Việc đẩy mạnh xuất khẩu là điều mà mọi quốc gia trong khối các nước ASEAN đều quan tâm, ngành đồ gỗ của Việt Nam cũng là một ngành có thế mạnh.. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu một số v
Trang 1Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU 1.1 Khái niệm xuất khẩu
1.2 Ý nghĩa của việc xuất khẩu
1.3 Các hình thức xuất khẩu
1.3.1 Xuất khẩu trực tiếp
1.3.2 Xuất khẩu gián tiếp
1.3.3 Xuất khẩu uỷ thác
1.3.4 Buôn bán đối lưu
1.3.5 Gia công quốc tế
1.3.6 Tái xuất khẩu
1.4 Vai trò của việc xuất khẩu
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
1.5.1 Các yếu tố bên trong nước
1.5.1.1 Nguồn nguyên liệu đầu vào
Trang 21.6 Vấn đề thúc đẩy xuất khẩu
1.6.1 Kinh nghiệm từ các nước
1.6.2 Các công cụ, biện pháp
1.6.3 Sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu
Chương 2 THỰC TRẠNG NGÀNH ĐỒ GỖ NỘI THẤT VIỆT NAM VÀ THỊ TRƯỜNG NỘI THẤT MYANMAR
2.1 Tổng quan về ngành gỗ nội thất của Việt Nam
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của ngành gỗ nội thất
2.1.2 Quy mô của ngành
2.1.3 Tổng quan về sản phẩm đồ gỗ nội thất
2.2 Thị trường đồ gỗ nội thất Myanmar
2.2.1 Tổng quan về thị trường
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.2.3 Quan hệ Việt Nam – Myanmar
2.2.4 Thị hiếu tiêu dung sản phẩm gỗ nội thất của người Myanmar
2.2.5 Tình hình cung cầu
2.2.6 Các quy định liên quan đến nhập khẩu đồ gỗ nội thất
2.3 Cơ hội và thách thức của ngành đồ gỗ nội thất Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường Myanmar
Trang 32.5.4 Phương thức thanh toán
2.5.5 Điều kiện Incoterms trong xuất khẩu
Trang 4Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ NỘI THẤT CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MYANMAR
3.1 Mục tiêu và cơ sở, quan điểm đề xuất giải pháp
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian làm đồ án môn học, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến và chỉ bảo nhiệt tình của thầy cô, gia đình và bạn bè
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Th.s Hà Đức Sơn, giảng viên Khoa
Thương Mại - trường Đại học Tài chính - Marketing người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình làm đề tài
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học Tài chính – Marketing nói chung, các thầy cô trong Khoa Thương Mại nói riêng đã truyền đạt cho em kiến thức về các môn đại cương cũng như một số môn chuyên ngành, giúp
em có được cơ sở lý thuyết vững vàng tạo nền tảng để em thực hiện được đồ án môn học
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đã luôn tạo điều kiện, quan tâm, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình thực hiện đồ án môn học
TP Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 12 năm 2015
Sinh Viên Thực Hiện
Đỗ Tấn Phát
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 7
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU 1
1.1 Khái niệm xuất khẩu 1
1.2 Ý nghĩa của xuất khẩu 2
1.2.1 Ý nghĩa lý luận 2
1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
1.3 Các hình thức xuất khẩu 3
1.3.1 Xuất khẩu trực tiếp 3
1.3.1.1 Ưu điểm 3
1.3.1.2 Nhược điểm 3
1.3.1.3 Cách thức tiến hành 4
1.3.2 Xuất khẩu gián tiếp 4
1.3.2.1 Ưu điểm 5
1.3.2.2 Nhược điểm 5
1.3.2.3 Cách thức tiến hành 5
1.3.3 Xuất khẩu uỷ thác 5
1.3.3.1 Phân loại 6
1.3.3.2 Ưu điểm 6
1.3.3.3 Nhược điểm 6
1.3.4 Buôn bán dối lưu 7
1.3.4.1 Phân loại 7
1.3.4.2 Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng buôn bán đối lưu: 8
Trang 81.3.5 Xuất khẩu tại chỗ 8
1.3.6 Gia công quốc tế 9
1.3.6.1 Phân loại 9
1.3.6.2 Ưu điểm 10
1.3.6.3 Nhược điểm 10
1.3.7 Tái xuất khẩu 10
1.3.7.1 Phân loại 11
1.3.8 Xuất khẩu tại hội trợ và triển lãm 11
1.3.8.1 Cách thức tiến hành 12
1.3.9 Hình thức đấu thầu quốc tế 12
1.4 Vai trò của việc xuất khẩu 12
1.4.1 Đối với nền kinh tế 12
1.4.1.1 Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nước 12
1.4.1.2 Đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển 13
1.4.1.3 Tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân 15
1.4.1.4 Cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta 15 1.4.2 Đối với doanh nghiệp 15
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu 16
1.5.1 Các yếu tố trong nước 16
Trang 91.5.1.1 Nguồn nguyên liệu đầu vào 17
1.5.1.2 Vấn đề tài chính 20
1.5.1.3 Lực lượng lao động 21
1.5.1.4 Công nghệ sản xuất 21
1.5.2 Các yếu tố nước ngoài 22
1.6 Vấn đề thúc đẩy xuất khẩu 22
1.6.1 Kinh nghiệm từ các nước 22
1.6.2 Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu 25
1.6.2.1 Nâng cao nhận diện thương hiệu 25
1.6.2.2 Nâng cao chất lượng sản phẩm 25
1.6.2.3 Chính sách tỷ giá 26
1.6.2.4 Chính sách thuế 27
1.7 Sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NGÀNH ĐỒ GỖ NỘI THẤT VIỆT NAM VÀ THỊ TRƯỜNG NỘI THẤT MYANMAR 31
2.1 Tổng quan về ngành gỗ nội thất của Việt Nam 31
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của ngành gỗ nội thất 31
2.1.2 Quy mô ngành đồ gỗ nội thất của Việt Nam 33
2.1.3 Tổng quan về sản phẩm ngành gỗ nội thất 34
2.2 Thị trường đồ gỗ nội thất Myanmar 36
2.2.1 Tổng quan về thị trường 36
2.2.1.1 Thị trường tiềm năng 36
Trang 102.2.1.2 Đẩy mạnh thâm nhập thị trường 38
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 39
2.2.2.1 Các chỉ số kinh tế 39
2.2.3 Tập quán 42
2.2.4 Quan hệ Việt Nam – Myanmar 43
2.2.4.1 Quan hệ Ngoại giao 43
2.2.4.2 Các Hiệp định, thoả thuận về kinh tế đã ký kết: 43
2.2.4.3 Hợp tác thương mại 44
