HÀM Ý HỘI THOẠI QUA MỘT SỐ CUỘC THOẠI TRONG TRUYỆN CƯỜI XÉT TRONG QUAN HỆ VỚI LẬP LUẬN VÀ CHIẾU VẬT .... Tuy nhiên, trong các cuộc hội thoại không phải tất cả những gì muốn diễn đạt ngườ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ MAI HÀ
HÀM Ý HỘI THOẠI TRONG MỘT SỐ TRUYỆN CƯỜI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hoàng Yến
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Hàm ý hội thoại trong một số truyện cười
Việt Nam hiện đại do thầy giáo TS Nguyễn Hoàng Yến hướng dẫn là công
trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Mai Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tác giả trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của
Trường Đại học Tây Bắc, lãnh đạo Sở, Phòng cùng Ban lãnh đạo khoa Ngữ
văn Trường Đại học Tây Bắc đã tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi hoàn
thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới thầy giáo,
TS Nguyễn Hoàng Yến - người đã truyền cho tôi lòng say mê khoa học, tình
yêu nghề, tinh thần làm việc nghiêm túc và đã nhiệt tình chỉ bảo cho tôi
những kiến thức mới mẻ trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc các thầy, cô đã giúp đỡ tôi trong quá
trình làm nghiên cứu
Sau cùng tôi xin gửi lời tri ân tới gia đình, bạn bè, những người luôn
bên cạnh chia sẻ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Sơn La, tháng 11 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Mai Hà
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Mục đích nghiên cứu 4
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.4 Phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu và ngữ liệu 5
4.1 Phương pháp nghiên cứu 5
4.2 Tư liệu khảo sát 6
5 Đóng góp của luận văn 6
5.1 Về mặt lí luận 6
5.2 Về mặt thực tiễn 6
6 Cấu trúc của luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
1.1 Lí thuyết hội thoại 8
1.1.1 Cấu trúc hội thoại 8
1.1.1.1 Các đơn vị lưỡng thoại 9
1.1.1.2 Các đơn vị đơn thoại 10
1.1.2 Các quy tắc hội thoại 13
1.1.2.1 Quy tắc luân phiên lượt lời 13
1.1.2.2 Các phương châm hội thoại 14
1.1.2.3 Thương lượng hội thoại 19
1.2 Lập luận 20
1.2.1 Khái niệm lập luận 20
1.2.2 Các thành phần của lập luận 21
Trang 61.2.3 Bản chất ngữ dụng của lập luận 23
1.2.3.1 Lập luận và lô gích 23
1.2.3.2 Lập luận và miêu tả……….… 24
1.2.3.3 Đặc tính của quan hệ lập luận 26
1.2.3.4 Tác tử lập luận và kết tử lập luận 26
1.3 Chiếu vật và chỉ xuất 28
1.3.1 Chiếu vật 28
1.3.1.1 Định nghĩa về chiếu vật 28
1.3.1.2 Vai trò của chiếu vật……….………… 28
1.3.1.3 Các phương thức chiếu vật 29
1.3.2 Chỉ xuất……… …30
1.4 Hàm ý hội thoại 32
1.4.1 Khái niệm hàm ý hội thoại 33
1.4.2 Cơ chế tạo ra nghĩa hàm ẩn 35
1.4.2.1 Không tuân thủ quy tắc chiếu vật chỉ xuất 35
1.4.2.2 Sử dụng các hành động ngôn ngữ gián tiếp 35
1.4.2.3 Không tuân thủ các quy tắc lập luận 36
1.4.2.4 Không tuân thủ các quy tắc hội thoại 36
1.5 Truyện cười 37
1.5.1 Khái niệm về truyện cười 37
1.5.2 Cấu trúc của truyện cười và vai trò của hội thoại trong cấu trúc đó 38
1.5.2.1 Cấu trúc của truyện cười 38
1.5.2.2 Vai trò của hội thoại trong cấu trúc truyện cười 40
1.6 Tiểu kết chương ……… 44
CHƯƠNG 2 HÀM Ý HỘI THOẠI QUA MỘT SỐ CUỘC THOẠI TRONG TRUYỆN CƯỜI XÉT TRONG QUAN HỆ VỚI PHƯƠNG CHÂM HỘI THOẠI 45
2.1 Các phương châm hội thoại với hàm ý hội thoại 46
Trang 72.1.1 Phương châm lượng xét trong quan hệ với hàm ý hội thoại 46
2.1.2 Phương châm chất xét trong quan hệ với hàm ý hội thoại 51
2.1.3 Phương châm quan hệ xét trong quan hệ với hàm ý hội thoại 55
2.1.4 Phương châm cách thức xét trong quan hệ với hàm ý hội thoại 58
2.1.5 Phương châm lịch sự xét trong quan hệ với hàm ý hội thoại 63
2.2 Tiểu kết chương 69
CHƯƠNG 3 HÀM Ý HỘI THOẠI QUA MỘT SỐ CUỘC THOẠI TRONG TRUYỆN CƯỜI XÉT TRONG QUAN HỆ VỚI LẬP LUẬN VÀ CHIẾU VẬT 71
3.1 Hàm ý hội thoại qua một số cuộc thoại xét trong quan hệ với lập luận 71
3.1.1 Phương hướng xem xét lập luận trong việc tạo hàm ý 71
3.1.2 Phân tích lập luận tạo hàm ý trong từng truyện 71
3.2 Hàm ý hội thoại qua một số cuộc thoại xét trong quan hệ với chiếu vật 79 3.2.1 Phương hướng xem xét chiếu vật trong việc tạo hàm ý 79
3.2.2 Phân tích hàm ý trong quan hệ với việc sử dụng biểu thức chiếu vật đa nghĩa và chiếu vật lệch 80
3.3 Tiểu kết chương 86
3.3.1 Về lập luận 86
3.3.2 Về chiếu vật 87
PHẦN KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
TÀI LIỆU CUNG CẤP NGỮ LIỆU KHẢO SÁT……… 94
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng bậc nhất của con người Không thể có một công cụ nào tốt hơn ngôn ngữ trong việc con người trao đổi
nhận thức, tâm tư, tình cảm của mình đến người khác Trong một cuộc giao
tiếp các nhân vật tham gia giao tiếp có sự tác động qua lại lẫn nhau để cùng
hướng về một mục đích nhất định
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ và
cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Các hình thức
hành chức khác của ngôn ngữ đều dựa vào hình thức hoạt động căn bản này
Hội thoại không chỉ diễn ra trong đời sống hằng ngày mà còn có trong tác
phẩm văn học Tuy nhiên, trong các cuộc hội thoại không phải tất cả những gì
muốn diễn đạt người ta đều có thể nói ra trực tiếp mà nhiều lúc người nói sử
dụng cách nói hàm ý đòi hỏi người nghe phải tự suy luận ra qua phát ngôn để
hiểu được nội dung mà người nói muốn truyền đạt, tức là người nói đã vi
phạm nguyên tắc cộng tác, khi đó hàm ý hội thoại xuất hiện Cuộc thoại xuất
hiện hàm ý sẽ tạo ra nhiều điều lí thú trong giao tiếp
Hơn nữa, truyện cười Việt Nam là một bộ phận của văn học dân gian
Việt Nam, được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ
thông và đại học Trong mỗi truyện cười Việt Nam, việc dùng hàm ý trong
các cuộc thoại xuất hiện là khá phổ biến Vì vậy, khám phá hàm ý trong một
số truyện cười vừa góp phần làm sáng tỏ các đặc tính của hàm ý hội thoại, lại
vừa lí giải về thi pháp nghệ thuật trong truyện cười Việt Nam Chúng tôi hi
vọng kết quả nghiên cứu về hàm ý trong một số truyện cười Việt Nam hiện đại sẽ trở thành một tài liệu hữu ích cho những người làm công tác giảng
dạy, những người yêu thích bộ môn Ngữ văn, đặc biệt là những người yêu thích truyện cười Việt Nam
Trang 9Vì những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu Hàm ý hội
thoại trong một số truyện cười Việt Nam hiện đại
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giữa cuộc sống bộn bề với bao công việc thường ngày, truyện cười trở thành một liều thuốc hữu hiệu xua bớt đi những mệt mỏi, căng thẳng, những buồn phiền, âu lo, chữa trị căn bệnh stress của con người Tiếng cười bật lên
từ những cái nhìn, cách lí giải bất ngờ nhưng có lí bởi nghệ thuật hài hước vốn là nghệ thuật của trí tuệ Nó vừa có giá trị giải trí, vừa có ý nghĩa giáo dục nhân cách, đạo đức con người Vì thế, có không ít những công trình nghiên cứu về truyện cười Việt Nam ở nhiều góc độ
