Từ những kết quả đạt được trong việc xây dựng hạ tầng nông thôn mớinhằm tránh xảy ra tình trạng nợ đọng, Văn phòng Điều phối xây dựng nông thônmới tỉnh Cà Mau xin chia sẻ một số kinh ngh
Trang 1BAN CHỈ ĐẠO TRUNG ƯƠNG CHƯƠNG TRÌNH MTQG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
VĂN PHÒNG ĐIỀU PHỐI NÔNG THÔN MỚI TRUNG ƯƠNG
BÁO CÁO THAM LUẬN CỦA VPĐP NÔNG THÔN MỚI CÁC TỈNH
Tháng 3 năm 2016
Trang 2VPĐP NTM TỈNH TUYÊN QUANG
NHỮNG GIẢI PHÁP HIỆU QUẢ TRONG XÂY DỰNG
HẠ TẦNG NÔNG THÔN MỚI ĐỂ TRÁNH XẢY RA
TÌNH TRẠNG NỢ ĐỌNG
Tuyên Quang là tỉnh miền núi với 7 đơn vị hành chính (6 huyện và 1 thành phố), có 141 xã, phường, thị trấn (129 xã, 7 phường, 5 thị trấn), diện tích đất tự nhiên 586.732,7 ha, toàn tỉnh có 82.652,6 ha đất sản xuất nông nghiệp (chiếm 14,1%); trên 86% dân số sống ở nông thôn Thực hiện Chương trình mục tiêu
Quốc gia xây dựng nông thôn, tỉnh đã chỉ đạo rà soát, đánh giá hiện trạng 129/141
xã, phường, thị trấn thuộc diện xã xây dựng nông thôn mới để triển khai thực hiện
Qua rà soát thực trạng các xã trên địa bàn tỉnh năm 2010 cho thấy: sự pháttriển của nông thôn Tuyên Quang còn rất nhiều hạn chế, các xã chưa có quyhoạch phát triển đồng bộ; hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng được yêu cầuđời sống của nhân dân cũng như phát triển sản xuất theo hướng hàng hoá; trình
độ sản xuất, khả năng tiếp cận thị trường, khoa học công nghệ của lao độngnông thôn còn thấp; kinh tế nông nghiệp chuyển dịch chậm; sản xuất phi nôngnghiệp chưa mạnh; doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ít quan tâm đầu
tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn; phần lớn lao động chưa qua đào tạo,thiếu việc làm, thu nhập không ổn định; y tế xã nhiều nơi chưa đáp ứng đượcyêu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân; cơ sở vật chất văn hoá,thông tin, giáo dục còn hạn chế nhất là ở các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa; vệsinh môi trường nông thôn chưa được chú trọng để bảo vệ sức khoẻ người dân;nhiều cán bộ cấp xã còn hạn chế về trình độ chuyên môn
Hiện trạng các xã năm 2011 so sánh với Bộ tiêu chí Quốc gia về nông
thôn mới, cho thấy: Tỉnh Tuyên Quang chưa có xã đạt "Xã nông thôn mới"; xã đạt
trên 10 tiêu chí có 01 xã; xã đạt dưới 5 tiêu chí có 115 xã; 04 xã không đạt tiêuchí nào Bình quân tiêu chí đạt thấp (2,8 tiêu chí/xã)
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XV) đã ban hành Nghị quyết chuyên
đề về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020,trong đó xác định mục tiêu:
- Đến năm 2015: Có ít nhất 7 xã (mỗi huyện, thành phố 01 xã) đạt chuẩnnông thôn mới theo Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới 100% số
xã đạt tiêu chí Quy hoạch; 50% số xã đạt tiêu chí về giao thông; 50% kênh
Trang 3mương do xã quản lý được kiên cố hóa; trên 10% số xã đạt chuẩn về cơ sở vậtchất văn hóa
- Đến năm 2020: Duy trì và giữ vững số xã đã đạt chuẩn, toàn tỉnh có trên30% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (40/129 xã) Thành phố Tuyên Quang đạtchuẩn nông thôn mới cấp huyện Trên 70% số xã đạt tiêu chí về giao thông; trên70% trường học các cấp có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia; trên 40% số xãđạt chuẩn về cơ sở vật chất văn hóa
Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, để đạt được những mục tiêu đã đề ra,Tuyên Quang chỉ đạo tất cả các xã đồng bộ triển khai thực hiện và chọn 07 xãcủa 07 huyện, thành phố chỉ đạo điểm để tổng kết, đánh giá và rút kinhnghiệm Ngoài ra, tỉnh đã lựa chọn và chỉ đạo tập trung thực hiện một số nộidung có tính đột phá như: giao thông nông thôn; cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất; phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi… Đồng thời chú trọng pháttriển sản xuất nâng cao thu nhập, chỉnh trang khuân viên nhà cửa các hộ gia đình
Xây dựng nông thôn mới, tỉnh đã xác định phải bắt đầu từ hộ gia đình làmgốc đến thôn bản, xã Tùy theo lợi thế của từng địa phương, hàng năm tỉnh đãchỉ đạo các sở, ban, ngành phối hợp với các huyện, thành phố hướng dẫn các xãxây dựng kế hoạch, lựa chọn thứ tự ưu tiên các tiêu chí để thực hiện, tiêu chí dễlàm trước, khó làm sau; tiêu chí liên quan trực tiếp đến người dân vận ngườidân chủ động thực hiện Đồng thời ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ để tậptrung thực hiện Chương trình
Nổi bật là chính sách bê tông hóa đường giao thông nông thôn giai đoạn
2011-2015 (theo Nghị quyết số 22/2010/NQ-HĐND ngày 27/12/2010 của HĐND tỉnh) Tỉnh hỗ trợ xi măng, ống cống và vận chuyển đến thôn, bản; chính
quyền cơ sở và các thôn, bản, tổ, xóm tự giải phóng mặt bằng; nhân dân tựnguyện đóng góp vật liệu, công lao động Chương trình được triển khai rộngkhắp trên địa bàn toàn tỉnh, tạo thành phong trào được người dân đồng tìnhhưởng ứng
Bên cạnh đó, để tập trung cho 07 xã điểm của tỉnh đạt chuẩn nông thônmới theo đúng kế hoạch, tỉnh đã ban hành chính sách về mức hỗ trợ xây dựngmột số công trình hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn thuộc Chương trình mục
tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh, giai đoạn 2013-2015 (Nghị quyết số 20/NQ-HĐND ngày 13/12/2014 của HĐND tỉnh), theo đó tập trung hỗ trợ các
công trình: Đường nội đồng, kênh mương, nhà văn hóa và sân thể thao thôn, chợnông thôn, nghĩa trang nhân dân
Song song việc ban hành các cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng, tỉnh cũng đã chỉ đạo các sở, ngành ban hành các chính sách về pháttriển sản xuất, chính sách về môi trường như: Chính sách về khuyến khích pháttriển kinh tế trang trại: Thực hiện hỗ trợ về khuyến nông, khoa học kỹ thuật; hỗ
Trang 4trợ lãi suất tiền vay (50%); hỗ trợ về lao động, đào tạo và hỗ trợ về thị trường;Chính sách về hỗ trợ sản xuất hàng hóa đối với một số cây trồng, vật nuôi: Tậptrung vào 03 cây, 02 con: cây chè đặc sản, cây mía, cây cam sành, con trâu, con
cá Tỉnh hỗ trợ lãi suất vay vốn (hỗ trợ lãi suất 01 lần) và hỗ trợ đầu tư; Chínhsách hỗ trợ hội viên hội nông dân lãi suất vay vốn để phát triển chăn nuôi (trâu, bò,lợn) có kết hợp xây hầm Biogas bằng vật liệu nhựa Composite: Hỗ trợ chi phí xâydựng hầm Biogas: 1.200.000 đồng/hầm/hộ; hỗ trợ lãi suất tiền vay trong thờigian tối đa 36 tháng kể từ ngày vay vốn (hộ nghèo được hỗ trợ 100% lãi suất, hộkhác được hỗ trợ 50% lãi suất)…
Kết quả chung toàn tỉnh:
Sau 05 năm triển khai thực hiện Chương trình, nhận thức của người dânđược nâng lên, diện mạo nông thôn được thay đổi, đời sống vật chất của nhân dân
được nâng cao; nông nghiệp hàng hóa phát triển (hình thành một số vùng sản xuất tập trung của một số cây trồng có lợi thế của tỉnh: chè, cam, mía, lạc cây nguyên liệu giấy, chăn nuôi, thủy sản được đẩy mạnh phát triển…) góp phần tạo
thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn và giảm tỷ lệ hộ
nghèo (giảm từ 34,83% năm 2011 xuống 9,31% năm 2015)
Hạ tầng nông thôn được quan tâm đầu tư xây dựng: hoàn thiện được539,47 km đường trục xã, liên xã; 2.401,56 km đường trục thôn, xóm; 242,65 kmđường trục chính nội đồng; xây dựng tu sửa trên 140 công trình thủy lợi, kiên cốhoá 126,03 km kênh mương phục vụ tưới tiêu đảm bảo sản xuất; xây dựng mớicải tạo nâng cấp 205 trạm biến áp, 176 km đường dây trung áp, 768 km đườngdây hạ áp; xây dựng trên 700 phòng học, một số hạng mục phụ trợ của trườnghọc; xây dựng mới, nâng cấp trên 330 công trình nhà văn hoá thôn bản, nhà vănhóa xã; trên 190 sân thể thao thôn và liên thôn; xây dựng, nâng cấp cải tạo 29 chợnông thôn, đáp ứng nhu cầu giao thương buôn bán hàng hóa cho nhân dân
Nhiều công trình hạ tầng người dân sẵn sàng hiến đất để xây dựng cơ sở hạ
tầng nông thôn hiện đại và bền vững (nhân dân đã tự nguyện hiến đất với tổng diện tích 41.847m 2 , đóng góp trên 686 tỷ đồng để làm đường giao thông nông thôn, kênh mương nội đồng, xây dựng nhà văn hóa thôn, bản )
Đến hết năm 2015 trung bình các xã trên địa bàn tỉnh đạt 10,0 tiêu chí/xãtăng 7,2 tiêu chí so với năm 2011 (2,8 tiêu chí/xã), cụ thể:
- Số xã đạt 19 tiêu chí: 10 xã, đạt 7,75% (tăng 10 xã so với năm 2011)
- Số xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí: 1 xã, đạt 0,76% (tăng 01 xã so với năm 2011)
- Số xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí: 51 xã, đạt 39,5% (tăng 50 xã so với năm 2011)
- Số xã đạt từ 5- 9 tiêu chí: 67 xã, đạt 51,9% (tăng 54 xã so với năm 2011)
- Số xã dưới 5 tiêu chí: 0 xã (Giảm 115 xã so với năm 2011)
Trang 5Tổng nguồn lực huy động để thực hiện Chương trình xây dựng nông thônmới trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng 7.255.805 triệu đồng,trong đó: Ngân sách Nhà nước, lồng ghép các chương trình dự án 1.924.025
triệu đồng (ngân sách Trung ương hỗ trợ trực tiếp Chương trình 237.677 triệu đồng, chiếm 3,3% so với tổng nguồn lực, gồm: vốn sự nghiệp 49.098 triệu đồng; vốn đầu tư phát triển 27.579 triệu đồng; vốn trái phiếu Chính phủ 161.000 triệu đồng; ngân sách địa phương 76.437 triệu đồng, chiếm 1,1% so với tổng nguồn lực, vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án 1.609.911 triệu đồng, chiếm 22,2%); Vốn tín
dụng 4.066.000 triệu đồng, chiếm 56%; Vốn doanh nghiệp 409.475 triệu đồng,chiếm 5,6%; Vốn huy động đóng góp của cộng đồng dân cư 854.640 triệu đồng, chiếm11,8%; Vốn tài trợ 814.8 triệu đồng, chiếm 0,01%
Bên cạnh những kết quả đạt được, Tuyên Quang cũng gặp một số khókhăn trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình, đặc biệt là về xây dựng
hạ tầng nông thôn Qua báo cáo kết quả kiểm toán của Đoàn Kiểm toán Nhànước khu vực X, Tuyên Quang vẫn xảy ra tình trạng nợ đọng vốn xây dựng cơbản Tính đến hết năm 2015, tổng số nợ đọng xây dựng cơ bản của toàn tỉnh là2,5 tỷ đồng do một số nguyên nhân như:
- Khi đã ban hành kế hoạch để thực hiện, một số xã thay đổi hạng mục đầu
tư, quy mô công trình, do vậy phải điều chỉnh kế hoạch giao nhiệm vụ vốn
- Một số công trình khi hoàn thành khối lượng, xảy ra tình trạng thiếunguồn vốn so với thiết kế, dự toán ban đầu
- Đối với một số công trình được giao chuẩn bị đầu tư, chưa cân đối đượcnguồn vốn dẫn đến tình trạng nơ đọng
Để đảm bảo số nợ đọng xây dựng cơ bản được thanh quyết toán theo đúngquy định, Tuyên Quang đã chỉ đạo UBND các huyện, thành phố chủ động lồngghép các nguồn vốn thuộc ngân sách địa phương (huyện, xã) với nguồn vốn thuộccác chương trình, dự án để cân đối, bố trí bổ sung đủ vốn theo dự toán công trình
đã được phê duyệt đối với các công trình , dự án thiếu vốn Đồng thời tập trungchỉ đạo đảy nhanh tiến độ thi công, tổ chức nghiệm thu, thanh toán kịp thời chocác đơn vị thi công, đảm bảo không nợ đọng vốn
Trên cơ sở kết quả đó, tỉnh Tuyên Quang xin đưa ra một số giải pháp trong việc xây dựng hạ tầng nông thôn mới để tránh xảy ra tình trạng nợ đọng như sau:
1 Cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy đảng, chính quyền,huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị và người dân, có cách làmsáng tạo Phải xây dựng được kế hoạch chi tiết, có quy chế làm việc, có sự phân
Trang 6công rõ trách nhiệm đối với từng cấp, ngành và người thực hiện Phải xác định
rõ việc nào dân làm, việc nào Nhà nước hỗ trợ, việc nào Nhà nước làm; công tácphối hợp, điều hành sát với thực tế, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong việc
tổ chức, triển khai thực hiện Chương trình
2 Thường xuyên tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên
và nhân dân hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của Chương trình xâydựng nông thôn mới và xác định được trách nhiệm “chủ thể” của người dân.Công tác tuyên truyền phải thật sự đi vào chiều sâu, cụ thể, dễ hiểu
3 Xây dựng kế hoạch phải bám sát vào nhu cầu thực tế của địa phương,nguyện vọng của người dân, tránh để tình trạng khi ban hành kế hoạch, xin điềuchỉnh hạng mục, quy mô công trình