2.2.5 Thị hiếu tiêu dung sản phẩm gỗ nội thất của người Myanmar 46
2.2.6 Tình hình cung cầu 46
2.2.6.1 Tổng quan 46
2.2.6.2 Tình hình nhập khẩu theo thị trường và sản phẩm 48
2.2.7 Các quy định liên quan đến nhập khẩu đồ gỗ nội thất 54
2.3 Cơ hội và thách thức của ngành đồ gỗ nội thất Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường Myanmar 54
2.3.1.1 Cơ hội 54
2.3.1.2 Thách thức 55
2.4 Phân tích chung tình hình xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Viêt Nam trong thời gian qua theo các tiêu chí 55
2.4.1 Theo sản lượng và kim ngạch 55
2.4.2 Theo thị trường và chủng loại 58
2.4.2.1 Xuất khẩu đồ gỗ nội ngoại thất(Mã HS: 9403) 59
Trang 112.4.2.2 Ghế bọc (khung gỗ)(Mã HS :940161) 60
2.4.2.3 Ghế không bọc, làm từ gỗ (Mã HS :940169) 61
2.4.2.4 Các loại ghế khác (Mã HS : 940180) 62
2.4.2.5 Các bộ phận của ghế (Mã HS : 940190) 63
2.4.2.6 Gỗ nội thất sử dụng trong văn phòng (Mã HS : 94033000) 63
2.4.2.7 Gỗ nội thất sử dụng trong nhà bếp (Mã HS : 94034000) 65
2.4.2.8 Gỗ nội thất sử dụng trong phòng ngủ ( Mã HS : 94035000) 67
2.4.2.9 Gỗ nội thất loại khác ( Mã HS : 940360) 68
2.5 Phân tích kết quả xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Việt Nam sang thị trường Myanmar theo các tiêu chí 70
2.5.1 Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng 70
2.5.2 Mặt hàng 71
2.5.3 Phương thức thanh toán, điều kiện Incoterms và hình thức xuất khẩu 72
2.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Việt Nam vào thị trường Myanmar 72
2.7 Dự báo về thị trường đồ gỗ nội thất Myanmar 73
CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY ĐỒ GỖ NỘI THẤT CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MYANMAR 75
3.1 Mục tiêu, cơ sở và quan điểm đề xuất giải pháp 75
3.1.1 Mục tiêu 75
3.1.1.1 Mục tiêu ngắn hạn 75
3.1.1.2 Mục tiêu dài hạn 75
Trang 123.1.2 Cơ sở đề xuất 76
3.1.3 Quan điểm 76
3.2 Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu đồ gồ nội thất của Việt Nam sang thị trường Myanmar 76
3.2.1 Giải pháp 76
3.2.1.1 Vi mô 76
3.2.1.2 Vĩ mô 85
3.2.2 Kiến nghị 89
Trang 13DANH MỤC BẢNG
BẢNG 2.1: CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ CỦA MYANMAR GIAI ĐOẠN 2011 -2014 39BẢNG 2.2: TỔNG KIM NGẠCH BUÔN BÁN HÀNG HOÁ GIỮA VIỆT NAM VÀ MYANMAR (ĐƠN VỊ TÍNH :USD) 44BẢNG 2.3 KIM NGẠCH NHẬP KHẨU SẢN PHẨM GHẾ BỌC (KHUNG GỖ) CỦA MYANMAR THEO THỊ TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2007 - 2014 48BẢNG 2.4 KIM NGẠCH NHẬP KHẨU SẢN PHẨM GHẾ KHÔNG BỌC, LÀM TỪ
GỖ CỦA MYANMAR THEO THỊ TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2007 – 2014 48BẢNG 2.5 KIM NGẠCH NHẬP KHẨU CÁC LOẠI GHẾ KHÁC CỦA MYANMAR THEO THỊ TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2007 – 2014 49BẢNG 2.6 KIM NGẠCH NHẬP KHẨU CÁC BỘ PHẬN CỦA GHẾ CỦA MYANMAR THEO THỊ TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2007 – 2014 50BẢNG 2.7 KIM NGẠCH NHẬP KHẨU SẢN PHẨM GỖ NỘI THẤT SỬ DỤNG TRONG VĂN PHÒNG CỦA MYANMAR THEO THỊ TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2007 – 2014 50BẢNG 2.8 KIM NGẠCH NHẬP KHẨU SẢN PHẨM GỖ NỘI THẤT SỬ DỤNG TRONG NHÀ BẾP CỦA MYANMAR THEO THỊ TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2007 –
2014 51BẢNG 2.9 KIM NGẠCH NHẬP KHẨU SẢN PHẨM GỖ NỘI THẤT SỬ DỤNG TRONG PHÒNG NGỦ CỦA MYANMAR THEO THỊ TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2007 – 2014 52BẢNG 2.10 KIM NGẠCH NHẬP KHẨU SẢN PHẨM GỖ NỘI THẤT LOẠI KHÁC CỦA MYANMAR THEO THỊ TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2007 – 2014 52
Trang 14BẢNG 2.11 TỔNG KIM NGẠCH NHẬP KHẨU SẢN PHẨM GỖ NỘI THẤT CỦA MYANMAR THEO THỊ TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2007 – 2014 53BẢNG 2.12: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU GỖ VÀ CÁC SẢN PHẨM VỀ GỖ GIAI ĐOẠN 2007 - 2014 58BẢNG 2.13: CƠ CẤU CHỦNG LOẠI SẢN PHẨM GỖ XUẤT KHẨU THÁNG 9 VÀ
9 THÁNG NĂM 2015 60BẢNG 2.14 KIM NGẠCH XUẤT KHẦU SẢN PHẨM GHẾ BỌC (KHUNG GỖ) CỦA VIỆT NAM SANG CÁC THỊ TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2007 -2014 60BẢNG 2.15 KIM NGẠCH XUẤT KHẦU SẢN PHẨM GHẾ KHÔNG BỌC LÀM TỪ
GỖ CỦA VIỆT NAM SANG CÁC THỊ TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2007 -2014 61BẢNG 2.16 KIM NGẠCH XUẤT KHẦU SẢN PHẢM GHẾ KHÁC CỦA VIỆT NAM SANG CÁC THỊ TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2007 -2014 62BẢNG 2.17: KIM NGẠCH XUẤT KHẦU CÁC BỘ PHẬN CỦA GHẾ CỦA VIỆT NAM SANG CÁC THỊ TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2007 -2014 63BẢNG 2.18: KIM NGẠCH NỘI THẤT VĂN PHÒNG XUẤT KHẨU THEO THỊ TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2014 64BẢNG 2.19: KIM NGẠCH NỘI THẤT NHÀ BẾP XUẤT KHẨU THEO THỊ TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - 2014 66BẢNG 2.20 KIM NGẠCH NỘI THẤT PHÒNG NGỦ XUẤT KHẨU THEO THỊ TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2014 68BẢNG 2.21 KIM NGẠCH XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ NỘI THẤT SANG MYANMAR CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2013 70BẢNG 2.22: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ NỘI THẤT THEO TỪNG MẶT HÀNG SANG MYANMAR CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 -2013 71
Trang 15BẢNG 2.23: DỰ BÁO TĂNG TRƯỞNG GDP CỦA CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC ĐÔNG NAM Á GIAI ĐOẠN 2015 - 2017 74
Trang 16DANH MỤC BIỂU ĐỒ
