1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020

53 1,2K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Từ lâu, các sản phẩm thủy hải sản đã xác lập vị thế là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng bậc nhất của Việt Nam và được Chính phủ quy hoạch để tiếp tục giữ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

Trang 2

XTTM: Xúc tiến thương mại

JETRO: Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản

MAFF: Bộ Nông Lâm Thủy sản Nhật Bản

MOF: Bộ Tài chính Nhật Bản

ITC: Trung tâm Thương mại Quốc tế

EU: Liên minh Châu Âu

ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á

WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới

VASEP: Hiệp hội chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam

VJEPA: Hiệp định đối tác kinh tế song phương Việt - Nhật

CBPG: Chống bán phá giá

AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

ASEM: Diễn đàn hợp tác Á – Âu

APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương

NAFIQAD: Cục quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ lâu, các sản phẩm thủy hải sản đã xác lập vị thế là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng bậc nhất của Việt Nam và được Chính phủ quy hoạch để tiếp tục giữ vững vai trò đặc biệt quan trọng này trong giai đoạn sắp tới, góp phần không nhỏ vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Năm 2014, tổng giá trị xuất khẩu thủy sản nước ta đạt mốc 7,84 tỷ USD Riêng 9 tháng đầu năm 2015, thủy sản đem về cho nền kinh tế nước ta 4,77 tỷ USD (cục Hải Quan Việt Nam), giảm 16,5% so với cùng kì năm

2014 Trong đó, không thể không nhắc đến các sản phẩm cá ngừ đại dương, một trong ba mặt hàng hải sản xuất khẩu quan trọng nhất bên cạnh tôm và cá basa Năm 2014, Việt Nam xuất khẩu cá ngừ đại dương sang 99 thị trường với giá trị cả năm đạt 484 triệu USD Với nguồn cá ngừ đại dương tự nhiên vô cùng dồi dào, kinh nghiệm đánh bắt cá ngừ lâu năm của ngư dân Việt Nam, cộng thêm việc được đưa vào chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2020, ngành khai thác, sản xuất và xuất khẩu cá ngừ hứa hẹn sẽ tiếp tục duy trì

và củng cố vị trí quan trọng của mình trong ngành thủy sản nói riêng và toàn bộ nền kinh

tế nói chung trong một thời gian dài sắp tới

Nói đến cá ngừ đại dương thì không thể không nhắc tới thị trường xuất khẩu thủy lớn thứ

3 và giàu tiềm năng nhập khẩu mặt hàng này là Nhật Bản.Có thể nói, Nhật Bản đang là thị trường tìm năng nhất đối với mặt hàng cá ngừ đại dương xuất khẩu Đặc biệt là nhu cầu cá ngừ tươi(Sashimi) của người dân Nhật rất lớn và ngày càng tăng Mặc dù vậy, xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường Nhật Bản cũng còn gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong việc phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, cùng cách khai thác và đánh bắt cá theo lối truyền thống, thiếu cơ sở khoa học và do đó hạn chế chất lượng và tính cạnh tranh của các sản phẩm cá ngừ đại dương…Những thách thức đó đang

đòi hỏi sự hợp tác đồng bộ giữa Chính phủ; các bộ-ban-ngành có liên quan; các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu cá ngừ đại dương và ngư dân bên cạnh việc hoạch định chiến lược phát triển rõ ràng để giúp sản phẩm cá ngừ đại dương của nước nhà tiếp tục củng cố

vị trí và tăng trưởng trên thị trường khó tính này Trước tình hình đó, tác giả đã quyết

định chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường Nhật Bản đến năm 2020”, nhằm tìm ra các giải pháp cụ thể

phát huy những điểm mạnh thúc đẩy xuất khẩu, phát triển nghề khai thác cá ngừ đại dương, đồng thời khắc phục những hạn chế, điểm yếu còn tồn tại trong quá tình xuất khẩu cá ngừ đại dương, đặc biệt xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 4

Thứ nhất: hệ thống lại những vấn đề lý thuyết xuất khẩu hàng hóa trong nên kinh tế hội

Thứ tư: đánh giá Cơ hội và thách thức hoạt động kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương

Việt Nam đến năm 2020

Thứ năm: đề xuất một số kiến nghị được rút ra từ kết quả nghiên cứu hỗ trợ cho việc

hoạch định, xây dựng chiến lược thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường Nhật Bản đến năm 2020

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: tập chung nghiên cứu quá trình kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương và một số vấn đề có liên quan đến kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương

4 Phạm vi nghiêm cứu

Phạm vi không gian: Hoạt động kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương của doanh

nghiệp Việt Nam, thị trường xuất khẩu cá ngừ đại đương là Nhật Bản

Phạm vi thời gian: từ năm 2010 đến tháng 9/2015 và dự báo đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Áp dụng phương pháp khảo sát thực tế về nhu cầu, sự quan tâm đến cá ngừ đại dương Phân tích thống kê miêu tả số liệu thứ cấp của các hiệp hội, cơ quan, tổng cục có cơ sở dữ liệu liên quan Tham khảo ý kiến chuyên gia Thương Mại có chuyên môn cao cùng một

số phương pháp khác

6 Kết cấu nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kiến nghị, kết luận, đề tài gồm 4 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về khai thác kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương

Việt Nam

Chương 2: Thị Trường Nhật Bản về Cá Ngừ đại dương

Chương 3: Thực trạng khai thác – kinh doanh, kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương

Việt Nam sang thị trường Nhật

Chương 4: Một số giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị

trường Nhật Bản

Trang 5

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHAI THÁC, KINH DOANH XUẤT

KHẨU CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG VIỆT NAM 1.1Xuất khẩu hàng hóa xu thế hội nhập toàn cầu

1.1.1 Khái niệm kinh doanh xuất khẩu

“Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy

định của pháp luật”, trích điều 28 Luật Thương Mại Việt Nam số 36/2005/QH11

Kinh doanh xuất khẩu là hoạt động kinh doanh hàng hóa từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm thu lợi nhuận

Trong thời kỳ kinh tế toàn cầu hiện nay, xuất khẩu và nhập khẩu phản ánh mối quan hệ thương mại, buôn bán giữa các quốc gia trong khu vực và thế giới Là nguồn thu chi ngoại tệ chủ yếu của một quốc gia khi tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế

Thông qua xuất khẩu sẻ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội bằng việc mở rộng trao đổi và thúc đẩy tận dụng lợi thế so sánh, tiềm nằng giữ các quốc gia, tạo cơ hội phát triển

1.1.2 Vai trò

1.1.2.1 Đối với nền kinh tế Việt Nam

Xuất khẩu là nguồn thu ngoại tệ chính phục vụ phát triển

Năm 2014, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 298,24 tỷ USD trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 150,19 tỷ USD (tổng cục hải quan) là ngoại tệ lớn nhất trong các nguồn thu ngoại tệ như kinh doanh du lịch, nhận viện trợ hay vay nước ngoài

Nguồn ngoại tệ xuất khẩu được làm vốn cho phục vụ nhập khẩu phát triển đất nước như nhập khẩu phân bón, máy móc nhằm cải thiện năng suất Nguồn ngoại tệ từ xuất khẩu cựu kỳ quan trọng, nếu không có nguồn ngoại tệ xuất khẩu thì nên kinh tế không thể phát được, nguồn đầu tư phải phụ thuộc vào các nguồn thu ngoại tệ khác như khác nguồn viện trợ, vay của nước ngoài, ảnh hưởng trực tiếp kinh tế - chính trị

Xuất Khẩu giải quyết việc làm

Hiện nay việc hàng trăm triệu người lao động đang đổ xô về thành phố kiếm việc làm

đã gây ra nhiều vấn đề xã hội và làm cho sự quản lý của nhà nước thêm khó khăn Nó cũng chứng tỏ người dân đặc biệt là những người dân ở các vùng nông thôn đang thiếu việc làm một cách trầm trọng tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi năm 2014 theo tính toán của tổng cục thống kê là 2,08% Xuất khẩu đã giải quyết được vấn đề công ăn việc làm, có

