Với sựgiúp đỡ và tạo điều kiện của trường Đại học Thương mại và quý thầy cô trong khoaTMĐT, em đã có cơ hội được tiếp cận và trực tiếp quan sát, tìm hiểu thực trạngtriển khai hoạt động C
Trang 1Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trước có tên là PhòngThương mại thuộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, thành lập vào năm
1963, là tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp ở ViệtNam nhằm mục đích phát triển, bảo vệ và hỗ trợ các doanh nghiệp, góp phần pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế - xã hội củađất nước v v Đây là một tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đến việc hỗ trợ và địnhhướng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp lẫn các hoạt động của Chính phủtrên cả nước, đóng một vai trò đáng kể trong việc tạo điều kiện cho hiệp hội cácdoanh nghiệp và các cơ quan nhà nước nói chung trong việc phát triển Chính phủđiện tử (CPĐT)
Xuất phát từ vai trò và tầm ảnh hưởng quan trọng trên, được sự phân côngcủa khoa Thương mại điện tử Trường Đại học Thương mại; thông qua thực tiễn quátrình thực tập, tác giả đã có cơ hội được quan sát cũng như tìm hiểu thực tế hoạtđộng CPĐT mà cụ thể là mô hình đối thoại trực tuyến của VCCI Từ đó đã tạo cơ
sở tiền đề để tác giả lựa chọn việc nghiên cứu đề tài “Giải pháp phát triển mô hình đối thoại trực tuyến E-Dialogue (G2B) Chính phủ điện tử của Phòng Thương Mại
và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)”.
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả đã có cơ hội nâng cao nhận thứccho bản thân cũng như được tiếp cận và tìm hiểu thực trạng triển khai hoạt độngCPĐT nói chung và mô hình đối thoại trực tuyến nói riêng của VCCI Đồng thời,tác giả cũng mong muốn những ý kiến đóng góp của mình phần nào có ý nghĩa thựctiễn và có thể được vận dụng vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình đốithoại trực tuyến của VCCI trong thời gian tới
Cấu trúc của đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về chính phủ điện tử và mô hình đối thoại trực tuyến của VCCI.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng mô hình đối thoại trực tuyến chính phủ điện tử của VCCI.
Chương 3: Một số kết luận và đề xuất để hoàn thiện mô hình đối thoại trực tuyến chính phủ điện tử của VCCI.
Trang 2Sau 4 năm ngồi trên ghế nhà trường, điều quan trọng nhất đối với mỗi sinh viên làkhối lượng kiến thức và khả năng tiếp thu kiến thức đó Điều này phần nào thể hiện
rõ nét trong luận văn tốt nghiệp của mỗi sinh viên Để có thể hình thành được mộtluận văn, bên cạnh việc cần phải nắm vững được kiến thức cơ bản về vấn đề cầnnghiên cứu thì việc đi sâu tìm hiểu tình hình thực tế là điều không thể thiếu Với sựgiúp đỡ và tạo điều kiện của trường Đại học Thương mại và quý thầy cô trong khoaTMĐT, em đã có cơ hội được tiếp cận và trực tiếp quan sát, tìm hiểu thực trạngtriển khai hoạt động Chính phủ điện tử của Phòng Thương mại và Công nghiệp ViệtNam (VCCI) mà cụ thể là mô hình đối thoại trực tuyến, từ đó có cơ sở thực tiễn để
hình thành đề tài khóa luận “Giải pháp phát triển mô hình đối thoại trực tuyến Dialogue (G2B) Chính phủ điện tử của Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)”.
E-Em xin chân thành cảm ơn:
- ThS Nguyễn Bình Minh – Phó trưởng khoa TMĐT, đã tận tình hướng dẫn
em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này
- Quý thầy cô khoa TMĐT đã giúp đỡ cho em nền tảng kiến thức để có thểhoàn thành tốt đợt đi thực tập cũng như khóa luận tốt nghiệp
- Các anh chị, cô chú tại Ban Hội viên và Đào tạo, Phòng Tổ chức cán bộ đãnhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại VCCI
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, với cái nhìn và suy nghĩ còn chưa đầy đủ của mộtsinh viên cũng như hạn chế về mặt thực tiễn, khóa luận chắc chắn không tránh khỏinhững sai sót Em rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô để em có thểhoàn thiện kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tiễn của bản thân qua đó đặt địnhnhững bước đi đầu tiên khi sắp rời ghế nhà trường
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ VÀ MÔ HÌNH ĐỐI THOẠI TRỰC TUYẾN CỦA VCCI 5
1.1 MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA, KHÁI NIỆM CƠ BẢN 5
1.1.1 Khái niệm về Chính phủ điện tử 5
1.1.2 Sự khác nhau giữa Chính phủ truyền thống và Chính phủ điện tử 6
1.1.3 Khái niệm dịch vụ công trực tuyến 6
1.1.4 Mô hình đối thoại trực tuyến của VCCI 8
1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11
1.2.1 Vai trò, lợi ích của Chính phủ điện tử và mô hình đối thoại trực tuyến của VCCI 11
1.2.1.1 Vai trò và lợi ích của Chính phủ điện tử 11
1.2.1.2 Vai trò và lợi ích của mô hình đối thoại trực tuyến của VCCI 12
1.2.2 Các mô hình giao dịch trong Chính phủ điện tử 14
1.2.3 Các hình thức hoạt động và các dạng dịch vụ cung cấp qua Chính phủ điện tử 16
1.2.3.1 Các hình thức hoạt động chủ yếu của Chính phủ điện tử 16
1.2.3.2 Các dạng dịch vụ mà Chính phủ điện tử cung cấp 16
1.3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU CỦA NHỮNG CÔNG TRÌNH NĂM TRƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 17
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 17
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 19
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MÔ HÌNH ĐỐI THOẠI TRỰC TUYẾN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ CỦA VCCI 22
2.1 PHƯƠNG PHÁP HỆ NGHIÊN CỨU 22
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 22
2.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 23
Trang 42.2 THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN MÔ HÌNH ĐỐI THOẠI TRỰC TUYẾN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ CỦA VCCI
23
2.2.1 Tổng quan tình hình Chính phủ điện tử tại Việt Nam 23
2.2.1.1 Hạ tầng công nghệ 23
2.2.1.2 Cơ sở hạ tầng nhân lực 26
2.2.1.3 Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội 29
2.2.1.4 Cơ sở hệ thống chính sách – pháp luật 30
2.2.1.5 Cơ sở an toàn bảo mật 30
2.2.2 Tổng quan về tình hình triển khai mô hình Chính phủ điện tử của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) 33
2.2.2.1 Giới thiệu về Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) 33
2.2.2.2 Thực trạng triển khai mô hình đối thoại trực tuyến Chính quyền điện tử của VCCI 34
2.2.3 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên ngoài đến việc phát triển mô hình đối thoại trực tuyến (E-dialogue) Chính phủ điện tử của VCCI 35
2.2.4 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên trong đến việc phát triển mô hình đối thoại trực tuyến (E-dialogue) Chính phủ điện tử của VCCI 37
2.3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ DỮ LIỆU 39
Chương 3: MỘT SỐ KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH ĐỐI THOẠI TRỰC TUYẾN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ CỦA VCCI 42
3.1 CÁC PHÁT HIỆN VÀ KẾT LUẬN QUA QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU 42
3.1.1 Những kết quả đạt được 42
3.1.2 Những tồn tại chưa giải quyết 42
3.1.3 Nguyên nhân của những tồn tại 43
3.1.4 Những hạn chế của nghiên cứu và những vấn đề cần nghiên cứu tiếp theo trong thời gian tới 45
3.2 DỰ BÁO TRIỂN VỌNG VÀ QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 46
3.2.1 Dự báo tình hình trong thời gian tới 46
Trang 53.2.2 Định hướng phát triển mô hình đối thoại trực tuyến chính phủ điện tử của
VCCI 47
3.2.3 Phạm vi vấn đề giải quyết 47
3.3 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH ĐỐI THOẠI TRỰC TUYẾN (E-DIALOGUE) CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ CỦA VCCI 48
3.3.1 Một số kiến nghị về phía Chính quyền 48
3.3.1.1 Xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động của mô hình đối thoại trực tuyến của VCCI 48
3.3.1.2 Cải thiện cơ sở hạ tầng CNTT-TT 49
3.3.1.3 Cải thiện cơ sở hạ tầng nhân lực 50
3.3.2 Một số kiến nghị về phía các doanh nghiệp 51
3.3.2.1 Nâng cao nhận thức và chủ động ứng dụng mô hình đối thoại trực tuyến của VCCI 51
3.3.2.2 Nâng cao chất lượng hạ tầng công nghệ 51
3.3.3 Một số kiến nghị về phía VCCI 52
3.3.3.1 Đẩy mạnh công tác đào tạo, tuyên truyền về CPĐT cho các doanh nghiệp và chính quyền địa phương 52
3.3.3.2 Học tập kinh nghiệm về phát triển CPĐT ở nước ngoài, đẩy mạnh phối hợp với các tổ chức quốc tế có tiếng trong việc hỗ trợ phát triển CPĐT 53