4 Trên cơ sở kế hoạch nhiệm vụ dự toán vốn đã giao đối với từng côngtrình, dự án, thực hiện thanh toán khối lượng hoàn thành theo đúng quy định
5 Đối với các công trình đã hoàn thành đưa vào sử dụng mà số vốn đã cấpcòn thừa, kịp thời đề xuất phương án tiếp tục bổ sung vốn chưa sử dụng cho cáccông trình còn thiếu để tránh tình trạng tồn đọng vốn
6 Quá trình thực hiện chỉ đạo phải đồng bộ, nhất quán, tập trung, trọngđiểm, xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ trực tiếp cho người dân theonguyên tắc dân có nhu cầu, đề xuất xây dựng công trình, Nhà nước phân bổ vốn
hỗ trợ người dân thông qua cơ chế, chính sách
7 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc quá trình thực hiện ở
cơ sở, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc./
Trang 7VPĐP NTM TỈNH CÀ MAU
NHỮNG GIẢI PHÁP HIỆU QUẢ TRONG XÂY DỰNG
HẠ TẦNG NÔNG THÔN MỚI ĐỂ TRÁNH XẢY RA
TÌNH TRẠNG NỢ ĐỌNG
I ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH CHUNG
Cà Mau là tỉnh nằm ở phía cực Nam tận cùng của Tổ quốc, nơi có mốc tọa
độ GPS 0001 (cây số 0) nằm ở Mũi Cà Mau; là 01 trong 04 tỉnh thuộc tiểu vùngkinh tế trọng điểm của đồng bằng sông Cửu Long gồm Cà Mau – Cần Thơ – AnGiang và Kiên Giang; tỉnh có 03 mặt giáp biển với chiều dài bờ biển gần 254
km và tổng diện tích lãnh hải trên 70.000 km2, thuộc hành lang kinh tế ven biểnĐông Tây Trong đất liền, tỉnh được chia cắt bởi hệ thống sông rạch, kênhmương chằng chịt với tổng chiều dài trên 8.000km Là nơi có địa hình thấp sovới mặt nước biển và là tỉnh duy nhất chịu tác động của cả 2 chế độ nhật triều vàbán nhật triều không đều
Về đơn vị hành chính: cấp huyện có 08 huyện, 01 thành phố (các huyệnNgọc Hiển, Năm Căn, Thới Bình, Cái Nước, Phú Tân, Đầm Dơi, Trần Văn Thời
và thành phố Cà Mau); cấp xã có 101 xã, phường, thị trấn (09 thị trấn, 10phường, 82 xã)
Dân số tự nhiên của tỉnh đến năm 2014 là 1.216.388 người, trong đó khuvực nông thôn 941.961 người
Qua 05 năm triển khai thực hiện, Chương trình MTQG xây dựng nôngthôn mới trên địa bàn tỉnh Cà Mau đã đạt được những thành quả bước đầu quantrọng Bình quân chung toàn tỉnh đến nay đạt 13,6 tiêu chí/xã, tăng 10,1 tiêu chí/
xã so với thời điểm xuất phát (3,5 tiêu chí/xã), cụ thể:
+ 17/82 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm tỷ lệ 20,7%
+ 08 xã đạt từ 15 – 18 tiêu chí, chiếm tỷ lệ 9,8%
+ 52 xã đạt từ 10 – 14 tiêu chí, chiếm tỷ lệ 63,4
+ 05 xã đạt từ 06 – 09 tiêu chí, chiếm tỷ lệ 6,1%
Trang 8Bộ máy chỉ đạo quản lý Chương trình các cấp được thành lập và đi vàohoạt động; cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới cấp huyện, cấp xã đượctập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ; công tác tuyên truyền được triển khai khá sâurộng; phong trào thi đua “Cà Mau chung sức xây dựng nông thôn mới” trên địabàn toàn tỉnh được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình hưởng ứng.
II BƯỚC ĐỘT PHÁ TỪ NHỮNG GIẢI PHÁP TRONG XÂY DỰNG HẠ TẦNG NTM NHẰM TRÁNH TÌNH TRẠNG NỢ ĐỌNG
Qua 05 năm nhìn lại, từ những thành quả và thực tiễn trong xây dựngnông thôn mới trên địa bàn tỉnh nhà có nhiều những bài học kinh nghiệm đượcđúc kết Tuy nhiên, một trong những thành công và bài học quan trọng có đượcchính là những hiệu quả thiết thực mang lại từ việc xây dựng, phát triển cơ sở hạtầng cho khu vực nông thôn
Có thể nói, việc cơ sở hạ tầng nông thôn được quan tâm đầu tư một cáchđồng bộ là tiền đề quan trọng giúp phát triển và vực dậy khu vực kinh tế nôngthôn Từ đó, làm cho thu nhập của người dân được nâng lên và có tác động lantỏa đến các tiêu chí khác, bộ mặt nông thôn tỉnh nhà đã thay đổi một cách rõ rệttheo chiều hướng tích cực Đặc biệt, việc không để xảy ra tình trạng nợ đọngtrong xây dựng cơ bản là vấn đề được UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo nông thôn mớitỉnh thường xuyên chỉ đạo trên tinh thần quán triệt các văn bản của Trung ương
và đã được các đơn vị thực hiện rất tốt
Từ những kết quả đạt được trong việc xây dựng hạ tầng nông thôn mớinhằm tránh xảy ra tình trạng nợ đọng, Văn phòng Điều phối xây dựng nông thônmới tỉnh Cà Mau xin chia sẻ một số kinh nghiệm được đúc kết từ quá trình tổchức triển khai thực hiện, cụ thể như sau:
Thứ nhất, công tác lập quy hoạch cụ thể các công trình hạ tầng nông thôn.
Cà Mau là tỉnh có địa hình khá đặc thù với sông ngòi chằng chịt Hệ sinhthái đặc trưng có cả vùng mặn và vùng ngọt, nền đất một số vùng thấp và yếu,ngập nước, quỹ đất đắp nền chủ yếu cân bằng đào đắp tại chỗ và một phần sanlắp cát đen Bên cạnh đó, một số nơi tình trạng sạt lở xảy ra nghiêm trọng làmảnh hưởng đến việc xây dựng các công trình hạ tầng nông thôn phục vụ ngườidân Chính vì vậy, việc lập quy hoạch cụ thể các công trình hạ tầng nông thônphải đặc biệt được quan tâm
Làm tốt công tác quy hoạch sẽ khoanh vùng được các khu vực có nguy cơsạt lở, không cho dân cư sinh sống và xây dựng công trình trong các khu vực
này (tùy điều kiện thực tế có thể dùng giải pháp bờ kè hoặc trồng cây phòng hộ ven sông không để nền đất bị tác động trực tiếp của dòng chảy) Chính điều này
sẽ có tác động trực tiếp đến tính khả thi, phát huy hiệu quả sử dụng và tuổi thọcủa các công trình
Trang 9Ngoài ra, việc lập quy hoạch được thực hiện tốt sẽ giúp ta xác định đượckhái toán kinh phí xây dựng, có sự chủ động trong việc đón các nguồn vốn đầu
tư trong tương lai Khi đó, việc triển khai sẽ được thuận lợi, nhanh và hiệu quảhơn rất nhiều Là bước chuẩn bị ban đầu cần thiết trong nhóm giải pháp xâydựng hạ tầng nông thôn nhằm tránh xảy ra tình trạng nợ đọng
Thứ hai, công bố công khai bản đồ quy hoạch các công trình hạ tầng
nông thôn đến tận trụ sở các ấp trong xã để người dân được biết
Thực tế cho thấy, việc công bố công khai các bản đồ quy hoạch để chongười dân nắm có vai trò khá quan trọng Bên cạnh đó, các địa phương đã thànhlập tổ giám sát cộng đồng nhằm phát huy vai trò nhân dân trong việc tham giagiám sát chất lượng công trình xây dựng, giúp cho tiến độ và chất lượng của cáccông trình được đảm bảo đúng theo quy định Ngoài ra, việc công khai quyhoạch cho nhân dân biết còn giúp họ chủ động nắm bắt và phát triển sản xuấthoặc có ý kiến để cơ quan có thẩm quyền chủ động điều chỉnh quy hoạch chophù hợp với thực tiễn cuộc sống
Thứ ba, ban hành thiết kế mẫu, thiết kế điển hình, tạo điều kiện cho các
xã triển khai hoạt động đầu tư xây dựng công trình và tổ chức kiểm tra, giám sátquá trình thực hiện
UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, đơn vị có liên quan ban hành cácthiết kế mẫu cho các địa phương thực hiện phù hợp với tình hình thực tế của địaphương và chỉ đạo của Trung ương Đây là chỉ đạo thiết thực, có tính bao quáttạo nên sự đồng bộ trong phát triển các công trình hạ tầng nông thôn phù hợptrên địa bàn của tỉnh
Thứ tư, tạo ra sự thông thoáng trong các thủ tục hành chính nhằm rút
ngắn thời gian của xây dựng của các công trình
Đây là giải pháp quan trọng có tác động mạnh lên tiến độ của các côngtrình Là chỉ đạo kịp thời và sự vào cuộc của lãnh đạo UBND tỉnh trong việc đầu
tư xây dựng các công trình hạ tầng nông thôn đã được các đơn vị thực hiện rấttốt Cụ thể, phòng, ban, đơn vị có liên quan trong việc thẩm định các báo cáo kỹthuật, thiết kế các công trình khi nhận được đề nghị của chủ đầu tư phải giảiquyết nhanh, chính xác, kịp thời báo cáo cấp thẩm quyền về những khó khăn,vướng mắc Tuyệt đối không được chậm trễ trong thẩm định, làm ảnh hưởngđến tiến độ thực hiện của các công trình Nếu đơn vị, phòng ban nào vi phạm sẽ
bị xử lý nghiêm
Thứ năm, lựa chọn, chỉ định nhà thầu có uy tín trong việc triển khai các
công trình và tuân thủ quy định của Trung ương về cơ chế đầu tư đặc thù
Về cơ chế đầu tư các công trình hạ tầng nông thôn đã được Trung ươngquy định rất rõ ràng trong các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và các
Trang 10Bộ, ngành Tuy nhiên, để những quy định, giải pháp mang tính vĩ mô ấy đượctriển khai một cách hiệu quả và đi vào thực tế cuộc sống thì việc lựa chọn, chỉđịnh các nhà thầu có uy tín, đảm bảo tiến độ và chất lượng các công trình cũng
là vấn đề quan trọng được tỉnh quan tâm Đây cũng là giải pháp mang tính bản
lề có liên quan đến vấn đề nợ đọng trong xây dựng cơ bản
Thứ sáu, tuyệt đối không triển khai xây dựng các công trình khi chưa có vốn,
chưa xác định rõ nguồn vốn Giải ngân nhanh nhất có thể đối với các nguồn vốn
Cuối cùng, cũng là vấn đề quan trọng nhất trong nhóm giải pháp nhằmkhông để xảy ra tình trạng nợ đọng trong xây dựng các công trình phát triển hạtầng nông thôn mới là việc xác định rõ nguồn vốn trước khi tiến hành xây dựng.Cần xác định rõ tổng vốn và cơ cấu của nguồn vốn để đảm bảo tính chịu đựngcủa ngân sách các cấp và tính khả thi của công trình, dự án Tuyệt nhiên khôngđược vay mượn, ứng từ các nguồn khác đầu tư trước nhằm đón đầu, chi trả saukhi được phân khai
Bên cạnh đó, phải chủ động giải ngân các nguồn vốn ngay khi có thể đểxin chủ trương ứng vốn từ năm sau nhằm đẩy nhanh tiến độ đầu tư các côngtrình trên địa bàn./
Trang 11VPĐP NTM TỈNH QUẢNG NAM
NHỮNG GIẢI PHÁP HIỆU QUẢ TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ
HẠ TẦNG NÔNG THÔN MỚI ĐỂ GIẢM TÌNH TRẠNG
NỢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI TỈNH QUẢNG NAM
I Tình hình chung
Quảng Nam là tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, có 15 huyện, 01 thị
xã và 02 thành phố; khi bắt đầu triển khai Chương trỉnh MTQG xây dựng NTM(Chương trình); năm 2010, Quảng Nam có tổng số 213 xã; đến nay, do có 9 xã
được quy hoạch phát triển đô thị nên còn 204 xã thực hiện Chương trình (gồm
96 xã của 9 huyện miền núi và 108 xã của 9 huyện/thị xã/thành phố đồng bằng);
trong đó có 56 xã đăng ký phấn đấu đạt chuẩn NTM giai đoạn 2011-2015
Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn, ngân sách cáccấp còn hạn hẹp, tỉnh Quảng Nam đã nỗ lực triển khai thực hiện Chương trình, với
sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở; sự tham giahưởng ứng tích cực của người dân và toàn xã hội; nhờ đó, đã huy động được cácnguồn lực và cân đối bố trí vốn ngân sách để tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng và hỗ trợ phát triển sản xuất nên đã đạt được nhiều kết quả trong thựchiện Chương trình
Đến cuối năm 2015, bình quân chung số tiêu chí đạt chuẩn (204 xã) là 11,5tiêu chí/xã, tăng 8,89 tiêu chí/xã so với năm 2010 Số xã đạt dưới 5 tiêu chí giảmcòn 6 xã (năm 2010 có đến 163 xã) Có 53 xã được UBND tỉnh quyết định côngnhận xã đạt chuẩn NTM, đạt gần 26% số xã; trong đó, năm 2014 có 10 xã và năm
2015 có 43 xã đạt chuẩn; vượt mục tiêu đề ra tại Quyết định số 800 của Thủ tướng
Chính phủ Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt trên 21,1 triệu
đồng/người/năm, tăng gần 11 triệu đồng/người/năm so với năm 2010; tỷ lệ hộnghèo từ 24,2% năm 2010 giảm xuống còn dưới 9% vào năm 2015
II Kết quả đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn
Trang 12Trong 5 năm qua, bên cạnh nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp từ Chương trình,Quảng Nam đã kết hợp lồng ghép các nguồn vốn khác và vận động nguồn lựctrong nhân dân để tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn nên đã có nhữngbước phát triển vượt bậc, đúng với tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7,Khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn: “Triển khai chương trình xâydựng NTM”, trong đó thực hiện “xây dựng kết cấu hạ tầng đi trước một bước”.Kết quả cụ thể như sau:
- Về giao thông: Đã bê tông hóa trên 1.552 km đường giao thông nôngthôn và 390 km giao thông nội đồng, cứng hóa 2.798 km giao thông nông thôn
và nội đồng, nâng tổng chiều dài đường GTNT trên địa bàn tỉnh được bê tônghóa lên 4.200 km/6.560 km (đạt tỉ lệ 66%), bộ mặt nông thôn không ngừng đổi
mới Đến nay, đã có 78 xã đạt tiêu chí giao thông, chiếm 38% (năm 2010 chưa
có xã nào đạt tiêu chí giao thông).