Trang 6

khoản 2.149 ngàn lao động trong lĩnh vực dịch vụ xuất khẩu, gần 7.400 ngàn lao động công nghiệp, chế biến xuất khẩu, tạo nguồn thu nhập ổn định cho người lao động

Sự gia tăng đầu tư trong ngành sản xuất hàng hóa xuất khẩu đã tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước cả về quy mô và tốc độ để có thể đáp ứng được các quy định về tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa ở các thị trường khó tính như Mỹ, EU,… các ngành nghề cũ được khôi phục và phát triển, nhiều ngành nghề mới ra đời, nhu cầu lao động tăng lên đặc biệt các ngành sản xuất, chế biến, như ngành dệt may phát triển kéo theo các ngành công nghiệp phụ liệu như hóa chất, nguyên liệu thô ra đời đáp ứng nguyên liệu cho các các doanh nghiệp dệt may, góp phần tạo việc làm

Xuất khẩu là cơ sở thúc đẩy và mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại giữa Việt Nam và các nước

Trong kinh tế, xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại khác có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau:

Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại đã làm cho nên kinh tế của mỗi quốc gia gắn chặt với phân công lao động quốc tế Thông thường hoạt động xuất khẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nên nó thúc đẩy các quan hệ này phát triển Chẳn hạn, xuất khẩu và sản xuất hàng hóa thúc đẩy tín dụng, bảo hiểm, thanh toán, vận tải quốc tế…Ví dụ: khi xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc, để phục vụ cho nhu cầu giao

thương hàng hóa giữa 2 quốc gia, các bên phải cùng nhau hợp tác xây dựng những tuyến tàu xuyên biên giới, cửa khẩu quốc gia vì lợi ich chung, trên cơ sở quá thực trình đó quan

hệ ngoại giao 2 nước được thúc đẩy

Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại là tiền đề, điều kiện mở rộng xuất khẩu Khi các hoạt động kể trên ngày càng phát triển và hiện đại, sẽ tạo sự tiện lợi, nhanh

chóng và dễ dàng hơn cho hoạt động xuất khẩu, do đó xuất khẩu sẽ ngày càng mở rộng

và phát triển

Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh

tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong nên kinh tế toàn cầu như hiện nay, khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới đó là cơ hội lớn cho mỗi quốc gia trên con đường hội nhập

1.1.2.2 Đối với doanh nghiệp Việt Nam

Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia và tiếp cận vào thị trường thế giới Nếu thành công đây sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp mở rộng thị trường

và khả năng sản xuất của mình

Trang 7

Xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

sẽ góp phần đẩy mạnh liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước một cách tự giác, mở rộng quan hệ kinh doanh, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện có, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động

Sản xuất hàng hoá xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động vào làm việc tạo ra thu nhập ổn định, tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất hàng hoá, đáp ứng nhu cầu thị trường

Khi tham gia vào kinh doanh quốc tế tất yếu sẽ đặt các doanh nghiệp vào một môi trường cạnh tranh khốc liệt mà ở đó nếu muốn tồn tại và phát triển được thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm Đây sẽ là một nhân tố thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.2 Tổng quan về khai thác - kinh doanh cá ngừ đại dương

1.2.1 Giới thiệu khai thác - kinh doanh cá ngừ đại dương Việt Nam

1.2.1.1 Khái Niệm sản phẩm cá ngừ đại dương

Cá ngừ đại dương hay còn gọi cá Bò gù, là loại cá cá lớn và di cư thuộc họ cá Bạc Má sinh sống chủ yếu ở vùng biển ấm cách bờ độ trên 185 Km

Sản phẩm cá ngừ đại dương có nhiều loại khác nhau tuy vào nhu cầu về chủng loại, quy cách, chất lượng của các thị trường và khách hàng đặt hàng Hiện các dòng sản phẩm cá ngừ gồm chính:

- Nguyên con, bỏ đầu bỏ nội tạng đông lạnh;

- Thăn cá ngừ có và không xông CO đông lạnh;

- Cắt lát có và không xông CO đông lạnh;

- Cắt miếng có và không xông CO đông lạnh;

Trang 8

- Cá ngừ mắt to

- Cá ngừ vây xanh Thái Bình Dương

- Cá ngừ vây xanh Đại Tây Dương

Ngoài ra cá ngừ đại dương còn được chia làm 2 loại là cá ngừ đại dương Nhiệt đới và Ôn Đới

- Nhiệt đới: Cá ngừ mắt to, cá ngừ vằn, cá ngừ vây vàng

- Cá ngừu đại dương Ôn Đới: cá ngừ vây dài, cá ngừ vây xanh miền Nam, cá ngừ vây xanh Đại Tây Dương, cá ngừ vây xanh Thái Bình Dương

Trong tổng số 4 triệu tấn cá ngừ đánh bắt được hàng năm trên thế giới, có tới 65% sản lượng khai thác ở Thái Bình Dương, 21% ở ấn Độ Dương và 14% ở Đại Tây Dương, trong đó, cá ngừ vây vàng chiếm đến 30% và cá ngừ mắt to chiếm khoảng 10% tổng sản lượng cá ngừ thế giới Cá ngừ đại dương là một trong các đối tượng khai thác chính của nghề cá xa bờ Cá ngừ đại dương ở Việt Nam bao gồm cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to

1.2.2 Đặt điểm khai thác - kinh doanh cá ngừ đại dương Việt Nam

1.2.2.1 khai thác cá ngừ

a Cơ cấu tàu và nghề khai thác

Đến tháng 6/2015, số lượng tàu khai thác cá ngừ 3.556 chiếc, trong đó:

Nghề câu vàng và câu tay có 1.760 tàu (Bình Định: 1.034 tàu câu tay, Phú Yên:

550 tàu câu vàng và 18 tàu câu tay, Khánh Hòa có 133 tàu câu tay), nghề lưới vây có 592 chiếc, nghề lưới rê có 1.204 chiếc

Đvt: Chiếc

Trang 9

Nguồn: Hiệp Hội Cá Ngừ Việt Nam

Hình 1.1 Biểu Đồ số lượng tàu khai thác cá ngừ đại dương năm 2015

Tàu khai thác cá ngừ chủ yếu là tàu vỏ gỗ có công suất máy tàu chủ yếu từ 45 CV trở lên Đối với tàu câu cá ngừ (câu vàng, câu tay) chủ yếu tàu có công suất từ 90 CV trở lên

Hầu hết tàu khai thác cá ngừ đều trang bị thiết bị khai thác như: máy thu câu, thu lưới,

máy vô tuyến điện, một số tàu làm nghề lưới vây đã trang bị máy tầm ngư (dò cá)

b Lao động trong khai thác cá ngừ

Tổng số lao động khai thác cá ngừ khoảng 35.000 người Số lao động trên tàu khai thác

cá ngừ được bố trí theo từng loại nghề, giao động khoảng 5– 6 người/tàu đối với nghề câu tay, khoảng 9 – 10 người/tàu đối với tàu câu vàng, tàu lưới rê, 14 – 16 người/tàu lưới vây Trên tàu, chủ tàu và thuyền trưởng là người có kinh nghiệm quản lý, điều hành khai thác

và bảo quản sản phẩm, được đào tạo và cấp bằng thuyền, máy trưởng Đối với thuyền

viên, hầu như chưa được đào tạo, tập huấn về kỹ thuật khai thác và bảo quản sản phẩm,

kiến thức và hiểu biết chủ yếu tích lũy qua thực tiễn sản xuất và học tập lẫn nhau, nên tay nghề khai thác và bảo quản sản phẩm rất thấp

c Công nghệ khai thác

Trang 10

Nghề lưới vây: là nghề lưới đánh bắt theo nguyên lý lọc nước bắt cá, lưới vây được thả

từ tàu và kéo lên tàu Lưới vây chuyên đánh cá đi thành đàn và chỉ thả lưới đến một độ sâu nhất định nào đó