3.3.4 Một số giải pháp phát triển mô hình đối thoại trực tuyến của VCCI trong thời gian tới 54
3.3.4.1 Nâng cấp hạ tầng bảo mật thông qua sử dụng công nghệ OTP 54
3.3.4.2 Tạo lập thêm các ứng dụng, chức năng tích hợp vào mô hình 57
3.3.4.3 Kiểm soát lưu lượng truy cập 60
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6CPĐT : Chính phủ điện tử
CNTT-TT : Công nghệ thông tin - Truyền thông
VCCI : Vietnam Chamber of Commerce and
Industry (Phòng Thương mại và Côngnghiệp Việt Nam)
TT&TT : Thông tin và Truyền thông
G2B : Government to Business (Chính phủ với
NAC : Network Administration Control (Hệ thống
kiểm soát lượng truy cập)
OTP : One-Time Password (Mật khẩu dùng 1 lần)
Trang 7Trang
Hình 1.1: Mô hình đối thoại trực tuyến của VCCI 10
Hình 2.1: Thực trạng quản lý an toàn thông tin trong các cơ quan nhà nước …… 32 Hình 2.2: Mức độ áp dụng các giải pháp công nghệ đảm bảo an toàn thông tin tại
Hình 2.3: Tỷ lệ các đơn vị nhận biết được có bị tấn công mạng xét theo một số loại tấn công cơ bản……….………33 Hình 2.4: Mô hình thí điểm 35
Hình 2.5: Lý do doanh nghiệp chưa tham gia hoặc chưa tham gia sâu đối với việc
đối thoại trực tuyến với chính phủ. 40
Hình 2.6: Mô hình đối thoại trực tuyến ứng dụng công nghệ OTP… ……… 57 Hình 2.7: Mô hình đối thoại trực tuyến ứng dụng công nghệ NAC của Cisco… 61
Trang 8Bảng 2.3: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên ngoài đến
việc triển khai mô hình đối thoại trực tuyến chính phủ điện tử của 36
Bảng 2.4: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên trong đến
việc triển khai mô hình đối thoại trực tuyến 37
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính phủ là chủ thể đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường.Vai trò của Chính phủ thể hiện qua việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế, xây dựng cácchính sách đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững trong dài hạn,đảm bảo sự cạnh tranh công bằng trên thị trường cũng như tạo lập môi trường kinhdoanh v v Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, vai trò của Chínhphủ còn đóng một vai trò quan trọng hơn nữa trong việc xây dựng thể chế kinh tếthị trường
Toàn cầu hoá đang kéo các quốc gia trên thế giới lại gần nhau hơn, nhưngcùng với đó tính cạnh tranh cũng cao hơn Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hoáđang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, các Chính phủ phải tìm cách giúp đỡ công dân vàdoanh nghiệp cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hoá Nếu vẫn tồn tại dưới hìnhthức truyền thống, Chính phủ sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện vai trò củamình Vậy làm thế nào để bộ máy Chính phủ giải quyết được vấn đề trên? Câu trảlời được nhiều người tán thành là phát triển Chính phủ điện tử Trong bối cảnh chiphí công đang ngày càng trở thành nỗi ám ảnh thời hậu khủng khoảng, Chính phủđiện tử càng là bước đi cấp thiết của tất cả nền kinh tế Chính phủ điện tử ra đời cóthể sẽ dễ dàng đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hoá bàng cách áp dụng công nghệ hiệnđại, rút ngắn không gian và tiết kiệm thời gian, tạo khả năng kiểm soát các “rủi rotoàn cầu” một cách hiệu quả
Cuộc khủng hoảng toàn cầu trên thực tế khách quan cũng khiến các Chínhphủ nhận thấy nhu cầu bức thiết trong việc phát triển Chính phủ điện tử Đứng trướcnguy cơ bị phá giá nội tệ hoặc vỡ nợ công, hầu hết Chính phủ ở các nền kinh tế cóthu nhập cao và trung bình đều đã tiến hành một loạt các biện pháp khắc khổ.Nhưng các biện pháp đó đang đẩy nhanh bất ổn xã hội và khiến Chính phủ ngàycàng ít lựa chọn hơn ngoài việc phát triển Chính phủ điện tử … Là một quốc giađang phát triển và cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ những biến động trên thịtrường phát sinh từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, Việt Nam cũng không phải
là ngoại lệ
Trang 10Xuất phát từ quá trình thực tế tìm hiểu tại Phòng Thương mại và Côngnghiệp Việt Nam (VCCI), là một tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộngđồng doanh nghiệp, người sử dụng lao động và các hiệp hội doanh nghiệp của ViệtNam nhằm mục đích phát triển, hỗ trợ và bảo vệ doanh nghiệp Tập hợp, nghiêncứu ý kiến của các doanh nghiệp để phản ánh, kiến nghị và tham mưu cho Nhànước các vấn đề về pháp luật, chính sách kinh tế - xã hội nhằm cải thiện môi trườngkinh doanh; Tham gia xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xãhội và hội nhập kinh tế quốc tế Là cầu nối giữa doanh nghiệp và Nhà nước, vai tròcủa VCCI trong việc trợ giúp Nhà nước phát triển Chính phủ điện tử là rất quantrọng Trong một vài năm trở lại đây, VCCI hiện đã và đang hỗ trợ thí điểm một sốtỉnh như Đà Nẵng, Lào Cai trong việc xây dựng mô hình đối thoại trực tuyến chínhphủ điện tử, mô hình này cũng đã cho thấy một hướng đi tiềm năng cho phát triểnChính phủ điện tử tại Việt Nam Tuy nhiên, mô hình khi triển khai vẫn còn tồn tạimột số bất cập nhất định.
Nhằm giúp Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hoàn thiện hơn môhình đối thoại trực tuyến chính phủ điện tử, giúp tháo gỡ những khó khăn trong quátrình ứng dụng Từ đó giúp việc phát triển và ứng dụng Chính phủ điện tử tại ViệtNam nói chung và mô hinh đối thoại trực tuyến chính phủ điện tử của VCCI nóiriêng được đẩy mạnh hơn, và cũng gián tiếp thể hiện rõ vai trò của Phòng Thươngmại và Công nghiệp Việt Nam như là một trong những tổ chức đi tiên phong giúpphát triển lĩnh vực tuy mới mẻ ở Việt Nam nhưng cũng không kém phần quantrọng, nhất là trong thời buổi kinh tế khủng hoảng này
2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Có thể thấy rằng trong giai đoạn mà Việt Nam đang cần phát triển Chính phủđiện tử hơn bao giờ hết thì Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - là tổchức cầu nối giữa doanh nghiệp và Nhà nước, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việcphát triển, đầu tư cũng như phản ánh các kiến nghị của các doanh nghiệp đồng thờitham mưu, đề xuất giải pháp cho Nhà nước - đóng một vai trò rất quan trọng
Việc hoàn thiện mô hình đối thoại trực tuyến giữa các doanh nghiệp và chínhquyền địa phương mà Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã và đangtriển khai là rất cần thiết Hiện nay việc áp dụng hình thức đối thoại trực tiếp thực tế
Trang 11đang gây lãng phí và tốn nhiều thời gian và tiền của của các doanh nghiệp lẫn chínhquyền nhất là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế hiện nay Nếu triển khai tốt hệthống đối thoại trực tuyến, nó sẽ mang lại lợi ích không nhỏ cho doanh nghiệp vàchính quyền Do vậy đề tài khóa luận mà em quyết định chọn để nghiên cứu đó là:
“Giải pháp phát triển mô hình đối thoại trực tuyến E-Dialogue (G2B) Chính phủ điện tử của Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)”.
3 Các mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu các cơ sở lý luận về Chính phủ điện tử và các lý thuyết liên quanđến mô hình đối thoại trực tuyến
Chi ra một số bất cập trong quá trình triển khai thí điểm mô hình và kiếnnghị một số giải pháp phát triển nhằm hoàn thiện hơn mô hình đối thoại trựctuyến chính quyền điện tử (E – dialogue) của Phòng Thương mại và Côngnghiệp Việt Nam
Kiến nghị với Chính phủ và các doanh nghiệp cũng như VCCI về những giảipháp nhằm hỗ trợ phát triển và ứng dụng sâu các mô hình Chính phủ điện tửnói chung và mô hình đối thoại trực tuyến chính phủ điện tử của VCCI nóiriêng
5 Kết cấu của khóa luận
Trang 12Phần đầu của khóa luận bao gồm các phần: tóm lược, mục lục, danh mụcbảng biểu, danh mục sơ đồ hình vẽ, danh mục các từ viết tắt, những mục này nhằmgiúp người đọc có được cái nhìn tổng quan về đề tài nghiên cứu và tạo thuận tiện
cho việc theo dõi phần nội dung của đề tài Trên cơ sở những nội dung trên, nhằm
xây dựng một kết cấu hợp logic, khóa luận nghiên cứu để phát triển mô hình đốithoại trực tuyến E-Dialogue (G2B) Chính phủ điện tử của Phòng Thương Mại vàCông nghiệp Việt Nam (VCCI), được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về chính phủ điện tử và mô hình đối thoại trực tuyến của VCCI.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng mô hình đối thoại trực tuyến chính phủ điện tử của VCCI.
