55.000 lượt [106]

* Vùng Hà Tiên - Kiên Lương: Nhiều thắng cảnh biển, núi non của Hà

Tiên - Kiên Lương như: Mũi Nai, Thạch Động, núi Tô Châu, núi Đá Dựng, đầm Đông Hồ, di tích lịch sử văn hoá núi Bình San, chùa Hang, hòn Phụ Tử, bãi Dương, núi MoSo, hòn Trẹm, quần đảo Hải Tặc và đảo Bà Lụa rất thích hợp cho phát triển du lịch tham quan thắng cảnh, nghỉ dưỡng Hà Tiên có truyền thống lịch sử văn hóa, văn học - nghệ thuật, với những lễ hội cổ truyền như Tết Nguyên tiêu, kỷ niệm ngày thành lập Tao đàn Chiêu Anh Các, lễ giỗ Mạc Cửu, chùa Phù Dung, đình Thành Hoàng… Hiện nay, Kiên Giang đã có tour du lịch đến nước bạn Campuchia qua đường cửa khẩu Quốc tế Hà Tiên

Trang 30

Đây là cánh cửa mở ra để vùng Kiên Lương - Hà Tiên nối liền với các nước Đông Nam Á; đồng thời mở tuyến du lịch xuyên ba nước, từ Phú Quốc đến Shianouk Ville (Campuchia) và tỉnh Chanthaburi (Thái Lan) bằng đường biển

và đường bộ [106]

* Thành phố Rạch Giá và vùng phụ cận: Thành phố Rạch Giá là trung

tâm hành chính của tỉnh Kiên Giang, có bờ biển dài 7 km, giao thông thủy, bộ

và hàng không rất thuận tiện Rạch Giá có cơ sở hạ tầng tốt, nhiều di tích lịch

sử văn hóa, là điểm dừng chân để đi tiếp đến Hà Tiên, Phú Quốc và các vùng khác trong tỉnh Do đó, có lợi thế trong phát triển các dịch vụ như: lưu trú, ăn uống, các dịch vụ vui chơi giải trí về đêm; có 3 hệ thống siêu thị quy mô lớn đảm bảo nhu cầu mua sắm của người dân thành phố và du khách (siêu thị Citimart, Metro và siêu thị Co.op Mart Rạch Sỏi) Thành phố Rạch Giá là nơi đầu tiên ở Việt Nam tiến hành việc lấn biển để xây dựng đô thị mới Khu lấn biển mở rộng thành phố thành một trong những khu đô thị mới lớn nhất vùng Tây Nam bộ Một số khu vực phụ cận của Rạch Giá như huyện đảo Kiên Hải, Hòn Đất, U Minh Thượng cũng có nhiều tiềm năng phát triển du lịch Kiên Hải đang khai thác các tour khám phá biển đảo đi - về trong ngày Đây là vùng thắng cảnh biển - đảo với đặc thù nghề truyền thống đi biển, làm nước mắm, chế biến hải sản, tạo thành nét sinh hoạt văn hóa riêng biệt Khu du lịch Hòn Đất đang hoàn chỉnh và hoàn thiện những công trình văn hóa tại khu mộ Anh hùng liệt sĩ Phan Thị Ràng (chị Sứ), xây dựng khu trưng bày một số hiện vật chứng tích chiến tranh tại khu phát sóng truyền hình của tỉnh trên đỉnh Hòn Me… [106]

* Vùng U Minh Thượng: Với đặc thù sinh thái rừng tràm ngập nước trên

đất than bùn, Vườn Quốc gia U Minh Thượng - khu căn cứ địa cách mạng, khu dự trữ sinh quyển thế giới, đã mở cửa phục vụ khách tham quan du lịch sinh thái Khu du lịch Vườn Quốc gia U Minh Thượng phục vụ khách tham quan du lịch sinh thái kết hợp với tìm hiểu văn hóa nhân văn sông nước vùng U Minh Thượng và du lịch nghiên cứu di chỉ khảo cổ Ốc Eo - Phù Nam (Cạnh Đền, Nền Vua, Kè Một) Quần thể di tích căn cứ địa cách mạng U Minh Thượng