Chiều dài và chiều cao vàng lưới vây tùy thuộc vào ngư trường, phương pháp khai thác, công suất tàu và không tuân thủ theo một hệ số điều chỉnh nào mà chủ yếu theo kinh nghiệm Phương thức khai thác có 02 loại vây ngày và vây đêm kết hợp phương pháp dẫn

dụ bằng ánh sáng Hầu hết đều không sử dụng chà, chủ yếu khai thác theo kinh nghiệm Tất cả các tàu lưới vây đều trang bị tời kéo lưới, thiết bị định vị Hiện nhiều tàu đã trang

bị thiết bị tầm ngư, khoảng trên 50% tàu có trang bị máy thu lưới

Nghề lưới rê: là nghề lưới theo phương pháp bị động, lưới trôi theo dòng chảy hoặc được

thả chắn ngang đường đi của cá và một số loài thủy sản khác khi gặp lưới chúng mắc phải mắt lưới hoặc quấn vào lưới

Kết câu vàng lưới tùy thuộc vào công suất tàu và ngư trường

Thao tác và kỹ thuật thả lưới bằng thủ công, công đoạn thu lưới được trang bị máy thu lưới truyền động bằng thủy lực Thời gian thả, ngâm, thu lưới tùy thuộc vào chiều dài vàng lưới, tập quán sản xuất của từng địa phương và tốc độ thả thu lưới và chiều dài vàng lưới

Nghề câu cá ngừ:

Có 02 loại: câu vàng và câu tay kết hợp với ánh sáng Hầu hết các tàu đều được trang bị máy thu dây câu chính, máy định vị vệ tinh, la bàn, thông tin liên lạc

Đối với nghề câu vàng:

Kết cấu, kích thước vàng câu phụ thuộc vào quy mô tàu thuyền và trang thiết bị kỹ thuật cho nghề (chiều dài vàng câu từ 40 – 60km, với số dây câu và lưỡi câu khoảng từ 700 – 1.000 lưỡi); sử dụng là lưỡi câu J hoặc lưỡi câu vòng; thời gian thả, ngâm và thu câu tùy thuộc số lượng lưỡi câu thả của mỗi tàu

Đối với nghề câu tay:

Xuất hiện từ cuối năm 2011 đến nay, tàu được trang bị máy phát điện, đèn cao áp, cần, dây câu, mỗi tàu với 4 – 6 cần câu Thời gian chuyến biển được rút ngắn bằng khoảng 2/3 thời gian so với câu vàng Nghề câu tay đạt sản lượng khai thác đạt khá cao Tuy nhiên, chất lượng cá ngừ câu tay thấp, tỷ lệ cá ngừ câu tay đạt tiêu chuẩn sashimi chỉ đạt 5 – 6

% lô sản phẩm khai thác được Nhưng do giảm chi phí di chuyển thu thả câu, giảm chi phí mồi và thời gian chuyến biển nên hiệu quả của nghề này thường cao hơn nhiều so với nghề câu vàng truyền thống

Trang 11

d Mối quan hệ và các hình thức tổ chức sản xuất

Tổ chức sản xuất trên biển

Đối với đội tàu khai thác cá ngừ nói chung, khoảng 60% tàu hoạt động theo mô hình sản xuất độc lập, không theo hình thức tổ đội Một số tàu bán sản phẩm trên biển, một số tàu gửi sản phẩm cho tàu khác về bờ tiêu thụ, như một số mô hình tàu câu vàng của Tam Quan, Bình Định Những tàu khai thác từ 15 ngày trở lên thường được tổ chức dưới dạng đội sản xuất hoặc có mối liên hệ chặt chẽ với các tàu khác trong địa phương giúp nhau trong việc vận chuyển sản phẩm về bờ hoặc cung ứng nguyên, nhiên vật

liệu từ bờ ra; đặc biệt giữa nghề lưới vây đêm có mối quan hệ với các tàu câu để kết nối khi gặp cây trôi (trà nổi) trên biển Có khoảng 10% tàu khai thác nghề lưới vây khai thác trong ngày, nhóm tàu này thường ở gần ngư trường vùng lộng và vùng bờ khi cá áp lộng Hiện nay sản phẩm khai thác của nhiều tàu lưới vây được bán ngay cho các tàu dịch vụ thu mua trên biển, nên thời gian bám biển thường đến hết mùa trăng mới về bờ như tàu của các tỉnh Miển Trung và Miền Nam, đối với các tỉnh Miền Bắc mô hình

này chưa được thực hiện

Tuy nhiên, do ý thức cộng đồng chưa cao, nên việc hình thức sản xuất theo

tổ đội và tổ chức liên kết sản xuất trên biển còn ở tỷ lệ thấp

Liên kết khai thác với dịch vụ thu mua trên biển

Hiện nay, ba tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa có khoảng 295 tàu hoạt động dịch vụ thu mua sản phẩm khai thác trên biển; trong đó: Bình Định có 02 tàu, Phú Yên có 08 tàu, Khánh Hòa có 285 tàu Riêng tỉnh Khánh Hòa có 25 tàu thu mua tại vùng lộng và vùng khơi Nhiều tàu lưới vây được bán ngay cho các tàu dịch vụ thu mua này, như các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa Các tàu của Bình Định bằng nghề lưới vây hoạt động ở các ngư trường các tỉnh phía Nam bán sảnphẩm cho các tàu dịch vụ thu mua của các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa và các tàu thu mua các tỉnh phía Nam Mô hình tàu dịch vụ thu mua trên biển ngoài việc mua sản phẩm còn hỗ trợ thao tác trong quá trình thả lưới, cung ứng nhiên vật liệu và thực phẩm cho tàu khai thác Hiện nay các mô hình tàu dịch vụ thu mua trên biển của ngư dân phát huy hiệu quả, tạo điều kiện để tàu khai thác và bám biển dài ngày, chi phí thấp, hiệu quả được nâng cao rõ rệt, cá được bán và chuyển về bờ nhanh, chất lượng sản phẩm tốt, giảm tổn thất sau thu hoạch

1.2.2.2 Thu mua cá ngừ

a Năng lực thu mua cá ngừ

Trang 12

Các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa có 36 cơ sở thu mua và 15 doanh

nghiệp chế biến xuất khẩu thu mua trực tiếp cá ngừ

Bảng 1.1 Số cơ sở thu các loại cá ngừ đại dương tại 3 tỉnh đánh bắt trọng điểm

Tại các cảng cá, bến cá: Các công đoạn vận chuyển từ tàu lên bờ và đến cơ sở thu mua đều được thực hiện thủ công; cầu cảng xa, không có mái che, chủ yếu cá mua vào ban ngày nên hầu hết cá tiếp xúc trực tiếp với nắng Nhiều cơ sở mới chỉ chấp hành đăng ký kinh doanh, không đáp ứng yêu cầu về điều kiện kinh doanh như: cơ sở vật chất- kỹ thuật không đảm bảo cho hoạt động kinh doanh, thu mua nguyên liệu hải sản; vị trí, mặt bằng nằm trong khu dân cư; nhiều cơ sở xây dựng nhà xưởng sơ sài, tạm bợ; đội ngũ quản lý

và nhân viên chưa được đào tạo, tập huấn chuyên môn chất lượng nguyên liệu bị giảm và tổn thất sau thu hoạch lớn

b Cách thức tổ chức, phương thức thu mua, tiêu thụ

Ngư dân không thể bán cá trực tiếp cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuẩt khẩu mà phải bán thông qua trung gian là đại lý hoặc nậu vựa (thương lái) Việc thiếu vắng các chợ cá ngừ tại các bến cảng đã không cho ngư dân cơ hội được lựa chọn bạn hàng, cơ hội

có được thông tin minh bạch về giá cá ngừ theo phẩm cấp trên thị trường Cá ngừ tiêu thụ được phân phối theo 2 chuỗi xuất khẩu và nội địa

Trang 13

Hình 1.2 Chuỗi sản phẩm cá ngừ đại dương xuất khẩu

Hình 1.3 Chuỗi sản phẫm cá ngừ đại dương tiêu thụ nội địa

Trang 14

Đối với tàu có sự ràng buộc do vay vốn của chủ nậu vựa thì chủ tàu phải bán sản phẩm cho chủ vay, đối với tàu không có sự giàng buộc vốn vay thì sau khi khảo sát và thỏa thuận giá, phương thức nhận hàng thì bán cho cơ sở nào có giá cao và phương thức nhận hàng phù hợp, chưa có phương thức bán đấu giá cá ngừ