- Về thủy lợi: Xây dựng 176 công trình thuỷ lợi nhỏ, đảm bảo phục vụtưới cho hơn 3.157 ha (trong đó: Nâng cấp, sửa chữa 95 công trình để tưới ổnđịnh cho 2.113,2 ha và xây mới 81 công trình mở rộng diện tích tưới cho1.044,4 ha); xây dựng 89 công trình thuỷ lợi hóa đất màu, phục vụ tưới cho2.157 ha; thực hiện kiên cố trên 369,7 km kênh mương loại III, phục vụ tưới
ổn định cho trên 11.200 ha Đến nay, đã có 99 xã đạt tiêu chí thủy lợi, chiếm 48,5% (năm 2010 chỉ có 5 xã đạt tiêu chí thuỷ lợi).
- Về điện (khu vực nông thôn): Đầu tư xây dựng hơn 400 km đường dâytrung áp; 742,50 km đường dây hạ áp; 300 trạm biến áp và hơn 25.000 công tơ
Nhờ đó, đã có 202 xã/204 xã có điện, chiếm 99% Đến nay, đã có 173 xã đạt tiêu chí điện, chiếm 84,8% (năm 2010 mới có 58 xã đạt tiêu chí điện)
- Về trường học: Trong 5 năm, từ nhiều nguồn vốn, đã đầu tư xây mới 40trường học, phòng học, sửa chữa nâng cấp 125 trường, nâng tổng số trường họccác cấp đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh là 424/718 trường, đạt trên 59%
Đến nay, đã có 87 xã đạt tiêu chí trường học, chiếm 42,65% (năm 2010 mới có
- Về chợ nông thôn: Trong 5 năm qua, có 65 chợ nông thôn đã được đầu
tư xây mới và cải tạo nâng cấp Đến nay, đã có 152 xã đạt tiêu chí chợ nôngthôn, chiếm 74,51% (năm 2010 chỉ có 9 xã đạt tiêu chí chợ)
Trang 13- Về bưu điện: Đã phủ sóng thông tin di động đến 100% trung tâm các xã
và 96% số xã được kết nối Internet; mật độ điện thoại là 91,09 máy/100 dân; sốthuê bao Internet hiện có hơn 36.808 thuê bao; tỷ lệ người dân sử dụng Interntet
là 10,8 thuê bao/100 dân; toàn tỉnh có 146/204 điểm bưu điện văn hóa xã hoạtđộng Các năm qua đã đầu tư trên 200 bộ máy vi tính, 9.000 đầu sách, trên
200.000 đầu báo đến các điểm Bưu điện văn hoá xã Đến nay, đã có 160 xã đạt tiêu chí bưu điện, chiếm 78,4% (năm 2010 có 13 xã đạt tiêu chí về bưu điện).
- Về nhà ở dân cư: Trong 5 năm đã hỗ trợ xây dựng 18.014 nhà Hoànthành giai đoạn 1 về hỗ trợ nhà ở cho người có công với hơn 9.500 nhà với tổng
kinh phí hơn 306 tỷ đồng Đến nay, đã có 122 xã đạt tiêu chí nhà ở dân cư, chiếm 59,8% (năm 2010 có 16 xã đạt tiêu chí nhà ở dân cư).
- Về y tế: Trong 5 năm, đầu tư xây dựng mới 28 trạm và sửa chữa 57 trạm
y tế xã, với tổng kinh phí là 108.895 triệu đồng Đến nay, đã có 119 xã đạt chuẩn tiêu chí y tế, chiếm 58,33% (năm 2010 có 38 xã đạt tiêu chí y tế).
III Tổng huy động nguồn lực và nợ trong đầu tư xây dựng hạ tầng
Trong 5 năm (2011-2015), toàn tỉnh đã huy động nguồn lực tương đối lớn
để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, với khoảng trên 4.100 tỷ đồng, trong đó vốntrực tiếp từ Chương trình (bao gồm vốn ngân sách Trung ương, tỉnh, huyện, xã)trên 1.227 tỷ đồng
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thi công các công trình trong nông thônmới, nhiều địa phương đến nay vẫn còn nợ xây dựng cơ bản Tính đến ngày31/12/2015 thì tổng nợ xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh là 182 tỷ đồng, trong đó
nợ cấp tỉnh là 41 tỷ đồng, nợ cấp huyện là 57 tỷ đồng (bình quân 3,1 tỷ đồng/huyện) và nợ cấp xã là 83 tỷ đồng (bình quân 1,4 tỷ đồng/xã) Số nợ chủ yếu
tập trung tại các công trình, dự án như: Xây dựng trụ sở xã; đường giao thông; thủylợi; trường học; trạm y tế; nhà văn hóa xã, thôn; chợ; các công trình môi trường Sovới tổng nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng 5 năm qua thì nợ xây dựng cơ bảnchiếm khoảng 4,4% và so với vốn trực tiếp cho Chương trình thì chiếm khoảng6,7% Như vậy, nợ không lớn so với tổng nguồn vốn đã huy động xây dựng cơ sở
hạ tầng Tuy nhiên, số nợ này cần phải quan tâm xử lý trong thời gian đến
Đối với nợ cấp tỉnh, UBND tỉnh bố trí kế hoạch năm 2016 để trả nợ là 25
tỷ đồng (từ nguồn vượt thu năm 2015), phần còn lại UBND tỉnh sẽ phân bổ saukhi các địa phương quyết toán dự án hoàn thành; nợ cấp huyện thì UBND cáchuyện có kế hoạch trả nợ từ nguồn XDCB tập trung, khai thác quỹ đất và cácnguồn thu khác khi xã quyết toán dự án hoàn thành Riêng đối với nợ cấp xã sẽgiải quyết từ khai thác quỹ đất, khai thác đất nguyên liệu trong các năm đến
IV Một số giải pháp để giảm nợ xây dựng cơ bản trong thời gian qua của tỉnh Quảng Nam
Trang 14- Khi bắt tay vào xây dựng nông thôn mới, tỉnh Quảng Nam đã chỉ đạocác huyện, xã xây dựng quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới sát với điềukiện cụ thể của từng địa phương và lấy ý kiến tham gia của người dân Nhờ đó
đã có những bước đi thích hợp, cái gì dễ làm trước, khó làm sau; ít nguồn lựclàm trước, cần nhiều nguồn lực làm sau nên cũng góp phần hạn chế nợ
- Tỉnh Quảng Nam đã lồng ghép tốt các nguồn vốn từ các chương trình,
dự án khác trên địa bàn với nguồn vốn trực tiếp của Chương trình để phát huyhiệu quả đầu tư; trong đó chú trọng lồng ghép từ các nguồn như xây dựng cơbản tập trung, xổ số kiến thiết, Nghị quyết 30a, Chương trình 135, xã bãi ngangven biển, hải đảo, các chương trình mục tiêu, các đề án, cơ chế chính sách củatỉnh… để đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội ở cấp xã, gắn với việc thực hiện các tiêuchí NTM; đồng thời phát huy nội lực của cộng đồng, vận động nhân dân đónggóp sức người, sức của, hiến vật kiến trúc, cây lâu năm, quyền sử dụng đất, đểtập trung xây dựng NTM;
- HĐND tỉnh Quảng Nam đã ban hành Nghị quyết số 96/2013/NQ-HĐNDngày 12/12/2013 Quy định tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách nhà nước các cấp cho cácnội dung trong Chương trình MTQG xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh cho từnghạng mục công trình (như Nhà văn hóa xã, mức hỗ trợ tối đa phần ngân sách TW,tỉnh là 1.450 triệu đồng/nhà, nhà văn hóa thôn 300 triệu đồng/nhà, khu thể thaothôn 70 triệu đồng/khu, kênh mương 540 triệu đồng/km, trạm y tế 1.900 triệu đồng,trường học 250 triệu đồng/phòng ), nhờ đó hạn chế các địa phương đầu tư quy
mô quá lớn so với chuẩn theo quy định, vượt khả năng đối ứng của cấp xã, huyện
- UBND tỉnh đã ban hành các thiết kế mẫu, thiết kế điển hình để thực hiện
cơ chế đầu tư đặc thù như: Thiết kế mẫu nhà văn hóa - khu thể thao thôn, kênhmương, giao thông nông thôn, giao thông nội đồng, kênh ống nhựa, công trình
vệ sinh môi trường nông thôn nhờ đó giảm được chi phí đầu tư nên cũng giảmđược đối ứng của các địa phương, góp phần hạn chế nợ XDCB
- Hằng năm, trong quá trình điều hành kinh tế xã hội, UBND tỉnh đã chophép các xã xây dựng NTM được để lại 100% từ nguồn khai thác quỹ đất, chothuê đất để có vốn đối ứng đầu tư xây dựng NTM; tuy nhiên từ năm 2014,nguồn này tạm dừng lại do vướng Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực
- Ưu tiên giành ngân sách tỉnh để hỗ trợ trực tiếp cho Chương trình Qua 5năm ngân sách tỉnh đã bố trí trên 300 tỷ đồng, chưa kể các nguồn lồng ghépkhác (trên 3.870 tỷ đồng), nhờ đó cũng góp phần giảm áp lực nợ cho cấp huyện,
xã Một số hạng mục khó huy động từ các nguồn lực khác thì ngân sách tỉnh hỗtrợ 100% như thủy lợi nhỏ, thủy lợi đất màu ;
V Một số nguyên nhân xảy ra nợ đọng và kiến nghị, đề xuất
Trang 15Trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình thời gian qua đã đạt đượcnhiều kết quả, nợ đọng tuy có nhưng không lớn và không có nợ đọng sai quy định.Tuy vậy, chúng tôi thấy có một số nguyên nhân làm phát sinh nợ đọng như sau:
- Trung ương không cân đối được nguồn lực nên đã sửa đổi nguyên tắc cơ
chế hỗ trợ vốn xây dựng NTM, từ việc quy định hỗ trợ 100% từ ngân sách Trung ương cho xây dựng đường giao thông đến trung tâm xã, xây dựng trụ sở
xã, xây dựng trường học đạt chuẩn, xây dựng trạm y tế xã, xây dựng nhà văn
hoá xã được sửa đổi lại là hỗ trợ một phần từ ngân sách nhà nước tại Quyết định
số 695/QĐ-TTg Do đó một số công trình nêu trên đã thi công xong không cóvốn để trả nợ do vướng cơ chế
- Nguồn vốn xây dựng các công trình được Trung ương, tỉnh hỗ trợ bìnhquân 70-80%, phần còn lại là vốn đối ứng của địa phương (huyện, xã) Tuynhiên, do ngân sách địa phương chủ yếu trông chờ vào khai thác quỹ đất để cóđối ứng nhưng việc khai thác quỹ đất ở cấp xã đang bị trở ngại, do vướng cácquy định trong Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP(1) củaChính phủ và giá đất nông thôn thấp nên các xã chưa khai thác được quỹ đất đểtrả phần đối ứng này
- Nguồn vốn hằng năm phân bổ trực tiếp cho Chương trình còn hạn chế(bình quân 2 tỷ đồng/xã/năm) nhưng một số tiêu chí hạ tầng Trung ương quyđịnh tỷ lệ cao (như tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa 100% nhà văn hóa - khu thểthao thôn đạt chuẩn, 70% kênh mương được bê tông hóa, 50% hộ dân sử dụngnước sạch…) nên bắt buộc các xã phải tìm mọi cách để thi công đạt chuẩn theođúng quy định để đạt mục tiêu đề ra nên một số nơi vẫn còn để xảy ra nợ đọng
- Trung ương hướng dẫn phân bổ vốn TPCP bằng số cụ thể cho giai đoạn
2014-2016 (bình quân giai đoạn 2014-2016, xã thuộc đối tượng ưu tiên 1 là 2,5
tỷ đồng/xã, xã thuộc đối tượng ưu tiên 2 là 1,8 tỷ đồng/xã và các xã còn lại là 1,1 tỷ đồng/xã) tại Công văn số 582/BNN-KTKT ngày 20/02/2014 của Bộ Nông
nghiệp và PTNT và năm 2016 hướng dẫn theo tiêu chí phân bổ (hệ số: 5; 4; 1,3;1) chưa phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, cũng như tiêu chíphân bổ không bố trí vốn để trả nợ đọng xây dựng cơ bản nên rất khó cho địaphương trong việc cân đối vốn Trung ương để xử lý nợ đọng các năm trước
- Một số nội dung như xây dựng hạ tầng nghĩa trang nhân dân, các côngtrình vệ sinh môi trường nông thôn (tiêu chí số 17); chợ nông thôn (tiêu chí số 7);khu thể thao xã (tiêu chí số 6); điện (tiêu chí số 4) có trong Bộ tiêu chí Quốc gia vềnông thôn mới, nhưng Trung ương chưa quy định hỗ trợ một phần từ ngân sách
1() Nghị định 43 quy định giao cho tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện khai thác quỹ đất (trước Nghị định 43 có hiệu lực thì cấp xã được làm chủ đầu tư khai thác quỹ đất).