BIỂU ĐỒ 1.1: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU GỖ TRONG TỔNG KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003 - 2013 30BIỂU ĐỒ 2.2 XUẤT KHẨU VÀ NHẬP KHẨU GIỮA VIỆT NAM VÀ MYANMAR GIAI ĐOẠN 2010-2014 ( ĐƠN VỊ : TRIỆU USD) 41BIỂU ĐỒ 2.3 TỔNG KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU GIỮA VIỆT NAM VÀ MYANMAR GIAI ĐOẠN 2010 -2014 ( ĐƠN VỊ : TRIỆU USD) 42BIỂU ĐỒ 2.4: XUẤT KHẨU VÀ NHẬP KHẨU GIỮA VIỆT NAM VÀ MYANMAR (ĐƠN VỊ TÍNH : TRIỆU USD) 45BIỂU ĐỒ 2.5 TỔNG KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU GIỮA VIỆT NAM VÀ MYANMAR (ĐƠN VỊ :TRIỆU USD) 46BIỂU ĐỒ 2.6 TỔNG KIM NGẠCH XUẤT KHẨU GỖ NỘI THẤT VĂN PHÒNG GIAI ĐOẠN 2007 – 2013 64BIỂU ĐỒ 2.7 :TỔNG KIM NGẠCH XUẤT KHẨU GỖ NỘI THẤT NHÀ BẾP GIAI ĐOẠN 2007 – 2013 66BIỂU ĐỒ 2.8: TỔNG KIM NGẠCH NỘI THẤT PHÒNG NGỦ XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - 2013 67BIỂU ĐỒ 2.9: TỔNG KIM NGẠCH NỘI THẤT LOẠI KHÁC XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - 2013 69
Trang 17LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Sau năm 1986, nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ nền “ kinh tế tập trung bao cấp “ sang nền “ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “.Đây là một bước ngoặc quan trọng mang tính lịch sử đối với nền kinh tế Việt Nam Nền kinh tế của chúng ta sau đó đã khắc phục được những khuyết điểm của nền kinh tế cũ và phát triển rất mạnh mẽ góp phần không nhỏ trong việc nâng cao đời sống nhân dân, đưa chúng ta
từ nền kinh tế kém phát triển trở thành một nền kinh tế đang phát triển Không chỉ dừng lại ở đó, nền kinh tế của Việt Nam đã và đang vươn ra mạnh mẽ để bắt kịp xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế Xu thế này đang là xu hướng chung và phát triển rất mạnh
mẽ, lợi ích của việc toàn cầu hoá là không thể phủ nhận Do vậy, Việt Nam cũng đã tích cực trong việc tiếp nhận nó thông qua việc tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ( ASEAN ) năm 1995, Tổ chức thương mại quốc tế ( WTO ) năm 2007 và còn nhiều hiệp ước về kinh tế, cũng như các hiệp định thương mại tự do, song phương, đa phương khác nữa Trong thời gian gần đây, bên cạnh các hiệp định vừa được ký kết và được giới chuyên gia cũng như các doanh nghiệp khá quan tâm như Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược Thái Bình Dương ( TPP ), Việt Nam – EU, Việt Nam – Hàn Quốc v.v ; thì nổi bật và đáng lưu tâm chính là Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) năm
2015 Việc đẩy mạnh xuất khẩu là điều mà mọi quốc gia trong khối các nước ASEAN đều quan tâm, ngành đồ gỗ của Việt Nam cũng là một ngành có thế mạnh Vì vậy việc đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ nội thất để tận dụng thế mạnh của ngành đồ gỗ nói riêng và của việc ở trong AEC nói chung cũng là vấn đề đáng quan tâm Bên cạnh
đó, thị trường Myanmar trong những năm gần đây có những chuyển biến tích cực về mặt kinh tế-chính trị, xã hội Các yếu tố trên dẫn đến lý do em chọn :’CÁC BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ NỘI THẤT CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MYANMAR’ làm đề tài thực hành nghề nghiệp lần hai của mình
Trang 182 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề cơ bản của việc xuất khẩu, vai trò, biện pháp, và sự cần
thiết của nó đối với một quốc gia
- Phân tích hoạt động xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam đối với các nước và đặc biệt là Myanmar
- Phân tích các yếu tố tác động đến việc xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang Myanmar
- Đề ra các giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu đồ gỗ nội thất Việt Nam sang Myanmar
3 Đối tượng nghiên cứu :
Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Việt Nam sang thị trường Myanmar
4 Phương pháp nghiên cứu :
Bài này được thực hiện thông qua việc thu thập, phân tích, đối chiếu, tổng hợp các số liệu liên quan đến hoạt động xuất khẩu đồ gồ nội thất của Việt Nam, cụ thể là thị trường Myanmar
Trang 191
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU
1.1 Khái niệm xuất khẩu
Kể từ khi nền sản xuất hàng hoá ra đời, con người đã có nhu cầu trao dổi buôn bán với nhau, tuy nhiên việc trao đổi trong phạm vị một quốc gia, khu vực đôi khi chưa thoả mãn được những cầu cao hơn nữa giữa các bên trong một quốc gia, khu vực
ấy, đó chính là tiền đề cho việc xuất khẩu
Một số khái niệm về xuất khẩu :
- “ Xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đươc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật “ Trích Quốc Hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Điều 28, mục 1, chương 2 Luật thương mại Việt Nam
- “ Xuất khẩu là việc bán hàng hoá dịch vụ cho nước ngoài “ Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khải ( 2009), Giáo trình Kinh tế ngoại thương, NXB Lao Động – Xã Hội(tr 9)
Từ khái niệm trên ta nhận thấy xuất khẩu là hoạt động buôn bán hàng hoá, dịch vụ có sự tham gia của các yếu tố nước ngoài, hoặc giữa nội địa và khu vực hải quan riêng, thu về ngoại tệ Và từ đây tạo nên các các hình thức xuất khẩu khác nhau, các hình thức này sẽ được tìm hiểu sâu hơn ở mục sau
Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán trao đổi hang hoá (bao gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình) trong nội tại của một quốc gia Khi sản xuất phát tiển hay nói khác đi đó là đã được quốc tế hoá Không một quốc gia nào
có thể tồn tại và phát triển kinh tế mà lại không tham gia vào phân công lao động quốc