Tìm hiểu qua một số tài liệu có liên quan đến truyện cười, chúng tôi
nhận thấy có không nhiều công trình nghiên cứu về Hàm ý hội thoại trong
truyện cười Việt Nam hiện đại Phần lớn là những công trình thiên về tính
chất sưu tập, tuyển chọn và biên soạn Một số tài liệu có bàn về truyện cười
dưới góc nhìn của văn học, nhưng cũng chỉ là điểm qua như: Tiếng cười dân
gian Việt Nam Nam của Trương Chính – Phong Châu, Văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh (chủ biên), Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian của Đỗ Bình Trị
Dưới góc nhìn ngôn ngữ học, theo hiểu biết của chúng tôi một số bài nghiên cứu về truyện cười của các tác giả Nguyễn Đức Dân, Trần Hoàng,
Vũ Ngọc Khánh, Bùi Khắc Viện… là không nhiều các tác giả đề cập đến vấn
Trang 10Còn Bùi Khắc Viện với “Tiếng cười trong phong cách ngôn ngữ của
Bác qua tác phẩm bằng tiếng Việt” cho rằng có hai loại biện pháp gây cười: ngôn ngữ học và phi ngôn ngữ học Biện pháp ngôn ngữ học là biện pháp đặc
thù nhằm khai thác những đặc điểm riêng của ngôn ngữ để gây cười Tác giả nêu ra một số biện pháp gây cười như: chơi chữ, tương phản
Biện pháp phi ngôn ngữ học gồm các thao tác: lựa chọn, sắp xếp các chi tiết [37,77]
Trong “Hàm ý hội thoại trong các truyện cười dân gian: Khoe của và
Hai kiểu áo”, tác giả Nguyễn Hoàng Yến cho rằng từ góc nhìn dụng học, sự
khai thác hàm ý trong các truyện này nhằm mục đích làm rõ thêm đặc tính của truyện cười Hàm ý hội thoại là yếu tố quan trọng tạo nên tiếng cười Tác
giả thống kê có 98% truyện cười có hội thoại (thống kê qua Tiếng cười dân
gian Việt Nam của Trương Chính - Phong Châu) [39,77]
Tác giả Trần Hoàng với “Những sắc thái độc đáo của tiếng cười dân
gian Nam Bộ qua truyện kể Ba Phi” đã rút ra một số biện pháp gây cười là ngoa dụ (cường điệu, phúng dụ, khoa trương) và một số biện pháp tu từ văn bản (phương thức mở rộng), giọng điệu mang tính khẩu ngữ của người Nam Bộ (qua việc sử dụng các từ địa phương, từ xưng hô, quán ngữ,
thành ngữ…) [26,76] Mặc dù tác giả chỉ giới hạn một số biện pháp gây cười trong truyện cười Bác Ba Phi, nhưng có thể nói đây là những biện pháp gây cười tạo nên tiếng cười trong cuộc sống nói chung
Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, những công trình nghiên cứu về truyện cười dưới góc nhìn ngôn ngữ học ở cấp độ luận văn, luận án cũng chưa nhiều
Cụ thể như đã có công trình nghiên cứu về: Một số phương thức tạo hàm
ngôn trong truyện cười tiếng Việt luận văn thạc sĩ của Đoàn Thị Tâm Tác giả
đã tiến hành khảo sát truyện cười và trên cơ sở đó nêu ra hai mươi sáu phương thức tạo hàm ngôn trong truyện cười tiếng Việt Luận án
Trang 11“Truyện cười dân gian Việt Nam dưới góc độ dụng học” của Nguyễn Hoàng
Yến Trong công trình của mình tác giả nói đến Hàm ý hội thoại trong truyện
cười dân gian Việt Nam Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Minh Hà (Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội), Tìm hiểu các thủ pháp gây cười trong truyện cười
Việt Nam hiện đại dưới góc nhìn của sự liên kết văn bản
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu không chỉ diễn giải dưới góc nhìn văn hóa dân gian mà đã bắt đầu nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học Tuy nhiên chưa có một công trình chuyên biệt nào đi sâu vào việc nghiên cứu về
Hàm ý hội thoại trong một số truyện cười Việt Nam hiện đại
3 Đối tƣợng, mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn 3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hàm ý hội thoại trong quan hệ với các hiện tượng thuộc ngữ dụng học như phương châm hội thoại, lập luận, chiếu vật - chỉ xuất trong tiếng cười Việt Nam hiện đại
3.2 Mục đích nghiên cứu
Với luận văn này, chúng tôi hi vọng sẽ đạt được các mục đích sau:
Trước hết là nhận biết, phân tích và làm sáng tỏ hàm ý của một số truyện cười Việt Nam hiện đại Từ đó thấy được ý nghĩa sâu sắc của tiếng cười qua từng truyện, trên cơ sở đó tiếp nhận tiếng cười ở một góc nhìn cụ thể
Bằng việc thực hiện luận văn, người viết hi vọng sẽ chỉ ra được một phần sự hấp dẫn của hàm ý hội thoại trong một số truyện cười Việt Nam hiện đại
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tập hợp, tìm hiểu những vấn đề lí thuyết có liên quan đến việc khai thác thác luận văn: các kiến thức về hàm ý, hội thoại, lập luận, chiếu vật - chỉ xuất và việc vận dụng chúng trong nghiên cứu hàm ý hội thoại trong truyện cười Việt Nam hiện đại
Trang 12Nhận diện, miêu tả, phân tích các truyện cười có chứa hàm ý hội thoại trong một số truyện cười Việt Nam hiện đại
3.4 Phạm vi nghiên cứu
Triển khai luận văn này, chúng tôi sử dụng một số truyện trong: Kho
tàng truyện tiếu lâm Việt Nam do Lương Kim Nghĩa biên soạn Truyện cười thời hiện đại do Năm Hồng Mai sưu tầm và biên soạn Ngoài ra, trong luận
văn còn chọn một số truyện được sưu tầm trên Internet để phân tích
Hàm ý hội thoại xuất hiện nhiều nhất trong đối thoại của những nhân vật tham gia giao tiếp Cho nên, đơn vị được chọn để tìm hiểu đối tượng nghiên cứu là các cuộc thoại
Những vấn đề chúng tôi đề cập trong luận văn này không bao quát toàn
bộ các vấn đề liên quan đến hàm ý hội thoại mà chỉ hi vọng góp thêm ý kiến vào việc nhận biết và phân tích hàm ý hội thoại qua một số cuộc thoại trong một số truyện cười Việt Nam hiện đại
4 Phương pháp nghiên cứu và ngữ liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Để nhận biết, phân tích và làm rõ nội dung của các hàm ý hội thoại trong truyện cười Việt Nam hiện đại, phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu ở luận văn này là phương pháp phân tích ngữ cảnh theo hướng của dụng học Ngoài ra trong quá trình triển khai luận văn, chúng tôi kết hợp với các phương pháp khác như:
Phương pháp miêu tả: Phương pháp dùng để miêu tả các ngữ liệu được
thể hiện dưới dạng hội thoại, qua đó tìm ra những đặc điểm cụ thể của vấn đề cần nghiên cứu
Phương pháp thống kê – phân loại: Phương pháp này nhằm tiến hành
thống kê các ngữ liệu và từ đó phân loại theo các tiêu chí đã đề ra
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Trên cơ sở ngữ liệu đã thống kê,
Trang 13phương pháp này được sử dụng để phân tích ngữ liệu theo từng nội dung cụ thể, và sau đó tổng hợp lại các kết quả đã phân tích
Phương pháp phân tích ngữ nghĩa – ngữ dụng: Trong quá trình miêu tả,
phân tích ngữ liệu, chúng tôi tiến hành xem xét chúng một cách toàn diện đặt trong ngữ cảnh cụ thể
Đồng thời luận văn còn kết hợp với phương pháp so sánh – đối chiếu, diễn dịch, quy nạp
4.2 Tƣ liệu khảo sát
Khảo sát một số truyện trong: Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam do
Lương Kim Nghĩa biên soạn (2012), Nxb Thời đại, Hà Nội (397 truyện)
Truyện cười thời hiện đại do Năm Hồng Mai sưu tầm và biên soạn
(2011), Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội (336 truyện)