Trang 31

với di tích Ngã Ba Cây Bàng, Ngã Ba Tàu, Thứ Mười Một, Rừng tràm Ban Biện Phú, khu tập kết 200 ngày kinh xáng Chắc Băng, Khu di tích Ranh Hạt (Vĩnh Thuận) - đây là nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Kiên Giang

là điểm thu hút du khách tìm hiểu lịch sử cách mạng…

Ngoài 4 vùng du lịch trọng điểm, Kiên Giang hiện có khu Dự trữ sinh quyển với diện tích hơn 1,1 triệu hec ta Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang chứa đựng sự phong phú, đa dạng và đặc sắc về cảnh quan và hệ sinh thái, có giá trị lớn về mặt nghiên cứu, cũng như du lịch Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang trùm lên địa phận các huyện Phú Quốc, An Minh, U Minh Thượng, Vĩnh Thuận, Kiên Lương

và Kiên Hải, gồm 3 vùng lõi thuộc Vườn Quốc gia U Minh Thượng, Vườn Quốc gia Phú Quốc và rừng phòng hộ ven biển Kiên Lương, Kiên Hải [106]

1.3.2 Đặc điểm văn hóa truyền thống

Kiên Giang cũng là một trong số các tỉnh có nhiều di tích, hiện đã công nhận được 43 di tích và được phân loại như sau:

Di tích lịch sử - văn hóa: Các di tích tiêu biểu thuộc loại này Kiên Giang

có chùa Tam Bảo, đình Vĩnh Hòa, đình Thạnh Hòa, đình Nam Thái…

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của Anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền thờ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, Nhà lưu niệm Thi sĩ Đông Hồ, Mộ Nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt, Mộ Anh hùng lực lượng vũ trang Phan Thị Ràng, Mai Hồng Hạnh…

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu di tích cách mạng Hòn Đất, khu di tích căn cứ địa U Minh Thượng, di tích cách mạng Núi Mo So, Chùa Xà Xía, Chùa Phật Lớn, Tháp 4 Sư liệt sĩ, Nhà Tù Phú Quốc, Nhà tù Hà Tiên…

Di tích kiến trúc nghệ thuật

Các di tích tiêu biểu loại này ở Kiên Giang có chùa Bà Thiên Hậu, Miếu Quan Thánh Đế, chùa Phật Lớn, chùa Sóc Xoài, Nhà cổ Bảo tàng, Mộ Hội Đồng Suông v.v…

Trang 32

Di tích khảo cổ

Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các nền văn hoá khảo cổ Di tích khảo cổ ở Kiên Giang là những di chỉ lưu giữ những dấu tích về quá trình hình thành, phát triển của người Việt cổ trên đất Kiên Giang mà đa phần thuộc về nền văn hóa

Óc Eo bao gồm hang động, gò đồi, giồng đất… Các hiện vật khai quật từ các

di chỉ khảo cổ trên được lưu giữ trong Bảo tàng tỉnh Di chỉ khảo cổ ở Kiên Giang được chia làm 3 loại di chỉ cư trú và di chỉ mộ táng điển hình như di chỉ khảo cổ Giồng Xoài, Đá Nổi, Nền Chùa, Cạnh Đền…[107]

hệ động thực vật có khoảng 2.340 loài, trong đó 1.480 loài thực vật với 116 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ và 57 loài đặc hữu; khoảng 860 loài động vật với 78 loài quý hiếm, 36 loài đặc hữu [107]