Trang 16Trung ương để thực hiện (theo quy định tại Quyết định số 695/QĐ-TTg) nên cũng
gây áp lực rất lớn lên ngân sách địa phương.
- Trung ương tạm dừng thanh toán 6.346 triệu đồng vốn Trung ương hỗtrợ năm 2011 đối với tỉnh Quảng Nam (trong đó, xã điểm Tam Phước: 1.767triệu đồng) theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2012 của Chính phủ vàCông văn số 3980/BTC-ĐT ngày 26/3/2012 của Bộ Tài chính, nên đã gây khókhăn cho địa phương trong thực hiện, nhiều công trình bị tạm dừng đến nay vẫn
còn nợ do chưa có hướng xử lý của Trung ương (năm 2012 - 2013, UBND tỉnh
đã có văn bản gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Chính phủ nhưng chưa được giải quyết).
Để thuân lợi trong việc hỗ trợ đầu tư, phân bổ vốn thực hiện Chương trình
và giảm phát sinh nợ đọng trong thời gian đến, chúng tôi có một số kiến nghị sau:
- Kính đề nghị Trung ương quan tâm tăng nguồn lực để thực hiện Chương
trình giai đoạn 2016-2020 (ít nhất ngân sách Trung ương hỗ trợ bình quân
20-25 tỷ đồng/xã để có điều kiện thực hiện đạt chuẩn, bằng ½ so với mức đã hỗ trợ các xã điểm Trung ương); ngoài ra, cần phân cấp cho địa phương chủ động
trong việc phân bổ vốn Trung ương hằng năm, để địa phương cân đối xử lý nợđọng và thực hiện đạt được mục tiêu số xã, số huyện đạt chuẩn NTM cho phùhợp với điều kiện cụ thể của từng xã
- Sớm hướng dẫn cơ chế quản lý vốn, cơ chế lồng ghép vốn trong Chươngtrình MTQG xây dựng NTM để phù hợp với Luật Xây dựng, Luật Đầu tư công,Luật Đấu thầu và chỉ còn 2 Chương trình MTQG; đồng thời, ban hành quy địnhchỉ tiêu, tiêu chí cụ thể và cơ chế hỗ trợ vốn từ ngân sách Trung ương đối vớicác xã đã đạt chuẩn NTM để duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí, đủ điềukiện công nhận lại sau 5 năm
- Theo Điều 13 Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 về hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư công, trong đó có nội dung quy định: gửi Báo cáo chủ trương đầu tư cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan được phân
công thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn thẩm định toàn bộ danh
mục dự án nhóm C quy mô nhỏ thuộc Chương trình MTQG Điều này rất khó
thực hiện trong phạm vi cả nước vì các danh mục dự án nhóm C quy mô nhỏhiện nay chưa được Thủ tướng Chính phủ Quyết định theo Khoản 1, Điều 13Nghị định số 136/2015/NĐ-CP
Ngoài ra, các danh mục dự án thuộc Chương trình MTQG xây dựng nôngthôn mới có vốn đầu tư nhỏ là rất nhiều danh mục(2) Điều này sẽ ảnh hưởng rất
2() Tỉnh Quảng Nam dự kiến kế hoạch trung hạn 2016-2020 cho Chương trình NTM là trên 7.000 danh mục để thực hiện mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 100/2015/QH13 của Quốc hội, với tổng nhu cầu vốn Trung ương trên 2.000 tỷ đồng, trong khi đó vốn kế hoạch trung hạn cho Chương trình NTM giai đoạn 2016-2020 được Bộ Kế
Trang 17lớn đến việc giao kế hoạch vốn Trung ương hỗ trợ năm 2016 (nếu lập thủ tục trình Trung ương thẩm định theo Điều 13 Nghị định số 136/2015/NĐ-CP thì có thể đến tháng 06/2016 mới giao vốn được cho các địa phương, lúc đó tỉnh Quảng Nam gần vào mùa mưa nên rất khó triển khai thi công)
Do đó, kiến nghị Trung ương sớm có văn bản xem xét phân cấp choHĐND cấp tỉnh thẩm định nguồn Trung ương đối với vốn Chương trình năm
2016, các năm đến cần điều chỉnh lại cho phù hợp với đặc thù của Chương trìnhNTM là “Huy động nguồn lực từ cộng đồng và người dân là quyết định, ngânsách nhà nước chỉ hỗ trợ một phần”
- Kính đề nghị Trung ương sớm bổ sung các nội dung xây dựng hạ tầng,như: Điện (tiêu chí số 4); khu thể thao xã (tiêu chí số 6); chợ nông thôn (tiêu chí số7); nghĩa trang nhân dân (tiêu chí số 17); các công trình vệ sinh môi trường nôngthôn (tiêu chí số 17) vào quy định hỗ trợ một phần từ ngân sách Trung ương nhằmtạo điều kiện cho địa phương triển khai thực hiện Chương trình được thuận lợi
- Xem xét kiến nghị Chính phủ cho tỉnh Quảng Nam thanh toán 6.346 triệuđồng vốn Trung ương hỗ trợ Chương trình NTM năm 2011 đã bị tạm dừng./
hoạch và Đầu tư tạm thông báo cho tỉnh Quảng Nam là 285,3 tỷ đồng/5 năm, bằng 14% so với nhu cầu.
Trang 18Bước vào những năm đầu thực hiện xây dựng nông thôn mới, tỉnh TháiNguyên gặp phải một số khó khăn khi triển khai đó là: bình quân tiêu chí trên địabàn toàn tỉnh đạt 4,8 tiêu chí/xã; tỷ lệ hộ nghèo cao (chiếm 17,74%), nhất là trongvùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ,manh mún; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn; đời sống vật chất
và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp; nhận thức của một bộ phận cán
bộ, đảng viên và nhân dân về xây dựng nông thôn mới chưa đầy đủ, coi đây làmột dự án nên trông chờ, ỷ lại vào đầu tư của nhà nước; Những nội dung nêutrên đã tác động trực tiếp đến việc triển khai, tổ chức thực hiện Chương trình
Thực hiện chủ trương của Đảng, quy định của Nhà nước về Chương trìnhMTQG xây dựng nông thôn mới; với nhận thức sâu sắc và xuất phát từ tình hình
thực tiễn, tỉnh Thái Nguyên xác định: “Xây dựng nông thôn mới là chương trình tổng hợp phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và đảm bảo an ninh trật tự ở khu vực nông thôn, địa bàn triển khai rộng, việc tổ chức thực hiện liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, do đó ngoài việc phân công rõ nhiệm vụ cho từng cơ quan, địa phương thì phải có
tổ chức bộ máy chuyên trách đủ mạnh để điều hành, quản lý chương trình trên địa bàn toàn tỉnh; nhân tố con người là yếu tố then chốt, quyết định đến hiệu quả công việc”
Trang 19Trước vấn đề nêu trên, Ban Chỉ đạo tỉnh đã xây dựng Đề án thành lập Vănphòng điều phối nông thôn mới ở cấp tỉnh, nêu rõ mục đích, cơ sở thực tiễn, yêucầu cấp thiết, cơ cấu tổ chức bộ máy Khi được Thủ tướng Chính phủ đồng ý vềchủ trương nêu trên, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1755/QĐ-UBNDngày 13/7/2011 về việc thành lập Văn phòng điều phối Chương trình xây dựng
nông thôn mới tỉnh; quy định rõ: “Là cơ quan trực thuộc UBND tỉnh, giúp Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 của tỉnh, Tỉnh ủy, HĐND
và UBND tỉnh về công tác chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện chương trình,
kế hoạch của Trung ương và của tỉnh về Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới; Chánh Văn phòng do một Phó trưởng Ban Chỉ đạo kiêm nhiệm; lãnh đạo Văn phòng và các phòng chuyên môn nghiệp vụ được hưởng hệ số phụ cấp chức vụ tương đương cấp Sở”
Qua thực tiễn hoạt động cho thấy mô hình tổ chức bộ máy như hiện tại đãphát huy hiệu quả tích cực trong công tác tham mưu, triển khai thực hiện Chươngtrình, thể hiện ở một điểm nổi bật như sau:
1 Là cơ quan tương đương cấp Sở, nên phát huy được đầy đủ vai trò của cơ
quan Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; công tác điều phối, phối hợp triển khaicông tác giữa Văn phòng điều phối nông thôn mới tỉnh với các sở, ban, ngành,đoàn thể tỉnh và các huyện, thành phố, thị xã rất thuận lợi; hoạt động hàng ngàyluôn nhận được sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của lãnh đạo UBND và Ban Chỉđạo tỉnh, do vậy công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện Chương trình triển khai đồng
bộ từ tỉnh đến cơ sở
2 Tham mưu ban hành kịp thời các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn triển khai
thực hiện bám sát chương trình, kế hoạch của Trung ương, nghị quyết của Tỉnh
ủy, HĐND tỉnh và kế hoạch của UBND tỉnh Tổ chức sơ kết 05 năm thực hiệnNghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tổngkết 05 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn2011-2015 đảm bảo nội dung, tiến độ theo kế hoạch
3 Từ kết quả rà soát, đánh giá toàn diện, trung thực, khách quan trên tất
cả các lĩnh vực đời sống xã hội ở khu vực nông thôn, theo quy định của Bộ tiêuchí Quốc gia về xây dựng NTM, đã xác định cụ thể những thuận lợi, khó khăncủa địa phương, trên cơ sở đó tham mưu xây dựng kế hoạch với mục tiêu, lộtrình, giải pháp thực hiện cho từng năm và cả giai đoạn 2011-2015, định hướngđến năm 2020 Tham mưu với Tỉnh ủy ban hành nghị quyết, kết luận lãnh đạo,chỉ đạo, trong đó nêu rõ:
“Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trung tâm, bao trùm của cả hệ thống chính trị”;
Xây dựng nông thôn mới theo phương châm: “Địa phương nào có điều kiện thuận lợi sẽ tập trung chỉ đạo để về đích sớm, không chờ đợi; tiêu chí dễ, cần ít tiền làm trước, khó làm sau; làm từ nhà ra ngõ, từ đồng về làng”;
Trang 20Về nguồn lực: “Tranh thủ tối đa vốn hỗ trợ từ Trung ương, bố trí ngân sách địa phương, huy động thêm các nguồn lực trong xã hội; đầu tư có trọng điểm, không dàn trải và thực hiện lồng ghép các nguồn vốn trên cùng một địa bàn; thực hiện thống nhất chủ trương vận động nhân dân hiến đất, không bồi thường GPMB cho các công trình xây dựng hạ tầng nông thôn từ tất cả các nguồn vốn”;
Các cấp, các ngành xây dựng chương trình, kế hoạch hành động, ban hànhnghị quyết và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo triển khai thực hiện bám sát vớichức năng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tạođược sự thống nhất chung trong lãnh đạo, chỉ đạo, huy động được sức mạnhtổng hợp, để triển khai thực hiện
4.Khi thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới nhận thấy có một
số điểm chưa phù hợp và khó thực hiện, đã chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành
và địa phương tham mưu với UBND tỉnh ban hành Bộ tiêu chí xây dựng nôngthôn mới của tỉnh theo hướng phân kỳ cho từng giai đoạn, với nguyên tắc không
hạ thấp chỉ tiêu của Bộ tiêu chí Quốc gia, giúp các xã thực hiện rất thuận lợi
Để tạo động lực thực hiện cũng như tháo gỡ khó, khăn vướng mắc trongquá trình tổ chức thực hiện Đã phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chínhtham mưu với UBND tỉnh ban hành cơ chế hỗ trợ kinh phí, xi măng hỗ trợ xâydựng kết cấu hạ tầng nông thôn, mô hình, dự án phát triển sản xuất; chỉ đạo các
Sở, ngành chuyên môn ban hành thiết kế mẫu đường giao thông nông thôn, kênhmương thủy lợi, nhà văn hóa xã, xóm và cơ chế hỗ trợ xây dựng; đơn giản hóatrình tự, thủ tục tự nguyện hiến và chuyển quyền sử dụng đất để giải phóng mặtbằng xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; thủ tục thanh, quyết toán các nguồn vốntrong xây dựng nông thôn mới, đã tạo bước đột phá, thay đổi rõ nét ở khu vựcnông thôn, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và phục vụ dân sinh
5 Duy trì thường xuyên, liên tục Phong trào thi đua “Thái Nguyên chung sức xây dựng nông thôn mới”, đã nhận được sự hưởng ứng, tham gia
nhiệt tình của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, huy động cả hệ thống chính trịvào cuộc, thu hút được nhiều nguồn lực trong xã hội, góp phần đẩy nhanh tiến
độ thực hiện công cuộc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh, hoàn thànhtốt các nhiệm vụ theo kế hoạch; hết năm 2015 có 40 xã đạt chuẩn nông thôn mới(chiếm 28% tổng số xã), 32 xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí, 65 xã đạt từ 10 - 14 tiêuchí, 06 xã đạt từ 5 - 9 tiêu chí
Tổng kết phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2011-2015, nhân dân và cán bộ tỉnh Thái Nguyên vinh dự được Chủ tịch nước tặngHuân Chương lao động hạng nhất; nhân dân và cán bộ huyện Đại Từ đượcChính phủ tặng Cờ thi đua; Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen cho 07 tập thể
Trang 21và 05 cá nhân; UBND tỉnh khen thưởng cho 27 tập thể và 57 cá nhân có thànhtích xuất sắc, với tổng số tiền thưởng trên 6,7 tỷ đồng.