Ngoài ra, trong luận văn còn chọn một số truyện được sưu tầm trên
Internet để phân tích làm phong phú thêm nguồn ngữ liệu của luận văn
5 Đóng góp của luận văn
5.1 Về mặt lí luận
Trên cơ sở trình bày lí thuyết ngữ dụng học (qua học tập và nghiên cứu tài liệu) ở phương diện hàm ý hội thoại, lập luận, chỉ xuất, chiếu vật luận văn xác định cách phân tích và tìm hiểu hàm ý hội thoại trong một số truyện cười Việt Nam hiện đại
5.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc nâng cao chất lượng
sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày, đồng thời là nguồn tư liệu trong
học tập, giảng dạy môn Ngữ văn ở nhà trường
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương: Chương 1 Trình bày một số cơ sở lí thuyết liên quan đến luận văn như:
Trang 14Lí thuyết hội thoại (cấu trúc hội thoại, các quy tắc hội thoại, lập luận, chiếu vật - chỉ xuất), lí thuyết về hàm ý (nhận diện hàm ý, phân tích hàm ý), lí thuyết về truyện cười (cấu trúc của truyện cười, vai trò của hội thoại trong cấu trúc của truyện cười)
Chương 2 và chương 3 có nhiệm vụ khảo sát hàm ý hội thoại ở các cuộc thoại trong truyện cười Việt Nam hiện đại Hàm ý trong mỗi truyện được khai thác ở các phương diện:
- Phân tích hàm ý
- Hàm ý trong quan hệ với phương châm hội thoại, lập luận, chiếu vật
- Tình huống của việc dùng hàm ý và câu nói chứa hàm ý
Ngoài ba phần chính, luận văn còn có phần danh mục tài liệu tham khảo
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Lí thuyết hội thoại
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, căn bản, phổ biến của ngôn ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Trong giao tiếp hội thoại luôn luôn có sự hồi đáp giữa người nói và người nghe, chẳng những người nói và người nghe tác động lẫn nhau mà lời nói của từng người cũng tác động lẫn nhau Mỗi cuộc thoại đều được diễn ra một lúc nào
đó, ở đâu đó, trong hoàn cảnh nào đó Nhân tố ngữ cảnh có vai trò to lớn trong việc tạo lập và lĩnh hội các phát ngôn trong hội thoại Tất cả các diễn ngôn như một bài văn nghị luận, một bài văn miêu tả, một giấy đề nghị tuy không có sự hiện diện đối mặt của người nói và người nghe, tuy không gắn chặt vào tình huống cụ thể nào nhưng vẫn hàm ẩn một cuộc trao đổi Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạt động căn bản này
Hàm ý hội thoại là hàm ý xuất hiện trong hội thoại Do đó, những hiểu biết về lí thuyết hội thoại là rất cần thiết cho việc nhận biết và phân tích hàm ý trong truyện cười Việt Nam hiện đại Tuy nhiên, trong luận văn những vấn đề
về lí thuyết hội thoại không được trình bày đủ mà chỉ những nội dung liên quan đến luận văn mới được quan tâm
1.1.1 Cấu trúc hội thoại
Hội thoại là một tổ chức có tính cấp hệ Các đơn vị tạo nên cấu trúc của hội thoại là: cuộc thoại (cuộc tương tác); đoạn thoại; cặp thoại (cặp trao đáp); tham thoại; hành vi ngôn ngữ
Ba đơn vị: Cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại có tính chất lưỡng thoại, có nghĩa là hình thành do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại
Hai đơn vị: Tham thoại và hành vi ngôn ngữ là những đơn vị có tính chất
Trang 16đơn thoại do một người nói ra
1.1.1.1 Các đơn vị lưỡng thoại
a Cuộc thoại (cuộc tương tác)
Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm lớn nhất Cuộc thoại có thể xoay quanh một đề tài, một mục đích hay có thể gồm nhiều đề tài nhiều mục đích khác nhau – với sự đương diện liên tục của những nhân vật hội thoại nhất định Còn cuộc thoại ngắn là những cuộc thoại chỉ chứa một cặp câu, như: chào – chào, hỏi – đáp, đề nghị - đồng ý, ra lệnh – nhận lệnh
Cấu trúc khái quát của một cuộc thoại là mở thoại, thân thoại và kết thoại
Tiêu chí để xác định một cuộc thoại theo C.K.Orecchioni: Để có một và
chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trong một khung thời gian – không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng (Dẫn theo 40)
Tiêu chí xác định ranh giới cuộc thoại thông thường dựa vào dấu hiệu của sự mở đầu và dấu hiệu của sự kết thúc Mỗi cuộc thoại có thể chứa đựng nhiều chủ đề, mỗi chủ đề lại có nhiều vấn đề Tập hợp các lượt lời trao đổi về
một vấn đề làm thành một đoạn thoại
b Đoạn thoại
Đoạn thoại được quan niệm là một đơn vị hội thoại do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về mặt ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng Về ngữ nghĩa, đó là một đơn vị có sự liên kết nhờ chủ đề: có một chủ đề duy nhất
Trang 17Còn về ngữ dụng, đó là đơn vị có tính duy nhất về đích hội thoại Có những loại đoạn thoại như sau: mở thoại; thân thoại; kết thoại
Đoạn mở thoại và kết thoại có cấu trúc tương đối đơn giản và ổn định, dễ nhận ra hơn đoạn thân thoại, do đoạn thân thoại có thể có dung lượng lớn và
có cấu trúc phức tạp
Tổ chức của đoạn thoại mở đầu và kết thúc phần lớn được nghi thức hóa
và lệ thuộc rất nhiều vào yếu tố như: các kiểu cuộc thoại, hoàn cảnh giao tiếp,
sự hiểu biết về nhau của các đối ngôn
c Cặp thoại
Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại, đơn vị tối thiểu nhỏ nhất của một cuộc thoại do các tham thoại tạo nên, cũng tức là cặp kế cận gồm một tham thoại dẫn nhập và một tham thoại hồi đáp Trong mỗi một đoạn thoại có thể bao gồm nhiều cặp thoại, nhưng vai trò của mỗi một cặp thoại là không giống nhau Vì thế, cần phân biệt cặp thoại chủ hướng với các cặp thoại phụ thuộc Tuy nhiên, không nhất thiết toàn bộ lượt lời này và toàn bộ lượt lời kia mới thành cặp thoại Và cũng không nhất thiết cặp thoại chỉ gồm một tham thoại dẫn nhập và một tham thoại hồi đáp Có thể có cặp thoại một tham thoại, hai tham thoại, ba tham thoại
1.1.1.2 Các đơn vị đơn thoại
a Tham thoại
Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định Tham thoại là đơn vị cơ sở để tạo nên cặp thoại Có tham thoại dẫn nhập và tham thoại hồi đáp (gắn với chức năng ở lời dẫn nhập và hồi đáp) Cần có sự phân biệt giữa tham thoại và lượt lời Một lượt lời có thể chứa nhiều tham thoại và cũng có thể nhỏ hơn tham thoại
Ví dụ:
(1)- Chào!
Trang 18(2)- Chào!
(3)- Anh khỏe không?
(4)- Cám ơn! Bình thường Anh đi đâu về?
(1) và (2) là một cặp thoại chào gồm hai tham thoại đối xứng (3) và (4)
là một cặp thoại, trong đó (3) là một lượt lời gồm một tham thoại hỏi (lượt lời bằng với tham thoại) (4) là một lượt lời gồm ba tham thoại: một tham thoại cảm ơn, một tham thoại hồi đáp và một tham thoại hỏi lại (lượt lời lớn hơn tham thoại)
Tham thoại là đơn vị dùng để cấu tạo nên cặp thoại Mỗi tham thoại có thể mang trong quan hệ trao đáp theo những hướng khác nhau: nó vừa là tham thoại hồi đáp cho cặp thoại này, lại vừa đóng vai trò dẫn nhập cho một cặp thoại khác, từ đó sẽ tạo ra các kiểu dạng cấu trúc khác nhau Nói khác đi, mỗi tham thoại thực hiện chức năng dẫn nhập hoặc hồi đáp nhưng cũng có khi kiêm nhiệm đồng thời hai chức năng, khi đó gọi là tham thoại có chức năng kép