tế và trao đổi hàng hoá với bên ngoài hàng với bên ngoài
Trang 202
Do đó, xuất khẩu là hoạt động kinh tế đối ngoại dễ đem lại hiệu quả đột biến nếu chúng ta thích nghi tốt, và cũng có rất nhiều nguy cơ thiệt hại vì sân chơi đã lớn và đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ hơn rất nhiều
1.2 Ý nghĩa của xuất khẩu
1.2.1 Ý nghĩa lý luận
- Xuất khẩu khai thác hiệu quả lợi thế tuỵêt đối, lợi thế tương đối của đất nước
và kích thích các ngành kinh tế phát triển , góp phần tăng tích luỹ vốn, mở rộng sản xuất, tăng thu nhập cho nền kinh tế, cải thiện từng bước đời sống nhân dân
- Xuất khẩu cho phép tập trung năng lực sản xuất cho những mặt hàng truyền thống được thế giới ưa chuộng hay những mặt hàng tận dụng được những nguyên liệu
có sẵn trong nước hay nước khác không làm được hoặc làm được nhưng giá thành cao
- Thông qua hoạt động xuất khẩu đã thúc đẩy phát triển quanhệ đối ngoại với tất cả các nước nhất là với các nước trong khu vực Đông Nam Á , nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường Quốc tế
- Thông qua hoạt động xuất khẩu, ban bè trên thế giới biết đến hàng hoá của Việt Nam
1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Xuất khẩu góp phần không nhỏ vào giải quyết công ăn việc làm mới cho người lao động đồng thời tác động tích cực đến trình độ tay nghề cũng như nhận thức
về công việc của công nhân làm hàng xuất khẩu
- Xuất khẩu thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển nhất là các ngành có tiềm năng về xuất khẩu
- Xuất khẩu làm tăng giữ trữ ngoại tệ cho Quốc gia, làm tăng tổng thu nhập Quốc dân
Trang 211.3.1 Xuất khẩu trực tiếp
“Xuất khẩu trực tiếp là phương thức tham gia vào thương mại quốc tế khá phổ biến đối với các doanh nghiệp, trong đó các doanh nghiệp sẽ trực tiếp tiến hành trao đổi hàng hoá đối với các đối tác nước ngoài nhằm khai thác lợi thế so sánh giữa các quốc gia, nhằm nâng cao lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu” (Phạm Duy Liên,2013, tr18)
1.3.1.1 Ưu điểm
- Cho phép người xuất khẩu nắm bắt được nhu cầu của thị trường về số lượng, chất lượng, giá cả để người bán thoả mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường;
- Giúp cho người bán không bị chia sẻ lợi nhuận;
- Giúp xây dựng chiến lược tiếp thị quốc tế phù hợp
Trang 224
1.3.1.3 Cách thức tiến hành
Để tiến hành giao dịch trực tiếp, nhà kinh doanh cần thực hiện các công việc sau
- Nghiên cứu thị trường và thương nhân;
- Đánh giá hiệu quả thương vụ kinh doanh thng qua việc xác định tỷ giá xuất khẩu;
- Tổ chức giao dịch đàm phán thông ba gửi thư giao dịch thương mại chào hàng, báo giá, hoàn giá hoặc hai bên mua bán trực tiếp gặp nhau đàm phán giao dịch;
- Ký kết hợp đồng kinh doanh xuất khẩu;
- Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu đã ký
1.3.2 Xuất khẩu gián tiếp
“ Đây là hình thức tham gia trị trường nước ngoài một cách gián tiếp, thông qua người thứ ba để tực hiện các hoạt động giao dịch xuất khẩu hàng hoá ra thị trường nước ngoài” (Phạm Duy Liên, 2012, tr15)
Trung gian xuất khẩu trong hình thức này có thể là đại lý hoặc các nhà môi giới Trên thực tế phương thức này được sử dụng rất nhiều, đặc biệt là ở các nước kém phát triển vì các lý do:
- Lần đầu tiên tiếp cận thị trường;
- Quy mô kinh doanh còn nhỏ, các nguồn lực có hạn, chưa thể dàn trải trên thị trường nước ngoài;
- Cạnh tranh gay gắt, thị trường quá phức tạp, rủi ro cao;
- Người trung gian thường hiểu biết rõ thị trường kinh doanh còn các nhà kinh doanh thường rất thiếu thông tin trên thị trường nên người trung gian tìm được nhiều
cơ hội kinh doanh thuận lợi hơn;
- Rào cản thương mại từ phía Nhà nước
Trang 23- Phát sinh chi phí trung gian dẫn đến giảm lợi nhuận;
- Không biết được kịp thời xu hướng của thị trường, cũng như tâm lý, thị hiếu khách hàng
1.3.2.3 Cách thức tiến hành
- Thông qua hay nhiều công ty thương mại xuất khẩu hay nhà xuất khẩu chuyên doanh;
- Qua tổ chức mua gom hàng và xuất khẩu;
- Qua một hay nhiều hãng khác xuất khẩu theo kênh marketing riêng của họ;
- Qua một hay nhiều công ty quản lý xuất khẩu
1.3.3 Xuất khẩu uỷ thác
Xuất khẩu uỷ thác là hoạt động dịch vụ thương mại dưới hình thức thuê và nhận làm dịch vụ xuất khẩu Hoạt động này được thực hiện dựa trên cơ sở hợp đồng xuất khẩu uỷ thác xuất khẩu giữa các doanh nghiệp, phù hợp với những quy định của pháp lệnh Việt Nam.1
Trong hình thức xuất khẩu uỷ thác, đơn vị ngoại thương đóng vai trò là người trung gian xuất khẩu làm thay cho đơn vị sản xuất Ưu điểm của hình thức này là độ rủi
ro thấp, trách nhiệm ít, người đứng ra xuất khẩu không phải là người chịu trạch nhiêm cuối cùng, đặc biệt là không cần đến vốn để mua hàng, phí ít nhưng nhận tiền nhanh, cần ít thủ tục và vân vân
1 Hà Thị Ngọc Oanh (2009) Giáo trình Kỹ thuật Kinh doanh thương mại quốc tế, NXB Thống Kê
Trang 246
1.3.3.1 Phân loại
- Đại lý là nhà một người hoặc một công ty uỷ thác cho người khác, công ty
khác thực hiện việc mua bán hoặc dịch vụ phục vụ cho việc mua bán như quảng cáo, vận tải và bảo hiểm
- Môi giới là thương nhân trung gian giữa bên mua và bên bán, được bên mua
hoặc bên bán uỷ thác tến hành bán hoặc mua hàng hoá hay dịch vụ Khi tiến hành nghiệp vụ môi giới, người môi giới không đứng tên của chính mình, mà đứng tên của người uỷ thác, không chiếm hữu hàng hoá và không chịu trách nhiệm cá nhân trước người uỷ thác việc khách hàng không thực hiện hợp đồng