Hiện nay phương thức mua bán sản phẩm cá ngừ, nhất là cá ngừ đại dương không phù hợp, tình trạng mua xô, ép cấp, ép giá gây bất lợi lớn cho ngư dân, đã không khuyến khích và nâng cao trách nhiệm cho ngư dân trong việc bảo quản sản phẩm, nâng cao chất lượng dẫn đến tổn thất sau thu hoạch lớn cả về chất lượng cũng như giá trị

Bản thân các Doanh nghiệp, các Đại lý, Nậu vựa phải lo ứng phó với các rủi ro, biến động thị trường nên luôn đưa ra mức giá dự phòng, thấp hơn so mặt bằng giá trị sản phẩm, giá cá ngừ đại dương loại 1 chỉ từ 120.000 – 140.000 đồng/kg, còn lại chỉ từ

30.000 – 40.000 đông/ kg Đây là mâu thuẫn đang tồn tại giữa ngư dân với các nậu vựa thu mua tiêu thụ cá ngừ Mâu thuẫn này chỉ có thể giải quyết được thông qua việc tổ chức quản lý đồng bộ hệ thống sản xuất kinh doanh cá ngừ từ khai thác bảo quản, chế biến đến tiêu thụ và xuất khẩu, đặc biệt chú trọng hình thành cơ sở hạ tầng chợ đấu giá cá ngừ đại dương để công khai minh bạch các thông tin thị trường, giá cả

Tại Phú Yên và Khánh Hòa các tổ chức, cá nhân đã mạnh dạn đầu tư cho những con tàu thực hiện hoạt động thu mua, cung ứng dịch vụ nhiên liệu, nước đá trên biển Sản phẩm thu mua chủ yếu là cá ngừ vằn, giá thường thấp hơn giá trong bờ Tuy nhiên phương thức này vẫn phù hợp bởi không phải chi phí nhiên liệu để ra ngư trường và vận chuyển sản phẩm vào bờ, giảm chi phí nước đá bảo quản sản phẩm, nâng cao hiệu suất khai thác và năng suất chuyến biển

1.2.3 Vai trò của xuất khẩu cá ngừ đại dương đối với nên kinh tế Việt Nam

Những năm gần đây, cá ngừ đại dương luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của

cả nước Góp phần đem về nguồn thu ngoại tệ và phát triển kinh tế - xã hội quốc

gia Tính riêng năm 2014, cá ngừ đã đem về 484 triệu USD (VASEP) cho Việt Nam Giải quyết việc làm khu vực Miền Trung, xuất khẩu cá ngừ đã giúp tạo công ăn việc làm Nguồn cá ngừ dồi dào và đặc biệt được sự ủng hộ và hỗ trợ của chính phủ Việc phát triển nghề cá cũng tạo điều kiện phát triển kinh doanh cho các cơ sở kinh

doanh xăng dầu, đá lạnh, dụng cụ đi biển, đóng tàu, đầu nậu, các công ty kinh doanh và tiểu thương… Có thể nói nghề câu cá ngừ và xuất khẩu cá ngừ có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống nhân dân Ngày nay, không chỉ ngư dân 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa mà tất cả các tỉnh thành trên cả nước có ngư dân tham gia đánh bắt cá ngừ đại dương đều được lợi từ nghề cá này

Ngoài ra, việc phát triển nghề câu cá ngừ đại dương, hỗ trợ ngư dân đánh bắt xa bờ, giúp

Trang 15

ngư dân bám biển… còn góp phần khẳng định và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của tổ quốc ta

1.2.4 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương Việt Nam

1.2.4.1 Nhân tố quốc tế

Thị hiếu của các thị trường xuất khẩu ảnh hưởng nhiều đến kết quả xuất khẩu:

Nhìn chung các thị trường chính nhập khẩu cá ngừ đại dương Việt Nam như Mỹ, EU, Nhật Bản… điều quan tâm đến vấn đề sức khỏe Người tiêu dùng thích những sản phẩm,

an toàn, vệ sinh, giàu dinh dưỡng, khoán chất, vitamin đặc biệt hàm lượng chất béo ít Nhưng nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ đại dương vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu này, quá khứ Việt Nam nhiều lần bị phát hiện vi phạm tiêu chuẩn an toàn vệ sinh nên nhiều người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm Việt Nam còn e dè Người tiêu dùng ở các thị trường này chỉ lựa chọn sản phẩm đầy đủ nhãn hiệu về nguồn gốc xuất sứ, mã vạch, thành phần dinh dưỡng, các điều kiện bảo quản và sử dụng…

Nhanh, tiện lợi là một tiêu chí lựa chọn sản phẩm, do đặt thù lối sống bận rộn ở đa số các quốc gia nhập khẩu cá ngừ dại dương Việt Nam, yếu tố này ảnh hưởng đến xu hướng tiêu thụ cá ngừ của Việt Nam, như tại thị trường EU sản phẩm tiện lợi như cá ngừ phile, đóng hộp, cá ngừ chế biến sẵn chiếm 80% tổng giá trị cá ngừ đại dương xuất qua thị trường này năm 2014

Trọng thời kỳ kinh tế khó khăn, thắc lưng buộc bụng như hiện nay giá cả ảnh hưởng rất lớn đến khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp

Sự Cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Sự cạnh tranh ở thị trường quốc tế khốc liệt hơn thị trường trong nước rất nhiều Doanh nghiệp luôn chịu sức ép từ sự mặc cả khách hàng quốc tế, sự cạnh tranh của các đối thủ quốc tế, sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế…

Trên thị trường xuất khẩu cá ngừ đại dương có sự cạnh đến chính từ các thị trường nhập khẩu cá ngừ đại dương của Việt Nam như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Italy và Hy Lạp…trong đó Tây Ban Nha nằm trong 3 nước có giá trị xuất khẩu cá ngừ lớn nhất thế giời, nhưng đây không phải đối thủ chính của xuất khẩu cá ngừ Việt Nam do các nước này chủ yếu nhập nguyên liệu thô từ các nước Châu Á và xuất sản phẩm chế biến cao cấp, đối thủ chính của Việt Nam là các quốc gia xuất khẩu cá ngừ khác như Thái Lan, Philippines, Ecuador, Indonexia, El Salvador, Papua New Guina và Mauritius Như Thái

Trang 16

Lan hiện là nước có giá trị xuất khẩu lớn Nhất năm 2014 vào thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản lần lượt là 35%, 19%, 56% thị phần là đối thủ cạnh tranh lâu đời của Việt Nam Mỹ

là thị trương nhập khẩu cá ngừ đại dương lớn nhất của Việt Nam, nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ câu thị trường này

Hình 1.4 Cơ cấu nhập khẩu cá ngừ đại dương của Mỹ năm 2014

Do có đặt thù cá ngừ đại dương chỉ sinh sống ở một số vùng biển, sản lượng đang giảm dần nên rủi ro xuất hiện đối thủ cạnh tranh mới là gần như không có Doanh nghiệp cần

có chiến lược rõ ràng và nguồn lực đủ mạnh nếu muốn vươn xa trên thị trường quốc tế

1.2.4.2 Nhân tố kinh tế

Kinh tế ảnh hướng rất lớn đến tình hình xuất khẩu cá ngừ đại dương Việt Nam, quyết định đến nhu cầu và khả năng thanh toán của khác hàng Khi nên kinh tế thị trường xuất khẩu tăng trưởng ổn đinh thì thu nhập của người dân ở các thị trường xuất khẩu của Việt Nam được nâng lên, nhu cầu về sản phẩm sẻ được tăng theo, kéo theo là tăng lượng sản phẩm xuất khẩu