Chương 3: Một số kết luận và đề xuất để hoàn thiện mô hình đối thoại trực tuyến chính phủ điện tử của VCCI
Trang 13Chương IMỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ VÀ MÔ
HÌNH ĐỐI THOẠI TRỰC TUYẾN CỦA VCCI 1.1 MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA, KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1 Khái niệm về Chính phủ điện tử
Thông tin và truyền thông (CNTT&TT) đang làm biến đổi sâu sắc đờisống, kinh tế, văn hoá xã hội của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ trên toàn thếgiới Phát triển và ứng dụng CNTT&TT đang là cơ sở hạ tầng cho việc phát triểnnền kinh tế quốc dân, từ cơ sở này cùng với sự điều hành Nhà nước, khái niệmChính phủ điện tử (CPĐT) đã ra đời
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (World Bank) “ CPĐT là việc các
cơ quan của chính phủ sử dụng một cách có hệ thống CNTT-TT để thực hiện quan hệ với công dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội Nhờ đó giao dịch của các cơ quan chính phủ với công dân và các tổ chức sẽ được cải thiện, nâng cao chất lượng Lợi ích thu được sẽ là giảm thiểu tham nhũng, tăng cường tính công khai, sự tiện lợi, góp phần vào sự tăng trưởng và giảm chi phí”[ 1 ]
Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc (UN) “ CPĐT được định nghĩa như là việc sử dụng Internet để truyền tải cũng như cung cấp thông tin và dịch vụ của chính phủ tới người dân và doanh nghiệp”[2]
Như vậy, trong khi hiện có rất nhiều định nghĩa về CPĐT, có một cách cáchhiểu chung phổ biến về CPĐT: CPĐT là việc ứng dụng CNTT-TT, cung cấp dịch
vụ công cho người dân và doanh nghiệp 24/24, 7 ngày trong tuần, tạo ra sự liêntục, thông tin được trao đổi một cách công khai minh bạch
1.1.2 Sự khác nhau giữa Chính phủ truyền thống và Chính phủ điện tử
Với mô hình Chính phủ truyền thống thìchính phủ hoạt động theo mô hìnhlấy các sở ban ngànhlàm trọng tâm khiến người dân khó có thểtiếp cận cácdịch
1[,2] E-Government and E-Governance: Definitions/Domain Framework and Status around the World by C Jain Palvia and S Sharma, 2007.
Trang 14vụ côngmột cách chất lượng Nhưng đối với mô hình CPĐT thì đây là một môhình lấy công dân làm trọng tâm,các sở ban ngành có thể kết nối với nhau đểchia sẻ thông tin, cùng phối hợp giao dịch một cách hiệu quả hơn với công dân,doanh nghiệp.Cách tiếp cận lúc đó sẽ tập trung hơn vào người dân, bớt sự tậptrung vào sở ban ngành.
Theo đó, chính phủ sẽ chủ động cung cấp dịch vụ công cho công dân theocách mà công dân thấy cảm thấy thuận lợi nhất khi truy cập vào Chính phủ chủđộng xử lý phản hồi từ công dân các vấn đề liên quan tới chính sách, lập pháp,hành pháp liên quan đến các dịch vụ mà công dân cần Khi đó, mô hình chínhphủ lấy công dân làm trọng tâm thực sự cung cấp được các dịch vụ mà công dâncần, theo cách công dân muốn, vào thời điểm mà công dân thích Vì vậy, tínhhiệu quả trong vận hành bộ máy cũng như khả năng nhanh nhạy trong phục vụngười dân, doanh nghiệp chính là động lực thực sự cho sự chuyển đổi từ môitrường có trọng tâm là sở ban ngành sang môi trường lấy chính phủ làm trọngtâm vàhướng tới môi trường lấy công dân làm trọng tâm
1.1.3 Khái niệm dịch vụ công trực tuyến
Dịch vụ công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật,không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanhnghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thứccác loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đóquản lý Dịch vụ công trực tuyến là khái niệm được hình thành khi Chính phủứng dụng CNTT-TT vào hoạt động của chính quyền nhằm đẩy mạnh hơn tínhhiệu quả cũng như chất lượng của dịch vụ công, trên thực tế có nhiều cách hiểu,định nghĩa về dịch vụ công trực tuyến, dưới đây là cách hiểu phổ thông:
Dịch vụ công trực tuyến : dịch vụ hành chính công và các dịch vụ
khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhântrên môi trường mạng.[ 2 ]
2[3;4;5;6;7] E-Government Service Development – A Vital Factor in Business Environment Improvement in Viet Nam by Nguyen Dang Tuan Minh (MSc Digital Enterprise Management), 2009.
Trang 15Trên thực tế, dịch vụ công trực tuyến được chia thành nhiều mức độ áp dụng tùythuộc vào trình độ CNTT-TT của chính quyền địa phương, có thể chia thành cácmức như sau:
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là dịch vụ đảm bảo cung cấp đầy
đủ các thông tin về quy trình, thủ tục; hồ sơ; thời hạn; phí và lệ phíthực hiện dịch vụ.[4]
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là dịch vụ công trực tuyến mức
độ 1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo đểhoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trựctiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.[5]
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức
độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu vănbản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ Các giao dịch trong quátrình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trườngmạng Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiệntrực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.[6]
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức
độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thựchiện trực tuyến Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửitrực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng.[7]
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 5: là dịch vụ công trực tuyến đạt
đến mức độ hoàn toàn tự động hóa việc cung cấp dịch vụ, không cầnthiết phải chờ cán bộ xử công văn rồi phản hồi nữa Nó đẩy mạnh tínhhiệu quả của quá trình cung cấp dịch vụ, hoàn toàn tự động, tốc độ xử
lý nhanh và chính xác, người dùng sẽ không mất thời gian chờ đợiphản hồi nữa.[8]
8[8] E-Government Service Development – A Vital Factor in Business Environment Improvement in Viet Nam
by Nguyen Dang Tuan Minh (MSc Digital Enterprise Management), 2009
Trang 161.1.4 Mô hình đối thoại trực tuyến của VCCI
Mô hình đối thoại trực tuyến chính phủ điện tử của VCCI là “mô hình đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp dựa trên sự hỗ trợ của hạ tầng công nghệ thông tin – truyền thông và hạ tầng bảo mật khóa công khai”[ 3 ] Mô hình
này có đặc điểm khác biệt so với mô hình đối thoại truyền thống:
+ Môi trường trao đổi thông tin: Internet và các phương tiện điện tử có hỗ trợ bởi
hạ tầng bảo mật, an toàn thông tin khóa công khai
+ Thời gian gửi thông tin: Gửi bằng đường điện tử, thời gian gửi xấp xỉ = 0+ Chi phí gửi thông tin: Gửi bằng đường điện tử, chi phí gửi xấp xỉ = 0
+ Phương thức xác nhận thông tin: Thay con dấu + chữ ký = chữ ký số
+ Khả năng chống nặc danh, giả mạo: Gần như không có, vì tất cả các cuộc đốithoại, văn bản đều được ký số và bảo mật (Trừ phi bản thân người giữ chữ ký số
tự mình làm lộ ra vì nguyên nhân nào đó – rủi ro từ người dùng)
Tham gia mô hình này có 3 chủ thể chính:
- Chính quyền địa phương: Ủy bản nhân dân, các Sở, Ban ngành cấp tỉnh
thành
- Cộng đồng doanh nghiệp: Các doanh nghiệp đóng trên địa bàn của tỉnh,
thành phố hoặc có chi nhánh, văn phòng đại diện nằm trên địa bản của tỉnh,thành phố
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chứng thực số, chứ ký số (CKCA): Là doanh
nghiệp cũng cấp dịch vụ chữ ký số thay cho con dấu và chữ ký thường, cũng
là bên thứ ba (giữa chính quyền và địa phương) đứng ra xác thực chữ ký số(chứng thực chữ ký số) Hiện nay ở Việt Nam có 2 nhà cung cấp dịch vụCKCA chủ yếu là FPT và VNPT
Hoạt động của mô hình:
Về phía doanh nghiệp và chính quyền: Mỗi ban ngành, ủy ban nhân dân các cấp
và các doanh nghiệp đều được nhà cung cấp dịch vụ CKCA cung cấp một chữ ký
3[9] Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Trang 17số, một cặp khóa công khai/bí mật riêng biệt, các bên đều phải có trách nhiệmđảm bảo không để lộ thông tin ra bên ngoài Ngoài ra, mỗi ban ngành, UBND,các doanh nghiệp cũng đều có một tài khoản riêng để truy cập vào hệ thống đốithoại trực tuyến.
