1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

124 417 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số các tác giả Việt Nam đương đại đề cập đến vấn đề vô thức và đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết, Nguyễn Bình Phương là nhà văn tiêu biểu, vì trước hết anh là nhà văn có ý th

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1.Vấn đề vô thức đã xuất hiện từ rất lâu nhưng nhận ra sớm nhất và đầy đủ nhất là Sigmud Freud Freud được biết đến như một triết gia đầu tiên phân tích sự hiện hữu của tâm linh vô thức, sự can thiệp của vô thức vào đời sống ý thức của con người một cách có hệ thống và bài bản nhất S.Freud đã

đề ra thuyết vô thức cá nhân và khẳng định nó là vùng cận ý thức của nhân

cách Ông chia kết cấu con người ra làm ba hệ thống: hệ thống ý thức, hệ

thống tiền ý thức, hệ thống vô thức Đặc biệt quan tâm đến giấc mơ, Freud

cho rằng giấc mơ là sự trung gian giữa cuộc sống của những tình cảm được che giấu và cuộc sống được đem đặt dưới sự chi phối của lý trí chúng ta

Thuyết vô thức của Sugmud Freud sau này đã được học trò xuất sắc của ông là Carl Gustal Jung phát triển theo hướng gắn vô thức với ý thức tập thể của con người Vô thức tập thể, theo Jung, là kí ức của loài người, là kết quả của đời sống thị tộc Vô thức tập thể tồn tại trong mọi người và mỗi người, là

cơ sở của tâm trạng cá nhân và căn cước văn hóa tộc người Vô thức tập thể

được ngưng kết thành những cổ mẫu (archétype), tức những mô hình nhận thức

và những hình tượng Chúng được truyền từ thế hệ người này sang thế hệ người khác bằng con đường vô thức được Jung gọi là di truyền văn hóa

Yếu tố vô thức đã ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: triết học, y học, tâm lí học, văn học…Đặc biệt

từ cuối thế kỉ XIX văn học trên thế giới đã xuất hiện một khuynh hướng sáng tác đi sâu vào đời sống tâm linh, vô thức của con người Từ đó mở ra con đường giúp nhà văn đi sâu vào thế giới bí ẩn bên trong của con người, và thông qua hình tượng nhân vật nhà văn khám phá những điều mới mẻ trong tâm hồn con người

Trang 2

1.2 Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 còn tương đối dè dặt trong việc đề cập đến những vấn đề mang tính chất tế nhị thuộc về đời sống riêng tư của mỗi con người Nhưng sau năm 1986 cùng với sự đổi mới đất nước, đổi mới tư duy của con người, tiểu thuyết Việt Nam đã có nhiều tín

hiệu mới, nhiều khuynh hướng tìm tòi thể nghiệm, quẫy cựa để “ khơi thông

dòng chảy” ( Nguyên Ngọc ), tiểu thuyết đã mạnh dạn miêu tả sắc dục, tình

yêu nhục thể - những cái thuộc về đời sống bản năng, đời sống tâm linh của con người Nhiều tác phẩm văn học Việt Nam đương đại phản ánh đời sống

tâm linh vô thức, đời sống tình dục của con người là: Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu), Tấm ván phóng dao (Mạc Can)…

1.3 Trong số các tác giả Việt Nam đương đại đề cập đến vấn đề vô thức và đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết, Nguyễn Bình Phương là nhà văn tiêu biểu, vì trước hết anh là nhà văn có ý thức trong việc đổi mới nội dung và tìm tòi thể nghiệm những kỹ thuật tiểu thuyết mới của phương Tây nhằm hiện đại hóa tiểu thuyết; thứ hai Nguyễn Bình Phương cũng là một trong số ít các nhà văn đương đại đề cập nhiều về vấn đề vô thức trong tiểu

thuyết của mình Từ tác phẩm đầu tay Bả giời (1991), đến Vào cõi (1991),

Những đứa trẻ chết già (1994), Người đi vắng (1999), Trí nhớ suy tàn”(2000), Thoạt kỳ thủy (2003), Ngồi (2006), Nguyễn Bình Phương đã phản ánh những

mâu thuẫn trong quan hệ con người, những đối lập giữa hành vi và bản chất, giữa bản năng và nhân cách Vô thức đã thực sự trở thành đối tượng miêu tả trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, trở thành thế giới đầy bí ẩn tồn tại song song biệt lập với thế giới hiện thực Nhà phê bình Đoàn Cầm Thi đã

nhận xét: “ Nguyễn Bình Phương có lẽ là nhà văn Việt Nam đương đại đã đẩy

cuộc thăm dò về vô thức đi xa nhất Vì thế tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

đã giúp con người nhận ra giá trị và ý nghĩa đích thực của cuộc sống, đồng

Trang 3

thời hiểu được chính tâm hồn mình và tâm hồn người khác Nguyễn Bình Phương cũng ý thức rõ hành trình tìm kiếm sự đổi mới nghệ thuật tự sự bằng nhiều hình thức hết sức phong phú đa dạng, không tiểu thuyết nào lặp lại tiểu thuyết nào Mỗi tác phẩm có một kết cấu riêng vừa lạ lẫm vừa thú vị Cùng những cách tân về ngôn ngữ giọng điệu, không gian, thời gian, điểm nhìn trần thuật cũng như khai thác yếu tố tình dục như một phương diện để khám phá

ẩn ức của con người và góp phần làm nên phần chìm của tảng băng trong tác

phẩm của ông Đó là “một lối đi riêng” của Nguyễn Bình Phương trong dòng chảy văn học đương đại

Với lí do trên tác giả luận văn lựa chọn đề tài “Yếu tố vô thức và sự đổi

mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”, qua đó khẳng

định giá trị nhân văn và những đóng góp quan trọng của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương vào tiến trình cách tân tiểu thuyết Việt Nam đương đại

2 Lịch sử vấn đề:

Việc nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ Qua khảo sát các bài nghiên cứu về tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương chúng tôi đã chọn lọc và tạm phân loại thành hai nhóm chính theo hướng nghiên cứu của luận văn như sau:

2.1 Nhóm các bài nghiên cứu chung về Nguyễn Bình Phương

Bài “Một số đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Bình

Phương”[26], Trương Thị Ngọc Hân đã đưa ra những nhận định khá đầy đủ,

chính xác và rõ ràng về tài năng nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương: “đi vào tác phẩm của Nguyễn Bình Phương, ta nhận thấy một lối viết rất riêng biệt, mới mẻ từ cách nhìn hiện thực, tiếp cận nhân vật, sáng tạo cốt truyện, xây dựng không gian thời gian cho đến sử dụng ngôn từ” Tác giả bài viết cũng khẳng định ba yếu tố nổi bật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương là: sự biểu đạt hiện thực phân mảnh, hiện thực không bị xé lẻ, phân tách; cấu trúc

Trang 4

xoắn kép nhiều mạch chạy song song và sử dụng yếu tố kỳ ảo, “ đó cũng là nền, là phông cho những nhân vật đầy phức tạp của Nguyễn Bình Phương xuất hiện” Bước vào trang văn của Nguyễn Bình Phương ta thấy “ảo xen thực, thực thấm vào ảo, ảo và thực hòa quyện nhiều khi không phân tách rõ ràng”, “yếu tố ảo như một cách thức làm nhòe ranh giới của hiện thực song lại cho ta một cảm giác rất thật về cuộc sống” Tuy nhiên tác giả Trương Thị Ngọc Hân mới chỉ đề cập đến yếu tố độc đáo nổi bật mà trong đó việc tái hiện

vô thức là một biểu hiện cho hướng tiếp cận riêng của Nguyễn Bình Phương Tác giả bài viết chưa thực sự đi sâu phân tích vấn đề vô thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương với tư cách là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo và một quan niệm nghệ thuật của nhà văn