1.3.3 Văn hóa lễ hội ở tỉnh Kiên Giang

Kiên Giang là vùng đất đa dạng về địa hình và phong phú về di sản văn hóa Toàn tỉnh hiện có hơn 360 cơ sở thờ tự, 43 danh thắng - di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng Hiện nay, toàn tỉnh có 389 lễ hội, trong đó có 235 lễ hội tôn giáo, 31 lễ hội dân gian, 62 lễ hội lịch sử cách mạng và một số lễ hội khác Đặc biệt có 9 lễ hội tiêu biểu thu hút hàng ngàn du khách trong và ngoài

tỉnh đến với Kiên Giang

Trang 33

Lễ hội Tao Đàn Chiêu Anh Các - Hà Tiên

Đã nhiều năm qua, mỗi dịp Tết Nguyên tiêu, rằm tháng Giêng hàng năm, tại Lăng Mạc Cửu, Hà Tiên lại tổ chức Lễ hội kỷ niệm Tao đàn Chiêu Anh Các Vào mùa xuân năm Bính Thìn 1736, tại trấn Hà Tiên xưa, Tổng binh đại đô đốc Mạc Thiên Tích, hiệu Sĩ Lân đã cùng 32 danh sĩ tài hoa đương thời lập nên Tao Đàn Chiêu Anh Các Không chỉ là nơi tập trung sáng tác, đàm luận văn thơ mà còn là nơi đào tạo nhân tài, cổ vũ tinh thần yêu nước, mở mang văn hóa của một trấn xa xôi Hình thành trong giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của Hà Tiên xưa, Tao đàn Chiêu Anh Các sản sinh ra một khối lượng văn chương khá đồ sộ, trong đó có tuyệt tác “Hà Tiên Thập vịnh” với hơn 300 bài thơ bằng chữ Nôm Lễ hội có nhiều hoạt động phong phú, đa dạng như: dâng hương tế Trời Đất, thi họa thơ Chiêu Anh Các, thi ứng tác câu đối, thi sáng tác thơ mới, viết thư pháp Lễ hội trùng với Ngày thơ Việt Nam nên có rất đông những người yêu thơ, văn nghệ sĩ Nam Bộ và du khách về đây dự lễ [107]

Lễ hội Oóc-om-bok - Gò Quao

Lễ hội Oóc-om-bok hay còn gọi là lễ cúng Trăng được tổ chức thống nhất vào đêm 15/10 âm lịch Các vật cúng trong lễ hội là cốm dẹp, khoai, đậu, dừa… Đồng bào phật tử tập hợp lại xung quanh sân chánh điện, chờ đến khi mặt trăng lên đến đỉnh là mọi người đều khấn vái để tưởng nhớ đến công ơn của mặt trăng Người Khmer coi mặt trăng như là một vị thần điều tiết mùa màng, đã giúp cho họ có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đặc biệt sôi nổi nhất trong những ngày này là hội đua ghe ngo Kể từ năm 2007, lễ hội Oóc -

om - bok được nâng lên thành Ngày hội văn hóa - thể thao dân tộc Khmer tỉnh Kiên Giang đã khẳng định quy mô và chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước

ta Ngày hội có nhiều loại hình hoạt động đa dạng, phong phú được chọn lọc; kết hợp tính dân tộc, tính hiện đại, tính cộng đồng và độc đáo tạo ra một không gian đầy ắp hương vị, sắc màu đậm đà và rực rỡ của đồng bào dân tộc Khmer Kiên Giang [107]

Trang 34

Lễ hội giỗ 4 nhà sư liệt sĩ - Châu Thành

Cứ vào ngày 10/6 dương lịch hàng năm, tại Tháp 4 sư, nằm ở xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành các vị sư sãi ở các nơi trong tỉnh tập trung về tiến hành làm lễ cầu siêu cho 4 vị sư người Khmer: Danh Hùng, Danh Hom, Danh Tấp, Danh Hoi Bốn vị sư đã hy sinh anh dũng trong cuộc biểu tình chống Mỹ và bọn tay sai vào năm 1974 tại Rạch Giá Cuộc biểu tình

đã gây nên tiếng vang lớn làm cho địch hoang mang và không dám bắt sư sãi đi lính nữa Tháp 4 sư liệt sĩ đã được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia Đây là lễ hội truyền thống cách mạng lớn nhất của đồng bào dân tộc Khmer trong tỉnh [107]

Lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương - Tân Hiệp

Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương ngày 10-3 âm lịch chính thức trở thành ngày Quốc lễ, ngày hội lớn quy tụ cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam Ở Kiên Giang, hàng năm cứ đến ngày 10/3, hàng chục ngàn người con đang sinh sống, học tập, làm việc ở mảnh đất Kiên Giang và các tỉnh, thành trong khu vực đều hội tụ về Tân Hiệp dâng một nén nhang thành kính lên Quốc Tổ Vua Hùng Đền Hùng quốc tổ huyện Tân Hiệp do người dân ấp Đông Bình tự nguyện đóng góp thành lập từ năm 1957 Đền ban đầu chỉ bằng vật liệu đơn

sơ, nhằm làm nơi thờ cúng các vị Vua Hùng và nhớ về đất tổ Lễ hội diễn ra trong hai ngày (mùng 9-10/3 âm lịch) Phần hội được tổ chức vào ngày 09/3

âm lịch với các hoạt động văn hóa, văn nghệ và nhiều trò chơi dân gian Hoạt động diễn ra tưng bừng, náo nhiệt trong khuôn viên đền Buổi sáng ngày 10/3

âm lịch nghi lễ tưởng niệm các Vua Hùng được tổ chức trang trọng theo nghi thức hàng năm Qua các hoạt động trên, nhằm giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” cho các thế hệ trẻ và ý chí đoàn kết tự lực vươn lên xây dựng quê hương Kiên Giang ngày càng giàu đẹp [107]

Lễ hội giỗ đức khai trấn Mạc Cửu - Hà Tiên

Đã trở thành truyền thống hàng năm, Hà Tiên đều tổ chức lễ hội giỗ đức khai trấn Mạc Cửu, là người có công đầu trong việc khai phá nên vùng đất Hà Tiên cách đây đã hơn 300 năm Vào đầu thế kỷ thứ 18, Mạc Cửu trên

Trang 35

đường tha hương lập nghiệp, ông đã đặt chân đến Hà Tiên, còn gọi là Phương Thành, một vùng đất có vị trí thông thương thuận lợi, phong cảnh hữu tình Ông đã quyết định dừng chân nơi đây bắt đầu cho công cuộc mở đất Phần lễ được giữ theo thông lệ với các nghi lễ truyền thống như cúng tiền hiền, hậu hiền, chiêm bái Tại Đền thờ họ Mạc, mọi người tổ chức lễ thỉnh sắc và dâng hương tại Tượng đài Mạc Cửu Ngoài ra phần hội được mở rộng với các hoạt động phong phú như: Hội chợ thương mại, biểu diễn võ thuật, biểu diễn lân

sư rồng, biểu diễn văn nghệ và các trò chơi dân gian…[107]

Phần lễ dâng hương diễn ra vào sáng ngày 09/01, với màn trống hội khai lễ Sau đó là sự tham gia của các đoàn đại biểu mang theo mâm ngũ quả, đọc diễn văn chào mừng và ôn lại truyền thống lịch sử của Hòn Đất cùng nữ Anh hùng liệt sỹ Phan Thị Ràng Kỷ niệm 50 năm ngày hy sinh của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phan Thị Ràng (9/1/1962-9/1/2012) lần đầu tiên huyện Hòn Đất tổ chức nâng cấp quy mô cấp lễ hội và thu hút đông đảo quần

chúng nhân dân trong khu vực về dự [107]

Lễ hội chị Mai Thị Nương (Giồng Riềng)

Nhằm tôn vinh công lao to lớn của các chiến sỹ cách mạng đã hy sinh

vì độc lập tự do của Tổ quốc, trong đó Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân liệt sỹ Mai Thị Nương là một biểu tượng tiêu biểu của Giồng Riềng, qua đó giáo dục cho cán bộ và nhân dân trong huyện, nhất là thế hệ trẻ nhận thức sâu sắc về truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân

Trang 36

tộc, ý thức tự lực, tự cường, tấm gương anh dũng hy sinh của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân liệt sỹ Mai Thị Nương, từ đó ra sức làm việc và cống hiến, góp phần xây dựng quê hương Giồng Riềng ngày càng giàu đẹp