Về tổ chức nội tại, một tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên Trong đó có ít nhất một hành vi chủ hướng làm nòng cốt và có thể có thêm một hoặc một số hành vi phụ thuộc Hành vi chủ hướng đảm nhiệm vai trò quyết định mục đích giao tiếp của tham thoại chứa nó, đồng thời tham gia kết hợp với hành vi chủ hướng nằm ở tham thoại khác để tạo nên cặp kế cận Hành vi phụ thuộc có vai trò làm rõ lí do hoặc bổ sung nghĩa cho hành động chủ hướng trong quá trình hội thoại Khi tham thoại chỉ có một hành vi thì ranh giới tham thoại sẽ trùng với ranh giới hành vi
Trong tham thoại, hành vi chủ hướng có chức năng trụ cột, quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành vi đáp thích hợp của người đối thoại Còn hành vi phụ thuộc thì có nhiều chức năng khác nhau như: củng cố, giải thích, biện minh, đánh giá nhằm hỗ trợ cho hành vi chủ hướng
Dựa vào vai trò, vị trí của tham thoại có thể phân chia tham thoại thành
Trang 19là tham thoại hồi đáp – dẫn nhập Mỗi tham thoại đều có thể nằm trong quan
hệ cặp thoại với tham thoại trước và sau nó, nghĩa là tham gia trực tiếp tạo nên hai cặp thoại, trừ tham thoại đầu tiên và cuối cùng thường chỉ tham gia vào một cặp thoại
b Hành vi ngôn ngữ
Xét trong quan hệ hội thoại, các hành vi ngôn ngữ có thể chia thành hai nhóm: những hành vi có hiệu lực ở lời và những hành vi liên hành vi Những hành vi có hiệu lực ở lời tức là những hành vi có hiệu lực thay đổi quyền lực
và trách nhiệm của người hội thoại Khi thực hiện một hành vi có hiệu lực ở lời trong một tham thoại, người nói có trách nhiệm đối với phát ngôn của mình và có quyền đòi hỏi người đối thoại phải hồi đáp lại bằng một hành vi ở lời tương ứng, ví dụ: hỏi/ trả lời; cầu khiến/ đáp ứng Những quyền lực và trách nhiệm đó làm cho các hành vi ngôn ngữ có tính chất như các quy ước pháp lí và những đối ngôn có những tư cách pháp nhân nhất định
Cùng một phát ngôn nhưng có thể ẩn chứa nhiều hành vi có hiệu lực ở lời khác nhau Chúng tôi xin đề cập đến hai hành vi có hiệu lực ở lời là: hành
vi ngôn ngữ ở lời trực tiếp và hành vi ngôn ngữ ở lời gián tiếp
- Hành vi ngôn ngữ ở lời trực tiếp: hành vi ngôn ngữ ở lời trực tiếp là hành vi ngôn ngữ được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng
Ví dụ: Căn cứ vào mục đích phát ngôn, câu tiếng Việt được chia thành bốn loại: câu trần thuật, câu cầu khiến, câu hỏi, câu cảm thán Mỗi kiểu câu
Trang 20tương ứng với cấu trúc, chức năng riêng Chẳng hạn, dùng hình thức hỏi để
biểu hiện hành vi hỏi: Em đi đâu về? Anh tên gì? Mấy giờ rồi? ; dùng hình thức cầu khiến để biểu thị hành vi yêu cầu, ra lệnh: Nhanh chân lên, Mọi
người trật tự
- Hành vi ngôn ngữ ở lời gián tiếp là hành vi ngôn ngữ được thực hiện thông qua suy luận, dựa vào hoàn cảnh, ngữ cảnh, vào thông tin cơ bản đã có được, vào lẽ thường và vào khả năng suy luận của người nghe
Ví dụ: Một phát ngôn trần thuật không dùng để nhận định mà dùng để
cầu khiến: Hôm nay thời tiết oi bức quá (trong trường hợp người phát ngôn muốn đề nghị “Mình đi bơi đi”) Hay một câu hỏi dùng để yêu cầu: Bạn có
bút bi không? (trong trường hợp người phát ngôn muốn yêu cầu “Bạn cho mình mượn bút với”)
Luận văn tập trung khai thác các hành vi ngôn ngữ có giá trị tạo nên hàm ý trong các cuộc thoại trong truyện cười Việt Nam hiện đại Vấn đề này
sẽ được trở lại ở các phần sau
1.1.2 Các quy tắc hội thoại
Các nhà dụng học đều khẳng định rằng: quy tắc hội thoại là có thực, các cuộc hội thoại diễn ra theo những quy tắc nhất định
Các quy tắc hội thoại chia làm ba nhóm:
- Quy tắc luân phiên lượt lời
- Các phương châm hội thoại
- Thương lượng hội thoại
1.1.2.1 Quy tắc luân phiên lượt lời
Trong hội thoại, khi có hai người thì lời của người này kế tiếp lời của người kia Mỗi lần người này hay người kia nói là một lượt lời Mỗi một lượt lời được xây dựng trên cơ sở lượt lời trước đó Vậy là có sự luân phiên lượt lời, luân phiên nói năng trong hội thoại Đó là quy tắc luân phiên lượt lời
Trang 21trong hội thoại Quy tắc này đòi hỏi mỗi người phải ý thức được về quyền được nói của mọi người tham gia cuộc thoại, phải giảm tối đa sự trùng chập với lời nói của người khác Khoảng im lặng giữa hai lượt lời là không quá
lớn Dấu hiệu báo hết lượt lời trong tiếng Việt thông thường là các từ à, ư, vậy
1.1.2.2 Các phương châm hội thoại
Muốn cho một cuộc thoại thành công, mỗi bên hội thoại cần tuân thủ những nguyên lí nhất định trong hội thoại Đó là nguyên lí cộng tác và nguyên
lí lịch sự (còn gọi là phép lịch sự), những nguyên lí này chi phối, tác động mạnh mẽ tới quá trình hội thoại, cho phép giải thích những hàm ý ở mỗi lượt lời, những hình thức ngôn từ và cấu trúc của phát ngôn trong những tình huống cụ thể Vì vậy, luận văn này sẽ nghiên cứu nhiều hơn đến nhóm các phương châm hội thoại
a Nguyên tắc cộng tác
Nguyên tắc này nêu ra một cách tổng quát như sau: “Hãy làm cho phần
đóng góp của anh đáp ứng đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện phù hợp với yêu cầu hoặc phương hướng của cuộc thoại mà anh đã chấp nhận tham gia”
[42, 93]
Nguyên tắc này được P.Grice tách thành bốn phương châm nhỏ như sau:
(1) Phương châm về chất
Hãy cố gắng làm cho phần đóng góp của anh là đúng, đặc biệt là:
a Đừng nói điều gì mà anh tin rằng không đúng
b Đừng nói điều gì mà anh không có đủ bằng chứng
(2) Phương châm về lượng
a Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi của mục đích cuộc hội thoại
b Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn yêu cầu mà nó đòi hỏi
(3) Phương châm về quan hệ
Trang 22Hãy làm cho đóng góp của anh „quan yếu‟, tức là hãy nói vào đề, nói
những điều có dính líu đến câu chuyện đang diễn ra
(4) Phương châm về cách thức
Dạng tổng quát của phương châm này là hãy nói cho rõ ràng, dễ hiểu và
đặc biệt là:
- Tránh lối nói tối nghĩa
- Tránh lối nói mập mờ (có thể hiểu nhiều nghĩa)
- Hãy nói một cách ngắn gọn (tránh nói dài dòng)
- Hãy nói có trật tự
Tuy nhiên, nguyên tắc và phương châm của P.Grice như chính tác giả
thừa nhận có nhiều điểm hạn chế là chưa đề cập đến nội dung liên cá nhân của
diễn ngôn, các phương châm nhiều khi còn chồng chéo Ví dụ: Phương châm
về lượng: “Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn yêu cầu mà nó đòi hỏi”
có phần trùng với phương châm về quan hệ Hay là, vế thứ ba của phương
châm cách thức là hãy nói ngắn gọn cũng trùng với phương châm về lượng
Nhìn ở một khía cạnh khác, các phương châm này có vai trò quan trọng
trong lí thuyết hội thoại Nó gây được sự chú ý đặc biệt của những nhà ngữ
dụng học Những phương châm trên là những tiền ước không nói ra lời của
chúng ta trong cuộc thoại Trong giao tiếp bình thường, những phương châm
này được mọi người thừa nhận nên người nói ít khi chú ý đến Tuy nhiên có
những loại diễn ngôn nhất định mà người nói đã dùng để lưu ý là họ sẽ gặp