Nhà phê bình văn học Phùng Gia Thế có một loạt bài viết về Nguyễn

Bình Phương: “Cảm quan đời sống và những cách tân nghệ thuật trong tiểu

thuyết Nguyễn Bình Phương” [61] và “Cảm nhận tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương” [60], đã quan tâm đến những dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết

Nguyễn Bình Phương, đó là “câu chuyện tâm thức của con người thời đại” Tác giả cũng cho rằng: “cái hấp dẫn trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thể hiện trước tiên ở kiểu cảm quan đời sống đặc thù biểu hiện qua những thế giới nghệ thuật độc đáo” Người viết khẳng định: tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương mới trước hết ở cấu trúc “lỏng lẻo, đa dạng, song hành xoắn vặn….nó

có thể dung chứa bao nhiêu cái hỗn độn, xộc xệch vốn có của cuộc đời” Cái mới trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương còn thể hiện ở ngôn từ “ngôn từ ở đây như được phát ra từ cõi vô thức sâu thẳm mịt mù ”, đặc biệt Nguyễn Bình Phương “có lẽ là nhà văn sử dụng triệt để các yếu tố bản năng vô thức và tình dục để giải phẫu cõi nhân tâm con người”, “Tiểu thuyết của anh có nhiều ám ảnh giấc mơ, mộng mị.”

Trang 5

Về vấn đề vô thức trong Thoạt kỳ thủy, Phùng Gia Thế đưa ra nhận xét:

“Một câu chuyện triền miên, vô hậu, triệt để vô thức, miên man ảo ảnh, xót xa đau đớn thân phận con người” “Qua Tính, những vùng tối tăm khuất lấp tận đáy vô thức mộng mị con người được phô bày tận độ… với điểm nhìn người điên này, Nguyễn Bình Phương muốn đưa văn chương tới những cõi bờ mà người tỉnh táo không thể giải thích minh định, gọi tên” Như vậy, Phùng Gia Thế đã nhấn mạnh sự ảnh hưởng của cảm quan đời sống hậu hiện đại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, còn vấn đề vô thức đã được Phùng Gia Thế nhắc đến nhưng chỉ là cơ sở để Phùng Gia Thế khẳng định năng lực thâm nhập vào cõi tâm linh con người của nhà văn Nguyễn Bình Phương, nó chưa thực sự được khai thác như một cách tân nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương

Đoàn Ánh Dương trong “Lục Đầu giang tiểu thuyết” [17] có cách nhìn

nhận khá sâu sắc, cụ thể về cách tân nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương trên phương diện thi pháp nghệ thuật: kết cấu đan lồng song hành, tiểu thuyết trong tiểu thuyết, tiểu thuyết – huyền – sử, tiểu thuyết – thơ, tiểu thuyết – nhật

kí, tiểu thuyết – điện ảnh Đoàn Ánh Dương cũng khái quát vấn đề vô thức trong sáng tác Nguyễn Bình Phương: “Trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương cái vô thức vẫy gọi ảo huyền và từ trong cái ảo huyền đó, phần

vô thức trong sâu thẳm tâm can con người trở nên sáng rõ Nó như một thế giới khuất lấp bấy lâu nay được dựng dậy để hô ứng với hiện tồn mờ mịt hoang tàn, đổ nát của đời sống hiện tại” Tác giả Đoàn Ánh Dương cũng nhấn mạnh tính đa chiều của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương: “Nguyễn Bình Phương phải huy động được trí tưởng tượng hơn nữa, phải khơi sâu vào phần

vô thức chìm khuất trong mỗi con người ” “Các xung lực vô thức cộng đồng

là những vấn đề cốt yếu làm nên tính mờ nhòe và đa nghĩa của tác phẩm” Như vậy, Đoàn Ánh Dương đã nhận ra vai trò của vô thức trong việc tạo nên

Trang 6

tính đa nghĩa cho tác phẩm, tác giả chỉ xem vô thức như một điểm tựa để làm nổi bật những cách tân về thi pháp của Nguyễn Bình Phương

“Người đi vắng, ai đọc Nguyễn Bình Phương hay nỗi cô đơn của tiểu thuyết cuối thế kỉ” [28] của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng chỉ ra tính chất lạ hóa

hiện đại trong nội dung, hình thức biểu hiện và quan niệm trong tư tưởng Nguyễn Bình Phương Nguyễn Mạnh Hùng cũng có đề cập đến vấn đề vô thức nhưng rất mơ hồ “Nguyễn Bình Phương là tiểu thuyết gia đầu tiên ở Việt Nam có ý thức tạo dựng nhân vật bằng một hệ thống ám ảnh…Nhân vật của Nguyễn Bình Phương giấu kín những ám ảnh của mình và sống với nó” Những ám ảnh mà Nguyễn Mạnh Hùng đề cập chính là một phần của vấn đề

vô thức, tuy nhiên tác giả bài viết mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận xét, đánh giá chung chung chứ chưa thực sự đi sâu phân tích cụ thể

2.2 Nhóm các bài viết vấn đề vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

Đoàn Cầm Thi trong bài “ Người đàn bà nằm từ Thiếu nữ ngủ ngày,

đọc Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương” [70] đã phát hiện ra tiểu thuyết

Nguyễn Bình Phương “ ý thức được quyền uy của tính dục”, “anh còn đi xa hơn trong cuộc khai phá tình dục khi anh đặt khái niệm này bên cạnh tâm linh….tình dục và tâm linh đi liền nhau, bổ sung nhau” Đoàn Cầm Thi cũng phát hiện ra giữa Nguyễn Bình Phương và Freud là khoảng cách “không xa”

“khi quan niệm tình dục là khởi điểm, như biểu hiện mãnh liệt nhất của cuộc sống, đồng thời là một hình thức tự hủy” Ông khẳng định: tình dục trở thành mục tiêu nghiên cứu và phương diện chính của thi pháp Nguyễn Bình

Phương Còn trong bài “Sáng tạo văn học: giữa mơ và điên – Đọc Thoạt kỳ

thủy của Nguyễn Bình Phương” [69] nhà phê bình Đoàn Cầm Thi cũng chỉ ra

vấn đề vô thức: “ các giấc mơ, dù được diễn đạt vô cùng lộn xộn, chúng phản ánh những trạng thái khác của tâm hồn Tính” Tác giả đưa đến nhận xét:

Trang 7

“Nguyễn Bình Phương có lẽ là nhà văn Việt Nam đương đại đã đẩy cuộc thăm dò về vô thức đi xa nhất.”

Là người quan tâm đặc biệt đến sáng tác của Nguyễn Bình Phương,

Thụy Khuê trong hai bài viết: “Thoạt kỳ thủy trong vùng đất Cận Cam hoang

vu của Nguyễn Bình Phương” [31] và “Sóng từ trường II” [33], Thụy Khuê

đã có nhận định khá sâu sắc về khuynh hướng hiện thực huyền ảo với sự tồn tại của hai cõi âm – dương của những “điềm” báo với diễn biến của nhiều thế

hệ sống và chết trên mảnh đất Thái Nguyên Tiểu thuyết Người đi vắng là một

“hiện thực linh ảo âm dương, một thế giới bao gồm thiên nhiên, vật giới, hiện tượng và con người”, “sự kỳ ảo đến từ các hiện tượng siêu linh, có thể là mê tín, hoang tưởng, là bệnh hoạn, là mê hoặc, nhưng có thể chỉ đơn thuần là sự sống của vật giới và linh giới bên cạnh chúng ta mà chúng ta không biết nhưng Nguyễn Bình Phương đã đem đến những hiện tượng không giải thích được ấy vào tiểu thuyết, trình bày như một quan niệm bao quát hơn về vũ trụ, nhân sinh, kết hợp cỏ cây, vật giới, hiện tượng âm dương Tất cả đều đi tìm

bản thể của mình…” Với Trí nhớ suy tàn nhà phê bình Thụy Khuê tập trung

phát hiện những thành tố của tiểu thuyết Mới trong tác phẩm: “Trí nhớ và sự suy tàn của trí nhớ như hai thành tố cấu tạo nên tiểu thuyết của anh Đây là…một tạp ghi của trí nhớ, viết vội kẻo sợ chóng tàn, là một chuỗi hồi ức của một người con gái không biết tên gì ghi lại những ấn tượng chao đảo giữa hai

người tình” Thoạt kỳ thủy, theo Thụy Khuê là “bài thơ dài đẫm máu và nước

mắt, đẫm tang thương, đẫm huyền mộng, viết về hành trình của một cộng đồng, dù đã nửa phần điên loạn, vẫn không biết mình đang đi dần đến toàn phần điên loạn…”, Thụy Khuê nhấn mạnh điểm mới trong Thoạt kỳ thủy:

“Thoạt kỳ thủy là cuốn tiểu thuyết khác thường, khó đọc, bởi lối hành văn và cấu trúc truyện lạ, một thứ Thoạt kỳ thủy trong văn chương mang dấu ấn sáng tạo…” Như vậy, Thụy Khuê khi nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Bình

Trang 8

Phương đã quan tâm nhiều đến bút pháp hiện thực huyền ảo, tuy có đề cập đến vấn đề vô thức nhưng chưa thực sự đặt vấn đề vô thức thành nét nghệ thuật đặc sắc trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương

Những năm gần đây, một số luận văn cũng đi sâu vào tìm hiểu tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương và vấn đề vô thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, đáng chú ý nhất là các luận văn sau:

Báo cáo khoa học “ Cuộc thăm dò cái vô thức trong Thoạt kỳ thủy” của Đặng Thị Lan Anh [8], yếu tố vô thức được thể hiện ở bốn khía cạnh: mờ hóa

nhan đề, mờ hóa cốt truyện, mờ hóa nhân vật và dị thường hóa- ảo giác hóa

sự tha hóa của nhân sinh Tác giả Đặng Thị Lan Anh đã khá xuất sắc khi

nhận diện ra vai trò của vô thức như một khía cạnh mới trong quan niệm nghệ thuật về con người , từ đó đưa ra lời “hãy cảnh giác và kịp thời ngăn chặn nguy cơ mất nhân tính khi còn chưa muộn” Tuy nhiên tác giả bài viết chưa

đề cập vấn đề vô thức một cách đầy đủ như một thủ pháp nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương để tạo nên thành công của tác phẩm và tạo nên nét riêng của nhà văn trong dòng chảy văn học đương đại

Đáng quan tâm nhất là luận văn Thạc sĩ của Ngô Thị Lan Anh “Vô

thức nhân vật – góc độ phân tâm học” [9] đã triển khai vấn đề vô thức từ góc

độ nhân vật và được soi sáng bằng phân tâm học Luận văn đi sâu vào biểu đạt của vô thức nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương là: giấc mơ lúc ngủ, giấc mơ tỉnh thức Đồng thời đề cập đến bản năng sống và bản năng chết, qua đó giúp nhà văn hiểu sâu sắc những góc khuất, nỗi đau, sự sợ hãi trong mặc cảm thầm kín của tâm hồn nhân vật Đây là một luận văn đề cập đến vấn đề vô thức khá đầy đủ nhất, tuy nhiên vấn đề vô thức cần được xem xét ở nhiều khía cạnh và nội dung hơn

Như vậy, những người nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương đều phát hiện ở anh có sự độc đáo nào đó ở nội dung hoặc ở nghệ thuật xây

Trang 9

dựng tiểu thuyết, mỗi tác giả lại sử dụng một hệ thống lí luận riêng làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu của mình Vấn đề vô thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương là một vấn đề lớn nhưng chưa được quan tâm thỏa đáng Việc nghiên cứu yếu tố vô thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

để góp phần chứng minh năng lực thâm nhập tâm hồn người và tài năng nghệ thuật của nhà văn một cách đầy đủ thì chúng tôi là người đầu tiên tiến hành

Đề tài mới là thế mạnh nhưng đồng thời cũng mang đến nhiều bất cập đòi hỏi chúng tôi phải nỗ lực khắc phục để tiến hành luận văn này

3 Mục đích của luận văn:

Kế thừa những kết quả nghiên cứu nói trên, luận văn của chúng tôi nghiên cứu về vấn đề vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương với mục đích tìm hiểu các biểu hiện vô thức cũng như các thủ pháp nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương trong việc thể hiện vô thức trong tiểu thuyết để qua đó thấy được quan niệm của nhà văn về con người hiện đại Đồng thời góp thêm tiếng nói khẳng định nét tư duy độc đáo, những đóng góp mới của nhà văn cho nền văn xuôi Việt Nam đương đại

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Tác giả luận văn tập trung khảo sát các tiểu thuyết chính của Nguyễn Bình Phương là:

4.1 Những đứa trẻ chết già (NXB Văn học, 1994 )

4.2 Người đi vắng (NXB Văn học, 1999)

4.3 Trí nhớ suy tàn (NXB Thanh Niên, 2000)

4.4 Thoạt kỳ thủy (NXB Văn học, 2004)

4.5 Ngồi (NXB Đà Nẵng, 2006)

5 Phương pháp nghiên cứu:

5.1 Phương pháp hệ thống, để thống kê và đánh giá những thành công của Nguyễn Bình Phương ở cả phương diện nội dung và nghệ thuật

Trang 10

5.2 Phương pháp phân tích tác phẩm, để qua đó phân tích một số tác phẩm của Nguyễn Bình Phương

5.3 Phương pháp so sánh, qua đó so sánh Nguyễn Bình Phương với một số tác giả khác

6 Đóng góp của đề tài:

6.1 Có những kết luận khoa học về vấn đề vô thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, tiếp tục mở rộng con đường đi vào thế giới nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương

6.2 Phân tích những biểu hiện của vô thức và nghệ thuật biểu hiện vô thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Qua đó khẳng định tài năng và đóng góp của nhà văn trong văn xuôi đương đại Việt Nam

7 Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần mở đầu kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Vấn đề vô thức và vô thức trong văn học

Chương 2: Biểu hiện của vô thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

Chương 3: Đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương nhìn từ phương diện nội dung

Trang 11

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ VÔ THỨC VÀ VÔ THỨC TRONG VĂN HỌC

1.1 Vấn đề vô thức

1.1.1 Vô thức trong cấu trúc tâm lí

Vô thức trước khi được xem xét như một mật mã để mở ra cửa ngõ vào thế giới văn chương vốn là một thuật ngữ chuyên nghành triết học và tâm lí học Do đó để tìm hiểu cho đến ngọn nguồn của khái niệm vô thức là cần thiết

để thấy được sự khác nhau cũng như sự chuyển hóa giữa trạng thái vô thức thông thường và vô thức trong văn chương

“Vô thức” theo “Từ điển Tiếng việt” nghĩa đơn giản nhất là “Những gì

ở mình mà bản thân con người hoàn toàn không ý thức được [47;1085] Theo

lí giải chiết tự của “Từ điển Hán Việt” (Thiều Chửu): “vô” nghĩa là không,

“thức” nghĩa là nhận thức, tri giác về thế giới; vô thức là không ý thức được tri thức mình thu nhận và hành động của mình với thế giới xung quanh [16; ]

Theo “Từ điển triết học” [55;677] lại phân chia vô thức thành ba dạng

thức khác nhau: “hành vi”, “những quá trình tâm lý phức tạp” và “một lĩnh vực tâm lý đặc biệt” nhưng đều tồn tại trong thể tách biệt với ý thức