Quan hệ uỷ thác giữa người uỷ thác và người môi giới dựa trên uỷ thác từng lần, chứ không dựa vào hợp đồng
1.3.3.2 Ưu điểm
- Người trung gian là những người am hiểu thị trường, pháp luật, tập quán buôn bán của địa phương, có khả năng đẩy mạnh buôn bán và tránh rủi ro cho người uỷ thác;
- Người trung gian có cơ sở vật chất nhất định, do vậy, người uỷ thác không phải đầu tư trực tiếp ra nước ngoài;
- Nhờ dịch vụ của trung gian trong việc lựa chọn, phân loại, đóng gói, người
uỷ thác có thể giảm bớt chi phí vận tải
1.3.3.3 Nhược điểm
- Công ty kinh doanh xuất khẩu mất sự liên kết với thị trường;
- Vốn bị bên nhận đại lý chiếm dụng;
- Công ty phải đáp ứng những yêu sách của đại lý và môi giới
Vì vậy, chỉ nên sử dụng phương thức này trong những trường hợp thật sự cần thiết như:
Trang 257
- Khi thâm nhập thị trường mới;
- Khi tập quán đòi hỏi phải bán hàng qua trung gian;
- Khi mặt hàng đòi hỏi sự chăm sóc đặc biệt
1.3.4 Buôn bán dối lưu
“ Buôn bán đối lưu (Counter- Trade) hay còn gọi là hình thức xuất nhập khẩu liên kết là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng trao đổi với nhau, có giá trị tương đương Ở đây, mục đích của xuất khẩu không phải nhằm thu ngoại tệ, mà thu về một hàng hoá khác có giá trị tương đương Có hai hình thức buôn bán đối lưu chủ yếu là hàng hoá là hàng đổi hàng và trao đổi bù trừ.” (Võ Thanh Thu, 2011, tr219)
1.3.4.1 Phân loại
- Hàng đổi hàng là việc hai bên trao đổi với nhau những hàng hoá có giá trị
tương đương, việc giao hàng diễn ra hầu như đồng thời
- Trao đổi bù trừ là nghiệp vụ mà hai bên trao đổi với nhau trên cơ sở ghi giá
trị hàng giao, đến cuối kỳ hạn, hai bên mới so sánh, đối chiếu giữa giá hàng giao với trị giá hàng nhận Nếu sau khi bù trừ tiền hàng như thế mà còn số dư thì số tiền đó được giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ
Ví dụ: Nghị định thư về trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết Nga năm 1991, danh mục hàng hoá trao đổi như sau :
Xô Viết Nga -> Việt Nam Việt Nam -> Xô Viết Nga
1 Dầu thô, sản phẩm dầu thô 1 Cao su, gạo
Trang 268
4 Nhôm, sắt thép xây dựng 4 Chè các loại
5 Chất dẻo (PVC, PE) cacbon kỹ thuật 5 Dầu dừa
1.3.4.2 Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng buôn bán đối lưu:
- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal Letter of Credit): L/C chỉ có hiệu lực khi người hưởng mở một L/C khác trả lại có kim ngạch tương đương
- Dùng người thứ ba giữ chứng từ sở hữu hàng hoá, chỉ giao chứng từ cho người nhận hàng khi người này đổi lại chứng từ sở hữu hàng hoá tương đương
- Dùng một tài khoản đặc biệt ở ngân hàng để theo dõi việc giao hàng của hai bên, đến cuối một thời kỳ nhất định nếu còn số dư thì bên bị nợ hoặc phải giao nốt hàng, hoặc chuyển số dư sang kỳ giao hàng tiếp theo hoặc phải thanh toán bằng ngoại
tệ
- Quy định rõ ràng trong hợp đồng về khiếu nại và xử lý tranh chấp khi một trong các bên không thực hiện đúng về giao nhận hàng hoá
1.3.5 Xuất khẩu tại chỗ
“ Xuất khẩu tại chỗ có nhiều cách định nghĩa, quan niệm khác nhau Tuy nhiên theo luật pháp của Việt Nam thì đó là doanh nghiệp Việt Nam khác theo sự chỉ dẫn của khách hàng nước ngoài” (Phạm Duy Liên, 2012, tr79)
Trong điều kiện nền kinh tế như hiện nay xu hướng di cư tạm thời ngày càng trở nên phổ biến mà tiêu biểu là số dân đi du lịch nước ngoài tăng nên nhanh chóng Các doanh nghiệp có nhận thức đây là một cơ hội tốt để bắt tay với các tổ chức du lịch để tiến hành các hoạt động cung cấp dịch vụ hàng hoá để thu ngoại tệ Ngoài ra doanh
Trang 271.3.6 Gia công quốc tế
“ Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên dặt gia công) Người nhận gia công trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách Toàn bộ sản phẩm làm ra sẽ giao lại cho người đặt gia công và nhận tiền gia công.” ( Võ Thanh Thu,2011, tr222)
1.3.6.1 Phân loại
Trong thực tế có 3 loại hình gia công:
- Hình thức nhận nguyên liệu giao thành phẩm
Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia công Trong trường hợp này, trong thời gian chế tạo, quyền sở hữu nguyên liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công
- Hình thức mua đứt bán đoạn
Dựa trên hợp đồng mua bán dài hạn với nước ngoài Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất chế tạo, sẽ mua lại thành phẩm Trong trường hợp này, quyền sở hữu nguyên vật liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công
Trang 28- Vốn đầu tư cho sản xuất ít;
- Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động;
- Học hỏi kinh nghiệm sản xuất, công nghệ nước ngoài
1.3.6.3 Nhược điểm
- Tính bị động cao vì toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp nhận gia công phụ thuộc vào bên đặt gia công Nhiều trường hợp bên phía nước ngoài lợi dụng hình thức gia công để bán máy móc thiết bị, công nghệ lạc hậu cho Việt Nam
- Năng lực tiếp thị yếu kém, nhiều doanh nghiệp Việt Nam bị bên đặt gia công lợi dụng hạn ngạch phân bổ để đưa hàng vào thị trường ưu đãi
1.3.7 Tái xuất khẩu
“Tái xuất khẩu là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang các nước khác những hàng hoá đã mua ở nước ngoài nhưng chưa qua chế biến ở nước tái xuất” ( Võ Thanh Thu,2011, tr 225)
Mục đích của phương thức này là nhằm hưởng chênh lệch giá do mua rẻ hàng hoá ở nước hoặc khu vực hải quan riêng này, bán đắt hàng hoá ở nước hoặc khu vực hải quan riêng khác và thu số ngoại tệ lớn hơn số vốn bỏ ra ban đầu
Trang 2911
1.3.7.1 Phân loại
