1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Trương Nhược Hư & Xuân giang hoa nguyệt dạ

7 679 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xuân giang hoa nguyệt dạ
Tác giả Trương Nhược Hư
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Bài thơ
Năm xuất bản 720
Thành phố Giang Đô
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng tác của ông thất lạc gần hết, trong ''Toàn Đường thi'' chỉ ghi lại được 2 bài thơ của ông là ''Đại đáp khuê mộng hoàn'' Đáp thay Khuê Mộng Hoàn và ''Xuân giang hoa nguyệt dạ'' Đêm

Trang 1

Trương Nhược Hư & Xuân giang hoa nguyệt dạ

Trương Nhược Hư (张张张; sinh khoảng 660 - mất khoảng 720) ở Dương

Châu, nay là huyện Giang Đô, tỉnh Giang Tô; là một nhà thơ thời nhà

Đường, Trung Quốc

Ông là tác giả bài Xuân giang hoa nguyệt dạ, một thi phẩm được xếp vào

hàng những kiệt tác trong thơ Đường

Tiểu dẫn

Trương Nhược Hư không thích danh lợi, thường ngao du khắp thiên hạ để tìm bạn thơ Ông cùng với Hạ Tri Chương, Trương Húc, Bao Dung được

người đương thời gọi là “Ngô trung tứ sĩ” (Bốn danh sĩ đất Ngô).

Trong quyển Thơ Đường, Trần Trọng San cho biết: “Ở vào thời sơ Đường,

thơ của Ngô trung tứ sĩ không nhiều thì ít đều kế tục di phong phù mỹ của thời Lục Triều, nên được xếp vào phái thơ Ỷ mỹ phái.”

Từ điển văn học (bộ mới) cũng đã nhận xét: ''Phong cách thơ Trương Nhược

Hư trong sáng hoa lệ, giàu chất trữ tình, có vị trí quan trọng trong sự chuyển biến thơ ca từ thời sơ Đường đến thịnh Đường”

Sáng tác của ông thất lạc gần hết, trong ''Toàn Đường thi'' chỉ ghi lại được 2

bài thơ của ông là ''Đại đáp khuê mộng hoàn'' (Đáp thay Khuê Mộng Hoàn)

và ''Xuân giang hoa nguyệt dạ'' (Đêm hoa trăng trên sông xuân).

Xuân giang hoa nguyệt dạ:

Đời vua Hậu Chủ nhà Trần ở Nam triều cùng với các nữ học sĩ và các triều thần làm thơ, rồi nhặt những bài thơ đóng thành tập gọi là Xuân giang hoa nguyệt dạ Trần Trọng Kim viết: “Trương Nhược Hư lấy cái đề ấy làm bài thơ này, là một bài thơ cổ rất hay.”

Xem đầu đề và phong cách biểu hiện, bài ''Xuân giang hoa nguyệt dạ'', ở mức độ nhất định, đã chịu ảnh hưởng của thi phong Lục triều, có điều đã vượt lên trên thi phong phù hoa diễm lệ của Sơ Đường

Với ngòi bút tươi tắn, thanh nhã, ngôn ngữ ít đẽo gọt chạm trổ, tác giả miêu

tả cảnh đẹp của đêm trăng trên sông xuân, và nói lên nỗi lòng triền miên, xa xôi do cảnh đẹp tự nhiên khêu gợi

Cảnh thơ rộng lớn, sâu thẳm, mà tình nồng đượm, ý xa xôi, dễ đưa người đọc vào thế giới vắng lặng, xa xăm và dễ gợi lên nỗi buồn về cuộc đời monh manh cùng thế sự vô thường

Trang 2

Về mặt nghệ thuật, bài thơ có những chỗ hay, ngôn ngữ trong trẻo lưu loát,

âm điệu uyển chuyển trở đi trở lại

Đây là bài thơ trữ tình nổi tiếng trong lịch sử văn học Trung Quốc Nhà nghiên cứu văn học đời Thanh Vương Khải Vận khen bài thơ này là "chỉ

một thiên tuyệt diệu, đủ xứng đáng là đại gia" (cô thiên hoành tuyệt, cánh vi

đại gia); nhà thơ hiện đại Văn Nhất Đa thì ca ngợi rằng bài thơ này là "Thơ

trong thơ, đỉnh núi trên các đỉnh núi" (Thi trung đích thi, đỉnh phong thượng

đích đỉnh phong)

Và chính tứ thơ của ''Xuân giang hoa nguyệt dạ'' đã gợi ý cho bài ''Minh

nguyệt dẫn'' (Khúc hát trăng sáng) của Lư Chiếu Tân và bài ''Thái liên khúc'' (Khúc hái sen) của Vương Bột