nguy hiểm nếu không triệt để tôn trọng nguyên tắc hợp tác Khi không triệt để
tôn trọng nguyên tắc hợp tác thì sẽ vi phạm vào các phương châm hội thoại như:
- Sự vi phạm không cố ý: Đó là những tình huống mà các phương châm
không hòa hợp với nhau Vì tôn trọng phương châm này đành phải vi phạm
phương châm khác
Trang 23- Sự cố tình vi phạm các phương châm hội thoại: Cho rằng đó là một
chiến thuật giao tiếp Lúc đó người ta dùng công cụ ngôn ngữ để thể hiện điều mình muốn nói, tức là hàm ý, hoặc để tác động và cũng có thể gây mơ hồ Vấn đề cố tình vi phạm vào các phương châm hội thoại để tạo hàm ý, được tìm hiểu và phân tích kĩ trong một số truyện cười Việt Nam hiện đại
b Phép lịch sự
Theo tiếng Pháp, lịch sự được tạo bởi chữ „poli‟ Nghĩa là nhẵn bóng, được ưa thích Người lịch sự là người luôn giữ những nghi thức xã hội để chiếm được cảm tình của những người xung quanh
Phép lịch sự (politesse) là tất cả những cách ăn nói và xử thế một cách tốt đẹp Theo Từ điển Việt Nam của Lê Văn Đức, thì lịch sự có nghĩa là đẹp
đẽ, xinh xắn, đồng thời còn là nhã nhặn, biết lễ phép
Đến nay, phép lịch sự là một đề tài quen thuộc trong giới ngôn ngữ học Việt Nam Nhìn chung, lịch sự được đề cập với hai thuật ngữ khái quát là
“lịch sự chiến lược” để chỉ các khuynh hướng lí thuyết phương Tây và “lịch
sự chuẩn mực” chỉ khuynh hướng lí thuyết phương Đông
- Sơ lược về lịch sự chiến lược
Để phân biệt với mô hình “lịch sự chuẩn mực” của phương Đông, người
ta gọi gộp các lí thuyết chủ yếu về phép lịch sự của phương Tây bằng tên gọi
“lịch sự chiến lược” Trong khuynh hướng này, đã có ba quan điểm thường được nhắc đến là của R.Lakoff 1973, của G.Nleech 1983 và của P Brown và
S C.Levinson 1987
+ Quan điểm của R.Lakoff với ba quy tắc về lịch sự: Lakoff cho rằng lịch sự là sự nhân nhượng, giúp tránh được những điều phiền toái bực mình, trên cơ sở đó tác giả đưa ra nguyên tắc lịch sự gồm ba quy tắc sau:
(1) Không áp đặt, chủ yếu dùng trong giao tiếp quy thức
(2) Để ngỏ sự lựa chọn, dùng trong giao tiếp phi quy thức
Trang 24(3) Tăng cường tình bằng hữu, dùng trong khung cảnh bạn bè hay giữa những người có quan hệ thân hữu
+ Quan điểm của G.Nleech với hai khái niệm “thiệt” và “lợi”: G.Nleech lấy khái niệm “thiệt thòi” hay “mất” và “có lợi” hay “được” xét trong quan niệm giữa người nói và người nghe làm cơ sở Trên cơ sở đó, G.Nleech đã đề
ra sáu phương châm:
(1) Phương châm khéo léo
(2) Phương châm hào hiệp
(3) Phương châm tán thưởng
(4) Phương châm khiêm tốn
(5) Phương châm đồng ý
(6) Phương châm cảm thông
G.Nleech có xét đến mối quan hệ của các phương châm này với các hành động ngôn trung trong lí thuyết về hành động nói Theo đó, các phương châm (1,2) thường được dùng cho hành động “mệnh lệnh” và “kết ước” như là hứa, thề, cam đoan….; Phương châm (3) chuyên dùng chuyên dùng cho hành động
“bộc lộ” và “biểu hiện”, còn ba phương châm (4,5,6) có điểm chung là sự tương phản giữa tăng và giảm; đối với (4) là tăng – giảm trong tương phản
“khen – chê” với (5) là tăng – giảm trong tương phản “đồng ý và bất đồng ý” với (6) là tăng - giảm trong tương phản “thiện cảm – ác cảm”
+ Quan điểm của P Brown và S C.Levinson với “thể diện dương tính”
và “thể diện âm tính”: Thuật ngữ “thể diện” được Brown và Levinson mượn dùng làm cơ sở cho việc xây dựng lí thuyết về lịch sự Xét trong mối quan hệ với người nói và người nghe trong tương tác, có bốn kiểu thể diện:
Thể diện dương tính của người nói
Thể hiện âm tính của người nói
Thể diện dương tính của người nghe
Trang 25 Thể hiện âm tính của người nghe
Thể hiện dương tính là thể diện của người thích được quan tâm, thích được kết giao; thể diện âm tính là thể diện của người có tính tự chủ, thích không bị can thiệp hay quấy rầy, ít giao du Đó là những cá tính có giá trị như nhau Trên cơ sở đó người giao tiếp cần tìm hiểu đối tác của mình để có thể tránh hành động gây khó chịu cho đối tác, cũng tức là tôn trọng thể diện của đối tác Mỗi người trong tương tác đều có nhu cầu về thể diện, mong muốn thể diện được tôn trọng Thế nhưng, trong tương tác, hầu hết hành động nói đều tiềm tàng sự làm tổn hại thể diện ngay của chính mình và của người khác, những hành động như vậy được gọi là “hành động đe dọa thể diện” Vì thế, trong giao tiếp lịch sự, người nói phải tính toán các mức độ đe dọa thể diện trong hành động nói của mình để tìm cách giảm nhẹ sự đe dọa thể diện, cả cho bản thân người nói lẫn người nghe Chẳng hạn hành động điều khiển luôn luôn có tính chất đe dọa thể diện người nghe (mong muốn người nghe làm một việc gì đó), cho nên người nói, tùy vào cương vị của mình, cố gắng làm cho hành động này tổn hại ít nhất thể diện của người nghe, trên cơ sở đó cũng giữ được thể diện của chính mình
- Sơ lƣợc về lịch sự chuẩn mực
Xét lịch sự trong quan hệ với văn hóa dân tộc, một số nhà nghiên cứu cho rằng cách giải thuyết vấn đề lịch sự đối với các dân tộc phương Đông khác đối với các dân tộc phương Tây Người ta cho rằng phương Tây lấy phạm trù cái “tôi” với tư cách một thực thể xã hội làm cơ sở đối với vấn đề này, trong lúc đó người phương Đông đặt cái “tôi” gắn với cộng đồng nhiều hơn, cho nên cách ứng xử của người phương Đông hướng ra bên ngoài hơn là hướng vào cái “tôi” Trên cơ sở đó, lịch sự của phương Đông được xác lập theo hướng tôn kính đối với người và khiêm tốn đối với mình Cách tôn kính đối với người và khiêm tốn đối với mình được đúc lại trong mấy từ tiêu biểu
Trang 26“hô tôn, xưng khiêm”, và mọi cách đối xử liên quan đến phép lịch sự phát sinh từ cái nguyên tắc cần được tôn trọng đó Các cách đối xử này đã được quy định trong các lễ giáo truyền tụng từ thế hệ này qua thế hệ khác, với tư cách là những chuẩn mực giao tiếp của xã hội Người lịch sự là người biết tôn trọng cái quy định chuẩn mực đó, hơn là cần biết cá tính của đối tác của mình thuộc về diện dương tính hay âm tính trong phép lịch sự theo kiểu phương Tây Nói cách khác những khuôn mẫu giao tiếp đã được quy định trong xã hội
là đúng với mọi người, trong mọi tình huống, và người nói cũng như người nghe đều phải tuân thủ
Như vậy, việc nghiên cứu phép lịch sự với “lịch sự chiến lược” của phương Đông cấu thành những quy phạm, quy tắc trong giao tiếp giữa các cá nhân Hiện nay gọi chung là phương châm lịch sự Phương châm lịch sự yêu cầu người nói trong hội thoại cần chú ý đến việc tôn trọng người đối thoại, thể hiện tính khiêm tốn, sự tế nhị, cố gắng tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên Cũng như nguyên lí cộng tác, nguyên lí lịch sự cũng có hiện tượng không được người nói tuân thủ một cách có chủ ý để tạo nên hàm ý hội thoại Trong một số truyện cười Việt Nam hiện đại, hàm ý gây cười liên quan đến phương châm lịch sự có hai dạng chủ yếu sau:
+ Hiện tượng đe dọa thể diện đối tác thông qua hàm ý hội thoại
+ Hiện tượng thiếu khiêm tốn thông qua hàm ý hội thoại