- Hình thức kinh doanh chuyển khẩu
Chuyển khẩu là mua hàng của một nước để bán cho nước khác mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu từ Việt Nam Hình thức này gồm các dạng sau:
Hàng hoá được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua Việt Nam;
Hàng hoá được vận chuyển đến Việt Nam những không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam mà đi luôn tới nước nhập khẩu;
Hàng hoá được vận chuyển tới Việt Nam tạm thời đưa vào kho ngoại quan rồi mới vận chuyển tới nước nhập khẩu, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam
- Hình thức kinh doanh tạm nhập – tái xuất
Kinh doanh tạm nhập – tái xuất được hiểu là việc mua hàng hoá của một nước để bán cho một nước khác trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hoá ngoại thương,
có làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá vào Việt Nam, rồi làm thủ tục xuất khẩu mà không qua gia công chế biến
- Hợp đồng tái xuất
Người kinh doanh tái xuất thường ký hợp đồng nhập khẩu và một hợp đồng xuất khẩu Hai hợp đồng này về cơ bản không khác những hợp đồng xuất nhập khẩu thông thường, song chúng là liên quan mật thiết với nhua, phù hợp nhau về hàng hoá, bao bì, ký mã hiệu, kể cả thời gian giao hàng và chứng từ hàng hoá
Việc hợp đồng nhập khẩu phải tạo cơ sở đầy đủ và chắc chắn cho việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu
1.3.8 Xuất khẩu tại hội trợ và triển lãm
Trang 3012
Hội trợ là một hoạt động định kỳ, được tổ chức vào một thời gian và địa điểm cố định trong một khoảng thời gian nhất định, tại đó người bán trưng bày hàng hoá của mình và tiếp xúc với người mua để ký kết hợp đồng mua bán
- Dự trù chi phí thực hiện triển lãm;
- Nghiên cứu tình hình hàng hoá và giá cả hiện hành trên thị trường thế giới và
ở nước đăng cai;
- Chuẩn bị nhân sự;
- Xây dựng mẫu đơn chào hàng, mẫu hợp đồng, có dự tính về giá cả, số lượng, chất lượng, yêu cầu kỹ thuật v.v …
1.3.9 Hình thức đấu thầu quốc tế
Đấu thầu quốc tế là một phương thức giao dịch đặc biệt, trong đó người mua công bố trước điều kiện mua hàng để người bán chào giá mình muốn bán, sau đó người mua sẽ chọn mua của người nào phù hợp nhất
1.4 Vai trò của việc xuất khẩu
Phần này tác giả tham khảm những lý luận của Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khải ( 2009), Giáo trình Kinh tế ngoại thương, NXB Lao Động – Xã Hội (tr 262)
1.4.1 Đối với nền kinh tế
1.4.1.1 Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nước
Trang 3113
Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình tràng nghèo và chậm phát triển của nước ta Để công nghiệp hoá đất nước trong một thời gian ngắn đòi hỏi phải có một nguồn vốn lớn, dồi dào để nhập khẩu máy móc thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến Nguồn vốn này có thể được hình
Xuất khẩu lao động v.v…
Từ đó ta thấy các nguồn từ vay mượn, viện trợ tuy rằng có lãi suất thấp nhưng ta đều phải hoàn trả bằng cách này hay cách khác Chưa kể còn chịu chi phối bởi chủ nợ nên các hoạt động chính trị của quốc gia Vì vậy, nguồn này được xem như
là cứu cánh cuối cùng cho một quốc gia đang phát triển Cho nên, nguồn vốn quan trọng nhất vẫn là xuất khẩu hàng hàng hoá Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu
1.4.1.2 Đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh
mẽ Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đổi với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 3214
Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt
quá nhu cầu nội địa Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng nếu chỉ thụ động chờ ở sự “ thừa ra “ của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm chạp Sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp
Hai là, coi thị trường và đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quan trọng
để tổ chức sản xuất Quan điểm thứ hai chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Sự tác động này đến sản xuất thể hiện ở :
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việc phát triển ngành sản xuất nguyên liệu như bông, sợi hay thuốc nhuộm, công nghiệp tạo mẫu,
Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu, dầu thực vật, chè, có thể sẽ kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho
- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với thị trường
Trang 33Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ trực tiếp đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân
Quan trọng hơn cả là việc xuất khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất (phần 2
đã trình bày) làm cho cả quy mô lẫn tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi phục, ngành nghề mới ra đời, sự phân công lao động mới đòi hỏi lao động được
sử dụng nhiều hơn, năng suất lao động cao và đời sống tinh thần được cải thiện
1.4.1.4 Cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước
ta
Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển Chẳng hạn, xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế…Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại chúng ta vừa kể lại tao tiền đề để mở rộng xuất khẩu
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nước
1.4.2 Đối với doanh nghiệp
Trang 3416
Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp có vai trò to lớn đối với bản thân các doanh nghiệp tham gia vào thương mại quốc tế
Thứ nhất, thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có điều kiện