Kinh tế phát triển đầu tư nhiều cho cơ sở hạ tầng: đường xá, bến bãi, hệ thống vận tải, hệ thống thông tin, ngân hàng, bảo hiểm… tạo sự thông thoáng thúc đây nhanh quá trình xuất khẩu, gao hàng, tạo sự thuận tiện khi xuất khẩu

Trang 17

Cơ sở hạ tầng phục vụ hậu đánh bắt cực kỳ quan trọng, vì cá ngừ có giá trị cao khi còn tươi, nên việc đâu tư các cơ sở hạ tậng phục vụ quá trình này là hợp lý, các cơ sở hạ tầng bến cảng, cầu cảng, cảng cá, cơ sở thu mua, nơi neo đậu thuyên của nước ta tương đối đồng bộ nhưng chưa đạt hiệu quả cao , các cơ sở này được đầu tư ở các tỉnh có truyền thống nghề cá ngừ ở miền Trung như cảng cá Thuận Phước (Đà Nẵng), cảng cá Sa

Huỳnh (Quảng Ngãi), cảng cá Tam Quan Bắc (Bình Định), cảng cá Tiên Châu (Phú Yên)…Đặc biệt trong số này là cảng cá Tiên Châu được đầu tư qui mô nhất, thiết kế ban đầu của Tiên Châu cho phép cảng tiếp nhận hơn 300 lượt tàu thuyền ra vào mỗi ngày, tức

là tiếp nhận khoảng gần 10000 tấn cá Song, cảng cá vẫn chưa hoạt động đúng chức năng của mình khi trở thành một nơi tu sửa tàu thuyền mà chưa thật sự bổ trợ cho hoạt động khai thác, thu mua cá Đối với các tàu chuyên đánh bắt cá ngừ đại dương, vốn phải hoạt động xa bờ nhiều ngày, thì hệ thống các cảng bến neo đậu tàu thuyền xa bờ và bến cảng được xây dựng kiên cố tại các đảo như tại đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), quần đảo Trường

Sa (Khánh Hòa) đóng vai trò hết sức quan trọng

Lạm phát là Lạm phát cao các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ không đầu tư tái sản xuất mở rộng và đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất của doanh nghiệp vì các doanh nghiệp sợ không đảm bảo về mặt hiện vật các tài sản, không có khả năng thu hồi vốn sản xuất hơn nữa, rủi ro kinh doanh khi xảy ra lạm phát rất lớn Khi đó các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam khó có thể đẩy mạnh xuất khẩu và đáp ứng được yêu cầu của thị trường

Tỷ giá hối đoái cũng ảnh hướng không hề nhỏ đối với hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp, nó tác động nhanh chóng và sâu sắc với từng quốc gia và từng doanh nghiệp nhất

là trong điều kiện nền kinh tế mở cửa khi đồng nội tệ lên giá sẽ khuyến khích nhập khẩu

và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước sẽ giảm trên thị trường nội địa Các doanh nghiệp trong nước mất dần cơ hội mở rộng thị trường, phát triển sản xuất kinh doanh Ngược lại, khi đồng nội tệ giảm giá dẫn đến xuất khẩu tăng cơ hội sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước tăng, khả năng cạnh tranh cao hơn ở thị trường trong nước và quốc tế bởi khi đó giá bán sản phẩm cá ngừ trong nước giảm hơn so với đối thủ cạnh tranh nước ngoài

1.2.4.3 Nhân tố Chính Trị

Tình hình chính trị ổn định thì thị trường mới được ổn định, khi đó các yếu tố rủi do về chính trị, bất ổn, chiến tranh ở mức thấp, quá trình xuất khẩu giảm bớt nguy cơ trong quá trình xuất khẩu như lạm phát, đình trệ về hoạt động kinh tế, thủ tục hải quan,…

Xung đột chính trị giữa các quốc gia là vấn đề nghiệm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu khi các quốc gia đó trả đủa bằng thương mại, đặt ra những rào cản, cấm vận

Trang 18

Tuy nhiên chính trị còn giúp các quốc gia nhích lại gần nhau hơn để hình thành các khối kinh tế thế giới, khu vực như WTO, AFTA,…tháo bỏ những hàng rào thuế, phi thuế quan tạo khu vực thuận lợi xuất khẩu cá ngừ đại dương với điều kiện tốt nhất, khi hiệp đinh TPP có hiệu lực nhiều sản phẩm thủy sản của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản sẻ được giảm thuế xuống mức 0% trong đó có cá ngừ Việt Nam và giỡ bỏ nhiều hàng rào phi thuế quan, đó mở ra cơ hội rất lớn cho xuất khẩu cá ngừ đại dương, đồng thời tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm khi có thể cắt giảm chi phí

1.2.4.4 Nhân Tố pháp luật

Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải tuân thủ những quy định của pháp luật như:

- Các quy định của nhà nước đối với việc mua bán hàng hóa quốc tế: luật Thương mại Việt Nam 1997…

- Các hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia: GATT, GATS…

- Các quy định nhập khẩu hàng hóa mà doanh nghiệp tham gia xuất khẩu

- Các vấn đề pháp lý và tập quán quốc tế có liên quan tới xuất khẩu như luật bảo hiểm quốc tế, luật vận tải quốc tế, quy định về giao nhận hàng…như: Incoterms…

Hiện nay nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn rất mơ hồ về các quy định có liên quan đến vấn đề xuất nhập khẩu mà mình có liên quan, đó làm điểm yếu của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ nói riêng Để có thể thuận lợi xuất khẩu sản phẩm cá ngừ đại dương các doanh nghiệp cần nâng cao mặt này

1.2.4.5 Nhân tố tự nhiên

Việt Nam có đường bờ biển dài 3260 Km và diện tích vùng Biển khoảng 1 triệu Km2 nhiều đảo và quần đảo có chữ lượng cá ngừ đại dương ước tính khoản 600 ngàn tấn, thuận lợi cho nghề khai thác cá ngừ đại dương

Nước ta nằm trong khu vực Đông Nam Á có nhiều tuyến vận tải quốc tế đi qua, thuận xuất khẩu đường biển

Tình hình thiên tai: bảo, vòi rông, biển động… cũng gây không ích khó khăn cho quá trình khai thác cá ngừ, không ít những tai nạn do thiên tai gây ra làm hậu quả thương tâm, gánh nặng cho xã hội và tuột giảm sản lượng khai thát, gần đây nhất VASEP dự báo sản lượng cá ngừ giảm do dòng hải lưu nóng đi qua khiến cá ngừ di cư

1.2.4.6 Nhân tố khoa học công nghệ

Trang 19

Công nghệ là yếu tố rất được quan tâm trong khai thác cá ngừ đại dương hiện nay Các doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ đại dương hiện nay gặp nhiều khó khăn trong khâu

nguyên liệu, thậm chí giữ mùa khai thác cá ngừ, phải nhập khẩu nguồn nguyên liệu từ các nước khác gây lãng phí do cá ngừ khai thác được không đạt chất lượng, không đảm bảo nguyên nhân xuất phát từ việc khai thác và bảo quản với công nghệ lạc hậu, khi vào tới đất liền chất lượng cá giảm, không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu như SSOP, HSCCP Hiện nay, các ngư dân đánh bắt cá ngừ đại dương đang dần thay đổi công nghệ đánh bắt, đầu

tư thuyên theo hướng công nghệ Nhật Bản để cải thiện chất lượng cá ngừ khai thác

Đối với sản phẩm từ cá ngừ hiện nay tính tại 3 tỉnh trọng điểm chỉ có 36 cơ sở thu mua và

15 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn công nghệ, an toàn vệ sinh để chế biến xuất khẩu con số này là quá ít so với lượng khai thác và tiềm lực vốn có

Nguồn:

Bảng 1.2 Số cơ sở thu mua và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá ngừ đại dương