Những nội dung này sẽ được nhận diện và đưa ra phân tích qua một số truyện cười Việt Nam hiện đại trong luận văn
1.1.2.3 Thương lượng hội thoại
Trong hội thoại các nhân vật phải thỏa thuận với nhau về ngôn ngữ được dùng và thương lượng với nhau về đoạn mở đầu, kết thúc, sự phân bố lượt lời Việc quan hệ liên cá nhân tác động mạnh mẽ đến hội thoại Xác định ai là người chủ động điều khiển cuộc thoại, nêu vấn đề; ai là người bị chế ngự
Trang 27trong cuộc thoại, tất cả những điều này đều qua thương lượng về vị thế giao tiếp mà xác lập và qua lực lượng trong diễn tiến hội thoại mà biến đổi Các nhân vật trong hội thoại phải thương lượng với nhau cả về yếu tố ngôn ngữ, nội dung cuộc hội thoại, đề tài và chủ đề của cuộc hội thoại….Đề tài và chủ
đề của cuộc thoại không phải do một đối tác nêu ra mà bằng một hành vi ngôn ngữ người nói có thể đưa ra một vấn đề Đó là đề của lời người nói Đề của lời nếu được người kia chấp nhận thì mới thành đề tài diễn ngôn (đề tài của cuộc hội thoại) và ngược lại
Trong cuộc hội thoại các nhân vật phải thỏa thuận với nhau về phương thức thương lượng như:
- Thời gian thương lượng: có thể xuất hiện ngay ở đầu cuộc hội thoại hay vừa trò chuyện vừa thương lượng Thương lượng diễn ra liên tục trong hội thoại cho nên không thể xác định thời gian cố định cho thương lượng
- Thể thức thương lượng: Thể thức thương lượng trực tiếp hay thể thức thương lượng ngầm, gián tiếp, theo kiểu dò dần thường gặp trong hội thoại đời thường Trong thể thức thương lượng thì phương thức thương lượng để dẫn nhập đề tài diễn ngôn là đáng chú ý nhất
Trong hội thoại các nhân vật thỏa thuận được với nhau là kết cục lí tưởng nhất, trong đó hai phía hội thoại tác động lẫn nhau một cách hài hòa mà đạt được Còn mỗi bên giữ vững một lập trường riêng, tạo thành sự liên kết miễn cưỡng thì thành công của cuộc hội thoại chỉ là ở bên ngoài
1.2 Lập luận
1.2.1 Khái niệm lập luận
Lập luận là đưa ra một hoặc một số luận cứ (lí lẽ) nhằm dẫn dắt người nghe, người đọc đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói, người viết muốn đạt tới [20, 69]
Ví dụ:
Trang 28A Đi chơi với mình đi
B Mình không đi đâu Trời đang mưa với lại mình còn mệt
B đã đưa ra kết luận: Mình không đi đâu Lí lẽ mà B đưa ra để biện hộ cho kết luận là “trời mưa” và “đang còn mệt” Các lí lẽ đưa ra được gọi là
luận cứ Luận cứ có thể là một ý kiến, cũng có thể là một sự kiện, một nội dung miêu tả Có thể nói quan hệ lập luận là quan hệ giữa các luận cứ (một hay một số) với kết luận Chúng ta có công thức lập luận sau đây:
p, q…… -> r Trong đó p,q…là (các) lí lẽ (luận cứ), r là kết luận Ta nói p,q, r có quan
hệ lập luận và tổ hợp p, q…-> r được gọi là một lập luận
Lí thuyết về lập luận là rất cần thiết cho việc nhận biết và phân tích hàm
ý trong một số truyện cười Việt Nam hiện đại Tuy nhiên trong luận văn này những vấn đề về lí thuyết lập luận không được trình bày đủ, mà chỉ trình bày những nội dung liên quan đến luận văn
1.2.2 Các thành phần của lập luận
1.2.2.1 Luận cứ và kết luận
Lập luận đầy đủ gồm hai thành phần: luận cứ (các luận cứ) và kết luận Tuy nhiên, trong thực tế, có thể có những lập luận không đầy đủ, hoặc chỉ có luận cứ, hoặc chỉ có kết luận để người nhận tự suy ra các thành phần còn lại
Ví dụ:
(1) Mẹ ơi, con làm việc từ sáng đến giờ rồi, mệt quá (Từ phát ngôn đó,
bà mẹ - người nhận – có thể suy ra kết luận mà người con muốn hướng tới:
“Cho con nghỉ ngơi một lúc”)
(2) Mẹ ơi, cho con nghỉ ngơi một lúc (Khác với ví dụ (1), ví dụ này chỉ
gồm kết luận mà không có luận cứ)
Các kết luận và luận cứ hàm ẩn phụ thuộc rất đáng kể vào hoàn cảnh giao tiếp Người phát ngôn phải chú ý đến các điều kiện giao tiếp để người
Trang 29nhận có thể suy ra phần còn thiếu trong lập luận được
1.2.2.2 Lập luận đơn và lập luận phức
Tính chất luận cứ và kết luận của phát ngôn nào đó có tính chất tương đối Tức là, một phát ngôn là kết luận của lập luận này nhưng đồng thời có thể
là luận cứ của một lập luận khác Nói cách khác, một lập luận có thể bao gồm nhiều lập luận nhỏ hơn – các lập luận bộ phận Tùy theo tính phức tạp của lập luận, ta có các lập luận đơn (gồm 1 lập luận) và lập luận phức (lập luận gồm các lập luận bộ phận)
Ví dụ:
(1) Các bạn lớp A1 đều là những người đã từng đạt giải quốc gia, đạt
điểm cao trong kì thi tuyển chọn, họ thực sự là những người có phẩm chất trí tuệ tốt Thêm vào đó, họ rất chăm học, cứ hết giờ học trên lớp là họ lại vào thư viện đọc sách đến tối mịt mới về Kì này, chắc chắn lớp A1 sẽ đứng đầu khóa về kết quả học tập
(2) Hôm nay, trời đẹp, lại được nghỉ cả ngày, chúng tôi tổ chức đi chơi
Ví dụ (1) là một lập luận phức Có thể phân tích lập luận này như sau: Luận cứ của lập luận bộ
phận (luận cứ bậc 2)
Kết luận của lập luận bộ phận – luận cứ của lập luận lớn (luận cứ bậc 1)
Kết luận chung (p1) Các bạn lớp A1 đã
từng đạt giải quốc gia (r1 = p) Các bạn lớp A1 có
phẩm chất trí tuệ tốt
(r) Kì này chắc chắn lớp A1 sẽ đứng đầu khóa về kết quả học tập
Trang 30Trong ví dụ này, lập luận lớn hướng tới kết luận chung (r) gồm hai luận
cứ là (p) và (q); (p) và (q) lại chính là hai kết luận (r1) và (r2) của hai lập luận
bộ phận gồm các luận cứ (p1), (q1) và (p2)
Ví dụ (2) là một lập luận đơn, bao gồm hai luận cứ và một kết luận, như sau:
(p) Hôm nay, trời đẹp
(r) Chúng tôi tổ chức đi chơi
(q) Chúng tôi được nghỉ cả ngày
1.2.2.3 Vị trí của luận cứ và kết luận
Trong một lập luận, luận cứ và kết luận có thể có những vị trí khá tự do Kết luận có thể (thường) đứng sau các luận cứ
Ví dụ:
Hôm nay, không phải học Thêm vào đó, lâu lắm rồi tôi chưa về quê Tôi
về quê thăm ông bà
Trang 31là ta thường nghĩ đến lô gích, đến lí luận, đến các văn bản nghị luận
Đúng là trong lô gích, trong văn bản nghị luận có vấn đề lập luận Nhưng
thực ra lập luận có mặt khắp nơi, trong bất cứ ngôn bản nào, đặc biệt trong
đời thường Ví dụ, trong việc mua bán, người bán phải lập luận để đi đến kết
luận là giá món hàng mình đưa ra là phải chăng Còn người mua thì phải lập
luận để hạ giá hàng và biện hộ rằng cái giá mình trả mới là hợp lí
Lập luận lô gích và lập luận đời thường khác nhau ở một số điểm sau:
- Ở lập luận lô gích: Tam đoạn luận là cấu trúc điển hình của lập luận lô
gích Tính đúng sai của lập luận trong một tam đoạn luận lô gích do tính
đúng sai của các tiền đề quyết định Một kết luận lô gích chỉ có hai khả năng
hoặc đúng hoặc sai Đúng hay sai không thể bác bỏ
- Ở lập luận đời thường: Lập luận đời thường cũng có cấu trúc của tam
đoạn luận lô gích nhưng tiền đề không phải là một chân lí khoa học, khách
quan mà là những “lẽ thường”, những kinh nghiệm sống được đúc kết lại dưới
dạng nguyên lí cho nên chúng không tất yếu đúng Ở lập luận đời thường còn
có hiện tượng phản lập luận do lẽ thường này có thể trái ngược với lẽ thường
kia Trong một lập luận đời thường có thể diễn ra hàng loạt các luận cứ cùng