1 Những hành vi được thực hiện một cách thụ động theo phản xạ, khi nguyên nhân của nó chưa kịp đi vào ý thức, cũng như ý thức không hành động một cách tự nhiên nhân tạo

2 Những quá trình tâm lí phức tạp không trực tiếp tham gia vào mối quan hệ có ý thức chủ thể đối với hiện thực và do đó lúc này chủ thể không ý thức được quá trình đó (tiềm thức)

Trang 12

3 Một lĩnh vực tâm lí đặc biệt không tập trung những ý hướng, động

cơ, những ham muốn vĩnh viễn và bất biến mà ý nghĩa của chúng được quyết định bởi bản năng, còn ý thức thì không thể biết được

Nhìn từ góc độ tâm lý học, vô thức được hiểu là: “những cảm nghĩ không nhận ra được, như là ẩn náu trong cõi lòng tối tăm , nhưng vẫn chi phối hành vi” “Những xung lực bản năng đó khi vấp phải những ràng buộc của thực tế bị dồn nén lại, rồi biểu hiện thành những hành vi tưởng chừng như rất

xa lạ với các xung năng ấy” [56;398]

“Từ điển Tâm lý học” (Vũ Dũng chủ biên) luận giải cụ thể hơn: “vô

thức” được xem như là tập hợp các quá trình hoạt động, các trạng thái tâm lí vốn bắt nguồn từ đời sống thực tại nhưng chủ thể không ý thức được xuất xứ của chúng Do vậy chủ thể không có khả năng thực hiện sự kiểm tra có chủ ý đến hành động và đánh giá những kết quả của chúng Trong thế giới vô thức, nhận thức của con người không đúng tiến trình: cảm giác, tri giác, biểu tượng

và các quá trình logic thông thường Trong đó không lạ gì việc quá khứ, hiện tại, tương lai cùng hiện hữu, liên kết với nhau trong hành vi tâm lí nào đó (giấc mơ) Từ những lí giải trên các nhà nghiên cứu qui toàn bộ thế giới vô thức phức tạp về hai hình thức tồn tại cơ bản: thói quen hay một loại phản ứng

từ lâu đã ăn sâu vào nhịp điệu sinh học của cơ thể, người ta thực hiện nó mà không phải tư duy, cân nhắc và những trạng thái không giải thích được như mộng du, mê sảng hay những hành động bột phát không thể đoán trước và kiểm soát

1.1.2 Vô thức trong cái nhìn của học giả phương Đông

Thế kỉ XIX là thế kỉ bùng nổ của những học thuyết, trong đó học thuyết

về cái vô thức là một trong những khám phá tạo tiếng vang lớn có khả năng tác động đến nhiều mặt trong đời sống con người Nhiều người cho rằng, học thuyết của Freud đã “làm thay đổi trật tự của vũ trụ” đặc biệt là những quan

Trang 13

niệm về cuộc sống cũng như bản chất của con người bị đảo lộn Thậm chí có người còn so sánh S Freud với C.Marx, nếu C.Marx làm thay đổi đời sống vật chất của con người thì S.Freud làm thay đổi đời sống tinh thần của con người

Tuy nhiên, vấn đề vô thức không phải đến Freud mới khám phá và phát hiện ra mà trước Freud vấn đề vô thức đã được ít nhiều nhắc đến trong cái nhìn của học giả phương đông và phương tây

Từ xa xưa các học giả phương Đông đã nhắc đến vấn đề vô thức qua

cách lí giải về cảm hứng sáng tác của người nghệ sĩ một cách “linh tính” Lưu

Hiệp đời Tề (465-520) trong cuốn Văn tâm điêu long nói: “Tình vãng tự tặng,

hứng lai như đáp” dịch là: tình đến như tặng, hứng đến như đáp, tình cảm biến đổi theo cảnh vật tự nhiên mà biến đổi, và tác phẩm là sản phẩm của tình cảm

Đó chính là “xung động sáng tác” của người nghệ sĩ

Lục Cơ trong cuốn Văn phú đã nói: “lai bất khả ái, khứ bất khả chỉ”

nghĩa là: “Hứng đến không thể ngăn, hứng đi không thể giữ” [61;108] khi nó đến tư tưởng bỗng nhiên khai khiếu, văn tứ như gió thổi từ trong lòng ra, ngôn ngữ như dòng suối từ khe răng môi tuôn ra, ý tứ dạt dào phong phú, cuồn cuộn chảy, theo tay viết ra thành tác phẩm Ông không giải thích nguyên nhân sáng tác là do đâu, ông qui điều đó là do “thiên cơ” hay còn gọi là trời phú cho mỗi người, là nhân tố chủ quan thuộc loại “linh tính”

Tô Thức (1037-1101) là nhà nghệ thuật nổi tiếng đời Tống đã nói:

“hữu sở bất năng tự dĩ nhi tác giả” (trong Nam hành tiên tập tự) dịch là

“không thể đừng được mới sáng tác”, điều này nghĩa là khi nào nảy sinh cảm hứng “xung đột sáng tác” tới mức không viết không được thì mới tiến hành sáng tác [61; 102]

Công việc sáng tác của người nghệ sĩ chẳng khác nào mây nước chảy, chịu ảnh hưởng của ngoại lực mà phát sinh một cách tự nhiên vô thức, nó

Trang 14

“trôi chảy” hay “ngừng lại” đều theo cảm hứng ở trong lòng mà quyết định, cảm hứng chảy hết rồi, thì công việc cũng dừng lại

Còn Trịnh Bản Kiều khi bàn về sự sáng tác của mình thì nói rằng:

“hứng kéo đến như gió mưa” làm cho “bút mực chạy linh tính xuất hiện”

(Cuốn: Hữu tặng Mẫu Sơn)

Tác giả Viên Mai (1715-1797) tự là Tử Tài, hiệu là Giản Trai, người huyện Tiền Đường, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc Trong cuốn Tùy Viên thi

thoại đã bàn về thơ, lấy “tính linh” làm gốc; theo ông, tính linh là cái phong

phú tự nhiên mà nhà văn nhà thơ bỗng cảm nhận được, không cần cảnh giới lớn hay nhỏ, cách điệu hay cao thấp, chỉ cần có tính linh thì là thơ hay Trong thuyết “tính linh”, Viên Mai đề cập đến ba yếu tố phương diện của chủ thể sáng tác cần phải có: chân tình, cá tính, thi tài Viên Mai nhấn mạnh đến yếu

tố thi tài, thiên bẩm là nhân tố trời cho, trong quá trình sáng tác người nghệ sĩ

dễ nảy sinh “linh cơ” và “cảm hứng” tức là hiện tượng linh cảm Ông cho rằng “làm thơ mà hứng đến thì dễ thành” (tác thi hứng, hội sở chí, dị vu thiên thành), khi ấy thi nhân ở trong cao trào cảm hứng sáng tác và thời gian linh cảm tồn tại rất ngắn nên phải khéo nắm bắt, giống như “Thương nhạn tài kiến tiên sinh cầm” (vừa thấy nhạn biển thì bắt ngay) Sự xuất hiện của linh cảm tương thông với ngoại vật, tính ngẫu nhiên và tất nhiên của linh cảm thống nhất với nhau vì có khi “thường ngày tìm nó” không thấy, nhưng lại “bất chợt được nó” [61; 209]

Như vậy, trong trạng thái linh cảm ùn ùn kéo tới người nghệ sĩ nắm bắt không kịp giây phút ấy họ chỉ việc hạ bút một cách vô thức Các học giả Phương Đông thời xưa ít nhiều đã đề cập đến vấn đề vô thức trong sáng tạo nghệ thuật, tuy nhiên họ chưa gọi tên khoa học “vô thức” như ngày nay nhưng

họ đã ý thức được quá trình sáng tạo vô thức của người nghệ sĩ và phản ánh vấn đề vô thức trong tác phẩm văn học của mình