đạt tiêu chuẩn vệ sinh năm 2014

Để đạt chẩn chất lượng xuất khẩu các doanh nghiệp phải trang bị đầy đủ công nghệ hiện đai máy móc, thiết bị cấp đông tiếp xúc (CF), đông gió và hầm đông lạnh, đông rời (IQF) đang được các nhà máy chế biến cá ngừ sử dụng để cấp đông sản phẩm Thiết bị cấp đông tiếp xúc (CF) chủ yếu cấp đông các sản phẩm cá ngừ lóc như thăn cá ngừ vằn hấp chín, một số nhà máy chưa trang bị thiết bị cấp đông rời (IQF) sử dụng thiết bị này để đông các loại sản phẩm Steaks, Saku, Cube; thiết bị đông gió chủ yếu cấp đông các sản phẩm cá ngừ nguyên con và bỏ đầu; một số nhà máy có trang bị hầm đông lạnh, đông rời (IQF) cấp đông sản phẩm Steaks, Saku, Cube Hiện có doanh nghiệp đã trang bị thiết bị cấp đông sâu (- 60°C) cấp đông các sản phẩm có chất lượng cao và có hàm lượng giá trị gia tăng cao Các nhà máy đều trang bị các thiết bị và dụng cụ chế biến đảm bảo điều

Trang 20

kiện về công nghệ chế biến và an toàn vệ sinh thực phẩm; một số nhà máy đã trang bị thiết bị cắt, máy dán bao bì hút chân không, thiết bị băng chuyền vận chuyển bán thành phẩm, xe nâng và vận chuyển thành phẩm

Đối với các nhà máy chế biến đồ hộp đều phải trang bị thiết bị hấp và nồi hơi, thiết bị ghép mí và thiết bị thanh trùng đảm bảo chế biến các sản phẩm đồ hộp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trưởng EU, Mỹ, Nhật Một số nhà máy đã tự trang bị thiết bị và sản xuất hộp và bao bì đóng hộp Các nhà máy chế biến trang bị kho lạnh đảm bảo yêu cầu kỹ thuật để bảo quản sản phẩm và kho mát để bảo quản nguyên liệu để chủ động nguyên liệu cho chế biến, bảo quản bán sản phẩm trong quá trình sản xuất Chất lượng máy móc trang thiết bị được đảm bảo để sản xuất, thường xuyên được kiểm tra, duy tu, bảo dưỡng để phục vụ sản xuất

Yếu tố công nghệ hiện là sức ép cho ngành cá ngừ Việt Nam khi thiếu vốn đầu tư cơ sở, thiết bị để có thể khai thác, chế biến đẩy mạnh xuất khẩu Khoa học công nghệ vô tình là rào cảo cho những doanh nghiệp thiếu vốn và là lợi thế, cơ hội cho những doanh nghiệp

đã được trang bị đâu tư công nghệ đầy đủ, mô hình chung dể dẫn đến những nhóm độc quyền chi phối xuất khẩu cá ngừ

1.3 Cơ hội và thách thức đối với cá ngừ đại dương Việt Nam khi hội nhập toàn cầu

Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam không hội nhập và là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế như WTO, AFTA, ASEM, APEC… gần đây nhất là TPP, theo đó mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho nên kinh tế nói chung, cá ngừ đại dương Việt Nam nói riêng

có tác động tốt, tạo ra nhiều việc làm cũng như tăng thu nhập của người lao động

Hội nhập giúp doanh nhập khẩu nguyên liệu chế biến có nhiều cơ hội lựa chọn hơn, chủ động hơn nguồn nguyên liệu nha

Trang 21

Thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, nguồn hổ trợ cho ngư dân Việt Nam cải thiện phương tiện đánh bắt xa bờ, kỷ thuật đanh bắt hiệu quả, giá trị thương mại của cá ngừ cao hơn

Hội nhập làm tăng vị thế của của cá ngừ Việt Nam trên trường quốc tế khi Việt Nam, là tiền đề cho xuất khẩu cá ngừ, như khi doanh nghiệp xuất khẩu được sang thị trường EU thì khi thâp nhập thị trường Nhật Bản sẻ dể dàng hơn

1.3.2 Thách thức

Rào cản kỹ thuật: Với việc tự do hóa thương mại, thủy sản Việt Nam sẽ có lợi về thuế quan, nhưng sẽ là đối tượng để các thị trường áp dụng các rào cản phi thuế quan nhằm bảo hộ ngành sản xuất nội địa hoặc hạn chế NK Những rào cản như thuế CBPG, thuế chống trợ cấp, các quy định kiểm tra hóa chất, kháng sinh…đang và sẽ được tăng cường

áp dụng

cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn Cạnh tranh không chỉ giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước trên thị trường nước ngoài mà còn cạnh tranh trên chính thị

trường nội địa từ doanh nghiệp nước ngoài

Bất cập giữ nền hành chính quốc gia và nền quốc tế gây ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự ứng biến linh hoạt

Sự bảo hộ thương mại: Sự cạnh tranh về giá cũng chính là “mối nguy” đối với sản phẩm

cá thịt trắng hay sản phẩm thủy sản tại một số nước Do đó, nước NK sẽ sử dụng một số rào cản mang tính chất bảo hộ như quy định về yêu cầu dán nhãn sản phẩm “an toàn cá heo” của tổ chức Ell đối với sản phẩm cá ngừ tiếp tục là rào cản đối với DN XK cá ngừ

và thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm thủy sản Việt Nam

CHƯƠNG II: THỊ TRƯỜNG NHẬT VÀ CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG

2.1 Giới thiệu quốc gia Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia nằm phía Đông Châu Á với tổng diện tích 377835 km2 , khoảng 3.900 đảo lớn nhỏ Năm 2014, dân số Nhật Bản hơn 127 triệu người, GDP bình quân đầu người của Nhật Bản khoản 36200 USD/ năm

Nhật Bản là nước phát triển với mức tổng thu nhập quốc nội cao Tuy nhiên những năm gần đây nền kinh tế Nhật Bản đi xuống GDP năm 2014 đạt 4.601,46 Tỷ USD giảm

6,47% so với năm 2013 do tác động của khủng hoảng nợ công ở nước, mức nợ công tới 227,2% GDP trong năm 2014

Trang 22

Đvt: Tỷ USD

Nguồn:

Tình trạng giảm kéo dài gây

Hình Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Nhật Bản giai đoạn 2010-2012

2.2 Quan hệ thương mại Việt Nam và Nhật Bản

Khi quan hệ ngoại giao chính thức giữa Việt Nam và Nhật Bản được thiết lập vào tháng 9 năm 1973, quan hệ thương mại giữa hai nước đã có điều kiện phát triển mạnh Đặc biệt là

kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa thị trường trong nước (1986)

thì quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản đã được phát triển mạnh mẽ hơn bao

giờ hết Kể từ đó đến nay, quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản đã đạt được những

thành tựu rất đáng khích lệ Công cuộc đổi mới của Việt Nam với các chính sách phát

triển kinh tế đối ngoại năng động, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và lợi ích của

cả hai bên Nhật Bản và Việt Nam cộng với một môi trường quốc tế thuận lợi là những

nguyên nhân cơ bản nhất, quan trọng nhất thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật

Bản phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn, sôi động hơn và cũng ngày càng đi vào thế ổn

định hơn, vững chắc hơn

Trang 23

Cho đến nay Nhật Bản hiện là bạn hàng lớn thứ 2 của Việt Nam sau Trung Quốc và là thị trường xuất khẩu đứng thứ 2 sau Mỹ Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản chủ yếu (đến 90%) là sản phẩm thô hoặc có hàm lượng chế biến thấp, trong đó, dầu thô là sản phẩm xuất khẩu chủ lực Ngoài ra, còn xuất khẩu hàng tiêu dùng gia đình như dụng cụ gia đình,

va li, cặp, túi các loại , những mặt hàng chế biến xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là thủy sản, dây điện và cáp điện, sản phẩm gỗ và hàng dệt may Đặc biệt, đồ gỗ xuất khẩu của ta vào thị trường Nhật Bản càng ngày càng có xu hướng tăng lên một cách vững chắc, đứng thứ tư sau Trung Quốc, Đài Loan và Thái Lan về thị phần ở Nhật Điều đáng nói là trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu của nước ta đã đạt tốc độ phát triển tích cực, tăng trung bình hàng năm từ 15 -19%, và luôn là nước xuất siêu