- Kính thưa các đồng chí và toàn thể Hội nghị !
Để đạt được kết quả phấn khởi nêu trên, khẳng định là thành quả chungvới sự tham gia vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, đồng hành, hỗ trợcủa các doanh nhân, doanh nghiệp và đóng góp của người dân, trong đó có vaitrò tích cực, tham mưu đắc lực, hiệu quả của Văn phòng điều phối nông thônmới tỉnh trong triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thônmới Bước đầu chúng tôi rút ra được một số bài học kinh nghiệm như sau:
1 Tổ chức, bộ máy của cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Chương trình
xây dựng nông thôn mới cấp tỉnh phải hoạt động chuyên trách, độc lập; quy định
và phân cấp cụ thể là cơ quan trực thuộc UBND tỉnh
2 Phân công, giao nhiệm vụ cụ thể từng lĩnh vực, tiêu chí và địa bàn phụ
trách cho công chức, viên chức và lao động hợp đồng; coi trọng công tác bồidưỡng, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, gắn với kiểm tra, đônđốc cán bộ trong thực thi công vụ Kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể,
cá nhân thuộc thẩm quyền theo quy định
3 Đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị làm
việc đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ Tùy theo điều kiện thực tế của từng địaphương, có thể vận dụng các chế độ, chính sách phù hợp cho cán bộ làm côngtác chuyên trách về nông thôn mới, để động viên, khuyến khích và thu hút cán
bộ “có đức, có tài” phục vụ cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựngnông thôn mới
Trên cơ sở thực tiễn hoạt động của Văn phòng điều phối nông thôn mớitỉnh trong những năm qua, tại diễn đàn của Hội nghị tôi xin phép có ý kiến đềxuất, để Văn phòng điều phối nông thôn mới Trung ương nghiên cứu, xem xét
đó là:
Theo quy định tại Quyết định số 1996/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ: “Chánh Văn phòng điều phối nông thôn mới tỉnh do Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT kiêm nhiệm, Phó Chánh Văn phòng do Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn kiêm nhiệm Tùy điều kiện thực tế, bố trí một Phó Chánh Văn phòng làm việc chuyên trách” Chương trình MTQG xây dựng
nông thôn mới được triển khai thực hiện tổng thể cả về kinh tế - văn hóa - xãhội, xây dựng hệ thống chính trị, đảm bảo quốc phòng - an ninh ở khu vực nôngthôn; nếu lãnh đạo Văn phòng điều phối NTM tỉnh làm công tác kiêm nhiệm làkhông phù hợp với thực tiễn
Đề nghị Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương tổ chức Hộinghị chuyên đề đánh giá về hiệu quả hoạt động của mô hình tổ chức bộ máygiúp Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các cấp, để tham mưu quy định thực
Trang 22hiện thống nhất trên toàn quốc Căn cứ hiệu quả thực tế hoạt động trong nhữngnăm qua, Văn phòng điều phối nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên đề xuất trình
Chính phủ quy định rõ:“Văn phòng điều phối nông thôn mới cấp tỉnh là cơ quan trực thuộc UBND tỉnh, tương đương cấp sở; Lãnh đạo Văn phòng là cán bộ chuyên trách”, thì mới có vị trí tương xứng, đủ tầm để thực hiện đầy đủ
chức năng, nhiệm vụ theo quy định, nhất là hiện nay chỉ còn 02 Chương trìnhmục tiêu quốc gia./
VPĐP NTM TỈNH ĐẮK LẮK
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA VPĐP NTM TỈNH ĐẮK LẮK
TRONG CÔNG TÁC THAM MƯU, TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH
I Thực trạng nông thôn mới tỉnh Đắk Lắk
Tỉnh Đắk Lắk là tỉnh miền núi có vị trí địa lý ở trung tâm của vùng TâyNguyên Diện tích tự nhiên 13.125 km² Dân số trên 1,8 triệu người, gồm 47dân tộc anh em sinh sống; tỉnh có 13 huyện, 1 thị xã và 1 thành phố; có 184
xã, phường, thị trấn Vùng nông thôn có 152 xã với diện tích chiếm 97,6%diện tích toàn tỉnh; với gần 309.000 hộ, 1.335.000 khẩu, chiếm 79,3% tổng số
hộ, 77,2% số khẩu toàn tỉnh Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò, vịtrí rất quan trọng trong phát triển nền kinh tế, xã hội tỉnh Đắk Lắk Năm
2014, GDP của khu vực nông nghiệp chiếm khoảng 45% GDP của tỉnh, giảiquyết việc làm cho gần 70% lao động
Là tỉnh miền núi nên có những khó khăn do địa hình phức tạp, địa bànrộng, diện tích xã bình quân của tỉnh là hơn 8.300 ha/xã; dân cư phân tán,thưa thớt nên việc thực hiện các tiêu chí về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn
là khó thực hiện đạt chuẩn (do kinh phí đầu tư quá lớn) Đồng thời, là tỉnhcòn nghèo, việc huy động vốn để xây dựng nông thôn mới là rất khó khăn,nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số Để đạt các mục tiêu xây dựng nôngthôn mới, phải huy động kinh phí rất lớn (bình quân 200 tỷ đồng/xã)
Trước khi chưa triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới, hầu hếtcác xã của tỉnh đều ở xuất phát điểm rất thấp so với mặt bằng chung toàn quốc;Toàn tỉnh mới có 3 xã đạt từ 10-12 tiêu chí nông thôn mới, chiếm tỷ lệ 2%; 51
Trang 23xã đạt từ 5-9 tiêu chí, chiếm tỷ lệ 34%, 81 xã đạt dưới 5 tiêu chí, chiếm tỷ lệ53%, toàn tỉnh chỉ mới đạt 508/2.888 tiêu chí, chiếm tỷ lệ 17,6%; bình quân toàntỉnh chỉ mới đạt 3,34 tiêu chí/xã (toàn quốc là 4,62 tiêu chí/xã) Nhiều xã ở vùngđồng bào dân tộc thiểu số, ở các huyện nghèo, biên giới chỉ đạt 1-2 tiêu chí.
Tổng nguồn vốn huy động trong 5 năm là 37.455,5 tỷ đồng, trong đó: Vốntrực tiếp cho Chương trình nông thôn mới là 500,4 tỷ đồng; Vốn lồng ghép từchương trình, dự án khác: 7.855,3 tỷ đồng; Vốn tín dụng là: 17.718 tỷ đồng;Vốn huy động từ doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế: 1.321,9 tỷ đồng; Vốnđóng góp của cộng đồng dân cư là: 1.490 tỷ đồng; Vốn huy động từ nguồn khác:8.569,9 tỷ đồng Các hộ dân đã đóng góp hơn 792 tỷ đồng để làm mới và sửachữa đường giao thông nông thôn, kênh mương thủy lợi hiến trên 475.000 m2
đất, hơn 102.000 ngày công lao động
Sau 5 năm thực hiện Chương trình nông thôn mới, Đắk Lắk cũng đã đạtđược những kết quả quan trọng, bộ mặt nông thôn ở nhiều nơi đã được đổi mới, cơ
sở hạ tầng thiết yếu từng bước được nâng cấp, hệ thống chính trị tiếp tục được củng
cố, thu nhập của người dân được cải thiện và từng bước nâng cao đến nay có: 7
xã đạt 19 tiêu chí, 20 xã đạt 15-18 tiêu chí, 23 xã đạt 13-14 tiêu chí, 34 xã đạt 10-12tiêu chí, 62 xã đạt 5-9 tiêu chí và 6 xã đạt 3-4 tiêu chí Toàn tỉnh đạt 1.586 tiêu chí/2.888 tiêu chí, bằng 54,9% (tăng 1.078 tiêu chí so với năm 2011), bình quân toàntỉnh đạt 10,43 tiêu chí/xã, tăng 7,09 tiêu chí so với năm 2011
II Hoạt động của Văn phòng điều phối nông thôn mới tỉnh trong công tác tham mưu, triển khai Chương trình
1 Về tổ chức bộ máy
- Năm 2010, triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới,
dù chưa có hướng dẫn thống nhất của Trung ương về tổ chức bộ máy, nhưngtỉnh Đắk Lắk cũng đã thành lập Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới gồm 46thành viên, do Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban Để giúp việc cho BanChỉ đạo tỉnh, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định thành lập Tổ công tác giúpviệc gồm 14 thành viên, do 1 đ/c Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn làm Tổ trưởng, các thành viên của tổ công tác chủ yếu là côngchức của Chi cục Phát triển nông thôn và một số công chức của các sở khácđều làm việc theo chế độ kiêm nhiệm
Sau một thời gian đi vào hoạt động, bộc lộ nhiều bất cập, công tác kiêmnhiệm được thực hiện rất mờ nhạt và kém hiệu quả, chủ yếu vẫn là cán bộ củaChi cục Phát triển nông thôn tham mưu, trong khi đó, thực tiễn đòi hỏi phải cómột bộ máy giúp việc cho Ban Chỉ đạo có đủ năng lực tham mưu trên tất cả cáclĩnh vực và đầu mối trong công tác phối hợp với các Sở, ban, ngành, đoàn thểcủa tỉnh trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình
Trang 24- Năm 2012, xác định xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổngthể, một chương trình lớn cần phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị vàtoàn xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tham mưu cho UBNDtỉnh Đắk Lắk thành lập Văn phòng Điều phối Chương trình xây dựng nông thônmới tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2010 - 2020 theo Thông tư liên tịch số 26/TTLT-BNN và PTNT, KH-ĐT, BTC với cơ cấu tổ chức bộ máy như sau: Chánh Vănphòng là Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, làm việc theo chế độ kiêmnhiệm, 01 Phó Chánh Văn phòng làm việc theo chế độ chuyên trách và 01 phóChánh Văn phòng là Chi cục Trưởng Chi cục Phát triển nông thôn làm việc theochế độ kiêm nhiệm
Tổng số thành viên Văn phòng Điều phối tỉnh là 16 người, trong đó: Cán
bộ chuyên trách: 06 người (2 người là công chức được điều động từ Sở Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn; 4 người hợp đồng trong chỉ tiêu biên chế viênchức của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn); cán bộ kiêm nhiệm là 10người, từ các Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Xây dựng, Sở Tài chính, Sở Kếhoạch và Đầu tư, Văn phòng UBND tỉnh Văn phòng Điều phối có tư cách phápnhân, có con dấu, tài khoản riêng và được bố trí phòng làm việc đặt tại Sở Nôngnghiệp và PTNT; được cấp kinh phí, phương tiện để hoạt động
Sau khi Văn phòng Điều phối đi vào hoạt động, việc triển khai Chươngtrình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biết tích cực,
rõ nét hơn, đặc biệt là việc tham mưu, kiểm tra, đôn đốc, nắm bắt thông tin,hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn cho cơ sở được kịp thời; sự phối hợp và vào cuộccủa các cấp, các ngành tích cực và thuận lợi hơn
- Năm 2015, sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số1996/QĐ-TTg ngày 04/11/2014, tỉnh Đắk Lắk đã thành lập Văn phòng điều phốiChương trình xây dựng nông thôn mới cấp tỉnh trên cơ sở Văn phòng Điều phốinông thôn mới tỉnh đã thành lập từ năm 2012; với cơ cấu tổ chức bộ máy như sau:Chánh Văn phòng là Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, làm việc theo chế
độ kiêm nhiệm, 01 Phó Chánh Văn phòng làm việc theo chế độ chuyên trách và
01 phó Chánh Văn phòng là Chi cục Trưởng Chi cục Phát triển nông thôn làmviệc theo chế độ kiêm nhiệm (lãnh đạo Văn phòng Điều phối tỉnh do UBND tỉnh
bổ nhiệm, Phó CVP chuyên trách được hưởng phụ cấp chức vụ là 0,7)
Tổng số thành viên Văn phòng Điều phối tỉnh là 19 người, trong đó: cán
bộ chuyên trách: 06 người (2 người là công chức, 3 người là viên chức, 1 ngườihợp đồng theo 68 trong biên chế thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn); Cán bộ kiêm nhiệm là 14 người, từ các Sở Nông nghiệp và PTNT, SởXây dựng, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông Vận tải, Sở Nội
vụ, Kho bạc Nhà nước tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh Ngoài ra, tỉnh Đắk Lắk cóthành lập 02 phòng chuyên môn: Phòng Hành chính - Nghiệp vụ; Phòng Kếhoạch - Tổng hợp thuộc Văn phòng Điều phối tỉnh