Theo lời Lưu Kế Tài thì đối với người Nhật Bản hiện đại, hai bài thơ Đường được hâm mộ nhất là "Xuân giang hoa nguyệt dạ" của Trương Nhược Hư và

"Trường hận ca" của Bạch Cư Dị

Tác phẩm

Nguyên tác:

张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

张张张张张张张张张张张张张张张张

Phiên âm:

Xuân giang hoa nguyệt dạ

Xuân giang triều thủy liên hải bình,

Trang 3

Hải thượng minh nguyệt cộng triều sinh Diễm diễm tùy ba thiên vạn lý,

Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh

Giang lưu uyển chuyển nhiễu phương điện, Nguyệt chiếu hoa lâm giai như tiển

Không lý lưu sương bất giác phi,

Đính thượng bạch sa khan bất kiến

Giang thiên nhất sắc vô tiêm trần,

Hạo hạo không trung cô nguyệt luân

Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt,

Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân

Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ,

Giang nguyệt niên niên vọng tương tự Bất tri giang nguyệt chiếu hà nhân,

Đãn kiến trường giang tống lưu thủy

Bạch vân nhất phiến khứ du du,

Thanh phong giang thượng bất thăng sầu Thùy gia kim dạ biên chu tử,

Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu

Khả liên lâu thượng nguyệt bồi hồi,

Ưng chiếu ly nhân trang kính đài

Ngọc hộ liêm trung quyển bất khứ,

Đảo y châm thượng phất hoàn lai

Thử thời tương vọng bất tương văn,

Nguyệt trục nguyệt hoa lưu chiếu quân Hồng nhạn trường phi quang bất độ,

Ngư long tiềm dược thủy thành văn

Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa,

Khả liên xuân bán bất hoàn gia

Giang thủy lưu xuân khứ dục tận,

Giang đàm lạc nguyệt phục tây tà

Tà nguyệt trầm trầm tàng hải vụ,

Kiệt Thạch, Tiêu Tương vô hạn lộ

Bất tri thừa nguyệt kỷ nhân qui,

Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ

Dịch nghĩa:

Đêm hoa trăng trên sông xuân

Thuỷ triều lên, mặt sông xuân ngang mặt bể,

Trang 4

Trên bể, trăng sáng cùng lên với thuỷ triều

Lấp loáng theo sóng trôi muôn ngàn dặm,

Có nơi nào trên sông xuân là không sáng trăng?

Dòng sông lượn vòng khu cồn hương thơm,

Trăng chiếu rừng hoa ngời như hạt tuyết

Trên sông sương trôi tưởng như không bay

Bãi sông cát trắng, nhìn chẳng nhận ra

Sông và trời, một màu không mảy bụi,

Ngời sáng trong không, vầng trăng trơ trọi

Người bên sông,ai kẻ đầu tiên thấy trăng?

Trăng trên sông, năm nào đầu tiên rọi xuống người?

Người sinh đời đời không bao giờ hết,

Trăng trên sông năm năm ngắm vẵn y nguyên

Chẳng biết trăng trên sông chiếu sáng những ai,

Chỉ thấy sông dài đưa dòng nước chảy

Mây trắng một dải, vẩn vơ bay,

Cây phong biếc xanh trên bờ buồn khôn xiết

Người nhà ai đêm nay dong con thuyền nhỏ ?

Người nơi nao trên lầu trăng sáng đương tương tư?

Đáng thương cho trên lầu vầng trăng bồi hồi,

Phải chiếu sáng đài gương người biệt ly

Rèm nhà ngọc cuốn lên rồi, trăng vẫn không đi,

Phiến đá đập áo lau đi rồi, trăng vẫn cứ lại

Giờ đây cùng ngắm trăng mà không cùng nghe tiếng nhau, Nguyện theo ánh đẹp vầng trăng trôi tới chiếu sáng người anh Chim hồng nhạn bay dài không thể mang trăng đi,

Cá rồng lặn nhảy, chỉ khiến làn nước gợn sóng

Đêm qua thanh vắng, mơ thấy hoa rơi,

Đáng thương cho người đã nửa mùa xuân chưa về nhà

Nước sông trôi xuôi, xuân đi sắp hết,

Trăng lặn trên bãi sông, trăng xế về tây

Trăng xế chìm dần lẩn trong sương mù mặt bể,

Trang 5

Núi Kiệt Thạch, sông Tiêu Tương đường thẳm không cùng Chẳng biết nhân ánh trăng đã mấy người về,

Trăng lặn, rung rinh mối tình, những cây đầy sông

Dịch thơ:

Bản dịch của Tản Đà:

Đêm trăng hoa trên sông xuân

Sông xuân sáng nước liền ngang bể,

Vầng trăng trong mặt bể lên cao

Ánh trăng theo sóng đẹp sao!