Lễ hội diển ra trong hai ngày 11,12 tháng 10 hàng năm nhằm kỷ niệm ngày

hy sinh của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Liệt sỹ Mai Thị Nương (Mai Thị Hồng Hạnh) (12/10/1960) Phần lễ được diễn ra vào ngày 12-10, gồm lễ cúng chánh bái - tế lễ, dâng phẩm tế lễ Phần hội diễn ra từ ngày 9 đến 11-10, với các hoạt động như: giải đua ghe ngo; triển lãm ảnh ngoài trời; chương trình văn nghệ; giải bóng đá mini nữ, trò chơi dân gian kéo co, nhảy bao, hội thi ẩm thực; giải bóng chuyền nông dân và biểu diễn múa lân - sư - rồng… Riêng đại biểu mời dự lễ giỗ khoảng 800 người Lễ dâng hương với màn trống hội khai lễ, hoạt cảnh sân khấu gồm 3 chương rạng danh nữ Anh hùng Mai Thị Nương Sau đó ôn lại truyền thống lịch sử của Giồng Riềng và nữ Anh hùng liệt sỹ Mai Thị Nương, đọc lời tưởng niệm và sự tham gia của các đoàn đại biểu lãnh đạo tỉnh, địa phương và đông đảo quần chúng nhân dân về thắp hương tưởng nhớ nữ Anh hùng đã

hi sinh vì độc lập tự do của tổ quốc [107]

Lễ hội Nghinh Ông - Kiên Hải

Lễ hội Nghinh Ông là một nét đẹp văn hóa của người dân đất đảo Lại Sơn - Kiên Hải được tổ chức long trọng, trang nghiêm hàng năm vào ngày

15 - 16 tháng 10 (âm lịch) để bày tỏ sự tri ân, sự phù trợ của cá Ông và các

vị tiền nhân đã có công mở đất Tập tục thờ cá Ông là nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng của cư dân miền duyên hải Lễ cúng cá Ông ở Lại Sơn tồn tại hơn 100 năm Đây cũng là loại hình lễ hội cầu ngư, cầu cho mưa thuận gió hòa, làm ăn trên biển thuận lợi, là dịp để bà con tổng kết lại những chuyến

đi biển trong năm Phần lễ là lễ cúng thỉnh (cung nghinh) các vị thần Lễ Nghinh Ông và Chánh tế được tiến hành với sự tham gia đông đảo của tất

cả ngư dân trên đảo Ngoài ra, phần hội còn có các trò chơi dân gian như bịt mắt đập niêu, đua xuồng chèo, kéo co, thi ẩm thực với các món ăn miền biển, và hoạt động đờn ca tài tử [107]

Trang 37

Lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực – Kiên Giang

Nguyễn Trung Trực, vị Anh hùng dân tộc mà tên tuổi gắn liền với những chiến công vang dội đã đi vào trang sử hào hùng, đó là: trận đốt cháy tàu Espérance trên vàm Nhật Tảo năm 1861 và lần đầu tiên tiêu diệt đồn lũy đầu não của giặc Pháp ngay tại tỉnh lỵ Rạch Giá vào năm 1868 Nhà thơ yêu nước Huỳnh Mẫn Đạt đã tự hào ca ngợi khí phách Anh hùng của Nguyễn Trung Trực “Hoả hồng Nhật Tảo oanh thiên địa/ Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần”, thể hiện ý chí độc lập tự do của người dân phương Nam nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung Ở tỉnh Kiên Giang có khoảng 15 đền thờ Cụ Nguyễn tại thành phố Rạch Giá, xã Mỹ Lâm (huyện Hòn Đất), đình Tà Niên (huyện Châu Thành)…

Với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, hàng năm, vào ngày 26, 27

và 28 tháng Tám (âm lịch), nhân dân Kiên Giang và đồng bào khắp nơi lại hội

tụ về đây tổ chức kỷ niệm ngày hy sinh của Cụ để bày tỏ lòng tri ân, thành kính đối với người con bất khuất, kiên trung của đất nước Nhiều năm qua, Lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực đã có sức lan toả ngày càng rộng, từ một lễ giỗ bình thường đã được nâng lên thành lễ hội