Mô hình triển khai: Ứng dụng đối thoại giữa chính quyền địa phương và doanh
nghiệp (gọi tắt là eDialog App) dạng Web-Based được xây dựng và cài đặt trênmột server eDialog đặt tại hệ thống trung tâm thông tin (DataCenter) được đặt tạitrụ sở của UBND tỉnh Không triển khai eDialog trên cùng máy chủ Portal (Cổngthông tin) của địa phương để tránh các vấn đề phức tạp trong tích hợp các ứngdụng và bảo mật
Máy chủ Portal của địa phương sẽ được cấp một kết nối an toàn đếnwebsite đối thoại eDialog Doanh nghiệp sẽ truy cập dựa vào tài khoản và chữ kỹ
số đã được cấp tại website cổng thông tin của địa phướng (Portal), sau khi đãtruy cập xong thì click vào mục đối thoại doanh nghiệp, thông qua một kết nối antoàn sẽ được đưa đến máy chủ eDialog
UBND sẽ là người chủ trì các cuộc đối thoại (tương tự Mod trong cácForum), các câu hỏi của doanh nghiệp hoặc sẽ được UBND trả lời trực tiếp hoặc
sẽ được chuyển tiếp đến Sở, Ban, Ngành chức năng tương ứng để trả lời cũngthông qua một kết nối an toàn được thiết kế riêng Các doanh nghiệp khi có ýkiến cần đề đạt thì tại website đối thoại trực tuyến click vào chức năng soạn thảo
ý kiến và ký số vào nội dung trước khi đăng, UBND hay các Sở, Ban, Ngànhkhác cũng vậy
Trang 18Hình 1.1: Mô hình đối thoại trực tuyến CPĐT của VCCI
Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Các cuộc đối thoại đều được lưu trên website và các doanh nghiệp cũng nhưchính quyền có thể xem tại chức năng “lịch sử đối thoại” trong tài khoản củamình Đây cũng là một hình thức giảm thiểu vấn nạn quan liêu, nhũng nhiễu khi
mà toàn bộ quá trình trao đổi được minh bạch hóa và được lưu lại làm cơ sở đểđối chiếu về sau
- Xây dựng ứng dụng web eDialog tích hợp chức năng đăng nhập bằng chữ
ký số và nhận thực người viết bài bằng chữ ký số Hình thức xác thực và phânquyền dựa trên mô hình xác thực đa nhân tố: bắt buộc có cả username/password
và chữ ký số Ngôn ngữ lập trình Java/PHP, cơ sở dữ liệu MySQL hoặc Postgres
Trang 19- Phát triển ứng dụng trên máy tính bảng để tăng tính thân thiện đối vớingười dùng là các cán bộ sở ban ngành tại địa phương và các giám đốc DNkhông thật thành thạo về CNTT: trên mỗi máy tính bảng có sẵn các ứng dụngnhư: công văn chờ xử lý, các công văn, chỉ thị từ UBND, từ chính phủ, giấy phép
đã cấp, giấy phép chờ duyệt, các vấn đề nóng, …
- Phát triển các eDialogueApps Store để bổ sung các tính năng trong quátrình phát triển hệ thống Phát triển các giao thức để cho phép nhiều nhà cung cấpgiải pháp cùng tham gia
1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1 Vai trò, lợi ích của Chính phủ điện tử và mô hình đối thoại trực tuyến của VCCI
1.2.1.1 Vai trò và lợi ích của Chính phủ điện tử
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua đã khiến các Chính phủ củacác nước trên thế giới nhận thấy nhu cầu bức thiết trong việc phát triển Chínhphủ điện tử Đứng trước nguy cơ bị phá giá nội tệ hoặc vỡ nợ công, hầu hếtChính phủ ở các nền kinh tế có thu nhập cao và trung bình đều đã tiến hành mộtloạt các biện pháp khắc khổ Nhưng các biện pháp đó đang đẩy nhanh bất ổn xãhội
Toàn cầu hoá tuy đang kéo các quốc gia trên thế giới lại gần nhau hơn,nhưng cùng với đó tính cạnh tranh cũng cao hơn Trong bối cảnh quá trình toàncầu hoá đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, các Chính phủ phải tìm cách giúp đỡcông dân và DN cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hoá Nếu vẫn tồn tại dướihình thức truyền thống, Chính phủ sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện vai tròcủa mình Do vậy mà trong thời gian qua, các nước trên thế giới đều đã và đang
cố gắng đầu tư xây dựng CPĐT
Xây dựng CPĐT ở các nước nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang là mộtyêu cầu cấp thiết, nó đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình cải cách nềnhành chính quốc gia, hướng tới tăng cường năng lực điều hành nhà nước củaChính phủ; mang lại thuận lợi cho người dân; tăng cường sự minh bạch, giảm
Trang 20tham nhũng, giảm chi phí Chính phủ, làm tăng thu nhập quốc dân, cung cấp tốthơn các dịch vụ của Chính phủ đến người dân và điện tử hoá tổ chức bộ máy củachính quyền Nhất là trong thời kỳ suy thoái khủng hoảng kinh tế trầm trọng, nợcông của các chính phủ đang gia tăng, thì vai trò của CPĐT còn thể hiện rõ hơnnữa.
- Đối với Chính phủ:
Giảm “nạn giấy tờ” văn phòng – công sở Hợp lý hóa việc vận hành côngviệc, tiết kiệm được thời gian cũng như tăng hiệu quả làm việc của cán bộ côngchức Cho phép các cơ quan Chính phủ cung cấp các dịch vụ chất lượng cao hơn
và giảm ngân sách chi tiêu của chính phủ Minh bạch hóa hoạt động của chínhphủ, qua đó giảm thiểu nạn tham nhũng và tăng thu nhập quốc dân Cải thiệnnăng lực điều hành của các cấp lãnh đạo giúp cho chính phủ đưa ra các quyếtđịnh một cách chính xác và kịp thời
- Đối với người dân và doanh nghiệp:
Tiết kiệm thời gian cho người dân và doanh nghiệp khi truy cập và sử dụngdịch vụ của chính phủ thông qua việc tự động hóa và đơn gian hóa các thủ tụchành chính và tăng tính hiệu quả của quá trình xử lý công việc Cho phép ngườidân và doanh nghiệp tham gia vào hoạt động của chính phủ, làm tăng mối liênkết giữa chính quyền và người dân lẫn doanh nghiệp
1.2.1.2 Vai trò và lợi ích của mô hình đối thoại trực tuyến của VCCI
Hình thức đối thoại theo phương thức truyền thống vốn gây ra nhiều bất cập,tốn thời gian và chi phí của cả doanh nghiệp lẫn chính quyền Hơn nữa, khôngphải lúc nào doanh nghiệp cũng gặp được đúng người để giải quyết vấn đề củamình, mà nhiều khi chỉ một vấn đề đơn giản như xin thủ tục đăng ký cũng phảiqua nhiều công đoạn phức tạp Hơn nữa, việc chứng nhận bằng chữ ký và condấu cũng gây nên nhiều tiêu cực, nhất là trong thời đại công nghệ cao hiện nay,thì việc giả mạo chữ ký, con dấu là điều hoàn toàn đơn giản, những vụ lừa đảoliên quan đến mua bán, chuyển nhượng đất đai, thế chấp tài sản cho ngân hàng,khi mà một người có thế làm giả đến vài cái sổ đỏ, hoặc làm giả giấy chứng nhận
Trang 21đăng ký kinh doanh để lừa đảo đã và đang gây nhức nhối đến hoạt động củachính quyền.
Vấn đề hóc búa này chỉ được giải quyết khi hệ thống chính quyền đảm bảo được
Vì sự phát triển mạnh mẽ của CPĐT trên toàn thế giới cũng như là ở Việt Nam,
và cũng xuất phát từ nhu cầu phát triển một kênh đối thoại hiện đại hơn, thuậntiện hơn, tiết kiệm chi phí hơn nên mô hình đối thoại trực tuyến mà VCCI đềxuất đã ra đời Đây là kênh đối thoại:
- Có đảm bảo: các bên sau khi nhận thông tin không thể chối bỏ (do đặc điểmcủa PKI và chữ ký số) và luôn công khai minh bạch, tránh được các tìnhhuống nhũng nhiễu, tiêu cực
- Có xác thực: người tham gia đối thoại biết ai đang đối thoại với mình: cácthực thể rất rõ ràng nhờ có chứng thư số Tránh các đối thoại nặc danh
- Có an ninh, an toàn thông tin gần như tuyệt đối nhờ sử dụng hạ tầng PKI
- Tự động hóa việc trao đổi thông tin trong nội bộ giữa Ủy ban nhân dân và
Sở, Ban, Ngành và kênh thông tin với cộng đồng doanh nghiệp
Đối với chính quyền:
- Mô hình giúp tăng tính hiệu quả trong hoạt động cung cấp dịch vụ hànhchính sự nghiệp công thông qua giảm bớt các quy trình thủ tục hành chínhrườm rà, ứng dụng CNTT khiến cho quy trình làm việc luôn được vận hành
ổn định và chính xác
Trang 22- Tránh được nạn giả mạo giấy tờ, giả mạo con dấu, chữ ký
- Tiết kiệm chi phí và thời gian do có thể cùng một lúc giải đáp thắc mắc chonhiều doanh nghiệp (nhiều cán bộ trực tuyến túc trực)
- Tránh được nạn tham nhũng, cửa quyền của bộ phận cán bộ công chức
- Giúp chính quyền có thể có cái nhìn khách quan và tổng quan về năng lựccũng như khó khăn của doanh nghiệp tại địa phương mình, từ đó có nhữngchính sách phát triển, hỗ trợ hợp lý
Đối với doanh nghiệp:
- Giúp doanh nghiệp có thể trao đổi trực tiếp với Ban Ngành có chức năng liênquan, qua đó có thể giải đáp đúng trọng tâm mà doanh nghiệp đang thắc mắcngay lập tức mà không phải chờ phản hồi Qua đó tăng tính hiệu quả củacuộc đối thoại
- Đảm bảo an toàn thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp không bị lộ ra ngoài
- Tiết kiệm tối đa thời gian, chi phí do không phải mất công đến gặp trực tiếpnhư trước
1.2.2 Các mô hình giao dịch trong Chính phủ điện tử
Tham gia CPĐT có 3 thực thể: Chính phủ, người dân và doanh nghiệp Trên
cơ sở quan hệ giữa các chủ thể trên, ta có thể phân loại CPĐT ra thành 4 loại,tương ứng với 4 dạng CPĐT bao gồm:
G2C (Government to Citizens) : Được hiểu như khả năng giao dịch
và cung cấp dịch vụ của chính phủ trực tiếp cho người dân, sự ứngdụng G2C cho phép người dân hỏi và nhận được câu trả lời từ các cơquan chính phủ; ví dụ như thông tin về kê khai thuế, làm bằng lái xe,phí giao thông, làm chứng minh thư, tạm trú … Mặt khác, Chính phủ
Trang 23cũng có thể phổ biến thông tin trên website, cung cấp các mẫu văn bản
có thể tải về máy [ 10 ]
G2B (Government to Business) : Trong ứng dụng G2B, Chính phủ có
vai trò như là nhà cung cấp cho các doanh nghiệp thông qua sử dụngInternet và các hạ tầng kỹ thuật CNTT khác Ví dụ như dịch vụ muasắm, thanh tra, giám sát doanh nghiệp (về đóng thuế, tuân thủ luậtpháp ); thông tin về quy hoạch sử dụng đất, đấu thầu, phát triển đôthị, cung cấp các mẫu văn bản, quy định hướng dẫn thực thi pháp luật
và chính sách của nhà nước, cho các doanh nghiệp.[11]
G2E (Government to Employees) : Chỉ các dịch vụ, giao dịch trong
mối quan hệ giữa chính phủ đối với công chức, viên chức bảo hiểm,dịch vụ việc làm, trợ cấp thất nghiệp, chăm sóc sức khỏe, nhà ở …[12]
G2G (Government to Government) : Được hiểu như khả năng phối
hợp, chuyển giao và cung cấp các dịch vụ một cách có hiệu quả giữacác cấp, ngành, tổ chức, bộ máy nhà nước trong việc điều hành vàquản lý nhà nước, trong đó chính bản thân bộ máy chính phủ đóng vaitrò vừa là chủ thể, vừa là khách thể trong mối quan hệ này.[13]
Toàn bộ hệ thống quan hệ, giao dịch của chính phủ như G2C, G2E, G2B, vàG2G phải được đặt trên một hạ tầng vững chắc của hệ thống: độ tin cậy, khảnăng đảm bảo tính riêng tư, và bảo mật, cuối cùng tất cả đều dựa trên hạ tầngcông nghệ và truyền thông với các quy mô khác nhau: mạng máy tính, mạngIntranet, Extranet, Internet