một kết luận, còn lập luận lô gích không thể như vậy
Ngoài hai đặc tính có phản lập luận và có nhiều luận cứ gộp lại, lập luận
đời thường còn có thể chấp nhận những lập luận có vẻ phi lô gích và còn chấp
nhận các hành động ngôn trung làm thành phần (Trong lập luận lô gích, quan
hệ lập luận chỉ có thể xuất hiện giữa các mệnh đề lô gích)
Các đặc tính này là cơ sở để phân biệt lập luận lô gích với lập luận đời thường
1.2.3.2 Lập luận và miêu tả
Lõi miêu tả là nội dung phản ánh hiện thực do hành động xác tín đưa vào
câu Lõi miêu tả nói đúng hơn là nội dung miêu tả có thể là luận cứ của lập
Trang 32luận Tuy nhiên không phải bao giờ cùng một lõi miêu tả thì cùng một quan
hệ lập luận Trong các câu nói của giao tiếp thường ngày, ít khi người ta miêu
tả chỉ để phục vụ cho mục đích miêu tả Thường thì người ta đưa ra một nội dung miêu tả là để dùng nó như một luận cứ để đi đến một kết luận nào đó Nói cách khác, người ta đưa miêu tả vào trong các quan hệ lập luận Ít khi bỗng nhiên, không có lý do nào mà người nói đưa ra một nội dung miêu tả
như: Nhà anh ấy thật đẹp, nội thất trang trí cực kỳ lộng lẫy, hiện đại Mà hầu
hết người đưa ra miêu tả đó nhằm vào một kết luận tường minh hoặc hàm ẩn nào đó
Vì vậy, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Pháp Owold Ducrot cho rằng
ý nghĩa đích thực của một nội dung miêu tả là giá trị lập luận của nó Có nghĩa là nội dung miêu tả đó hướng tới một kết luận +r hoặc –r của một nội dung miêu tả có thể tùy từng ngữ cảnh, nhưng cũng có những nội dung miêu
tả tự nó đã chứa sẵn một hướng kết luận nhất định
Ví dụ các nội dung miêu tả sau đây:
Chị ấy rất thông minh Chị ấy thường thức khuya dậy sớm Chị ấy đã hứa điều gì thì cố làm bằng được
Các nội dung trên thường dẫn tới kết luận tốt về chị ấy Cũng như vậy
các nội dung miêu tả:
- Từng đám mây xanh úp chụp xuống cánh đồng vắng vẻ
Và
- Từng đám mây bông trắng nõn nhẹ nhàng bay trên cánh đồng tấp nập
những người làm cỏ, xới khoai, ngô, đậu
Các nội dung miêu tả này chắc chắn sẽ hướng tới một kết luận trái ngược nhau
Vì ý nghĩa đích thực của các nội dung miêu tả là giá trị lập luận của chúng cho nên trong những câu văn, đoạn văn miêu tả, tự sự (không kể những
Trang 33đoạn văn nghị luận) dù người viết không đưa ra kết luận tường minh, nhưng
do cách lựa chọn chi tiết, cách dùng từ, đặt câu…người viết cố ý tìm cách dẫn người đọc đến một kết luận nào đó (một hiệu quả cảm xúc nào đó) đã định sẵn Đây là điều cần chú ý để rút ra được ý định nghệ thuật đích thực của văn bản
Trong văn bản ta thường hay nói đến chủ đề của văn bản (của đoạn văn) của ngôn bản Chủ đề thường là kết luận tường minh hay hàm ẩn Nói khác đi một văn bản (một đoạn văn) thường là một lập luận đơn hay phức, bất kể là một văn bản viết theo phong cách chức năng nào Tính lập luận là sợi chỉ đỏ
đảm bảo tính mạch lạc nội dung của văn bản
1.2.3.3 Đặc tính của quan hệ lập luận
Quan hệ lập luận là quan hệ giữa các luận cứ p,q…với kết luận r Giữa các luận cứ có quan hệ định hướng lập luận, có nghĩa là p và q được đưa ra để hướng tới r nào đấy P và q có thể đồng hướng lập luận khi cả hai đều nhằm vào một kết luận chung Ký hiệu: p -> r
q -> r
p và q có thể nghịch hướng lập luận khi p hướng tới r còn q hướng tới –r (nên chú ý r và –r phải cùng một phạm trù, nói khác đi –r phải là phủ định của r) Nếu p hướng tới kết luận r, q hướng tới kết luận s thì chúng khác biệt về định hướng lập luận Ký hiệu: p -> r
q -> -r
1.2.3.4 Tác tử lập luận và kết tử lập luận
a Tác tử (opera teurs) lập luận
Tác tử lập luận là một yếu tố khi được đưa vào một nội dung miêu tả nào đấy sẽ làm thay đổi tiềm năng lập luận của nó, độc lập với thông tin miêu tả vốn
có của nó
Ví dụ: Bây giờ tám giờ Nếu ta đưa các từ đã hoặc mới…thôi thành:
Trang 34Bây giờ đã tám giờ rồi và Bây giờ mới tám giờ thôi
Rõ ràng là thông tin miêu tả trong hai câu sau không đổi nhưng phát ngôn
đã…rồi hướng về kết luận khẩn trương lên và phát ngôn với mới…thôi hướng về
kết luận cứ từ từ Những yếu tố như chỉ, những, là ít, là nhiều…là những tác tử
đánh dấu những luận cứ đối nghịch về lập luận
So sánh: Chỉ có năm nghìn trong túi thôi và Có những năm nghìn trong
tú kia Chúng ta sẽ thấy chỉ chuyển thông tin miêu tả tương ứng thành luận cứ
hướng về kết luận ít, còn từ những hướng luận cứ về phía nhiều
Với hướng tìm hiểu như trên, tác tử lập luận có thể được hiểu là những yếu
tố tác động vào một phát ngôn sẽ tạo ra một định hướng nghĩa là làm thay đổi
tiềm năng lập luận của phát ngôn
b Kết tử lập luận
Kết tử lập luận là những yếu tố (như các liên từ đẳng lập, liên từ phụ
thuộc, các trạng từ và các trạng ngữ …) phối hợp hai hoặc một số phát
ngôn thành một lập luận duy nhất Nhờ kết tử mà các phát ngôn trở thành
luận cứ hay kết luận của một lập luận
Ví dụ:
- Trời đẹp nên tôi đi chơi
- Trời đẹp, vả lại chúng ta đã đọc sách quá lâu, đi chơi thôi Từ nên là
kết tử nối phát ngôn – luận cứ trời đẹp với kết luận tôi đi chơi Vả lại nối hai
phát ngôn – luận cứ Trời đẹp với chúng ta đọc sách quá lâu đồng hướng lập
luận Luận cứ sau mạnh hơn luận cứ trước, để dẫn tới kết luận đi chơi thôi
Kết tử còn có thể chia thành kết tử đồng hướng và kết tử nghịch hướng
các kết tử như và, hơn nữa, lại còn, đã…lại, chẳng những…mà còn là kết tử
đồng hướng Các kết tử như nhưng, tuy vậy, tuy nhiên, tuy…nhưng là kết tử
nghịch hướng
Trang 35Từ trong hệ thống ngôn ngữ có ý nghĩa biểu vật Ý nghĩa biểu vật của từ
là loại sự vật, người, hành động, tính chất rất chung chưa cụ thể hóa Trong ngôn bản từ phải ứng với một sự vật, hành động tính chất và trạng thái cụ thể
và cá thể Chúng ta nói chiếu vật là sự tương ứng giữa từ (và mở rộng ra là giữa các đơn vị ngôn ngữ) với các sự vật, người, hoạt động, trạng thái… trong hiện thực được nói tới Có những câu nếu chúng ta không nắm được cái
sự vật mà từ ngữ trong câu quy chiếu thì ta vẫn chưa hiểu được nghĩa thực sự của câu đó
Ví dụ: Con mèo màu xanh Chỉ có ý nghĩa nếu có từ mèo có ý nghĩa
chiếu vật là con mèo đồ chơi hay bằng sành, bằng sứ Nó sẽ vô nghĩa nếu
nghĩa chiếu vật của mèo là con mèo sinh vật hay bắt chuột
1.3.1.2 Vai trò của chiếu vật
Chiếu vật là điều kiện để hiểu được phát ngôn Một phát ngôn chứa những từ ngữ quen thuộc nhưng có thể không hiểu được nếu người nhận không biết những từ ngữ được sử dụng quy chiếu vào sự vật nào
Ví dụ:
(1) SP1: Bạn cậu vừa đến đấy
Phát ngôn (1) của SP1 chứa toàn những từ ngữ quen thuộc những chắc chắn SP2 không thể hiểu được ai đã đến tìm mình và sẽ phải hỏi lại: ai tìm, người đó như thế nào v.v…để suy ra được người tìm mình
Chiếu vật luôn gắn chặt với các tình huống giao tiếp Do đó, nhiều phát
Trang 36ngôn chỉ có thể hiểu được trong tình huống giao tiếp cụ thể, nếu tách khỏi các tình huống đó, phát ngôn mất khả năng chiếu vật và trở lên mơ hồ
Ví dụ: Bạn ấy mới mua quyển sách này Hay lắm!