Lễ hội gồm hai phần, phần nghi lễ trang trọng và thành kính theo nghi thức cổ truyền như: lễ dâng hương, lễ thượng đài kỳ, lễ tế đàn cả, rước sắc thần; phần hội có nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ sôi động, hấp dẫn: trò chơi dân gian, đua xuồng, đập nồi, biểu diễn võ thuật, chơi cờ người, thi múa Lân - Sư - Rồng, thả đèn hoa đăng, thi ẩm thực, triển lãm thư pháp, triển lãm ảnh đường phố, giao lưu văn nghệ giữa 03 dân tộc Kinh, Hoa, Khmer Mỗi năm số lượng người dân về dự lễ hội ngày càng tăng Năm 2006 có hơn 500 ngàn, năm 2007 có gần 600 ngàn, năm 2008 có hơn 600 ngàn và năm 2009 có

750 ngàn, năm 2011 có trên 1 triệu lượt người tham dự [106]

Lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực mang những nét văn hóa đặc sắc và là lễ hội có quy mô lớn nhất của tỉnh Kiên Giang So với các lễ hội khác thì đây là lễ hội có quy mô hoành tráng, thể hiện những nét đặc trưng của tính cộng mệnh, cộng cảm, cộng sinh với nhiều hoạt động đa dạng, phong

Trang 38

phú, ý nghĩa Lễ hội mang nhiều yếu tố tích cực, những giá trị nhân văn sâu sắc nhằm giáo dục con người hướng tới những giá trị chân – thiện – mỹ, đó là tinh thần cộng đồng, tinh thần tương thân, tương ái, tinh thần đoàn kết xây dựng quê hương đất nước, đồng thời giáo dục con người đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, đó là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Nó góp phần giáo dục truyền thống yêu nước của nhân dân ta, làm thỏa mản nhu cầu tín ngưỡng trong đời sống tinh thần của họ Có thể thấy, hiếm có một lễ hội nào mà người dân lại tự giác cùng nhau chia sẻ các giá trị tinh thần và vật chất như lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hoá cộng đồng phổ biến và đậm đà bản sắc dân tộc, là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử; có giá trị đặc biệt trong sự cố kết cộng đồng ngày càng bền chặt hơn; đồng thời, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau hiểu được công lao của tổ tiên, tỏ lòng tri ân công đức của các vị Anh hùng dân tộc, các bậc tiền bối đã có công dựng nước, giữ nước và đấu tranh giải phóng dân tộc Việc tổ chức lễ hội còn góp phần tích cực trong giao lưu với các nền văn hóa thế giới, tạo nền tảng vững chắc cho văn hoá Việt Nam có sức mạnh chống lại sự ảnh hưởng tiêu cực của văn hoá ngoại lai Lễ hội góp phần làm giàu các giá trị di sản văn hóa của dân tộc

Là một tỉnh có điều kiện tự nhiên, địa lý kinh tế quan trọng với nhiều lễ hội phong phú đa dạng Văn hóa truyền thống ở Kiên Giang đã góp phần không nhỏ trong việc làm giàu các giá trị văn hóa của dân tộc Vì vậy, các giá trị văn hóa đó cần phải được bảo tồn và phát huy nhằm tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC

Ở TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY

2.1 SỰ RA ĐỜI CỦA LỄ HỘI ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC

2.1.1 Tiểu sử Nguyễn Trung Trực

Nguyễn Trung Trực tên thật là Nguyễn Văn Lịch, tục gọi “Quản Chơn” hay “Quản Lịch”, sinh năm Mậu Tuất (1838) tại Bình Nhật, huyện Cửu An, phủ Tân An, tỉnh Gia Định (nay là ấp 1, xã Bình Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An) Cha của Nguyễn Trung Trực là ông Nguyễn Văn Phụng (có tài liệu ghi là Nguyễn Trung Thăng hoặc Nguyễn Cao Thăng), cháu nội ông Nguyễn Văn Đạo, quê gốc xóm Lưới, thôn Vĩnh Hội, tổng Trung An, huyện Phù Cát, trấn Bình Định (nay là thôn Vĩnh Hội, xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định) Mẹ của ông Nguyễn là bà Tô Kim Hồng Nguyễn Trung Trực là con cả trong gia đình có 7 người con Ông được học hành cả văn lẫn võ Về võ, ông được đào tạo tại một lò võ ở Rạch Bảo Định, chung với Huỳnh Công Tấn và Nguyễn Văn Điền Dựa vào tính tình cương trực, chơn chất hay cưu mang giúp đỡ kẻ thế cô, thầy đặt cho ông tên chữ Hán là “Trực” (tính tình cương trực, thẳng thắng)

Tỉnh Rạch Giá thuộc trấn Hà Tiên được thành lập năm 1708, sau này được chia thành một số tỉnh thuộc Lục Tỉnh Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp chiếm vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh trong đó có Rạch Giá Năm Kỷ Mùi (1859) thực dân Pháp đã chiếm tới thành Gia Định Năm Tân Dậu (1861), Trương Định lúc đó giữ chức Phó Quản Cơ Gia Định đã chiêu mộ nghĩa sỹ được gần

6000 người, lập ra sáu cơ tổ chức đánh giặc Pháp xâm lược Vua Tự Đức phong cho Trương Định chức Quản Cơ, rồi thăng chức Phó Lãnh binh Gia Định Ông phối hợp với nghĩa quân của Nguyễn Tri Phương đánh giặc ở Đại Đồng - phía tây Sài Gòn thu được khá nhiều vũ khí của giặc, chiếm được đồn

và cầm cự được một thời gian Sau khi đại đồn bị thất thủ, quân của triều đình

Trang 40

theo lệnh rút về Biên Hòa Trương Định cho thu quân về đóng đồn ở xứ Gò Thượng, thuộc huyện Tân Hòa (Tiền Giang) để cũng cố lực lượng Tại đây, Nguyễn Trung Trực đã gia nhập nghĩa quân chống Pháp do Trương Định lãnh đạo Với lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc Ông đã bộc lộ tài năng, đức

độ của một thủ lĩnh xuất sắc trong hàng ngũ nghĩa quân nên được Trương Định trọng dụng, cất nhắc giao cho làm Quyền Sung quản binh đạo

Ngày 10-12-1861 Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân lập nên chiến công vang dội, đốt cháy tàu Espérance trên vàm Nhật Tảo làm thiệt mạng 17 tên địch Sau chiến thắng này hàng loạt cuộc tấn công khác đánh vào tàu địch liên tiếp nổ ra ở Bến Lức, sông Trà làm cho lực lượng hải quân Pháp lúng túng, bị động Một viên tướng Pháp từng đánh giá chiến thắng Nhật Tảo là "Khúc nhạc

mở đầu cho cuộc tổng công kích hầu như toàn bộ các đồn lũy của người Pháp”

Ngày 16-6-1868, ông chỉ huy nghĩa quân kết hợp với nội ứng tấn công đồn Rạch Giá Tất cả giặc Pháp và lính tay sai giữ đồn đều bị nghĩa quân giết sạch Sau chiến công vang dội của Nguyễn Trung Trực, giặc Pháp điên cuồng truy sát ông cùng nghĩa quân Chúng tàn sát 700 người dân Rạch Giá để trả thù trận tấn công đồn Rạch Giá Tên Việt gian Trần Bá Lộc được cử từ Cái Bè đến Rạch Giá đối phó với Nguyễn Trung Trực Hắn đặt giải thưởng 500 đồng cho ai bắt được hoặc dâng thủ cấp của ông Độc ác hơn nữa, hắn còn cho bắt sống mẹ của ông khi ông từ Hòn Chông ra Phú Quốc Ngày 19-9-1868 tên quan tư của Pháp cùng tên đội trưởng và 125 lính mã tà tấn công Hàm Ninh, nghĩa quân nghi binh để tiêu hao sinh lực địch rồi cuối cùng đẩy chúng rút chạy khỏi Hàm Ninh Bọn giặc gọi thêm viện binh và quay sang tấn công Dương Đông, Phú Đông, An Thái, Phước Lộc