1.2.3 Các hình thức hoạt động và các dạng dịch vụ cung cấp qua Chính phủ điện tử.
1.2.3.1 Các hình thức hoạt động chủ yếu của Chính phủ điện tử
Thư điện tử (Email)
1[10;11;12;13] E-Government and E-Governance: Definitions/Domain Framework and Status around the World
by C Jain Palvia and S Sharma, 2007.
Trang 24Thư điện tử giúp tiết kiệm được chi phí và thời gian Có thể sử dụng e-mail đểgửi các bản ghi nhớ, thông báo, báo cáo, bản tin CPĐT yêu cầu mỗi cán bộ côngchức phải có địa chỉ e-mail để trao đổi thông tin qua mạng.
Mua sắm công cộng trong CPĐT
Việc mua sắm công có thể thực hiện được qua mạng, đảm bảo tiết kiệm thờigian, chi phí Đây cũng là một hình thức minh bạch các hoạt động thu chi củaChính phủ, giúp giảm thiểu tham nhũng, biển thủ
Trao đổi dữ liệu điện tử
Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là việc trao đổi các dữ liệu dưới dạng có cấu trúc
từ máy tính này sang máy tính điện tử khác trong nội bộ cơ quan hay giữa các cơquan EDI có tính bảo mật cao
Tra cứu, cập nhật thông tin qua mạng
Chính phủ thông qua mạng Internet có thể cung cấp thông tin cho người dân vàdoanh nghiệp các loại thông tin về kinh tế, xã hội, về chủ trương chính sách vàcác hướng dẫn thủ tục hành chính v.v
1.2.3.2 Các dạng dịch vụ mà Chính phủ điện tử cung cấp
Trước đây các cơ quan chính phủ cung cấp dịch vụ công cho người dân tại trụ sởcủa mình thì nay có thể cung cấp dịch vụ công qua mạng thông qua cổng thôngtin điện tử Người dân không phải đến trực tiếp, chờ đợi tại các trụ sở cơ quantrên như trước đây
Một số dịch vụ công có thể được cung cấp qua mạng là:
+ Cung cấp thông tin văn bản quy phạm pháp luật
+ Cung cấp thông tin kinh tế, thị trường, xã hội
+ Cung cấp dịch vụ cấp phép, xuất khẩu trực tuyến
+ Cung cấp dịch vụ khai báo thuế trực tuyến
+ Cung cấp dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến
+ Cung cấp dịch vụ đăng ký xây dựng, đấu thầu
Trang 25+ Cung cấp dịch vụ chứng nhận kiểm dịch, vệ sinh an toàn thực phẩm
+ Cung cấp dịch vụ tra cứu hồ sơ hành chính công
+ Cung cấp dịch vụ đối thoại trực tuyến
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
o Shailenda C.Jain Palvia and Shushil S.Sharma (2007), Government and Governance: Definitions/Domain Framework and Status around the World,
E-www.iceg.net, truy cập ngày 20 tháng 03 năm 2013, <www.iceg.net/2007/books/ 1/1_369.pdf >
Tài liệu đã đề cập những vấn đề cơ bản như là CPĐT là gì? Định nghĩa vềCPĐT của một số tổ chức trên thế giới Các lý thuyết liên quan đến CPĐT,báo cáo chỉ số xếp hạng về ứng dụng CPĐT của một số nước tại các châulục Đây là những thông tin nghiên cứu hữu ích phục vụ cho phát triểnCPĐT
o Dr Emad El Din Eid (2009), E-Government Theory & Implementation case study egyptian E-Government Model, www.itchannel.ro, truy cập ngày 20tháng 03 năm 2013,<http://www.itchannel.ro/faa/526_pdfsam_ICEA_FAA_2009.pdf >.
Tài liệu đã chỉ ra khái niệm về CPĐT là gì cũng như bổ sung thêm một vàikinh nghiệm trong quá trình ưng dụng CPĐT tại Ai Cập, những mặt đạt được
và hạn chế còn tồn tại Bài học rút ra từ mô hình CPĐT tại Ai Cập
Trang 26o Sherri R Greenberg (2006), E-Government Strategies: Indentifying Best Practices and Applications, Report for the Congressional Research Service,
2013,<http://www.utexas.edu/lbj/archive/pubs/pdf/e-government.pdf >
Báo cáo đã chỉ ra thực trạng tình hình phát triển và ứng dụng CPĐT tại Mỹ,dựa trên các mảng như chiến lược phát triển, mức độ gia công, các quỹ choCPĐT, các chính sách và văn hóa v v Sau đó đưa ra so sánh dựa trên cácphân tích nghiên cứu ở trong và ngoài nước Tác giả cũng đưa ra các bài họctại các Bang như California, Texas, Washington, Kentucky v v Và cuốicùng là giới thiệu khái quát về xu hướng cũng như thực trạng phát triển vàứng dụng CPĐT trên thế giới
o United Nations, New york (2012), E-Government Survey 2012, truy cập
ngày 04 tháng 04 năm 2013,
<http://unpan1.un.org/intradoc/groups/public/documents/un/unpan048065.pdf>
Đây là một báo cáo tổng hợp về tình hình ứng dụng CPĐT trên toàn thế giới,trong phạm vi từng châu lục cũng như một số quốc gia cụ thể Báo cáo cũngđưa ra rất nhiều các bảng biểu, bài phân tích, các chỉ số liên quan đến pháttriển hạ tầng CNTT-TT, hạ tầng nhân lực, mức độ “thông thoáng” của chínhsách các quốc gia v v
o Brendan Howlin (2011), E-Government 2012-2015, truy cập ngày 05 tháng
04 năm 2013, < http://per.gov.ie/wp-content/uploads/eGovernment-2012-2015.pdf >Tác giả đã đưa ra những cái nhìn tổng quan về tính cấp thiết cũng như những
lộ trình phát triển CPĐT tại Ai-len (Irish) trong thời gian sắp tới Tác giả đãvạch ra chiến lược phát triển CPĐT trong giai đoạn 2012-2015 dựa trên 45bước ứng dụng và các mô hình phát triển theo từng thời kỳ
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
o TS Nguyễn Đăng Hậu, TS Nguyền Hoài Anh, CN Ao Thu Hoài (2010),
Chính phủ điện tử, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà nội
Trang 27Trong giáo trình, tác giả đã đề cập đến một số vấn đề về CPĐT, bao gồm:Tổng quan về CPĐT, kiến trúc của CPĐT, hệ thống thông tin trong CPĐT,xây dựng chiến lược phát triển CPĐT, sự phát triển CPĐT ở một số nước vàtại Việt Nam Giáo trình đã làm rõ được CPĐT là gì? các vấn đề liên quanđến CPĐT? Thực trạng CPĐT tại Việt Nam cũng như định ra hướng pháttriển sắp tới Nhìn nhận một cách tổng quan, giáo trình đã giúp người đọc cóđược cái nhìn căn bản nhất về CPĐT cũng như thực trạng cho phát triểnCPĐT tại Việt Nam dựa trên những kinh nghiệm phát triển CPĐT tại một sốquốc gia trên thế giới.
o Đoàn Mạnh Hồng (2009), Nghiên cứu xây dựng lộ trình phát triển chính phủ điện tử ở việt nam và đề xuất mô hình chính phủ điện tử tại đại học thái nguyên, Luận văn thạc sỹ, Đại học Thái nguyên.