Trang 15

Vô thức là kho chứa những cảm xúc, những tình cảm, những ham muốn, những giận hờn…bộ “dồn nén” vào bên trong, kho chứa những “mặc cảm mang màu sắc cảm xúc” Với Freud thì con người gồm có bản năng tính dục (Id), bản ngã (Ego) và siêu ngã (Superego) – cái vượt qua khỏi cái tôi Với Jung cái vượt khỏi cái tôi là “vô thức tập thể”, một chiều sâu chung của tâm thức con người Văn học phương Đông từ xa xưa đã tiếp cận với phân tâm học, yếu tố vô thức của văn họcpPhương Đông đã được Jung đánh giá trong bài tựa

“Bình giảng tâm lí” (1935), Jung đã so sánh Phương Đông và Phương Tây như sau: “Phương Đông có thể sẵn sàng bỏ cái ngã (ego) khá dễ dàng hình như chỉ

ra một cái tâm lí không phải là cái tâm bình thường của chúng ta Chắc chắn cái ngã không đóng vai trò trong tư tưởng Phương Đông như nó đã giữ vai trò ấy trong văn hóa chúng ta Có lẽ như tâm thức Phương Đông ít qui ngã hơn, những nội dumg của nó nối kết lỏng hơn với chủ thể, sự nhấn mạnh lớn lao hơn được đặt vào những trạng thái tâm thức mang tính vô ngã ”

1.1.3 Vô thức trong cái nhìn của học giả Phương Tây

Trước Freud, các nhà triết học phương Tây đã ít nhiều nhắc đến yếu tố

vô thức trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Thời cổ đại, Platon cho rằng: nội tâm là phần ý thức, là tư duy và tư

tưởng Platon đã nhận ra sự hiện hữu của vô thức nhưng lại xếp vô thức vào lĩnh vực sinh lí và con người có thể ý thức được vô thức

Thế kỉ XIX Hegel bàn đến tính linh cảm trong sáng tạo nghệ thuật, linh

cảm của người nghệ sĩ là điều không hẹn mà đến hay đến mà không sao đoán trước được, cũng không sao cản lại được “Dù là thiên tài vĩ đại tối ngày nằm dài trên thảm cỏ xanh đón gió hiu hiu thổi lại, ngửa mặt ngắm trời trong, trước sau nguồn linh cảm đều vẫn không ngó ngàn đến ông ta ”[18]

Còn Maritain cho rằng “toàn bộ tác phẩm nghệ thuật đều do tính trực

giác sáng tạo sinh ra”, cơ sở của tính trực giác sáng tạo là “tinh thần vô thức”,

Trang 16

ông cho rằng nguồn gốc của mọi hoạt động con người dù là lý tính (lí trí) hay phi lý đều gom về một mối là tinh thần vô thức Maritain cũng qui sự sáng tạo nghệ thuật là một thứ vô thức, sự thôi thúc của “lý trí tiềm thức”[19] Đúng như vậy, trong sáng tác nghệ thuật rất cần đến trạng thái linh cảm, tuy nó mang tính thần bí, nhưng điều đó không có nghĩa là trong căn bản hình thành tác phẩm, linh cảm ngẫu nhiên quyết định Linh cảm có thể bắt gặp nhưng không thể cầu mong mà có được

Friedrich Nietzsche (1844-1900) nhà triết học, giáo sư, nhà văn Đức,

đại biểu tiêu biểu của Chủ nghĩa phi lí và ý chí luận lại cho rằng: ý thức

không đáng tin cậy, ông kêu gọi mọi người quay về với thể xác và coi tư duy thể giác là vô thức, hoàn thiện hơn tư duy ý thức Ông cũng đề cao vai trò của bản năng, ông lí giải mọi khả năng và số phận mỗi con người đều tùy thuộc vào sức mạnh thần bí đó

Đến thế kỉ XX, Triết học trực giác của Bergson ra đời, ông đi vào “thế

giới bên trong” - thế giới thần bí cắt đứt với xã hội, ông cho rằng: tâm linh con người gồm cả hai khả năng cơ bản: trí tuệ và trực giác Trí tuệ chỉ có thể nhận thức được thế giới vật chất bên ngoài chứ không thẻ hiểu được bản chất

sự sống, nó hoàn toàn bất lực trước cái phi vật chất, không nắm bắt được dòng

ý thức sâu xa của đời sống “bên trong” Do đó trực giác – con đường nhận thức có tính vô thức được ông tuyệt đối hóa cùng với việc đề cao đến mức thần bí hóa “bản năng sâu thẳm” của con người

Sigmund Freud tuy không phải là người đầu tiên đưa ra khái niệm vô

thức nhưng với một loạt tác phẩm: Giải đoán giấc mộng (1900), Tâm lí bệnh

học đời thường (1904), Ba bài giảng về lí thuyết tình dục (1905)…ông là

người chứng minh được sự tồn tại của vô thức trong tâm lí con người bằng những thực nghiệm khoa học chứ không phải chỉ là cảm thấy Theo Freud

“tâm lý học trước đây chỉ dừng lại ở ý thức, ý thức hữu thức” tức là lí trí mà

Trang 17

ông gọi là “tâm lý học bề mặt” Còn vô thức chính là “tâm lý học miền sâu” [19] Ông chia quá trình tâm lý của con người thành ba bậc: ý thức, tiềm thức

và vô thức

- Ý thức (Conscious): tầng mức độ hoạt động của tâm lý mà con người

có thể nhận biết thông qua tư duy, ý tưởng và cảm xúc

- Tiềm thức (preconscious): làm phần kí ức có thể gợi nhớ lại được

- Vô thức (Unconscious): theo Freud, đây là phần quan trọng của bộ

máy tâm trí vì đó là phần qui định nên những hành vi của con người Con người không thể nhận biết được những hành động đang diễn ra trong phần vô thức

Sơ đồ cấu trúc nhân cách theo quan điểm của Freud

Trang 18

Khối vô thức là khối bản năng, Freud cho rằng có nhiều loại bản năng khác nhau nhưng ông chú ý đến hai loại bản năng trọng yếu: bản năng sống (Eros) và bản năng chết (Thanatos)

- Bản năng sống (Eros): bao gồm tất cả những gì liên quan đến sự tồn

tại của cá nhân và tập thể như đói, khát, tình dục Năng lượng của bản năng sống này được gọi là Libido – bản năng tình dục Bản năng tình dục giúp duy trì sự sống như ăn, uống, tình dục và các hoạt động khác đáp ứng toàn bộ những nhu cầu khác của cơ thể

- Bản năng chết (Thanatos): là hệ thống năng lượng của những sinh vật

sống săn đuổi liên tục trong trạng thái cân bằng và chỉ có thể đạt được thông qua cái chết [19;156] Biểu hiện của bản năng chết là sự lặp lại một trạng thái, một nỗi buồn có trước nào đó Bản năng chết còn thể hiện ở khả năng gây gổ, đốt phá, đánh đấm và hủy diệt, đặc biệt là khả năng hủy diệt chính mình Bản năng chết được xem là nền tảng của toàn bộ hành vi hiếu chiến và tàn sát

Tuy nhiên, Freud cho rằng: bản năng sống (Eros) mạnh hơn bản năng chết (Thanatos) nên nó giúp chúng ta tồn tại chứ không phải hủy diệt

Tương ứng với ba tầng bậc trong cấu trúc nhân cách, Freud đưa ra ba thành phần của cấu trúc nhân cách là: Cái Ấy (Id), Cái Tôi bản ngã (Ego) và cái siêu ngã- cái siêu Tôi (Superego)