Phát ngôn này chỉ có thể hiểu được trong tình huống giao tiếp cụ thể khi người nhận có thể chiếu vật được các từ ngữ “bạn ấy”, “quyển sách này” Chiếu vật đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị đúng / sai của phát ngôn Nhờ chiếu vật, người nhận mới hiểu được phát ngôn và qua đó mới xác định được giá trị đúng / sai của phát ngôn
Ví dụ:
(1) Hôm nay là thứ bẩy
(2) Tôi đói
Phát ngôn (1) chỉ đúng khi ta biết rõ thời điểm phát ngôn của nó
Phát ngôn (2) tương tự như phát ngôn (1), chỉ đúng khi biết rõ thời điểm phát ngôn và người tự xưng “tôi” (biết rõ SP1)
1.3.1.3 Các phương thức chiếu vật
Chúng ta đã biết qua chiếu vật mà ngôn bản gắn với ngữ cảnh cho nên chiếu vật là phương tiện đầu tiên của ngữ dụng Trong ngôn ngữ chỉ có cái chung, vậy làm thế nào mà ngôn bản có thể cho ta biết các đơn vị của nó hay chính nó ứng với sự vật, hiện tượng nào, có nghĩa chiếu vật nào? Bàn đến vấn đề này là bàn đến các phương thức chiếu vật trong ngôn bản Có những phương thức chiếu vật sau:
a Dùng danh từ riêng
Các danh từ riêng là những tên gọi cá thể của từng sự vật như Hà Nội, Hải Phòng, Trà, Hùng, Mạnh…Do đó trong ngôn bản, khi đưa ra một danh từ riêng là chúng ta đã biết ngay sự vật cá thể nào được nói đến rồi Tất nhiên, tên người, tên các làng xã…có thể trùng Thường thì nhờ ngữ cảnh, sự trùng tên không gây trở ngại cho sự chiếu vật
Trang 37b Dùng miêu tả để xác định
Trong hệ thống từ vựng, các từ có nghĩa biểu vật loại, khái quát
Trong ngôn bản, một từ như từ mèo chưa cho ta biết nó ứng với con mèo nào
đang được nói tới Lúc này, thường phải dùng đến cách nêu ra những đặc điểm riêng của con mèo đang được nói tới để phân biệt nó với các con mèo khác như con mèo đó nhà ai? Con mèo đó như thế nào? Màu lông….Đó là phương thức chiếu vật bằng miêu tả xác định Miêu tả xác định được thực hiện bằng định ngữ nếu là danh từ chiếu vật, bằng các trạng từ nếu cần xác định nghĩa chiếu vật của động từ hay tính từ
1.3.2 Chỉ xuất
Chỉ xuất là một thuật ngữ chuyên môn dành cho một trong số nhiều những cái cơ bản mà chúng ta làm khi tạo ra các phát ngôn Nó có nghĩa
là “chỉ ra” thông qua ngôn ngữ Bất cứ một hình thái ngôn ngữ nào được
dùng để thực hiện sự “chỉ ra” này đều được gọi là biểu thức chỉ xuất Phương thức chiếu vật bằng ngôn ngữ dựa trên hành động chỉ trỏ được gọi là chỉ xuất
Chỉ xuất có nghĩa là dùng những phương tiện ngôn ngữ sẵn có để tách vật được quy chiếu khỏi các cá thể trong cùng loại Chỉ xuất được thực hiện bằng con đường định vị Định vị có nghĩa là chỉ rõ vị trí không gian và thời gian của sự vật, sự kiện, hiện tượng được nói tới Định vị thời gian và không gian bao giờ cũng có tọa độ mốc, tọa độ chuẩn Tọa độ đó là không gian và thời gian trong đó cuộc hội thoại đang diễn ra Sự định vị lấy không gian, thời gian hội thoại làm mốc là định vị chủ quan
Như trên đã nói chỉ xuất được thực hiện bằng con đường định vị Có những cách định vị sau đây:
- Định vị xưng hô: Đây là lối định vị vai nói, vai nghe và vai nói được
lấy làm mốc Ví dụ Tôi người Sơn La, nếu chúng ta không biết tôi là ai thì câu nói đó chưa biết đúng hay sai tôi bao giờ cũng là người nói Khi dùng từ tôi là
Trang 38người nói tự quy chiếu Lấy vai nói làm mốc thì vai nghe đang tham gia vào
cuộc hội thoại với tôi sẽ là ngôi thứ hai Còn người được cả vai nói, vai nghe
biết và được đưa vào ngôn bản là ngôi thứ ba Trong nhiều ngôn ngữ định vị xưng hô được thực hiện bằng các đại từ xưng hô Tuy nhiên cần phân biệt đại
từ xưng hô với các phương tiện xưng hô để định vị trong hội thoại Và để chỉ ngôi thứ hai có các cách dùng các danh từ chỉ người có quan hệ họ hàng gia
đình như cậu, cô, mẹ, ông, bà…hoặc các cách gọi bố thằng Tí, má sắp nhỏ,
chi đó… để thay thế
- Định vị không gian chủ quan: Vai nói có thể chiếu vật bằng cách dùng
một danh từ chung hoặc một cụm danh từ miêu tả xác định kèm theo các từ
chỉ xuất không gian như này, kia như cái áo này, cái áo kia…Định vị không
gian thường nằm trong cặp đối lập gần, xa Gần là gần với vị trí vai trò khi nói Xa cũng là xa so với vị trí đó
- Định vị thời gian chủ quan: Để định vị thời gian, chúng ta dùng các từ
chỉ xuất thời gian như nay, qua, mai, ngày kia, hôm sau, tháng sau, tuần
sau…Thời gian lấy làm căn cứ làm mốc để định vị thời gian khác vẫn là thời
gian của cuộc hội thoại đang tiếp diễn, nói cho chính xác hơn là thời gian mà vai nói nói lời của mình ra
- Định vị theo nhận thức: Trong tiếng Việt, các từ chỉ xuất như ấy,
đó, nọ, vậy, thế được dùng với sự vật, thời gian, sự việc, người được đóng vai
nói, vai nghe biết ngày hôm ấy, ngày đó, quyển sách ấy…là quyển sách, ngày,
người…mà cả vai người nói, vai người nghe đều biết Đó là cách định vị theo
nhận thức Nắm được đặc điểm này, chúng ta mới bình giá được cách dùng thẩm mỹ của các từ chỉ xuất theo nhận thức này trong tác phẩm văn học nói chung và trong truyện cười Việt Nam hiện đại nói riêng
- Định vị khách quan: Sự kiện, sự vật diễn tiến và tồn tại một cách khách
quan, không phụ thuộc vào người miêu tả, tường thuật lại Chúng có thời gian
Trang 39và không gian độc lập, khách quan so với thời gian hội thoại Ví dụ Công
cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra từ 1956 đến năm 1975 ở Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh ở phía nam nước Việt Nam Đó là thời gian, không
gian khách quan Khi muốn chiếu vật một sự kiện, một sự vật nào đó, chúng
ta phải định vị chúng theo một mốc thời gian hay không gian nào đấy rút từ cấu trúc thời gian và không gian khách quan của chúng Ví dụ để xác định một con đường trong thành phố Hà Nội, chúng ta có thể lấy Hồ Hoàn Kiếm làm gốc Đó là định vị một cách khách quan Thực ra định vị theo nhận thức
và định vị khách quan vẫn dựa vào định vị chủ quan lấy thời gian và không gian hội thoại làm căn cứ
- Định vị trong ngôn bản: Như đã biết, một sự vật, sự việc, người có thể
đã được nói tới trong ngôn bản Chúng ta có thể định vị nó trong những lời nói tiếp theo mà không cần miêu tả xác định, không cần đến các phương thức định vị về thời gian và không gian như đã nói Bằng các phép thế đại từ chúng
ta có thể định vị sự vật, sự kiện theo ngôn bản Định vị trong ngôn bản có hai dạng: dạng hồi chỉ, tức là định vị theo sự vật, sự việc đã nói trong tiền ngôn bản Dạng khứ chỉ, là định vị theo những ngôn bản tiếp theo ngôn bản đang
xem xét Ví dụ câu sau đây: Về việc ấy tôi có ý kiến như sau Việc ấy là định
vị hồi chỉ, như sau là định vị khứ chỉ Thực ra định vị trong ngôn bản là một biến thể định vị theo nhận thức
Chiếu vật và chỉ xuất là nội dung quan trọng và cần thiết để phục vụ
cho việc tìm hiểu về một số truyện cười Việt Nam hiện đại
1.4 Hàm ý hội thoại
Dựa vào mức độ phụ thuộc hoàn cảnh giao tiếp các tác giả H.P.Grice và George Yule chia hàm ý thành hai loại: hàm ý ngôn ngữ (hàm ý quy ước) và hàm ý hội thoại (hàm ý ngữ dụng) Chúng tôi quan tâm nhiều đến hàm ý hội thoại Luận văn sẽ khai thác hàm ý hội thoại trong một số truyện cười
Trang 40Việt Nam hiện đại
1.4.1 Khái niệm hàm ý hội thoại
Một phát ngôn ngoài cái ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ (âm, từ, kết cấu cú pháp…) còn rất nhiều ý nghĩa khác nữa mà chúng ta phải dùng đến thao tác suy ý dựa vào ngữ cảnh, văn cảnh, vào các quy tắc điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại … mới nắm bắt được Nghĩa
là, trong hội thoại không phải lúc nào người nói cũng cung cấp tất cả thông tin một cách hiển ngôn, mà trong một số trường hợp người nghe – người tiếp nhận thông tin – phải tự suy ra thông qua phát ngôn để hiểu được nội dung mà người nói muốn truyền đạt Đó là hàm ý hội thoại
Theo tác giả Vũ Tiến Dũng – Nguyễn Hoàng Yến: Hàm ý hội thoại là ý
nghĩa ngầm ẩn thể hiện trong phát ngôn gắn với ngữ cảnh giao tiếp cụ thể được người nghe tiếp nhận thông qua suy luận đúng như chủ đích người nói
[20, 93]
Như vậy, hàm ý được xác định bởi các tiêu chí sau:
- Là nội dung ngầm ẩn của các phát ngôn được suy ra từ câu nói trong một ngữ cảnh giao tiếp
- Nội dung ngầm ẩn này phải được người nghe giải đoán đúng như ý định của người nói thông qua suy ý
- Là chủ định của người nói mặc dù người nói có thể “rút lui ý kiến” hoặc phủ nhận trách nhiệm của mình về nội dung ngầm ẩn đó
Tác giả cho rằng cách hiểu như vậy tránh được rắc rối đặt ra trong quá trình học tập và nghiên cứu hàm ý như:
Nếu coi nội dung suy ý của người nghe luôn độc lập với hàm ý của người nói thì mọi cuộc hội thoại sẽ rơi vào tình trạng “Ông nói gà bà nói vịt” Cuộc thoại sẽ không thành công và có xu hướng phá vỡ cộng tác
Nếu coi toàn bộ ý nghĩa ngầm ẩn mà người nói muốn hướng đến người