tham gia vào các cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Những yếu tố này đòi hỏi các doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường
Thứ hai, sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao
động, tao ra thu nhập ổn định cho họ, tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng
Nó vừa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, vừa thu được lợi nhuận Sản xuất hàng xuất khẩu còn giúp doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh, đồng thời có vốn để tiếp tục đầu tư vào sản xuất không chỉ về chiều rộng mà cả về chiều sâu
Thứ ba, xuất khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở
rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước, trên cơ sở cả hai bên đều có lợi Vì vậy đã giúp doanh nghiệp tăng được doanh số và lợi nhuận, đồng thời chia xẻ được rủi ro mất mát trong hoạt động kinh doanh, tăng cường uy tín kinh doanh của công ty
Thứ tư, xuất khẩu khuyến khích phát triển các mạng lưới kinh doanh của
doanh nghiệp, chẳng hạn như hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển, các hoạt động sản xuất, Marketing cũng như sự phân phối và mở rộng kinh doanh
Như vậy, hoạt động xuất khẩu có vai trò quan trọng và có tác động tích cực tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như sự phát triển kinh tế của một quốc gia
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
1.5.1 Các yếu tố trong nước
Trang 3517
1.5.1.1 Nguồn nguyên liệu đầu vào
- Đặc điểm của nguyên vật liệu
Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần phải có đầy đủ các yếu tố cơ bản, đó là: lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Nguyên vật liệu
là đối tượng lao động, là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất
Nguyên vật liệu là đối tượng lao động đã trải qua tác động của lao động con người và được các đơn vị sản xuất sử dụng làm chất liệu ban đầu để tạo ra sản phẩm
Nguyên vật liệu có các đặc điểm: sau mỗi chu kỳ sản xuất, nguyên vật liệu được tiêu dùng toàn bộ hình thái vật chất ban đầu của nó không tồn tài Nói khác đi, nguyên vật liệu bị tiêu hao hoàn toàn hay bị biến dạng đi trong quá trình sản xuất và cấu thành hình thái vật chất của sản phẩm
Giá trị nguyên vật liệu được chuyển dịch toàn bộ và chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra, nguyên vật liệu không hao mòn dần như tài sản cố định
- Vai trò của nguyên vật liệu
Từ đặc điểm cơ bản của nguyên vật liệu, ta có thể thấy nguyên vật liệu được xếp vào tài sản lưu động, giá trị nguyên vật liệu thuộc vốn lưu động Nguyên vật liệu
có nhiều loại, thứ khác nhau, bảo quản phức tạp Nguyên vật liệu thường được nhập xuất hàng ngày
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm được sản xuất Thông thường trong các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu thường chiếm một tỷ trọng rất lớn trong chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, nên việc tiết kiệm nguyên vật liệu và sử dụng đúng mục đích, đúng kế hoạch
Trang 36để tăng thêm sản phẩm mới cho xã hội, tiết kiệm được nguồn tài nguyên vốn không phải là vô tận
Từ những nhận định trên ta thấy, để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu cụ thể là ngành đồ gỗ nội thất, việc sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn nguyên liệu đầu vào là hết sức quan trọng
- Thực trạng
Việt Nam hiện đã trở thành một trong những trung tâm chế biến trong chuỗi cung ứng toàn cầu, với các sản phẩm chế biến được tiêu thụ trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ Tuy nhiên, do không phải là quốc gia có nguồn cung gỗ nguyên liệu nên ngành chế biến gỗ Việt Nam vẫn đang phụ thuộc tương đối lớn vào nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu (trong đó bao gồm nhóm gỗ tròn và gỗ xẻ) Trong khi các quốc gia nhập khẩu gỗ của Việt Nam ngày càng quy định chặt chẽ về tính hợp pháp của gỗ, việc nhập khẩu lượng lớn gỗ nguyên liệu từ các quốc gia nơi có nguồn gốc gỗ vẫn còn nhiều tranh cãi cho thấy sự phát triển của ngành vẫn tiềm ẩn nhiều rủi do về mặt thị trường
Trong khi đó, ngành chế biến và xuất khẩu dăm gỗ liên tục phát triển trong một thập kỷ qua được cho là nguyên nhân làm mất cơ hội cho ngành chế biến gỗ Bởi hai ngành này cùng sử dụng nguyên liệu đầu vào là gỗ rừng trồng và 70-80% sản lượng
gỗ rừng trồng được đưa vào chế biến dăm phục vụ xuất khẩu Với các doanh nghiệp chế biến gỗ, xuất khẩu dăm là xuất khẩu nguyên liệu thô, mang lại hiệu quả kinh tế và
xã hội hạn chế
Trang 3719
Bên cạnh đó các cơ chế chính sách của Nhà nước liên quan đến quản lý và phát triển nguồn tại nguyên rừng trồng theo hướng giảm lệ thuộc vào nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu thông qua việc hạn chế xuất khẩu dăm và khuyến khích trồng rừng gỗ lớn Việc hạn chế sự phát triển của ngành dăm nếu tạo được gỗ lớn sẽ tạo cơ hội cho việc gia tăng giá trị sản phẩm, từ đó đem lại lợi ích kinh tế cho cả ngành chế biến gỗ và người trồng rừng Việc hạn chế xuất khẩu dăm nhằm tạo gỗ lớn sẽ đạt được hiệu quả nếu các cơ chế chính sách tạo được động lực cho các hộ đầu tư vào trồng rừng gỗ lớn
Để các hộ làm được điều này chỉ áp dụng chính sách thuế xuất khẩu dăm sẽ là chưa đủ
Hộ trồng rừng cần nguồn giống cây tốt, nguồn tín dụng ưu đãi… để đầu tư cho chu kỳ dài hơn so với chu kỳ nguyên liệu cho dăm