- Cái Ấy (Id): bao gồm những bản năng quan trọng nhất là dục tính

(Sex) và hung tính (Aggression) Chức năng cơ bản của Cái Ấy là duy trì con người trong trạng thái thoải mái, không bị những áp lực căng thẳng Cái Ấy vận hành theo “nguyên lý khoái lạc” (Pleasure Principle) hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu có tính bản năng Cái Ấy hiện diện ngay từ lúc sinh ra và từ đầu không liên quan đến chức năng sinh dục Tính dục ở đay có những khoái cảm xuất phát từ một số bộ phận của cơ thể gọi là bộ phận kích dục

Trang 19

- Cái Tôi- bản ngã (Ego): không giống như Cái Ấy, Cái Tôi không có

sẵn vào lúc sinh ra, nhưng nó dần dần hình thành và phát triển khi chúng ta tương tác với môi trường bên ngoài Chức năng của cái Tôi là thực hiện việc kiểm soát bản thân và hiểu biết thế giới bên ngoài Vì thế cái Tôi vận hành trên “nguyên lý thực tế” (Reality Principle)

- Cái siêu Tôi- siêu ngã (Superego) là một dạng thức kiểm soát từ bên

trong của mỗi cá nhân Theo Freud, cái siêu tôi được tạo lên bởi hai thành phần: lương tâm (Conscience) và cái Tôi lý tưởng (Ego-ideal) Cái siêu Tôi là

cơ chế kiểm soát được “cài đặt” bên trong để đảm nhận chức năng chính là kiểm soát các xung năng có tính nguyên sơ của Cái Ấy Cái siêu tôi thể hiện những điều có tính lí tưởng bên trong mỗi cá nhân và luôn hướng con người đến sự hoàn hảo

Trong tâm lí con người con người, bản năng siêu ngã và bản ngã luôn xung đột với nhau Cá nhân nào siêu ngã mạnh thì nó kéo bản ngã về phía nó

và con người sống tự kìm chế mình trong những ham muốn, sống nghị lực ý chí tuân theo những lí tưởng và đaọ đức xã hội Còn cá nhân nào bản năng mạnh thì nó sẽ kéo bản ngã về phía nó và con người hành động theo bản năng, không biết điều khiển được bản thân mình, hoàn toàn buông thả theo những dục vọng, bị ham muốn chi phối Freud cho rằng có hai con đường để giải thoát những ham muốn tính dục mà không sợ phạm đạo đức xã hội đó là:

giấc mơ và sáng tạo nghệ thuật

Giấc mơ là cửa ngõ chính dẫn vào thế giới vô thức Freud đã chia giấc

mơ thành hai phần nội dung biểu hiện và nội dung tiềm ẩn Nội dung hiển hiện là cảnh mộng mà người nằm mơ thấy được Theo Freud thì “chúng ta đã

có lý khi cho rằng giấc mộng là một sự biến dạng của một ước vọng khi bị dồn nén” Mỗi một giấc mộng đều biểu hiện một bi kịch trong thế giới nội

Trang 20

tâm của con người, giấc mộng làm tan đi cảm giác căng thẳng do những ước mong không đạt được gây ra

Nếu giấc mơ là sự trá hình của những ước muốn bị dồn nén của con

người thì sáng tạo nghệ thuật (tác phẩm) cũng chính là sự thăng hoa của các

ẩn ức trong tâm hồn nghệ sĩ “Nghệ thuật đạt tới sự hòa giải theo một con đường độc đáo….Bị thúc đẩy bởi những thèm khát ghê gớm, nghệ sĩ chiếm đoạt được danh vọng, quyền hành, của cải, vinh quang và tình yêu…”

Liên quan đến nội hàm khái niệm vô thức, Freud đưa ra các khái niệm:

mặc cảm Oedipe, mặc cảm bị thiến, mặc cảm phạm tội

- Mặc cảm Oedipe được Sigmund Freud xuất phất từ một vở kịch của

Sophocles trong đó vua xứ Thebes bỏ rơi hoàng tử Oedipus Về sau Oedipus giết cha và cưới mẹ mình mà không biết Theo Freud cho rằng tính dục của trẻ em mang tính bản năng, được bộc lộ một cách vô tư, thoải mái Khi đứa trẻ có những thức tỉnh về tính dục và bắt đầu hướng sự thức tỉnh đó ra bên ngoài thì đối tượng đầu tiên của nó là bố (đối với con gái) hoặc mẹ (đối với con trai) Lớn lên đứa trẻ sẽ hướng đối tượng tính dục của nó vào một đối tượng khác giới với bố hoặc mẹ mình

- Mặc cảm bị thiến, theo Freud đứa trẻ có hành vi bộc lộ dục tính một

cách vô tư nên người lớn thường có thái độ cấm đoán và có hình thức trừng phạt Từ đó hình thành ở trẻ sự sợ sệt, thiếu tự tin vào bản thân mình Đó là trạng thái của mặc cảm bị thiến, nếu không có sự điều chỉnh kịp thời thì sẽ để lại biến chứng trong tuổi trưởng thành như: lãnh cảm tình dục, ám ảnh bị thua kém, yếu đuối về sinh lực ảnh hưởng đến khả năng sinh hoạt tình dục

- Mặc cảm phạm tội được hình thành khi đứa trẻ bắt đầu ý thức được

hình phạt mà người lớn dành cho chúng khi chúng phạm tội Sự sợ hãi trừng phạt dẫn đến tâm trạng luôn lo âu sợ mình phạm tội

Trang 21

Phân tâm học là thành tựu của thế kỉ XX, với học thuyết vô thức Freud trở thành một trong ba nhà khoa học lớn (C.Mác, Nietzeche, Freud) đã tạo ra bước rẽ cho hành trình phát triển khoa học xã hội nhân văn Có thể xem Freud

là “một trong những người tiên phong căng buồm đến khám phá đại dương

mờ tối, bí ẩn của vô thức Với vai trò sợi dây Adrian, Freud đã dò tìm ra con đường khám phá thế giới bên trong chưa từng biết tới của con người” Thuyết phân tâm học về vô thức là viên gạch đặt nền móng trong việc nghiên cứu tâm

lý con người và mở ra con đường cho văn học khám phá đời sống con người

Carl Gustal Jung (1875-1961), sinh trong một gia đình mục sư gốc

Đức đến lập nghiệp ở Thụy Sĩ, say mê khảo cổ học và cổ sinh học Thời thanh niên, C.Jung rất sùng bái Freud và trở thành học trò xuất sắc của Freud Jung rất tán thành, thậm chí suốt đời trung thành với lí thuyết vô thức của Freud Nhưng ông phát hiện ra yếu điểm trong học thuyết vô thức của Freud nên đã phát triển theo một hướng khác Theo Jung, sơ đồ kết cấu tâm lý gồm ba tầng:

- Ý thức: là phần nhô lên trên mặt nước của hòn đảo

- Phần chìm dưới nước là vô thức cá thể

- Cắm sâu dưới đáy biển là vô thức tập thể

Sơ đồ cấu trúc nhân cách của C Jung

Trang 22

Sơ đồ cấu trúc nhân cách của Jung có phần ngược với sơ đồ của Freud, cũng gồm kết cấu ba tầng, nhưng tầng vô thức “bản ngã” (Id) chìm sâu dưới nước, nhô lên trên mặt nước đến hai tầng Ý thức “bản ngã” (Ego) theo nguyên tắc hiện thực và ý thức “siêu ngã” (Superego) theo nguyên tắc lý tưởng

Qua mô hình này cái Tôi là trung tâm của ý thức Nhân cách là toàn thể bao chứa ý thức và vô thức Cái vô thức lại là một toàn thể nhỏ bao chứa hai tập hợp con là tâm lý tập thể và tâm lý cá nhân