Trang 25Văn phòng Điều phối tỉnh thực hiện chức năng tham mưu, giúp việc choBan chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh quản lý, tổ chức thực hiện chươngtrình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh và với các nhiệm vụ,quyền hạn chính như sau: Xây dựng kế hoạch, tổ chức kiểm tra, giám sát việcthực hiện chương trình; phối hợp với các ngành liên quan nghiên cứu, đề xuất cơchế chính sách và cơ chế phối hợp hoạt động liên ngành để thực hiện có hiệnquả chương trình; tham mưu xây dựng kế hoạch vốn, phân bổ và giám sát tìnhhình thực hiện vốn ngân sách và các nguồn vốn huy động khác để thực hiệnChương trình xây dựng nông thôn mới; theo dõi tổng hợp, báo cáo tình hìnhthực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn; Tham mưu, chuẩn
bị nội dung các cuộc họp, Hội nghị, Hội thảo của Ban Chỉ đạo; và thực hiện cácnhiệm vụ khác do UBND tỉnh và Ban Chỉ đạo XD nông thôn mới tỉnh giao…
Sau khi Văn phòng Điều phối xây dựng nông thôn mới tỉnh được kiệntoàn lại và đi vào hoạt động, trên cơ sở kinh nghiệm hoạt động của Văn phòngĐiều phối cũ, đã sắp xếp, ban hành quy chế hoạt động của Văn phòng, quy địnhchức năng nhiệm vụ của 2 phòng chuyên môn, từng bước đi vào hoạt động ổnđịnh và bước đầu đã phát huy được hiệu quả trong công tác tham mưu thực hiệnChương trình
Đối với Văn phòng Điều phối cấp huyện: Căn cứ Quyết định số TTg ngày 04/11/2014 của Thủ Tướng Chính phủ, Văn phòng Điều phối tỉnh đãphối hợp với Sở Nội vụ tham mưu UBND tỉnh đã có Công văn số 1826/UBND-
1996/QĐ-TH ngày 23/3/2015 V/v hướng dẫn thành lập Văn phòng Điều phối Chươngtrình xây dựng nông thôn mới cấp huyện và bố trí công chức làm công tác nôngthôn mới cấp xã Đến nay, 15/15 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đã có Quyếtđịnh thành lập VPĐP Chương trình xây dựng NTM cấp huyện Sau khi thànhlập Văn phòng Điều phối cấp huyện, công tác tham mưu, chỉ đạo thực hiệnChương trình ở cấp huyện bước đầu cũng đã chuyển biến rõ nét hơn, phát huyđược trách nhiệm và vai trò của các thành viên Ban Chỉ đạo, cũng như sự vàocuộc của các cấp, các ngành, nâng cao hiệu quả trong công tác phối hợp, chỉ đạođiều hành thực hiện Chương trình từ tỉnh đến cơ sở được đồng bộ, thống nhất
2 Công tác tham mưu, triển khai Chương trình
a) Tham mưu ban hành về các chương trình, Nghị quyết, chính sách:
- Giai đoạn 2010-2015: đã tham mưu cho Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết
số 03-NQ/TU ngày 22/4/2011 về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015
và định hướng đến 2020; Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số50/2012/NQ-HĐND ngày 6/7/2012 về việc quy định một số chính sách hỗ trợđầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và quản lý đầu tư xây dựng nôngthôn mới tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2012-2015; UBND tỉnh ban hành Quyết định
số 35/2012/QĐ-UBND ngày 28/9/2012 về việc quy định một số chính sách hỗtrợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và quản lý đầu tư xây dựng
Trang 26nông thôn mới tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2012-2015 Tham mưu UBND tỉnh banhành Quyết định số 2126/QĐ-UBND ngày 16/9/2014 về việc Ban hành bảngchấm điểm các tiêu chí nông thôn mới của tỉnh; qua đó, đã điều chỉnh để đơngiãn hóa cách đánh giá, chấm điểm các số tiêu chí nông thôn mới cho phù hợpvới tình hình của địa phương nhưng không hạ thấp tiêu chí theo quy định củaTrung ương
Phối hợp với Sở ngành tham mưu UBND tỉnh ban hành các Quyết định vềthiết kế mẫu, thiết kế điển hình một số công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nôngthôn như: Đường giao thông, kênh mương nội đồng, nhà văn hóa xã… Để hỗ trợcho cán bộ làm công tác nông thôn mới các cấp, Văn phòng Điều phối đã phốihợp với Sở Tài chính tham mưu cho UBND tỉnh ban hành quy định hỗ trợ phụcấp đặc thù, cụ thể: cấp tỉnh: 500.000 đồng/người/tháng (TTBCĐ và VPĐP);cấp huyện: 400.000 đồng/người/tháng (quy định 9 người/huyện); cấp xã:300.000 đồng/người/tháng (quy định 5 người/1 xã)
- Giai đoạn 2016 - 2020: Văn phòng điều phối tỉnh đã tham mưu HĐNDtỉnh ban hành Nghị quyết số 158/2015/NQ-HĐND ngày 10/7/2015 về xây dựngnông thôn mới giai đoạn 2015 - 2020; và Nghị quyết số 173/2015/NQ-HĐNDngày 3/12/2015 về Quy định mức hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếutrong Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Đắk Lắkgiai đoạn 2016-2020
- Văn phòng điều phối nông thôn mới tỉnh tham mưu UBND tỉnh chỉ đạocác huyện, thị xã, thành phố xây dựng Đề án về xây dựng nông thôn mới cấphuyện; đến nay, đã có 15/15 huyện, thị xã, thành phố phê duyệt Đề án nông thônmới cấp huyện giai đoạn 2010 – 2020
b) Về công tác tham mưu triển khai thực hiện Chương trình
- Về ban hành văn bản: Trong 5 năm, Văn phòng Điều phối tỉnh đã phốihợp với các sở, ban, ngành, tổ chức, đoàn thể tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND,UBND tỉnh và Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của tỉnh ban hành trên 212văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo triển khai Chương trình MTQG xây dựng nôngthôn mới của tỉnh
- Về triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình: từ khi triển khai Chươngtrình nông thôn mới, Văn phòng Điều phối tỉnh đã được giao và thực hiện tốtnhiệm vụ chủ trì xây dựng kế hoạch, phân bổ và giám sát tình hình thực hiệnvốn Ngân sách và các nguồn huy động khác để thực hiện Chương trình nôngthôn mới Thực hiện tốt công tác theo dõi tổng hợp, báo cáo tình hình thực hiệnChương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn; chuẩn bị nội dung các cuộchọp định kỳ tháng, quý, 6 tháng, năm và đột xuất của Ban Chỉ đạo và các Hộinghị của UBND tỉnh, Tỉnh ủy
Trang 27- Về công tác giám sát, kiểm tra chương trình: trong 5 năm, Văn phòngĐiều phối tỉnh đã tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức 8 đoàn đi kiểm tra tìnhhình triển khai Chương trình nông thôn mới của các huyện, thị xã, thành phố.Đồng thời, Thường trực Ban Chỉ đạo và Văn phòng điều phối của tỉnh hàng năm
đã tổ chức đoàn công tác kiểm tra tại các huyện, thị xã, thành phố, trong đó cócác xã điểm của tỉnh và huyện Trong 5 năm, Văn phòng Điều phối đã thammưu chuẩn bị tốt các báo cáo, chương trình để UBND tỉnh, Ban chỉ đạo tiếp vàlàm việc với 8 đoàn công tác của Trung ương về kiểm tra tình hình triển khaiChương trình nông thôn mới của tỉnh Đắk Lắk
- Về công tác tuyên truyền: phối hợp với các sở, ban, ngành, tổ chức,đoàn thể và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức hơn 34.000 đợt tuyên truyền vềChương trình nông thôn mới cho hơn 800.000 lượt người tham dự, cấp phát49.000 cuốn tài liệu hỏi - đáp về Chương trình nông thôn mới ; phối hợp vớiĐài Phát thanh truyền hình tỉnh xây dựng các chuyên trang, chuyên mục về xâydựng nông thôn mới; có 358 tin bài, phóng sự đến công tác chỉ đạo, hướng dẫncác địa phương triển khai chương trình
- Về Công tác đào tạo, tập huấn cho cán bộ các cấp làm công tác nôngthôn mới các cấp: ở cấp tỉnh Văn phòng Điều phối tỉnh đã trực tiếp tổ chức 40lớp đào tạo, tập huấn với 2.622 lượt người tham dự; phối hợp cấp huyện tổ chức
225 lớp với 10.100 lượt người tham dự
- Văn phòng điều phối tỉnh đã phối hợp với Văn phòng điều phối Trungương mở 01 lớp tập huấn cho cán bộ làm công tác nông thôn mới các tỉnh Tâynguyên tại tỉnh Đắk Lắk với 75 người tham dự; phối hợp với Liên minh HTXViệt Nam tổ chức 01 lớp tập huấn cho 42 cán bộ quản lý HTX trên địa bàn tỉnh
- Về phát triển sản xuất: Văn phòng Điều phối tỉnh đã trực tiếp triển khai
134 mô hình phát triển sản xuất tại các xã điểm của tỉnh với 239 hộ và 4 Hợp tác
xã tham gia với tổng kinh phí 7,55 tỷ đồng (trong đó: vốn hỗ trợ nhà nước là4,82 tỷ đồng, hộ dân góp 2,5 tỷ đồng, doanh nghiệp góp 232 triệu đồng), ngoài
ra, Văn phòng Điều phối tỉnh đã phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thànhphố triển khai hơn 350 mô hình phát triển sản xuất có hiệu quả, chủ yếu là các
mô hình trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản
3 Thuận lợi và khó khăn
- Thuận lợi:
Từ khi thành lập Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh, nhất là khiđược bố trí cán bộ chuyên trách, bước đầu việc tham mưu thực hiện Chươngtrình được tốt và chuyên nghiệp hơn; công tác lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, sâusát và đồng bộ hơn, đề cao và gắn trách nhiệm của người đứng đầu; xác định rõtrách nhiệm của thành viên Công tác tổ chức kiểm tra, đôn đốc được thườngxuyên, liên tục và kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, đồng thời định
Trang 28hướng đúng cho cơ sở trong quá trình triển khai thực hiện Vai trò điều phốiđược thể hiện rõ và hiệu quả hơn, việc triển khai các chức năng và nhiệm vụtheo hướng dẫn của Trung ương được kịp thời và có hiệu quả Việc xác địnhhoạt động của Văn phòng Điều phối là lâu dài, không quy định giai đoạn đếnnăm 2020 nên cán bộ chuyên trách của Văn phòng Điều phối yên tâm công tác,
do vậy công tác tham mưu về chương trình được tốt hơn Văn phòng Điều phốitỉnh đi vào hoạt động ngày càng chuyên nghiệp, có tiến bộ rõ rệt
- Khó khăn:
+ Mặc dù UBND tỉnh đã ban hành Quyết định thành lập Văn phòng Điềuphối nông thôn mới tỉnh, trong đó có bổ sung các công chức của các sở như: SởNông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài Chính vềcông tác chuyên trách, nhưng hiện nay chỉ mới bố trí được 2 công chức của SởNông nghiệp và Phát triển nông thôn và 3 viên chức, 1 lao động hợp đồng theo
68 Việc điều chuyển công chức từ các Sở khác về văn phòng thực hiện chuyêntrách cũng gặp nhiều khó khăn do cũng chưa có chế độ chính sách hợp lý HiệnĐắk Lắk ngoài 6 cán bộ chuyên trách, vẫn đang sử dụng công chức kiêm nhiệm
từ các sở, ngành
+ Cán bộ làm công tác nông thôn mới ở cấp huyện đa số là kiêm nhiệm,chỉ có 1-3 chuyên trách nên rất khó khăn cho công tác tham mưu, chỉ đạo, điềuhành, thực hiện Chương trình; đa số Văn phòng Điều phối cấp huyện sử dụngcon dấu và tài khoản của phòng Nông nghiệp và PTNT, hoặc phòng Kinh tế (có1/15 Văn phòng Điều phối nông thôn mới cấp huyện có con dấu và tài khoảnriêng); Phó Chánh Văn phòng Điều phối cấp huyện với trách nhiệm nặng nềnhưng chưa được hưởng phụ cấp chức vụ do chưa có hướng dẫn từ Trung ương
+ Mặc dù đã có hướng dẫn, nhưng hầu hết các xã chưa bố trí được cán bộchuyên trách làm công tác nông thôn mới; đa số chỉ bố trí làm kiêm nhiệm dothiếu biên chế
- Đề nghị Bộ Nội vụ quy định cụ thể về số lượng cán bộ công chức thựchiện công tác xây dựng nông thôn mới các cấp, cụ thể: ít nhất là 12 công chứcđối với Văn phòng Điều phối tỉnh tỉnh, 3-5 công chức đối với Văn phòng Điều
Trang 29phối cấp huyện và 01 công chức chuyên trách đối với cấp xã Quy định Vănphòng Điều phối nông thôn mới cấp huyện được có con dấu và tài khoản riêng,được bố trí kinh phí hoạt động từ ngân sách cấp huyện theo định mức cụ thể, 01Phó Chánh văn phòng điều phối chuyên trách có phụ cấp tương đương Trưởngphòng cấp huyện./.