Sông xuân muôn dặm chỗ nào không trăng?

Dòng sông chảy quanh rừng hoa ngát,

Trăng soi hoa như tán trập trùng

Sương bay chẳng biết trong không

Trên soi cát trắng nhìn không thấy gì

Trời in nước một ly không bụi

Mảnh trăng trong ròi rọi giữa trời

Thấy trăng thoạt mới là ai?

Trăng sông thoạt mới soi người năm nao?

Người sinh mãi, kiếp nào cho biết,

Nhìn trăng sông năm hệt không sai

Trăng sông chẳng biết soi ai,

Dưới trăng chỉ thấy sông dài nước trôi

Đám mây trắng ngùi ngùi đi mãi,

Rặng phong xanh một dải sông sầu

Đêm nay ai đó, ai đâu?

Chiếc thuyền để nhớ trên lầu trăng soi

Trăng thờ thẫn nơi người xa ngóng,

Chốn đài gương tựa bóng thương ai

Trong rèm cuốn chẳng đi thôi,

Trên bàn đập áo quét rồi lại ngay

Cùng nghe ngóng lúc nay chẳng thấy,

Muốn theo trăng trôi chảy đến chàng

Hồng bay, ánh sáng không màng,

Nước sâu cá quẫy chỉ càng vẩn tăm

Đêm nọ giấc trong đầm hoa rữa,

Ai xa nhà xuân nửa còn chi!

Nước sông trôi mãi xuân đi,

Trang 6

Trăng tà lặn xuống bên kia cánh đầm Vầng trăng lặn êm chìm khói bể,

Đường bao xa non kệ sông Tương

Về trăng mấy kẻ thừa lương,

Trăng chìm lay bóng đầy hàng cây sông

Bản của Khương Hữu Dụng:

Sông xuân triều dậy mặt biển bằng, Trên biển trăng cùng triều nước dâng Dờn dợn vời theo muôn dặm sóng, Sông xuân đâu chẳng sáng ngời trăng

Quanh co sông lượn cồn hương chảy; Trăng chiếu vườn hoa như tuyết rải Tầng không sương tỏa tưởng không bay, Cát trắng bên doi nhìn chẳng thấy

Trong suốt trời sông suốt một màu; Trên sông vằng vặc một trăng cao

Ai người đầu đã trông trăng ấy ?

Trăng ấy soi người tự thuở nao?

Người cứ đời đời sinh nở mãi;

Trăng đã năm năm sông nước giãi Soi ai nào biết được lòng trăng,

Chỉ thấy sông dài đưa nước chảy

Mây bạc lưng chừng trôi đến đâu;

Cành phong xanh bến biết bao sầu Đêm nay ai mảng buông thuyền đó;

Ai ở lầu trăng nhớ chốn nào?

Trăng lầu quanh quẩn đáng thương ôi! Soi mãi đài gương kẻ lẻ đôi

Cửa ngọc cuốn rèm xua vẫn ở;

Hòn châm đập áo xóa liền soi

Chừ đây cùng ngóng, bẵng tăm hơi; Mong quyến theo trăng đến rọi người

Trang 7

Bay mỏi, nhạn khôn mang ánh được,

Vẫy ngầm, cá chỉ vẫy tăm thôi

Đêm qua thanh vắng mộng hoa rơi,

Nhà chửa về, xuân quá nửa rồi !

Nước cuốn xuân đi trôi sắp hết,

Vòm sông trăng lại xế sang đoài

Trăng khuất mù khơi chìm chậm chậm,

Dòng Tương non Kiệt ngàn muôn dặm

Nương trăng mấy kẻ nhớ về theo,

Trăng lặn xao tình cây nước gợn|

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.

Tài liệu tham khảo:

-Trần Trọng San, Thơ Đường, Tủ sách Đại học tổng hợp TP HCM xuất bản,

1990, tr 15

-Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, 2004, tr 1863.

-Trần Trọng Kim, Đường thi, Nxb Tân Việt, Sài Gòn, 1974, tr 92

-Lịch sử Văn học Trung Quốc tập II, Sở Nghiên cứu Văn học thuộc Viện

KHXH Trung Quốc, bản dịch do Nxb Giáo dục (Việt Nam) ấn hành năm

1993, tr 35-36

-Thơ Đường, Tản Đà dịch Nxb Trẻ, 1989, tr.27-28.

-Phần phiên âm, dịch nghĩa, chép theo Thơ Đường tập I, Nxb Văn học, Hà

Nội, 1987, tr 42-46

Ngày đăng: 16/06/2013, 01:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w