Jung kiên quyết phản đối trong vô thức chỉ có bản năng tình dục Hay nói cách khác, nếu Freud cho rằng Libido chỉ là bản năng tình dục, thì trái lại Jung cho Libido là một sức sống phổ biến, không chỉ là biểu hiện ở sinh thực,

mà còn ở sinh trưởng cũng như ở nhiều hoạt động khác Libido là toàn bộ những xung năng chứ không chỉ là cái tình dục Giữa năng lượng libido và bản năng tình dục có một dòng chảy ngầm năng động

Jung chia hai loại hình libido: loại hình hướng nội thì quan hệ chính

giữa chủ thể và khách thể là quan hệ phủ định Và loại hình hướng ngoại thì đem ý hướng của chủ thể di chuyển sang khách thể và biết căn cứ theo những quan hệ của khách thể để mà suy nghĩ và hành động

Phát hiện đặc biệt của Jung là thuyết “Vô thức tập thể” Jung cho cái

“bản ngã” (Id) vô thức chỉ là một bộ phận của vô thức mà ông gọi là “vô thức

cá thể”, và là một lớp mỏng nằm cạnh ngay dưới ý thức, nó chứa đựng những nội dung và hành động tâm lý không điều hòa được với ý thức, nhưng có khả năng chuyển hóa được nhanh thành ý thức Thí dụ: bản năng tình dục đúng là thường bị khống chế bởi ý thức nhưng không có khó gì bị chuyển hóa thành hành động có ý thức Jung hiểu “vô thức cá thể” rộng hơn, nó gồm ba phương diện: những thể nghiệm cá nhân không phức hợp và bị dồn nén bởi ý thức:; những thể nghiệm yếu ớt không vươn tới tầm ý thức hoặc đã vươn đến nhưng còn hời hợt, yếu ớt và bị rút dần vào quên lãng Như thế “vô thức tập thể”

Trang 23

không phải đều là những hoạt động theo nguyên tắc khoái lạc, dẫn đến những điều xấu xa hoặc tội ác

Việc tìm tòi, khám phá bên dưới “vô thức cá thể” đã đưa ông đến thành công là việc đưa ra “vô thức tập thể”, nằm ngay dưới “vô thức cá thể” Đây cũng chính là chỗ lý thuyết vô thức của Jung khác với lý thuyết vô thức của Freud

Jung cho rằng vô thức tập thể có ngồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm lịch

sử của nhân loại, chính đây là nhân tố mơ hồ nhưng lại rất sâu sắc quyết định hành dộng của con người Jung đặt vấn đề vô thức của con người trong cơ tiến trình manh nha và hình thành tâm lý toàn nhân loại, chứ không chỉ là những dấu vết của những kỉ niệm thuở thiếu thời của từng cá thể con người

Sự kế thừa những kí ức cộng đồng không có nghĩa mỗi con người thâu tóm hoặc hồi tưởng tất cả những thể nghiệm của tư tiên, mà đây chỉ nói đến những khả năng tiềm tàng hoặc khuynh hướng tất yếu sử dụng những phương thức tương đồng với cha ông để nắm bắt hoặc phản ứng trước thế giới Tất cả những cái đó làm nên “vô thức tập thể” Trái với S.Freud cho rằng trong vô thức chỉ là sự duy truyền của bản năng, nhất là bản năng tình dục, thì Jung cho rằng trong vô thức còn chứa đựng sự di truyền mang tính chất xã hội, thể hiện ở phương thức như Totem, ma thuật, nghi thức tôn giáo trong thời dã man, và sự duy truyền lưỡng tính sinh vật – xã hội, tức là kinh nghiệm xã hội được mô thức hóa về mặt sinh lý trong cơ thể con người

Carl Jung khẳng định vô thức tập thể chính là nội dung kinh nghiệm nguyên thủy hình thành trong tiến trình sơ kì của nhân loại Về những nội

dung cơ bản các yếu tố ban đầu này, lúc đầu ông gọi là “nguyên mẫu”

(Prototype) sau ông đổi thành “cổ mẫu” (Archetype) tức là những hoàn cảnh

và yếu tố điển hình mà con người đó từng trải qua, in đậm dấu ấn trong tâm lý loài người

Trang 24

Jacques Lancan – một đại biểu của phân tâm học theo cấu trúc luận đã

lý giải vô thức theo chiều hướng mới với kết luận nổi tiếng: “vô thức cũng được cấu trúc như ngôn ngữ” Theo quan niệm của Lancan “vô thức” là một chuỗi vận động liên tục của cái biểu đạt, ở đó những cái được biểu đạt thường

bị đè nén, không vươn lên tầm ý thức được Bị tác động bởi vô thức, chúng ta

sẽ không bao giờ nói được hoàn toàn đúng những gì chúng ta muốn nói ; mọi diễn ngôn đều ít nhiều mang tính nói nhịu, dó đó mơ hồ, hơn nữa hầm hồ Ý nghĩa luôn là cái gì dang dở, lẫn lộn giữa những yếu tố có tính truyền thống

và những yếu tố phi truyền thống, vừa sáng rõ vừa tối tăm Lancan tin rằng ngôn ngữ là một cái gì nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta Điều đó có nghĩa, vô thức không chỉ được cấu trúc như ngôn ngữ mà còn là sản phẩm của ngôn ngữ Đây là điều khác biệt giữa Lancan và Freud, Freud nhấn mạnh yếu

tố sinh lý, Lancan nhấn mạnh yếu tố ngôn ngữ

1.2 Vô thức và sáng tạo văn học Việt Nam

1.2.1 Vô thức trong văn học Việt Nam trước 1975

Phân tâm học ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc nhận thức những vấn đề thầm kín nhất của đời sống tâm sinh lý con người

Nó trở thành khoa học phân tích tâm lý chiều sâu của mọi hành vi trong đời sống ý thức và vô thức của mỗi cá nhân Dấu ấn của phân tâm học, đặc biệt là yếu tố vô thức đối với văn học là vô cùng sâu sắc đến mức có nhà nghiên cứu Phương Tây đã nhận định: bóng dáng của phân tâm học hiện diện ở hậu cảnh hầu hết những tác phẩm lớn nhất của đương đại này

Tất nhiên, không phải đến khi học thuyết phân tâm học và phát hiện vô thức của Freud ra đời và du nhập vào Việt Nam thì các sáng tác văn học Việt

Nam mới chịu ảnh hưởng và đề cập đến vấn đề vô thức Ngay trong dòng Văn

học Dân Gian từ ngàn đời xưa, yếu tố vô thức đã được phản ánh một cách

hồn nhiên, ngây thơ với những tín ngưỡng, mẫu gốc trong thần thoại của

Trang 25

người Việt cổ như truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng hay sự pha trộn sắc thái thanh tục trong những câu chuyện tiếu lâm hoặc mảng ca dao mang tính bông đùa, hài hước

“Ước gì loan được vô phòng Loan ôm lấy phượng, phượng bồng lấy loan.”