Trong đề tài, tác giả đã đánh giá tổng quan về cơ sở hạ tầng về pháp lý vàcông nghệ tại Việt Nam để bước đầu đề xuất lộ trình xây dựng CPĐT tại ViệtNam, tiếp theo phát triển thí điểm một số ứng dụng nhỏ cho ĐH TháiNguyên Luận văn đã làm rõ được thực trạng hạ tầng công nghệ và pháp lýtại Việt Nam còn nhiều bất cập cần phải giải quyết, chỉ ra những khó khănchung cho việc phát triển CPĐT tại Việt Nam Tác giả cũng đã đề xuất đượcmột hướng phát triển CPĐT tiềm năng cho ĐH Thái Nguyên thông qua kiếnnghị thiết lập một cổng thông tin điện tử nhằm cải cách một số thủ tục hànhchính, dịch vụ công đối với cán bộ công nhân viên chức, sinh viên, ví dụ như
tổ chức dịch vụ E-Learning, Thư điện tử, diễn đàn, học liệu mở v v
o Nguyễn Nam Trung (2007), Chính phủ điện tử và khả năng áp dụng chính phủ điện tử tại Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Đại học Ngoại Thương (Hà Nội).
Thông qua đề tài nghiên cứu, tác giả đã phân tích tình hình thực trạng choviệc ứng dụng CPĐT tại Việt Nam, cơ hội và thách thức, đề ra một số giảipháp, mô hình ứng dụng Nhìn chung, tác giả cũng đã phần nào chỉ ra đượcthực trạng CPĐT tại Việt Nam, tuy nhiên việc đề xuất giải pháp, mô hìnhứng dụng còn khá chung chung, điều này cũng vì CPĐT vào thời điểm đócòn khá mới mẻ và chưa được nhiều người biết đến tại Việt Nam
Trang 28o Trọng Cầm (2012), ‘Chính phủ điện tử mạnh phải cho dân quyền giám sát’,Báo điện tử Vietnamnet.vn, truy cập ngày 19 tháng 03 năm 2013,
< manh-phai-cho-dan-quyen-giam-sat-.html>
http://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe-thong-tin-vien-thong/81493/-chinh-phu-dien-tu-Thông qua bài viết, tác giả đã chỉ ra được thực trạng nền hành chính côngcủa Việt Nam còn nhiều bất cập, chủ yếu theo phương thức “hành là chính”.Tác giả cũng chỉ ra sự thiết yếu phải phát triển CPĐT cũng như làm rõ đượcphát triển CPĐT là phải tạo cho dân quyền giám sát mạnh hơn, làm chấtlượng dịch vụ công tốt hơn, hoạt động của chính quyền được minh bạch hơn
o Thành Chung (2012), ‘Chính phủ điện tử: Minh bạch hơn, phục vụ tốt hơn’,Báo điện tử Baodientu.Chinhphu.vn, truy cập ngày 19 tháng 03 năm 2013,
<http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Chinh-phu-dien-tu-Minh-bach-hon-phuc-vu-tot-hon/ 20127/144049.vgp>
Bài viết đã chỉ ra được 3 vấn đề chính, đó là sự thiết yếu cho phát triển hạtầng CPĐT, phát triển dịch vụ công và phát triển công dân điện tử Qua đólàm rõ được những vấn đề mà Chính phủ cần phải giải quyết trong thời giantới để phát triển CPĐT
o Nguyễn Đặng Tuấn Minh – Giám đốc tập đoàn công nghệ số MSc (2009), Government Service Development – A Vital Factor in Business Environment Improvement in Viet Nam, truy cập ngày 24 tháng 03 năm 2013
E-< http://www.veam.org/papers2009/E-Government%20Service%20Development.pdf >
Tác giả đã nêu ra lịch sử hình thành CPĐT, định nghĩa, các dạng dịch vụCPĐT, trực trạng xây dựng CPĐT tại Việt Nam rồi đưa ra các phân tích vàkhuyến nghị phát triển trong thời gian tới
Trang 29Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MÔ HÌNH ĐỐI THOẠI TRỰC TUYẾN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
CỦA VCCI 2.1 PHƯƠNG PHÁP HỆ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua hình thức phỏng vấn chuyên sâu đối vớimột số cán bộ chủ chốt và liên quan đến hoạt động CPĐT của VCCI
+ Nội dung: Tìm hiểu về thực trạng hoạt động triển khai mô hình đối thoại
trực tuyến chính phủ điện tử của VCCI cũng như kế hoạch sắp tới của họ trongviệc phát triển và nhân rộng mô hình
+ Cách thức tiến hành: Trước hết tìm hiểu khái quát về đặc điểm cũng như
thực trạng mô hình đối thoại trực tuyến mà VCCI đã và đang triển khai, từ đó tìm
ra những vấn đề cần phỏng vấn chuyên sâu và lập thành một bảng câu hỏi Sau
đó tiến hành phỏng vấn một số người có chuyên môn cao trong Tổ chức Cuốicùng là tổng hợp, phân tích nhằm rút ra những điều phục vụ cho quá trình nghiêncứu
Trang 30Ưu điểm: Thực hiện nhanh chóng, thuận lợi, tiết kiệm thời gian tìm kiếm
thông tin, nội dung thu được phản ánh đúng vấn đề cần nghiên cứu
Nhược điểm: Các câu hỏi đôi khi bị né tránh hoặc chỉ trả lời chung chung,
không đi vào chi tiết
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập thông qua một số tài liệu nội bộ liên quan đến môhình đối thoại trực tuyến của VCCI, một số báo cáo liên quan đến CPĐT tại ViệtNam
2.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Sau khi thu thập phiếu câu hỏi phỏng vấn chuyên sâu cũng như tham khảotài liệu nội bộ của VCCI, các báo cáo về CPĐT tại Việt Nam Em tổng hợp lại vàrút ra kết quả phân tích
2.2 THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN MÔ HÌNH ĐỐI THOẠI TRỰC TUYẾN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ CỦA VCCI
2.2.1 Tổng quan tình hình Chính phủ điện tử tại Việt Nam
Bảng 2.1: Thực trạng hạ tầng CNTT-TT ở các cơ quan Nhà nước từ năm 2008-2011
TỶ LỆ MÁY VI TÍNH TRÊN TỔNG SỐ CÁN BỘ CÔNG CHỨC (%)
Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ
Trang 31Các tỉnh, thành phố
TỶ LỆ MÁY VI TÍNH CÓ KẾT NỐI INTERNET (%)
Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ
Các tỉnh, thành phố
TỶ LỆ CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CÓ TRANG/ CÔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ (%)
Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ
Các tỉnh, thành phố
TỶ LỆ CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CÓ ĐƠN VỊ CHUYÊN TRÁCH VỀ CNTT (%)
Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ
Các tỉnh, thành phố
TỶ LỆ CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CÓ MẠNG NỘI BỘ (LAN, INTRANET, EXTRANET)(%)
Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ
Các tỉnh, thành phố
Nguồn: Sách trắng CNTT-TT 2012 của Bộ TT&TT
Về cung cấp thông tin: Website/Portal của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ngày càng cung cấp đầy
đủ và kịp thời những thông tin chủ yếu theo quy định (Luật Công nghệ thông tin,Nghị định 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 quy định về việc cung cấp thông tin
và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử, cổng thông tin điện tử của
cơ quan nhà nước và các thông tư hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông)
để phục vụ người dân và doanh nghiệp Tuy nhiên, khách quan mà nói chất
Trang 32lượng và tính hiệu quả mà các cổng thông tin này đem lại vẫn còn yếu, tỉ lệ cácđơn vị cung cấp thông tin ở mức được đánh giá tốt còn rất hạn chế, đặc biệt là tạicác địa phương Chỉ có một số tỉnh mà cổng thông tin đạt hiệu quả tốt, ví dụ AnGiang, Tp Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, còn lại đa phần vẫn còn mang tính chấthình thức, chỉ thiết kế website rồi đăng lên vài thông tin rồi để đó, không cóhướng dẫn cụ thể quy trình, cách thức sử dụng thông tin, các mẫu văn bản v v.