Hiệp định đối tác kinh tế song phương Việt - Nhật (VJEPA) ký ngày 25-12-2008, cùng với Hiệp định đối tác toàn diện Nhật Bản - ASEAN đã tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước, mở ra cơ hội thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá và lao động Việt Nam sang Nhật Bản Cụ thể là: kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam - Nhật Bản năm 2002 đạt 4,9 tỷ USD, tới 2007 tăng lên 12,2 tỷ USD, gấp 2,5 lần so với 5 năm trước, sang 2008, với sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp hai nước kim ngạch thương mại hai chiều đạt 17,3 tỷ USD, năm 2009 đạt 13 tỷ USD, cho đến năm 2013 con số này là 24,8 tỷ USD Số liệu thống kê sơ bộ mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy, trong 8 tháng tính từ đầu năm 2015, tổng kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam-Nhật Bản đạt gần 19 tỷ USD, giảm 21% so với cùng kỳ của năm 2014.Trong đó, tổng trị giá hàng hóa các công ty Việt Nam nhập khẩu hàng hóa xuất xứ

từ Nhật Bản là 9,7 tỷ USD, tăng mạnh 22% so với năm 2014 và chiếm 9% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ Nhóm hàng máy móc, thiết bị và dụng cụ phụ tùng khác được nhập nhiều nhất trong 8 tháng năm 2015 với trị giá 3,2 tỷ USD tăng 39% so với cùng kỳ năm trước Bên cạnh đó, các nhóm mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu vào Việt Nam khá cao, chiếm hơn 33% tổng kim ngạch nhập khẩu vào Việt Nam của các mặt hàng có xuất xứ từ Nhật Bản trong 8 tháng đầu năm 2015

Ở chiều ngược lại, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của các công ty Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong 8 tháng năm 2015 đạt gần 9,3 tỷ USD, giảm 6% so với cùng kỳ năm trước đó và chiếm 9% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam

Trong 8 tháng từ đầu năm 2015, Nhật Bản là thị trường tiêu thụ quan trọng đối với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như: hàng dệt may (đạt 1,7 tỷ USD, tăng 6%

so với năm 2014); dầu thô (đạt 489 triệu USD, giảm 62% so với năm 2014); hàng thủy sản đạt 650 triệu USD Mặc dù vậy, có thể nói rằng, cho đến nay kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản vẫn còn thấp so với tiềm năng của hai nước, mặt hàng nhập

Trang 24

khẩu còn đơn điệu khiến chúng ta vẫn chưa tận dụng được nhiều những trang thiết bị công nghệ hiện đại từ một nước “công nghệ nguồn” như Nhật Bản

Theo như Hiệp định đã ký, về thương mại, đến năm 2019, hai nước tiến tới đưa hơn 92% giá trị xuất nhập khẩu được hưởng chế độ miễn thuế Khoảng 94,53% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Nhật Bản sẽ hưởng chế độ giảm thuế và kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản vào Việt Nam được hưởng chế độ này là 87,66% Nhóm mặt hàng được hưởng

ưu đãi thuế cao nhất gồm: thủy sản, nông sản, dệt may, sắt thép, hóa chất và linh kiện điện tử Như vậy, để tận dụng sự ưu đãi của Hiệp định với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường Nhật Bản một cách ổn định và lâu dài, Việt Nam phải nỗ lực tìm ra nhiều nguồn hàng xuất khẩu chất lượng cao, giá thành hợp lý, đáp ứng nhu cầu thị hiếu của thị trường Nhật Bản, thay đổi cơ cấu mở rộng các mặt hàng xuất khẩu sang Nhật

2.3 thị trường Nhật Bản và cá ngừ đại dương

2.3.1 Quy định nhập khẩu cá ngừ đại dương của Nhật Bản

Nhật Bản có quy định áp dụng chung cho ngành thủy sản và mặt hàng chế biến, hiện vẫn chưa có quy định củ thể cho mặt hàng cá ngừ đại dương Việc nhập khẩu các mặt hàng thủy sản và thực phẩm chế biến vào thị trường Nhật Bản cần tuân theo các luật sau đây: Luật thương mại quốc tế và trao đổi ngoại hối, Luật về an toàn vệ sinh thực phẩm và Luật hải quan

2.3.1.1 Luật thương mại quốc tế và trao đổi ngoại hối

Việc nhập khẩu thủy sản vào thị trường Nhật Bản chịu những hạn chế nhất định, được liệt kê dưới đây:

- Hạn ngạch nhập khẩu

- Phê duyệt nhập khẩu

- Xác nhận nhập khẩu (xác nhận trước/ xác nhận tại điểm làm thủ tục thông quan)

a) Hạn ngạch nhập khẩu

Việc nhập khẩu những mặt hàng thủy sản dưới đây cần tuân thủ theo hạn ngạch nhập khẩu theo quy định của Luật thương mại quốc tế và trao đổi ngoại hối Nhà nhập khẩu các loại thủy sản này cần có giấy chứng nhận hạn ngạch nhập khẩu và phê duyệt nhập khẩu của Bộ trưởng Bộ Thương mại

- Cá trích (tiếng Nhật: nishin), cá tuyết (tiếng Nhật: tara), cá đuôi vàng, cá thu, cá ngừ, horse mackerel, cá thu đao, sò điệp, mắt sò điệp, mực (tươi sống, ướp lạnh, đông lạnh, phi lê hoặc khô) Có bốn cách thức phân bổ hạn ngạch bao gồm phân bổ hạn ngạch dành cho các công ty thương mại (cấp hạn ngạch dựa trên hoạt động trước đó), phân bổ hạn

Trang 25

ngạch dành cho các công ty kinh doanh thủy sản, hạn ngạch tiêu dùng và phân bổ hạn ngạch trên cơ sở hoạt động lần đầu Các công ty nhập khẩu mới bắt đầu hoạt động, về lý thuyết, cần xin phân bổ hạn ngạch hoạt động lần đầu (việc phân bổ hạn ngạch có thể được thực hiện theo hình thức bốc thăm), nếu không họ có thể nhận được phân bổ hạn ngạch cấp lại từ các công ty đã được cấp hạn ngạch

b) Phê duyệt nhập khẩu

Để nhập khẩu các loại thủy sản dưới đây, công ty nhập khẩu cần nhận được bản phê duyệt nhập khẩu do Bộ Thương mại cấp từ trước:

- Cá ngừ vây xanh (bluefin) (những loại được nuôi ở Đại Tây Dương hoặc biển Địa Trung Hải và các loại thủy sản tươi sống hoặc thủy sản ướp lạnh)

- Cá ngừ vây xanh miền Nam (các loại tươi sống hoặc ướp lạnh, trừ những loại được nhập khẩu từ Ôxtrâylia, New Zealand, Philippines, Hàn Quốc hoặc Đài Loan)

- Cá ngừ mắt to và cá ngừ mắt to đã qua sơ chế (những loại được nhập khẩu từ Bolivia/ Georgia) và các loại cá, các loại giáp xác và các loại không xương sống và các loại thực phẩm sơ chế từ các loại cá này, cũng như các loại thực phẩm làm từ động vật có sử dụng

cá, các loài giáp xác và các loại động vật thân mềm

c) Xác nhận nhập khẩu cấp trước

Để nhập khẩu các loại thủy sản dưới đây, cần xin xác nhận nhập khẩu từ Bộ Thương mại trước khi nhập khẩu hàng hoá:

- Cá ngừ vây xanh đông lạnh, cá ngừ vây xanh miền Nam, cá ngừ mắt to, và cá kiếm

- Cá ngừ (trừ các loại như cá ngừ albacore, cá ngừ vây xanh, cá ngừ vây xanh miền Nam

và cá ngừ mắt to) và cá maclin (trừ cá kiếm) được nhập khẩu bằng đường biển (cá tươi sống, ướp lạnh và đông lạnh)

d) Xác nhận nhập khẩu tại điểm thông quan

Khi nhập khẩu các loại thủy sản dưới đây, các loại giấy tờ cần thiết phải nộp bao gồm: giấy chứng nhận thống kê, giấy chứng nhận đánh bắt và giấy chứng nhận tái xuất khẩu để được các cơ quan hải quan cấp xác nhận nhập khẩu