Nguyễn Trung Trực quyết định tập trung nghĩa quân đánh trận từ cánh đồng tràm đến bãi ông Lang Qua trận chiến đấu ác liệt, ông bị thương và ngất

đi, không may ông bị sa vào tay giặc Chúng cấp tốc đưa ông về Dương Đông,

sau đó rút quân Giặc Pháp bắt được ông, chúng giở trò đối xử tử tế Chúng giải

ông từ Rạch Giá lên Sài Gòn bằng tàu Hải Âu, suốt chặng đường dài hơn một ngày đêm, tên Việt gian Huỳnh Công Tấn cố hết sức khuyên ông theo Pháp để

Ngày đăng: 21/11/2016, 02:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương (tái bản), Nxb Hồ Chí Minh, Thành ph ố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hồ Chí Minh
Năm: 1992
2. A.I.ARNOLDOV (1985) (Chủ biên), Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin
Nhà XB: Nxb Văn hóa
6. Huỳnh Công Bá (2012), Lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hóa Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2012
7. Huỳnh Công Bá (2012), Cội nguồn và bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cội nguồn và bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2012
8. Hoàng Chí Bảo (2010), Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – sự thật
Năm: 2010
9. Bảo tàng Kiên Giang tổ chức (1989), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nguyễn Trung Trực, Kiên Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nguyễn Trung Trực
Tác giả: Bảo tàng Kiên Giang tổ chức
Năm: 1989
10. Phan Kế Bính (2011), Việt Nam phong tục, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2011
11. Trần Văn Bính (Chủ biên) (2000), Vai trò văn hóa trong hoạt động của Đảng ta hiện nay, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò văn hóa trong hoạt động của Đảng ta hiện nay
Tác giả: Trần Văn Bính (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2000
12. Trần Văn Bính (2007), Một số vấn đề về văn hóa văn nghệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về văn hóa văn nghệ
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
14. Võ Phúc Châu (2011), Truyền thuyết dân gian và những cuộc khởi nghĩa chống pháp ở Nam Bộ, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết dân gian và những cuộc khởi nghĩa chống pháp ở Nam Bộ
Tác giả: Võ Phúc Châu
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2011
15. Nguyễn Thị Chiến (2013), Mấy suy nghĩ về văn hóa từ truyền thống đến đương đại, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về văn hóa từ truyền thống đến đương đại
Tác giả: Nguyễn Thị Chiến
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2013
16. Trường Chinh (1974), Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1974
17. Đoàn Văn Chúc (1994), Những Bài Giảng Về Văn Hóa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những Bài Giảng Về Văn Hóa
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1994
18. Nguyễn Đăng Duy (2009), Văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2009
19. Thành Duy (2006), Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Đinh Xuân Dũng (2004), Mấy cảm nhận về văn hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy cảm nhận về văn hóa
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
21. Lê Tiến Dũng (2011), Văn hóa cội nguồn sức mạnh Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa cội nguồn sức mạnh Việt Nam
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2011
22. Cảnh Dương (1998), "Phát huy những nét đẹp văn hóa trong lễ hội cổ truyền", Tạp chí Văn hóa thông tin, (1), tr.26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy những nét đẹp văn hóa trong lễ hội cổ truyền
Tác giả: Cảnh Dương
Năm: 1998
23. Đảng bộ tỉnh Kiên Giang (2005), Văn kiện đại hội lần thứ VII, nhiệm kỳ 2005 – 2010, Kiên Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội lần thứ VII, nhiệm kỳ 2005 – 2010
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Kiên Giang
Năm: 2005
24. Đảng bộ tỉnh Kiên Giang (2010), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Kiên Giang lần thứ IX nhiệm kỳ 2010 – 2015, Kiên Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Kiên Giang lần thứ IX nhiệm kỳ 2010 – 2015
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Kiên Giang
Năm: 2010

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w