VPĐP NTM TỈNH BẮC GIANG
KINH NGHIỆM THỰC HIỆN CƠ CHẾ PHÂN BỔ
VÀ GIÁM SÁT THỰC HIỆN NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NTM
Xác định được ý nghĩa, tầm quan trọng của Chương trình MTQG xâydựng nông thôn mới đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn, bằng sự tậptrung quyết liệt của các cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, sự vào cuộc của
cả hệ thống chính trị và đặc biệt là sự đồng thuận của người dân trong tỉnh
Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, xây dựng nông thôn mới của tỉnh BắcGiang với quan điểm làm đến đâu, chắc đến đó, tuyệt đối không lấy số lượng xãđạt chuẩn NTM làm thành tích nên sau 05 năm triển khai thực hiện nông thônBắc Giang đã có bước chuyển tích cực rất rõ nét: Cơ sở hạ tầng được đầu tưxây dựng và ngày càng nâng cấp phù hợp với xu thế phát triển chung của xãhội; Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển, ứng dụng tiến bộ khoa học côngnghệ mang lại hiệu quả kinh tế và thu nhập cao Số hộ nghèo giảm nhanh, đờisống vật chất và tinh thần của người dân từng bước được cải thiện, bộ mặt nôngthôn khang trang, hiện đại hơn
Chính vì vậy hết năm 2015, tỉnh Bắc Giang không còn xã đạt dưới 05 tiêuchí, có nhiều xã cơ bản hoàn thành các nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới song
Trang 30tỉnh Bắc Giang chỉ tiến hành công nhận cho 34 xã theo quy định đạt chuẩn.Cũng với quan điểm đó, phấn đấu hết năm 2016 toàn tỉnh có khoảng 50 xã đạtchuẩn, đến năm 2020 có khoảng 40% số xã đạt nông thôn mới và có từ 1-2huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới
Để đạt được những kết quả trên, bên cạnh công tác tuyên tuyền, vận độngtạo sự đồng thuận trong tư duy, nhận thức của cả hệ thống chính trị và đông đảonhân dân, việc xây dựng cơ chế, chính sách thực hiện phân bổ và giám sát thựchiện nguồn lực xây dựng nông thôn mới cũng được tỉnh Bắc Giang đặc biệtquan tâm Việc thực hiện cơ chế phân bổ và giám sát nguồn lực trong xây dựngnông thôn mới được thực hiện như sau:
I Về phân bổ nguồn vốn có trọng tâm, theo trình tự
1 Ban hành cơ chế thực thi nguồn vốn đã được phân bổ
Để đảm bảo dân chủ, khách quan, Văn phòng Điều phối nông thôn mớitỉnh tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành cơ chế chính sách hỗ trợcác xã xây dựng nông thôn mới và kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp vớithực tiến: Giai đoạn 2011-2015, tỉnh Bắc Giang đã ban hành Nghị quyết số06/2012/NQ-HĐND ngày 11/7/2012 về quy định mức hỗ trợ đầu tư xây dựngmột số hạng mục công trình ở các xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-
2015 Nhằm mở rộng đối tượng và tăng mức hỗ trợ, ngày 11/7/2014, Văn phòngĐiều phối tham mưu BCĐ tỉnh, UBND tỉnh trình HĐND ban hànhNghị quyết số03/2014/NQ-HĐND thay thế NQ số 06/2012/NQ-HĐND
Hiện tại, Văn phòng Điều phối tỉnh tiếp tục tham mưu giúp UBND tỉnhtrình HĐND tỉnh ban hành nghị quyết hỗ trợ các xã xây dựng nông thôn mớigiai đoạn 2017-2020 Nghị quyết quy định mức hỗ trợ đầu tư xây dựng một sốhạng mục công trình ở các xã xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh BắcGiang theo nguyên tắc phù hợp với quy hoạch xây dựng nông thôn mới của xã,nằm trong danh mục đầu tư thuộc đề án nông thôn mới của xã được phê duyệt
và nằm trong kế hoạch giao vốn hằng năm
2 Địa phương tự rà soát thực trạng, xây dựng kế hoạch nguồn vốn
Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh Bắc Giang phối hợp với UBND,BCĐ các huyện, thành phố chỉ đạo các xã chủ động rà soát các tiêu chí nông thônmới Trên cơ sở các tiêu chí đã đạt, định hướng địa phương xây dựng kế hoạchvốn tập trung ưu tiên vào các chỉ tiêu, tiêu chí chưa đạt, mang tính cấp bách
3 Kiểm tra, đánh giá tính khả thi trong việc xây dựng kế hoạch vốn
Trên cơ sở thực trạng và kế hoạch nguồn vốn mà địa phương đã xây dựng,Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh cùng với các sở, ngành liên quan tiếnhành kiểm tra, đánh giá khả năng đạt chuẩn nông thôn mới của xã theo từngnăm, đánh giá mức độ khả thi trong huy động nguồn lực đối ứng để triển khaixây dựng nông thôn mới và các cơ chế của từng địa phương
Trang 314 Tổng hợp kết quả, báo cáo BCĐ, UBND tỉnh và công khai nguồn vốn phân bổ
Từ việc kiểm tra, đánh giá của các sở, ngành liên quan, Văn phòng Điềuphối nông thôn mới tổng hợp các kết quả thẩm định, thông báo bằng văn bảntrước khi trình BCĐ, UBND tỉnh
Với những cách làm trên, quan điểm về tham mưu xây dựng phân bổnguồn vốn Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh BắcGiang của Văn phòng Điều phối tỉnh luôn được đánh giá cao Phương án đề xuấtcủa Văn phòng Điều phối được Sở Kế hoạch và Đầu tư thống nhất, trình UBNDtỉnh chấp thuận, thông qua
BCĐ, UBND tỉnh Bắc Giang công khai phân bổ nguồn vốn theo nguyêntắc không cào bằng, chia đều mà tập trung có trọng tâm, trọng điểm: Trên cơ sở
đề xuất của địa phương và quá trình kiểm tra, rà soát, Văn phòng Điều phốitham mưu UBND tỉnh có phương án phân bổ nguồn vốn ưu tiên các xã có khảnăng đạt chuẩn nông thôn mới theo năm và giai đoạn, xã khó khăn Để tránh đầu
tư dàn trải, lãng phí ngân sách, Văn phòng Điều phối tỉnh tham mưu ưu tiênhoàn thiện trước hết về giao thông, thủy lợi nội đồng để thu hút doanh nghiệpđầu tư, triển khai các mô hình sản xuất tiên tiến hiệu quả, nâng cao thu nhập củangười dân Trong phát triển sản xuất, chỉ đạo lựa chọn xây dựng mô hình có tínhmới nhằm phát huy hiệu quả, thế mạnh của địa phương Trên cơ sở quy mô, diệntích mô hình đăng ký làm cơ sở để phân bổ nguồn vốn hằng năm
5 Ủy quyền cho các huyện quyết định danh mục đầu tư
UBND tỉnh Bắc Giang quyết định phân bổ nguồn vốn hằng năm theo tiêuchí, ủy quyền cho Chủ tịch UBND các huyện phân bổ nguồn vốn đến danh mụccông trình Chương trình xây dựng nông thôn mới là chương trình nhà nước hỗtrợ, nhân dân có quyền tham gia bàn bạc, quyết định danh mục công trình đốiứng để thực hiện Bởi vậy việc ủy quyền cho Chủ tịch UBND các huyện quyếtđịnh phân vốn đến từng công trình đảm bảo cho các thôn, xã trong năm khikhông thực hiện được đối ứng có thể thay đổi danh mục hoặc chuyển sang côngtrình khác trong cùng xã
II Giám sát thực hiện nguồn lực xây dựng nông thôn mới
Trong xây dựng nông thôn mới công tác giám sát được tỉnh Bắc Giang hếtsức coi trọng, thực hiện thường xuyên và phát huy hiệu quả
1 Kiểm tra việc triển khai các hạng mục công trình
Công tác kiểm tra, đôn đốc của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đượcthực hiện khá thường xuyên, hầu hết các huyện, thành phố quy định hàng tháng,quý tiến hành giao ban với các xã trên địa bàn về tiến độ và kết quả thực hiện,kịp thời khắc phục những hạn chế trong nhận thức của cán bộ và nhân dân; nâng
Trang 32cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành, tạo sự nhất trí,đồng thuận cao trong cả hệ thống chính trị.
Thành viên Văn phòng Điều phối nông thôn mới, thành viên BCĐ tỉnhthường xuyên kiểm tra, theo dõi, đôn đốc các địa phương việc triển khai thựchiện các hạng mục công trình về tiến độ, chất lượng và việc huy động người dântham gia thực hiện Chương trình Trong huy động, luôn tôn trọng phát huy dâncông khai, tự nguyện, tuyệt đối không được ép buộc
Việc kiểm tra định kỳ và đột xuất đã kịp thời phát hiện và tháo gỡ nhữngkhó khăn, vướng mắc tại địa phương Với một số công trình qua đề xuất của địaphương và bằng kiểm tra thực tế xét thấy do nhu cầu của nhân dân cần điềuchuyển sang công trình khác hoặc điều chuyển nguồn vốn sang xã khác thì chỉđạo địa phương sớm có văn bản đề nghị điều chuyển nguồn vốn, đảm bảo theocác văn bản quy định Cách làm này đã được hưởng ứng, từ đó trong công táctuyên truyền vận động, nhân dân tự nguyện tháo dỡ tường rào, hiến đất làmđường giao thông và thực hiện đóng góp ngày công lao động hoặc tiền mặt đểxây dựng các công trình hạ tầng tại địa phương Cũng từ đó Văn phòng Điềuphối tỉnh đã kịp thời tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện rà soát, điều chỉnhđảm bảo phù hợp với điều kiện địa phương trong phạm vi khả năng ngân sách
2 Đẩy mạnh thực hiện cơ chế đầu tư đặc thù
Khuyến khích các địa phương những cách làm chủ động, sáng tạo, phùhợp với điều kiện và đặc điểm của xã, tránh rập khuôn, máy móc Tăng cườnggiao cho cộng đồng hưởng lợi tự thực hiện, tự giám sát các hạng mục công trìnhquy mô nhỏ, kĩ thuật đơn giản nhằm giảm chi phí trong thực hiện, tránh thấtthoát, lãnh phí không đáng có
Từ việc được bàn bạc, tự nguyện đóng góp và trực tiếp thi công côngtrình, người dân thấy rõ hơn vai trò, trách nhiệm của mình từ đó có quản lý côngtrình tốt hơn, khi có hỏng chủ động sửa chữa Điều đó cho thấy hiệu quả thểhiện không chỉ ở mặt kinh tế, còn thể hiện cả ý nghĩa của cả Chương trình
3 Thực hiện tốt chức năng giám sát của MTTQ và các thành viên
Ban công tác dân vận ở cơ sở, Ban thường trực ủy ban MTTQ các cấpcùng với các tổ chức thành viên đã thường xuyên tiến hành giám sát các quyđịnh về hỗ trợ, đóng góp xây dựng nông thôn mới Kết quả cho thấy việc phân
bổ được thực hiện công khai, dân chủ, có đầu tư trọng điểm vào công trình, lĩnhvực và địa phương ưu tiên Đồng thời cấp tỉnh, huyện, xã đã có ban hành nghịquyết hỗ trợ như: Hỗ trợ làm đường giao thông, thủy lợi, các công trình vănhóa Việc huy động sức dân được thực hiện theo quy chế dân chủ ở cơ sở, từviệc lựa chọn công trình đến mức đóng góp, hình thức đóng góp
Trang 33III Đề xuất, kiến nghị
Để tiếp tục có căn cứ triển khai Chương trình trong giai đoạn 2016-2020,Văn phòng Điều phối tỉnh Bắc Giang đề nghị với Văn phòng Điều phối Trungương và BCĐ Trung ương tiếp tục quan tâm tới một số nội dung sau:
1 Sớm xây dựng, hoàn thiện văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình
Hoàn thiện văn bản hướng dẫn về phân bổ nguồn vốn (nguồn vốn đầu tư
và vốn sự nghiệp), thủ tục thanh quyết toán khi hợp nhất chỉ còn 02 Chươngtrình MTQG
Thủ tục đầu tư: Đối với các công trình (trừ xã nghèo, xã đặc biệt khókhăn) được tiếp tục thanh toán vốn dự án khởi công mới khi có quyết định phêduyệt dự án trước 31/12 của năm kế hoạch và không phải lập báoc cáo đề xuấtchủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư công
Về sửa đổi bổ sung Bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới; Hướngdẫn, ban hành Bộ tiêu chí huyện nông thôn mới đề xuất giữ mức 75% số xã đạt
để phù hợp với điều kiện của các tỉnh trung du miền núi phía Bắc
2 Về nguồn vốn thực hiện Chương trình
Trong phân bổ nguồn vốn giai đoạn và hằng năm, đề nghị quan tâm tớiđiều kiện của từng địa phương như: mật độ dân số, diện tích tự nhiên, nhu cầuvốn của đại phương, khả năng đối ứng của địa phương, nhân dân; Đề nghị bổsung quy định đối với các thôn đặc biệt khó khăn (không nằm trong xã đặc biệtkhó khăn hoặc xã nghèo) được hưởng mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước như xãkhó khăn
Việc tính hệ số phân bổ nguồn vốn đối với xã nghèo, xã đặc biệt khó khăntheo công văn số 02/BCĐTW-VPĐP ngày 28/01/2016 của Văn phòng Điều phốiTrung ương về việc thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mớinăm 2016