- Cá ngừ vây xanh (tươi sống/ ướp lạnh)

- Cá ngừ vây xanh miền Nam (tươi sống/ ướp lạnh)

- Cá kiếm (tươi sống/ ướp lạnh)

2.3.1.2 Luật an toàn vệ sinh thực phẩm

Để phù hợp với Thông báo số 370 của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội về "Tiêu chuẩn đối với thực phẩm và phụ gia thực phẩm" được ban hành theo Luật an toàn vệ sinh thực phẩm và các tiêu chuẩn đối với dư lượng thuốc trừ sâu (bao gồm cả phụ gia thức

ăn động vật và dược phẩm dành cho động vật), thủy sản và các loại thực phẩm chế biến cần tuân thủ theo các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm Các biện pháp được tiến

Trang 26

hành nhằm đánh giá các loại và chi tiết về thành phần thực phẩm, và kiểm định các loại

và thành phần phụ gia, dư lượng thuốc trừ sâu, độc tố nấm Lệnh cấm nhập khẩu thực phẩm có thể được áp dụng trong trường hợp một loại phụ gia, thuốc trừ sâu hoặc các thành phần khác bị cấm lưu hành tại Nhật Bản, hoặc trong trường hợp mức độ quá mức

độ cho phép hoặc khi độc tố nấm vượt quá mức độ cho phép Theo đó, thủy sản và các loại thực phẩm chế biến sẽ được kiểm tra tại điểm sản xuất trước khi nhập khẩu Nếu mức độ vượt quá tiêu chuẩn của Nhật Bản, sẽ có các hướng dẫn cụ thể

Các tiêu chuẩn về dư lượng thuốc trừ sâu được thực hiện thông qua hệ thống phủ nhận tới năm 2006 Theo đó, các loại thuốc trừ sâu sẽ không chịu sự kiểm soát nếu không có quy định gì dành cho chất đó Tuy nhiên, luật sửa đổi đã áp dụng hệ thống xác thực, do đó, hiện nay việc phân phối các sản phẩm trên lý thuyết bị cấm nếu sản phẩm đó có chứa một chất cụ thể nào đó, thậm chí ngay cả khi không có luật quy định Hệ thống danh sách xác thực được áp dụng với tất cả các mặt hàng thực phẩm, bao gồm cả thủy sản nuôi hoặc thủy sản tự nhiên

Từ năm 2011, các mặt hàng thủy sản chịu kiểm dịch bắt buộc theo quy định của Bộ Y tế (kiểm dịch tất cả các lô hàng theo quy định của Bộ Y tế nhằm đảm bảo không có các mặt hàngchịu kiểm dịch bắt buộc, không tính theo nước xuất xứ, bao gồm trứng cá hồi và cá nóc Thêm vào đó, các loại tôm nuôi tại Thái Lan (kiểm tra oxolinic acid) và tôm được sản xuất tại Việt Nam (kiểm tra chloramphenicol, nitrofurans ) cũng chịu quy định kiểm dịch bắt buộc

Mức giới hạn trên được áp dụng đối với kiểm dịch ở trên là 0,002 ppm đối với

fenitrothion and 0,01 ppm đối với oxolinic acid, acetochlor và triazophos Các chất

nitrofurans và chloramphenicol không được phép có trong thực phẩm

2.3.1.3 Luật hải quan

Theo Luật hải quan, việc nhập khẩu hàng hoá có nhãn mác giả mạo xuất xứ thành phần thực phẩm bị cấm hoàn toàn

Các quy định về kinh doanh mặt hàng thủy sản Nhật Bản không có các luật cụ thể áp dụng cho việc bán các mặt hàng thủy sản và thực phẩm chế biến Các quy định liên quan đến kinh doanh được tóm tắt dưới đây

a) Luật an toàn vệ sinh thực phẩm

Theo Luật an toàn vệ sinh thực phẩm, việc kinh doanh các sản phẩm có chứa chất gây hại hoặc độc tố hoặc các sản phẩm không vệ sinh bị cấm hoàn toàn Việc kinh doanh thủy sản và các loại thực phẩm chế biến đựng trong container và bao gói phải tuân theo quy định về dán nhãn bắt buộc theo Luật an toàn vệ sinh thực phẩm và các điều khoản liên quan đến nhãn an toàn như các chỉ dẫn về phụ gia thực phẩm, các thông tin về dị ứng, các thành phần thực phẩm và nguồn gốc, các thông tin về biến đổi gen

Ngày đăng: 21/11/2016, 00:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Biểu Đồ số lượng tàu khai thác cá ngừ đại dương năm 2015 - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
Hình 1.1 Biểu Đồ số lượng tàu khai thác cá ngừ đại dương năm 2015 (Trang 9)
Bảng 1.1 Số cơ sở thu các loại cá ngừ đại dương tại 3 tỉnh đánh bắt trọng điểm - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
Bảng 1.1 Số cơ sở thu các loại cá ngừ đại dương tại 3 tỉnh đánh bắt trọng điểm (Trang 12)
Hình 1.2 Chuỗi sản phẩm cá ngừ đại dương xuất khẩu - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
Hình 1.2 Chuỗi sản phẩm cá ngừ đại dương xuất khẩu (Trang 13)
Hình 1.3 Chuỗi sản phẫm cá ngừ đại dương tiêu thụ nội địa - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
Hình 1.3 Chuỗi sản phẫm cá ngừ đại dương tiêu thụ nội địa (Trang 13)
Hình 1.4 Cơ cấu nhập khẩu cá ngừ đại dương của Mỹ năm 2014 - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
Hình 1.4 Cơ cấu nhập khẩu cá ngừ đại dương của Mỹ năm 2014 (Trang 16)
Bảng 1.2 Số cơ sở thu mua và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá ngừ đại dương - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
Bảng 1.2 Số cơ sở thu mua và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá ngừ đại dương (Trang 19)
Hình Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Nhật Bản giai đoạn 2010-2012 - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
nh Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Nhật Bản giai đoạn 2010-2012 (Trang 22)
Bảng 2.1 Sản lƣợng khai thác cá ngừ hàng năm theo loại nghề - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
Bảng 2.1 Sản lƣợng khai thác cá ngừ hàng năm theo loại nghề (Trang 28)
Bảng 2.2 Nhập khẩu cá ngừ chế biến của Nhật Bản 2009 – 2013 (1.000 USD) - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
Bảng 2.2 Nhập khẩu cá ngừ chế biến của Nhật Bản 2009 – 2013 (1.000 USD) (Trang 30)
Bảng 2.3 Top 10 nguồn cung cá ngừ cho thị trường Nhật Bản năm 2014 - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
Bảng 2.3 Top 10 nguồn cung cá ngừ cho thị trường Nhật Bản năm 2014 (Trang 30)
Bảng 2.4 Sản phẩm cá ngừ NK của Nhật Bản năm 2014 - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
Bảng 2.4 Sản phẩm cá ngừ NK của Nhật Bản năm 2014 (Trang 31)
Hình 3.1 Biểu đồ sản lượng cá ngừ đại dương khai thác qua các năm - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
Hình 3.1 Biểu đồ sản lượng cá ngừ đại dương khai thác qua các năm (Trang 34)
Hình 3.2 Biểu đồ cơ cấu (%) xuất khẩu cá ngừ đại dương Việt Nam năm 2014 - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
Hình 3.2 Biểu đồ cơ cấu (%) xuất khẩu cá ngừ đại dương Việt Nam năm 2014 (Trang 36)
Hình 3.3 Biểu đồ giá trị xuất khẩu cá ngừ đại dương qua các năm - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
Hình 3.3 Biểu đồ giá trị xuất khẩu cá ngừ đại dương qua các năm (Trang 37)
Hình 3.4 Cơ cấu (%) Xuất Khẩu thủy sản nước ta năm 2014 - giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường nhật bản đến 2020
Hình 3.4 Cơ cấu (%) Xuất Khẩu thủy sản nước ta năm 2014 (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w