Chủ trương làm tăng giá trị gỗ rừng trồng, tăng hàm lượng công nghệ trong sản phẩm xuất khẩu của nhà nước là chủ trương đúng và cần được ủng hộ Tuy nhiên, mỗi hécta rừng trồng đúng tuổi sẽ cung cấp cho ngành chế biến gỗ 70% sản lượng, 30% sản lượng còn lại cho chế biến dăm gỗ, ván dép, viên than nén… Nếu dăm gỗ bị đánh thuế xuất khẩu và quản lý bằng hạn ngạch thì giá trị 30% còn lại sẽ bị giảm, như vậy thu nhập người trồng rừng cũng sẽ giảm Do vậy, các chính sách mới phải thúc đẩy ngành trồng rừng phát triển theo hướng tăng diện tích, năng suất, giá trị; thu nhập người trồng rừng phải có lãi, có tích lũy để tái đầu tư
Theo các chuyên gia lâm nghiệp, các doanh nghiệp chế biến gỗ cần tăng giá thu mua
gỗ để khuyến khích người trồng rừng tăng chu kỳ khai thác gỗ Việc xác định ưu tiên cho ngành chế biến gỗ hay ngành dăm đòi hỏi phải có những nghiên cứu sát thực về thực trạng của nguồn cung nguyên liêu hiện tại cho cả hai ngành và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn cung này
Năm 2014, Việt Nam nhập khẩu 2 triệu m3 gỗ xẻ (tương đương 2,8 triệu m3 gỗ quy tròn) và 1,4 triệu m3 gỗ tròn từ 115 quốc gia và vùng lãnh thổ Tổng giá trị nhập khẩu
Trang 38sự tồn tại tư cách pháp nhân của doanh nghiệp trước pháp luật
Về mặt kinh tế: Khi các doanh nghiệp đảm bảo nhu cầu về vốn thì doanh nghiệp đó có khả năng chủ động trong các hình thức kinh doanh, thay đổi công nghệ, mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ cho kinh doanh, điều này khá quan trọng vì nó
sẽ giúp doanh nghiệp hạ được giá thành sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong xã hội
Có thể nhận thấy được vai trò quan trọng của vốn đối với các doanh nghiệp Nhờ có nó mà các doanh nghiệp có thể thay đổi được trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất trong thời gian ngắn Nó mang lại cho doanh nghiệp được nhiều lợi thế như; cải tiến được mẫu mã, giảm giá thành sản phẩm, giảm được sức lao động cho nhân
Trang 3921
công mà vẫn đáp ứng được chất lượng của sản phẩm và nhu cầu của thị trường điều
mà các doanh nghiệp luôn mong muốn Nhờ đó mà các doanh nghiệp sẽ đáp ứng được nhu cầu của thị trường, nâng cao uy tín của mình trên thương trường mà vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cho các nhà đầu tư
1.5.1.3 Lực lượng lao động
Công nhân có tay nghề là một yếu tố rất quan trọng trong những ngành sản xuất chế tạo, đặc biệt là trong ngành đồ gỗ nội thất đòi hỏi cả tính kỹ thuật và nghệ thuật Tuy chúng ta có lực lượng lao động lành nghề cao nhưng vẫn còn những hạn chế
về cách quản lý, lương bổng cũng như nhiều vấn đề khác mà trong phạm vi bài này không bàn đến Vấn đề cốt lõi là ngành đồ gỗ của Việt Nam cần nâng cao hơn nữa lực lượng lao động có tay nghề Thực tế mà xét, hiện tại ít có cơ sở giáo dục nào đào tạo nghề mộc một cách bài bản khoa học Điều đó đồng nghĩa với việc phần lớn thợ mộc hiện nay được đào tạo từ kinh nghiệm người đi trước, mang tính chất “ bắt trước “ nhiều hơn là được đào tạo bài bản Đây có thể xem là hạn chế lớn nhất đối với lực lượng lao động nghề mộc của Việt Nam
Dù còn nhiều vấn đề như thế, nhưng hiện nay các doanh nghiệp sản xuất đồ
gỗ nội thất đã đưa máy móc thiết bị vào trong quá trình sản xuất Các mẫu mã, kiểu dáng có thể phải mất hàng nhiều năm một người thợ mới có thể học để làm được thì nay máy móc thiết bị được lập trình có thể làm chính xác hơn với chi phí ít hơn Điều này đặt ra một vấn đề lớn cho nhân sự trong khâu thiết kế, cần đảm bảo có tính sáng tạo cao để thiết kế các mẫu mã phù hợp thị hiếu người tiêu dùng
1.5.1.4 Công nghệ sản xuất
Công nghê thiết bị cho ngành sản xuất nói chung và ngành đồ gỗ nội thất nói riêng của Việt Nam hiện tại chưa đủ khả năng để cạnh tranh với nước ngoài Các sản phẩm đồ gỗ của chúng ta tương đối còn đơn giản, đối với các mẫu mã có nhiều chi
Trang 4022
tiết hoa văn phức tạp thì hiện tại chúng ta chưa ứng dụng máy móc nhiều Hầu hết các sản phẩm này phụ thuộc vào cách làm thủ công
1.5.2 Các yếu tố nước ngoài
Về mặt công nghệ sản xuất và vốn thì doanh nghiệp Việt Nam hiện chưa có khả năng cạnh tranh mạnh mẽ, vì hầu hết các doanh nghiệp nội thất của Việt Nam ở quy mô vừa và nhỏ Những doanh nghiệp lớn thì đã chuyển hướng sang kinh doanh đa ngành, và có thể tạm kết luận ngành đồ gỗ nội thất không còn là thế mạnh của họ Tuy nhiên về trình độ nhân công và chi phí nhân công thì đây lại là ưu thế mạnh nhất của các doanh nghiệp Việt Nam Sắp tới, như đã đề cập ở trên việc gia nhập vào kinh tế thế giới sẽ mạnh mẽ hơn bao giờ hết Đây là cơ hội lớn cho các ngành nghề của Việt Nam nói chung và nội thất nói riêng tiếp cận các thị trường mới, và đẩy mạnh xâm nhập vào các thị trường hiện sẵn Những có một vấn đề mâu thuẫn rằng hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đã quá chú trọng vào xuất khẩu từ trước những hiệp định này Làm cho họ phụ thuộc quá nhiều vào thị trường xuất khẩu mà bỏ quên thị trường nội địa Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, họ không còn sự lựa chọn nào khác là quay về thị trường nội địa và đây cũng là lúc họ mất vị thế của mình Vấn đề chú trọng xuất khẩu chỉ là vấn đề ngắn hạn, việc duy trì hoạt động trong thời khủng hoảng kinh tế mới giữ vai trò quan trọng, giúp doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu
1.6 Vấn đề thúc đẩy xuất khẩu
1.6.1 Kinh nghiệm từ các nước
Việc so sánh lợi thế canh tranh của Việt Nam so với các nước khác trong vấn
đề sản xuất đồ gỗ nội thất để từ đó rút ra bài học giá trị là hết sức cần thiết
Nội thất