Về cung cấp dịch vụ công trực tuyến: So với năm 2010, các cơ quan nhà
nước tiếp tục duy trì và xây dựng thêm nhiều dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3
và mức độ 4 (năm 2008: có 6 tỉnh, thành phố cung cấp 30 dịch vụ; năm 2009: có
18 tỉnh, thành phố cung cấp 254 dịch vụ mức độ 3; năm 2010: có 38 tỉnh, thànhphố cung cấp 748 dịch vụ mức độ 2, có 01 thành phố cung cấp 03 dịch vụ mức
độ 4; năm 2011: có 38 tỉnh, thành phố cung cấp 829 dịch vụ mức độ 3, có 02thành phố cung cấp 08 dịch vụ mức độ 4) Chất lượng dịch vụ công trực tuyếntrong vài năm qua nhìn chung đang có dấu hiệu cải thiện về lượng nhưng về chấtthì chưa, chất lượng các dịch vụ công hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chophát triển CPĐT tại Việt Nam, so với mục tiêu đến năm 2015, hầu hết 100% cáctỉnh có ứng dụng dịch vụ công mức độ 3 mà nhìn vào thực trạng hiện nay thì vẫncòn rất xa vời, dẫu có đạt được thì chất lượng dịch vụ, hiệu quả hoạt động cóđược cải thiện hay không vẫn là câu hỏi cần được đặt ra
Bảng 2.2: Thực trạng chất lượng dịch vụ công tại các cơ quan nhà nước năm 2011
Trang 33Có thể thấy một thực trạng rằng, các chỉ số về hạ tầng công nghệ cho pháttriển CPĐT tại Việt Nam hầu hết vẫn chỉ đạt ngưỡng trên trung bình nếu nói vềlượng, còn về chất nếu không muốn nói là thấp hoặc rất thấp Tính minh bạch vàchất lượng dịch vụ công vẫn còn thấp và còn tồn tại nhiều bất cập, lấy một ví dụđơn giản: cơ quan Nhà nước cung cấp các mẫu đơn qua mạng nhưng lại thiếutuyên truyền đến dân, thiếu hướng dẫn, nên dù có đăng lên dân cũng không biếtchỗ nào mà tìm, mà có tìm cũng không biết dùng như thế nào bởi mẫu đơn đókhông có hướng dẫn cụ thể cách thức đầy đủ, chỉ qua loa nên dân cũng khôngbiết nên điền thông tin sao cho đúng, lại phải mất công gọi điện hoặc hẹn gặptrực tiếp – điều đó nói lên các dịch vụ công của Việt Nam đa phần mang tính mộtchiều, tuy hạ tầng cơ sở đã được củng cố nhưng chưa phát huy được hết tiềmnăng của CPĐT Từ đó khiến mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đốivới CPĐT là không cao.
2.2.1.2 Cơ sở hạ tầng nhân lực
Về cán bộ công nhân viên chức tại các cơ quan nhà nước: Để ứng dụng và triển
khai tốt CPĐT thì lẽ tất yếu Chính phủ cần phải có một nguồn lực cán bộ côngnhân viên chức dồi dào, có hiểu biết về CPĐT cũng như các vấn đề liên quan vàtrên hết là phải có đạo đức nghề nghiệp Là một nước có thế mạnh về dân số, lạiđang trong thời kỳ “dân số vàng”, tuy nhiên thực trạng cơ sở hạ tầng nhân lựccho phát triển CPĐT tại Việt Nam hiện vẫn còn nhiều bất cập cả về chất lẫnlượng Yếu kém lớn nhất là chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, vẫn chưađáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước trong cơ chế mới, tuy rằng nước ta hiện
có có hơn 28 triệu cán bộ công chức, nhưng khoảng hơn 30% tổng lượng cán bộcông chức hầu như có cũng được không có cũng xong Mặc dù công tác đào tạo,bồi dưỡng được tăng cường, số lượng cán bộ, công chức qua các lớp, khoá đàotạo, bồi dưỡng khá lớn, nhưng nhìn chung chất lượng, nhất là kiến thức quản lýnhà nước mới với kỹ năng nghiệp vụ hành chính phù hợp thực sự đạt được ở tỷ lệthấp Bằng cấp, chứng chỉ tăng, nhưng chất lượng thật sự của cán bộ, công chức
có bằng cấp, chứng chỉ lại đang là vấn đề đáng lo ngại Nội dung và phương phápđào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tuy đã có một số đổi mới, nhưng nhìnchung vẫn chưa có những cải cách cơ bản như Chương trình tổng thể mà Nhànước đã đặt ra, đa số vẫn chỉ làm cho có và hình thức, chưa đi vào thực chất
Trang 34Ngoài ra, còn xuất hiện một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức suy thoáiphẩm chất, đạo đức, tham nhũng, cửa quyền, thiếu ý thức trách nhiệm và tinhthần phục vụ, vô cảm trước yêu cầu của nhân dân, của xã hội mà việc kiểm tra,thanh tra công vụ và xử lý cán bộ, công chức có vi phạm pháp luật làm khôngthường xuyên và không nghiêm Tính răn đe, làm gương trong xử lý kỷ luật cán
bộ, công chức hầu như không có Chính vì vậy, đạo đức công vụ, thái độ phục vụdân, tổ chức của cán bộ, công chức không được tăng cường
Thực trạng yếu kém về nguồn nhân lực cán bộ công chức nhà nước đãkhiến cho việc phát triển CPĐT ở Việt Nam hiện đang gặp nhiều khó khăn.Người dân lẫn doanh nghiệp không phàn nàn nhiều về mảng hạ tầng kỹ thuật màchủ yếu về thái độ cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ công nhân viên chức tạicác cơ quan nhà nước Lấy một ví dụ đơn giản, chính quyền đăng mẫu văn bảnđăng ký kinh doanh trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, doanh nghiệp tải về,điền thông tin theo hướng dẫn đính kèm và gửi về chính quyền qua đường thưđiện tử, tuy nhiên doanh nghiệp lại phải chờ rất lâu mới có phản hồi, mà đôi khimột thời gian mới nhận được email thông báo “Điền thông tin chưa đầy đủ” –mặc dù đã làm đúng như trong mẫu văn bản có đính kèm hướng dẫn điền thôngtin, như vậy tốn rất nhiều thời gian và chi phí của doanh nghiệp, lý do đưa ra lànạn nhũng nhiễu, cửa quyền, hạch sách của một bộ phận cán bộ công nhân viênchức Có thể kết luận rằng hiện nay nguồn nhân lực cán bộ, công nhân viên chứccho phát triển CPĐT tại Việt Nam không yếu về lượng nhưng yếu, thậm chí rấtyếu về chất!
Về lực lượng chuyên gia CNTT-TT : Hiện nay, nguồn nhân lực CNTT Việt Nam
đang ở trong tình trạng vừa thừa vừa thiếu, thừa là ở số lượng, nhưng thiếu ở chấtlượng Tính đến năm 2011, số lượng các trường đào tạo về CNTT-TT đã đạtkhoảng gần 300, cả nước ước đạt 170 nghìn sinh viên nhập học, hơn 40 nghìn đã
ra trường chỉ tính riêng ở hệ đào tạo chính quy Hiện tại, có hơn 250.000 kỹ sưCNTT bao gồm cả công nghiệp phần mềm, phần cứng, dịch vụ và nội dung số,tốc độ tăng trưởng trung bình vẫn từ 25 - 35 % Mặc dù vậy, nhân lực thiếu, vàthiếu nhất vẫn là lĩnh vực phần mềm, dịch vụ CNTT
Trang 35Các chuyên gia có trình độ như các chuyên gia quốc tế thì quá ít Chỉ cókhoảng 13% chuyên gia trong nước có thể cung cấp các giải pháp tổng thể, cóthể thiết kế hệ thống, phần mềm, có các chứng chỉ quốc tế về CNTT.