3 Về đào tạo tập huấn
Đề nghị mở rộng thêm đối tượng là doanh nghiệp, thành viên HTX, chủtrang trại trên địa bàn xã cho phù hợp nội dung 8 về đổi mới và nâng cao hiệuquả các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn, tăng thu nhập cho người dânnông thôn Đồng thời tăng nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác đào tạo, tậphuấn xây dựng nông thôn mới hằng năm; Tăng mức hỗ trợ đi lại, ăn, nghỉ đốivới học viên là cán bộ hưởng lương cấp xã
4 Về bộ máy Văn phòng Điều phối nông thôn mới
Trang 34Mặc dù đã có Quyết định 1996/QĐ-TTg song các địa phương vẫn cònlúng túng trong việc xác định vị trí của Văn phòng Điều phối cấp tỉnh Với chứcnăng là bộ phận giúp việc BCĐ tỉnh nhưng văn bản không quy định Văn phòngĐiều phối trực thuộc cơ quan chủ quản nào, là UBND tỉnh hay Sở Nông nghiệp
và PTNT gây khó khăn trong công tác tổ chức cán bộ và bố trí trụ sở làm việc.Văn phòng Điều phối cấp tỉnh yếu về tổ chức sẽ dẫn đến khó khăn trong côngtác triển khai nhiệm vụ, đề nghị các sở, ngành phối hợp thực hiện
Đề nghị Trung ương sớm có văn bản quy định cụ thể về số lượng cán bộchuyên trách, cơ cấu phòng làm việc, chế độ phụ cấp đối với thành viên chuyêntrách, kiêm nhiệm làm nhiệm vụ tại Văn phòng điều phối nông thôn mới cáccấp; sử dụng con dấu, kinh phí hoạt động tại Văn phòng điều phối nông thônmới cấp huyện để các địa phương có căn cứ triển khai thực hiện./
VPĐP NTM TỈNH LÂM ĐỒNG
KINH NGHIỆM THỰC HIỆN CƠ CHẾ PHÂN BỔ
VÀ GIÁM SÁT THỰC HIỆN NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NTM
Lâm Đồng, một tỉnh miền núi thuộc phía Nam Tây nguyên, diện tích tựnhiên 9.773 km2 Toàn tỉnh có 12 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm 10 huyện,
02 thành phố Đà Lạt và Bảo Lộc), 147 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 117 xã,
30 phường, thị trấn), dân số 1,27 triệu người với 43 dân tộc anh em cùng sinh
sống; trong đó dân số thành thị là 37,5%, dân số nông thôn là 62,5% Đồng bàodân tộc thiểu số chiếm gần 22%, riêng đồng bào dân tộc thiểu số gốc Tâynguyên chiếm gần 17% dân số
Trên cơ sở kết quả thực hiện thí điểm mô hình xây dựng nông thôn mớicủa Trung ương tại xã Tân Hội, huyện Đức Trọng và căn cứ Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chươngtrình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, UBNDtỉnh đã phê duyệt Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020
Trang 35tỉnh Lâm Đồng trên địa bàn 117 xã của tỉnh với mục tiêu đến năm 2015 có 43 xã
và 01 huyện đạt chuẩn nông thôn mới; đến năm 2020 có 99 xã và 08 huyện đạtchuẩn nông thôn mới
Qua 5 năm triển khai thực hiện, Chương trình xây dựng nông thôn mới trênđịa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả nổi bật, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽtrong nhận thức của cán bộ, Đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, huyđộng được mọi nguồn lực để xây dựng nông thôn mới, bộ mặt nông thôn có nhiềuthay đổi, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao, Đến hếtnăm 2015, toàn tỉnh đã có 42 xã (đạt 35,9%) và huyện Đơn Dương được công nhậnđạt chuẩn nông thôn mới; thành phố Đà Lạt và Bảo Lộc hoàn thành nhiệm vụ xâydựng nông thôn mới; bình quân đạt 15,78 tiêu chí/xã, đạt chỉ tiêu đề ra Toàn tỉnh
đã huy động được 33.581 tỷ đồng cho xây dựng nông thôn mới, trong đó:
+ Nguồn vốn ngân sách nhà nước là 3.581 tỷ đồng (chiếm 10,66%).
+ Vốn người dân đóng góp là 9.143 tỷ đồng (chiếm 27,23%), trong đó: Người dân đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng là 753 tỷ đồng (chưa tính phần người dân hiến đất, hoa màu, vật kiến trúc), đầu tư phát triển sản xuất là 8.390
tỷ đồng (chỉ tính phần đầu tư xây dựng nhà kính, nhà lưới, hệ thống tưới tiên tiến tiết kiệm nước).
+ Vốn huy động từ các tổ chức, doanh nghiệp, Hợp tác xã là 4.615 tỷ
đồng (chiếm 13,74%), trong đó: Đóng góp để xây dựng cơ sở hạ tầng là 255 tỷ đồng, đầu tư phát triển sản xuất là 4.360 tỷ đồng (chỉ tính phần đầu tư xây dựng nhà kính, nhà lưới, hệ thống tưới tiên tiến tiết kiệm nước).
+ Vốn tín dụng: Dư nợ cho vay xây dựng nông thôn mới tại 117/117 xã là
16.242 tỷ đồng (chiếm 48,37%).
Những kết quả đạt được trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnhLâm Đồng là do nhiều yếu tố, trong đó việc thực hiện tốt cơ chế phân bổ vàgiám sát thực hiện nguồn lực xây dựng nông thôn mới đã góp phần quan trọngtrong toàn bộ quá trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh; trong quá trình tổ chứcthực hiện, tỉnh Lâm Đồng đã rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
1 Thực hiện cơ chế phân bổ nguồn lực
- Xây dựng các đề án: Để thực hiện tốt việc huy động, phân bổ nguồn lựcxây dựng nông thôn mới một cách hợp lý, ngoài việc xây dựng Đề án quy hoạchchung, Đề án xây dựng nông thôn mới (Đề án nông thôn mới cấp xã, Đề án nôngthôn mới cấp huyện), từng xã xây dựng Đề án phát triển sản xuất nâng cao thu
nhập cho người dân (toàn tỉnh hiện nay đã có 100% số xã đã có Đề án nông thôn mới và Đề án phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân được phê duyệt và đang triển khai thực hiện);
Trang 36UBND tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo xây dựng Đề án huyện nông thôn mớiđối với những huyện phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2010-2020
(hiện nay đã có 8/10 huyện xây dựng đề án cấp huyện, trong đó có 02 huyện đề
án đã được phê duyệt và đang triển khai thực hiện); việc phân bổ nguồn lực xây
dựng nông thôn mới hàng năm được căn cứ vào mục tiêu, lộ trình của Đề án nôngthôn mới cấp xã, huyện đã được phê duyệt
- Ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù của tỉnh: Ban chỉ đạo Chươngtrình xây dựng nông thôn mới tỉnh và UBND tỉnh đã giao các sở, ngành vậndụng, cụ thể hóa các cơ chế, chính sách, các văn bản, hướng dẫn của Trungương để áp dụng cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương; triển khailồng ghép các Chương trình mục tiêu quốc gia khác để thực hiện các mục tiêucủa Chương trình xây dựng nông thôn mới; các công trình quy mô nhỏ, kỹ thuậtđơn giản thực hiện theo cơ chế đầu tư xây dựng của Chương trình quy định tạiQuyết định số 498/QĐ-TTg ngày 21/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ;
Phát huy vai trò làm chủ của người dân trong xây dựng nông thôn mới,
thực hiện tốt chủ trương “Dân làm, thôn làm, xã làm là chính”; tỉnh Lâm Đồng
đã chủ động ban hành một số cơ chế, chính sách đầu tư các công trình xây dựngkết cấu hạ tầng nông thôn, phát triển sản xuất, dịch vụ nông thôn như: cơ chế hỗ
trợ xây dựng đường giao thông nông thôn theo phương thức “Nhân dân làm, nhà nước hỗ trợ vật tư”; cơ chế huy động các nguồn lực và tỷ lệ hỗ trợ từ ngân
sách nhà nước để xây dựng nông thôn mới; quy định mức hỗ trợ ứng dụng khoahọc, kỹ thuật và công nghệ mới; chính sách hỗ trợ phát triển Hợp tác xã; hỗ trợphát triển hệ thống ao hồ nhỏ phục vụ Chương trình xây dựng nông thôn mới
theo phương thức “Nhân dân làm công trình, nhà nước hỗ trợ ca máy”; quy
hoạch và quản lý chất thải rắn tỉnh Lâm Đồng; quy định mức hỗ trợ từ ngân sáchnhà nước cho các hoạt động phát triển sản xuất và dịch vụ nông thôn phục vụChương trình giai đoạn 2016-2020,
- Thực hiện bố trí các nguồn vốn theo hướng ưu tiên cho các xã đặc biệtkhó khăn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xã điểm, xã ưu tiên và huyện điểmxây dựng nông thôn mới Việc bố trí tập trung cho các xã đặc biệt khó khăn, xãthuộc huyện nghèo theo Nghị quyết 30a nhằm tạo nguồn lực để các xã này từngbước khắc phục khó khăn hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới giaiđoạn 2016-2020; đối với các xã điểm, xã ưu tiên và huyện điểm xây dựng nôngthôn mới, việc bố trí ưu tiên sẽ tạo điều kiện cho các địa phương này sớm hoànthành mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo lộ trình đề ra đồng thời kịp thờikhuyến khích được các địa phương làm tốt
- Ngoài căn cứ vào Đề án xây dựng nông thôn mới của xã, huyện định kỳngay từ đầu năm, Ban chỉ đạo nông thôn mới tỉnh căn cứ kế hoạch đăng ký củatừng địa phương ban hành văn bản thông báo giao chỉ tiêu kế hoạch thực hiệnnông thôn mới trong năm cho các xã, huyện Các sở ngành trên cơ sở văn bản này
Trang 37phân bổ vốn và ưu tiên bố trí, lồng ghép nguồn lực của đơn vị mình để thực hiệncác tiêu chí chưa đạt nhằm đạt được kế hoạch đề ra theo trọng tâm, trọng điểm
- Về cơ chế phân cấp đầu tư: Vốn đầu tư trực tiếp cho Chương trình xây
dựng nông thôn mới hàng năm trên địa bàn tỉnh (vốn ngân sách Trung ương và vốn ngân sách Địa phương) được phân bổ cho xã làm chủ đầu tư; việc lập kế
hoạch đầu tư, thi công, quản lý sử dụng công trình đều có sự tham gia của cộngđồng dân cư Đối với vốn lồng ghép từ các chương trình dự án, UBND tỉnh đãchỉ đạo cho các sở, ngành ưu tiên đầu tư cho các xã xây dựng nông thôn mớitheo hướng đẩy mạnh việc phân cấp cho các xã làm chủ đầu tư
- Coi trọng công tác tín dụng, khai thông mọi nguồn vốn để người dânđầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nôngthôn, cần nâng cao vai trò của tổ chức tín dụng Trong 5 năm qua, dư nợ chovay xây dựng nông thôn mới chiếm 48,37% trong tổng nguồn lực xây dựngnông thôn mới, tạo điều kiện hỗ trợ người dân trên địa bàn các xã xây dựngnông thôn mới có vốn để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, giải quyết việclàm, tăng thu nhập cho người dân nông thôn, làm tiền đề hoàn thành các tiêu chínông thôn mới khác; thực tế nợ xấu cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp nôngthôn trên địa bàn tỉnh trong 5 năm qua là rất thấp, chiếm khoảng 0,32% trongtổng số dư nợ cho vay
Để tiếp tục thực hiện tốt việc huy động vốn vay tín dụng thực hiệnChương trình nông thôn mới, cần tập trung thực hiện tốt các chính sách tín dụng
cụ thể như khuyến khích cho vay thực hiện Chương trình nông nghiệp côngnghệ cao, tái canh cà phê, các mô hình liên kết từ sản xuất, chế biến và tiêu thụsản phẩm,… thực hiện cơ chế cho vay không có đảm bảo bằng tài sản theo Nghịđịnh 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 10/TT-NHNN của Ngân hàngNhà nước Việt Nam về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp,nông thôn
2 Giám sát thực hiện nguồn lực
- Việc thực hiện cơ chế quản lý sử dụng vốn: Thực hiện theo các Quyết
định số 1429/QĐ-UBND ngày 01/7/2011 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề
án phát triển đường giao thông nông thôn phục vụ Chương trình xây dựng nôngthôn mới tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020; Quyết định số 1457/QĐ-UBND ngày15/8/2013 của UBND tỉnh Lâm Đồng về tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và
cơ chế, chính sách huy động các nguồn lực để xây dựng nông thôn mới giaiđoạn 2013-2020; Thông tư số 03/2013/TT-BKHĐT ngày 07/8/2013 của Bộ Kếhoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện Quyết định số 498/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ bổ sung quy chế đầu tư Chương trình MTQG xây dựng nôngthôn mới giai đoạn 2010-2020