Tín hiệu đáng buồn hơn, sức hấp dẫn của ngành học CNTT lại đang giảmsút, tỷ lệ sinh viên đăng ký dự thi CNTT thấp hơn so với nhiều ngành khác, nhưngân hàng, tài chính, luật Thêm vào đó, lương trong lĩnh vực CNTT Việt Namchưa hấp dẫn, ví dụ như lương của kỹ sư CNTT Việt Nam khoảng 4 - 5 triệuđồng còn lương trong lĩnh vực ngân hàng từ 8 - 10 triệu Sinh viên tốt nghiệpCNTT khả năng ngoại ngữ còn “non”, trình độ chuyên môn thấp Hầu như vẫnchưa đáp ứng được nhu cầu xã hội
Về tầng lớp nhân dân: Số lượng người tiêu dùng quyết định sự thành bại của sản
phẩm dịch vụ Muốn thực hiện và phát triển CPĐT hơn nữa thì người dân phảihiểu biết và sử dụng được dịch vụ Internet Trên thực tế, hiện vẫn còn khoảngcách lớn giữa việc sử dụng máy tính với việc khai thác các ứng dụng củaInternet Những người coi như là đã biết sử dụng máy tính thì cũng bất quá chỉbiết soạn thảo văn bản ở trình độ thấp, chưa nói đến việc ứng dụng CNTT vàoviệc quản lý kinh doanh, còn nếu có biết sử dụng Internet thì cũng chỉ dùng vàomục đích giải trí, đọc báo, game chứ không biết cách thậm chí không có nhu cầu
sử dụng các dịch vụ công trực tuyến nếu như không có hướng dẫn cụ thể
Theo một khảo sát do Cục Ứng dụng CNTT - Bộ TT&TT tiến hành năm
2011 về mức độ người dân tham gia các hoạt động dịch vụ công trực tuyến, cótới gần 60% người dân nói rằng chưa từng sử dụng dịch vụ công trực tuyến vàmột nửa trong số đó không biết tới dịch vụ công trực tuyến
Hiện chưa có thống kê mới nhất để cập nhật số lượng người dân sử dụngdịch vụ công trực tuyến Tuy nhiên, nhiều cán bộ lãnh đạo phụ trách CNTT trongcác cơ quan Nhà nước vẫn khẳng định rằng không ít dịch vụ công trực tuyến vẫn
“vắng” người dùng (ngoại trừ những trường hợp cá biệt như thủ tục hành chính
về thuế, hải quan, ) Tuy nhiên để đầu tư xây dựng một dịch vụ công trực tuyến,đặc biệt là những dịch vụ mức 3 - 4, các cơ quan Nhà nước phải tốn kém khánhiều chi phí, thời gian và công sức Thế nhưng, vẫn đang có hiện trạng sau khiđưa dịch vụ công vào hoạt động thì chờ mãi không thấy người dân, doanh nghiệp
Trang 36nào đến “xài” Đã có Sở đầu tư hơn 200 triệu đồng cho 1 dịch vụ công nhưng sau
cả năm chỉ có vài ba lượt click chuột
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện trạng ít người dân sử dụng dịch vụ côngtrực tuyến Dễ thấy nhất là do thiếu thốn trang thiết bị tin học Số liệu công bốtrong Sách Trắng CNTT-TT Việt Nam năm 2012 cho biết năm 2011, cả nướcmới có 16,2% hộ gia đình có máy vi tính Rất nhiều người dân chưa từng biếtmáy vi tính, Internet là gì Một khi không có máy móc, thiết bị thì rất khó nói đếnchuyện dùng dịch vụ công trực tuyến
Ngoài ra, còn nhiều lý do khác nữa như lo ngại về sự mất an toàn thông tinkhi sử dụng dịch vụ công, hoặc sự chưa rõ ràng về cơ quan có thẩm quyền chứngthực cho các hồ sơ pháp lý trên mạng
2.2.1.3 Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội
Mức sống của người dân: Mức sống thấp không cho phép đông đảo người dân
tiếp xúc với các phương thức của “kinh tế số hóa” CPĐT không thể phát triểnnếu số dân có khả năng truy cập Internet thấp, khi mà phí thuê bao Internet, phítruy cập, máy tính cá nhân … quá lớn so với mức thu nhập bình quân của mộtngười dân
Nhìn chung, mức sống của người dân Việt Nam hiện nay tương đối ổnđịnh, tuy nhiên vẫn có sự phân hóa giữa thành thị và nông thôn khi mà ở nhiềutỉnh, tỷ lệ dân có điều kiện sử dụng Internet còn thấp, một phần vì trình độ ngườidân, một phần vì điều kiện địa hình, vùng sâu vùng xa chưa kết nối được Internetcũng như phát triển kinh tế Lượng dân có điều kiện sử dụng Internet đa phần tậptrung tại các thành phố lớn hoặc tại các khu công nghiệp Đây cũng là khó khănkhi triển khai CPĐT tại các tỉnh thành trên cả nước
Hệ thống thanh toán tài chính tự động: Ở Việt Nam, việc triển khai thanh toán tự
động được triển khai ở mức thấp Trong khi CPĐT đòi hòi mạng lưới thanh toán
tự động phải hoàn chỉnh và chính xác, nhưng chúng chỉ được đáp ứng một phầnbởi những nhu cầu tối thiểu như rút tiền, chuyển tiền Thẻ thanh toán chưa được
sử dụng rộng rãi do người dân có thói quen sử dụng tiền mặt, việc thanh toánhoàn toàn qua mạng hiện chỉ được sử dụng bởi một lượng ít dân cư có dân trí cao
Trang 37hoặc là dân Ngân hàng hoặc là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Cònphần đông người dân vẫn còn chưa quen với phương thức thanh toán tự động,chủ yếu là bị động, miễn cưỡng sử dụng.
2.2.1.4 Cơ sở hệ thống chính sách – pháp luật
Tuy CPĐT đã và đang được đẩy mạnh ứng dụng và phát triển tại hầu khắp cáctỉnh thành trên cả nước, tuy nhiên trên thực tế hệ thống pháp luật của chúng tavẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của CPĐT Chúng ta đã ban hành một số luậtnhư luật giao dịch điện tử, luật CNTT, luật sở hữu trí tuệ, hàng loạt nghị định,thông tư hướng dẫn Tuy nhiên, các vấn đề bảo hộ quyền sở hữu, tính bảo mậtcủa các thông tin giao dịch trên Internet, chế tài với hành vi gian lận, vi phạmhợp đồng, phương thức tính thuế đối với giao dịch điện tử, … vẫn chưa được cụthể hóa trong các văn bản pháp luật liên quan
Vấn đề pháp lý nhà nước, Chính phủ hiện đã và đang quan tâm đến bảnquyền tác giả và xâm phạm tác quyền phần mềm khi ứng dụng CPĐT, tuy nhiênhoạt động triển khai vẫn còn dàn trải, chưa thiết thức, chưa đẩy mạnh Trên thực
tế, CPĐT là chủ đề cần quan tâm đến trên không chỉ phương diện kinh tế, kỹthuật, luật pháp mà còn có cả các vấn đề pháp lý, chính sách liên quan đến bảnquyền, văn hóa xã hội cũng phải được xem xét Cơ sở pháp lý đóng vai trò quantrọng trong việc hỗ trợ ứng dụng CPĐT thành công Với một nước chưa có nhiềukinh nghiệm trong phát triển CPĐT như Việt Nam thì việc hoàn thiện cơ sở pháp
lý tổng thể hiện còn gặp nhiều khó khăn, thách thức
2.2.1.5 Cơ sở an toàn bảo mật
Khi tham gia vào Internet, vấn đề đặt ra là phải tăng cường các biện pháp an toànbảo mật thông tin người dùng An toàn luôn được coi là vấn đề chủ yếu trongthực hiện CPĐT Hiện nay thực trạng quản lý an toàn bảo mật tại các cơ quannhà nước của Việt Nam hiện vẫn còn yếu, trên thực tế nhận thức của các cán bộ,công chức về an ninh mạng còn khá kém; có không ít các lãnh đạo, cán bộ xemnhẹ những lỗ hổng về bảo mật trong hệ thống mạng của cơ quan mình Có một số
ví dụ điển hình về vấn đề này
Trang 38Cụ thể ngày 12-6-2009, Cổng thông tin thành phố HCM (CityWeb) bị tấncông Hacker đã xâm nhập, đưa virus vào toàn bộ hệ thống, chèn mã độc ngaytrên đường truyền dữ liệu, tạo cửa hậu (backdoor) lấy cắp dữ liệu; chỉ trong vòng
1 đêm có 200 website của Việt nam bị tấn công, trong tháng 6/2011 có hơn 1500website của Việt Nam bị đánh sập, trong đó có trang chủ của Bộ ngoại giao ViệtNam và các website khác có đuôi gov (thuộc Chính phủ) Tính từ đầu năm 2012đến nay, mỗi ngày có tới 6 website tại Việt Nam bị tấn công, tương ứng với hơn2.000 website bị hack mỗi năm Hầu hết nguyên nhân của các vụ hack này là dowebsite tồn tại nhiều lỗ hổng
Theo đại diện Hiệp hội An toàn thông tin (VNISA), đánh giá ngẫu nhiên
100 webstite tên miền cơ quan nhà nước (.gov.vn) cho thấy, 78% số website cóthể bị tấn công "thay đổi nội dung" hoặc "đánh sập" bất cứ lúc nào Ngoài ra,VNISA phát hiện được 3.697 lỗi trên 100 website gov.vn, bao gồm 489 điểmyếu (lỗi) ở mức độ nghiêm trọng (chiếm 13%), 396 điểm yếu ở mức cao (chiếm11%) và 2.812 điểm yếu ở mức trung bình/thấp (chiếm 76%) Trong đó, có 2.012lỗi được phát hiện trên ứng dụng web và 1.685 lỗi được phát hiện trên ứng dụng
hệ thống
Cũng theo đánh giá của Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện thực trạngquản lý an toàn thông tin, mức độ áp dụng các giải pháp công nghệ đảm bảo antoàn thông tin cũng như khả năng nhận biết một số loại tấn công cơ bản trong các
cơ quan chính phủ còn rất hạn chế nếu không muốn nói là yếu
Hình 2.1: Thực trạng quản lý an toàn thông tin trong các cơ quan nhà nước
Trang 39Nguồn: Sách trắng CNTT-TT 2012 của Bộ TT&TT
Hình 2.2: Mức độ áp dụng các giải pháp công nghệ đảm bảo an toàn thông tin tại các cơ quan nhà nước
Nguồn: Sách trắng CNTT-TT 2012 của Bộ TT&T
Trang 40Hình 2.3: Tỷ lệ các đơn vị nhận biết được có bị tấn công mạng xét theo một số loại tấn công cơ bản
Nguồn: Sách trắng CNTT-TT 2012 của Bộ TT&TT
Nhìn chung, thực trạng về bảo mật an toàn dữ liệu nói chung và cho pháttriển CPĐT tại Việt Nam nói riêng vẫn còn rất hạn chế Phát triển CPĐT thì phải
đi kèm với an toàn bảo mật nếu không không chỉ nhà nước mà cả người dân đều
sẽ chịu những tổn thất không nhỏ Đây là một trong những bài toán hóc búa choNhà nước trong chiến lược phát triển CPĐT trong giai đoạn sắp tới
2.2.2 Tổng quan về tình hình triển khai mô hình Chính phủ điện tử của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
2.2.2.1 Giới thiệu về Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (Viet Nam Chamber ofComerce and Industry – VCCI) là tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộngđồng doanh nghiệp, người sử dụng lao động và các hiệp hội doanh nghiệp ở ViệtNam nhằm mục đích phát triển, bảo vệ và hỗ trợ các doanh nghiệp, góp phầnphát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế,thương mại và khoa học – công nghệ giữa Việt Nam với các nước trên cơ sở bìnhđẳng và cùng có lợi Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam là tổ chức