Quan hệ nam- nữ là một nhu cầu của con người, trong xã hội xưa người

ta ngại nói đến chuyện này nên mượn ca dao để giãi bày cảm xúc Loan cũng

là Phượng nhưng là chim trống; còn khi dùng từ Phượng có nghĩa là nói đến con chim mái Ở đây Loan- Phượng được dùng để chỉ đôi bạn tình Thế mới

hiểu cha ông ta từ ngàn xưa cũng “đáo để”, bằng lời văn mộc mạc nhưng không kém phần hóm hỉnh đã phơi bày chuyện phòng the một cách đường hoàng không bị ai bắt bẻ

Thời trung đại, khái niệm vô thức vẫn còn xa lạ với các nhà văn nhà

thơ, tuy nhiên đã có một số tác giả tiêu biểu đã tiệm cận đến đời sống tâm lí lứa đôi, những khát khao thầm kín, những dục vọng ấp ủ trong cả cõi tỉnh

thức Tiêu biểu là tác phẩm Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều) đã thể

hiện sâu sắc tâm trạng người cung nữ bị ruồng bỏ Vua chúa có hàng nghìn cung nữ, cung nữ cả đời mới được một vài lần “chúa dấu vua yêu”, còn phần lớn không biết đến “ơn mưa móc” của Vua chúa

“Hoa này bướm nỡ thờ ơ

Để gầy bông thắm để xơ nhị vàng”

Hoa – bướm là ẩn dụ cho tình nhân, ẩn dụ cho người cung nữ và Vua Người cung nữ tự thấy mình có hương sắc mà vua thờ ơ không đoái hoài làm xót xa cho kiếp hoa, đồng thời nói lên khất vọng hạnh phúc lứa đôi của nàng

Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn- Đoàn Thị Điểm) lại thể hiện khát

khao tình yêu, hạnh phúc lứa đôi Người chinh phụ tiễn chồng ra trận với mong ước người chồng sẽ lập công danh và trở về trong cảnh vinh hoa Thấm

Trang 26

nỗi cô đơn, lẻ loi, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang trôi qua và hạnh phúc lứa đôi ngày càng xa vời Nàng mòn mỏi chờ đợi người chồng, trong những đêm lẻ loi cô quạnh nhìn cảnh vật có đôi “Hoa giãi nguyệt, nguyêt in một tấm Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông” nàng đã khao khát ái ân biết chừng nào

Tác phẩm Truyện Kiều (Nguyễn Du) đã bắt đầu đi sâu khám phá cõi vô

thức Có người cho rằng biến cố gia đình khiến Kiều phải bán mình chuộc cha, từ đó đẩy cô vào kiếp đoạn trường 15 năm lưu lạc chỉ là cái cớ, nguyên nhân chính đẩy Kiều vào đoạn trường trôi nổi này là do “thói đa tình” của Kiều Vì thế Kiều viếng mộ vô chủ Đạm Tiên thì Kiều đã liên tưởng đột ngột cuộc đời mình Liên tưởng để rồi lo sợ Rồi đốt hương, làm thơ đề tặng, khóc lóc sụt sùi thương cho người mất: “Sống làm vợ khắp người ta Hại thay! Thác xuống làm ma không chồng.” Giọt nước mắt của Kiều khóc trước mộ Đạm Tiên không phải là sự đồng cảm mà còn là hoảng sợ, nàng tự bất lực trước cuộc đời, nên linh cảm rằng thân thế mình sẽ bạc như người kỹ nữ xấu

số kia

Tác phẩm bộc lộ khá rõ yếu tố vô thức là sáng tác của nữ sĩ Hồ Xuân

Hương Thơ Hồ Xuân Hương đậm chất dâm và tục – yếu tố phồn thực, điều

này gần với học thuyết của Freud và Jung Trong thơ Hồ Xuân Hương không ngần ngại đề cập đến vấn đề tình dục: “Ba hồi chiêu mộ xuân gầm sóng Một vũng tang thương nước lộn trời Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn Nguồn ân muôn trượng dễ ra khơi Nào nào cực lạc là đâu tá Cực lạc là đây chín rõ mười” Từ “xuân gầm sóng” đã diễn tả được cái đam mê, cái mãnh liệt, cái khao khát trào dâng của con người Hay những câu thơ “Trai đu gối hạc khom khom cật Gái uốn lưng cong ngửa ngửa lòng Bốn mảnh quần hồng bay phất phới Hai hàng chân ngọc duỗi song song.” Là sự phảng phất cảnh sinh hoạt

vợ chồng, là sự khao khát được ái ân, được thỏa mãn yêu đương của con

Trang 27

người Thậm chí Hồ Xuân Hương miêu tả “cái ấy” rất tinh tế, khéo léo:

“Chành ra ba góc da còn thiếu Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa” Như vậy Hồ Xuân Hương là phụ nữ táo bạo nhất của nền văn học cổ điển đã dám chống lại phong kiến bằng tiếng cười trào lộng qua những biểu tượng ám ảnh con người Hồ Xuân Hương đã đưa yếu tố dục tính vào trong thơ một cách khéo léo đến tuyệt vời

Trong vòng cương tỏa của quan niệm “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí” những khám phá bước đầu về cõi vô thức của các tác giả còn dè dặt, kín đáo

và thiếu sự đa dạng Nó chỉ như một sự điểm xuyết nhằm tôn lên số phận, cảnh ngộ của nhân vật, chứ chưa được coi là một đối tượng cần phải khám phá Đó là thứ gia vị nhằm giải phóng những ẩn ức có tính chất tức thì của nhân vật, không phải là mục đích hướng đến của các nhà văn

Bước sang giai đoạn văn học 1930 - 1945, với sự du nhập văn hóa Phương Tây, văn học Việt Nam nở rộ nhiều cây bút, nhiều nhà văn dũng cảm

mở đường rẽ vào cõi vô thức, đưa miền tâm linh mờ ảo trở thành đối tượng chính của văn học, trong tác phẩm của mình Cụ thể là các nhà văn thuộc trào lưu văn học hiện thực, Tự lực văn đoàn như: Nam Cao, Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng… và phong trào Thơ Mới như: Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên…đã thể hiện những thăng hoa cảm xúc, những trạng thái dục tính tâm linh của mình

Chí Phèo (Nam Cao) chạm đến một trong hai bản năng của Freud: bản

năng tính dục và bản năng xâm hại Bản năng tính dục là khi Chí Phèo làm tình với Thị Nở ở vườn chuối trong đêm trăng thanh vắng với khoái lạc xác thịt “ngường ngượng mà thinh thích”, hay là khi Chí Phèo bị bà Ba gọi lên bóp chân mà lại cứ đòi bóp lên cao Còn bản năng xâm hại chính là Chí Phèo

bị Bá kiến ghen đẩy vào tù, rồi Chí Phèo từ một kẻ liều lĩnh dám chửi nhau

Trang 28

với Bá Kiến đã trở thành tay sai cho Bá Kiến chuyên đâm thuê chém mướn và

từ kẻ tay sai cho Bá Kiến, Chí Phèo đâm chết Bá Kiến rồi đâm chính mình

Vũ Trọng Phụng cũng là người tiên phong trong lĩnh vực đưa yếu tố vô

thức vào trong sáng tác của mình như: Số đỏ, Làm đĩ, Giông tố, Lục xì…Tác phẩm Làm đĩ trực tiếp đề cập đến chuyện quan hệ tình dục nam nữ - một vấn

đề rất tế nhị trong đời sống đối với các nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng đạo Khổng - Mạnh Vũ Trọng Phụng cho rằng quan hệ tình dục, tự thân nó là vấn

đề thuộc quyền con người tối thiểu và mang tính tự nhiên khởi thủy của mọi thành viên trong cộng đồng xã hội : “Tình dục đã cần cho xác thịt cũng như

sự ăn uống, thì ái tình cao thượng chỉ là thứ ái tình mà trong đó sự ham muốn của xác thịt không được thỏa mãn, nói tóm lại thì đó chỉ là một thứ ái tình thất

vọng mà thôi…” Làm đĩ nói về quá trình trụy lạc của Huyền, từ một cô gái

xinh đẹp, con nhà tử tế Huyền trở thành một cô gái điếm Huyền dấn thân vào con đường trụy lạc bằng tất cả sức mạnh bản năng tình dục của mình Từ lúc

là cô bé mới 9 tuổi có trò chơi trẻ con ngây ngô với thằng Ngôn- cậu học trò cùng lớp hơn cô một tuổi ở vườn hoa, trong một buổi trưa hè, dưới bóng đa

um tùm mát mẻ Lúc 8 tuổi cô đã tò mò người ta đẻ ra bằng cách nào là khởi đầu quá trình phát dục ở Huyền Đến khi dậy thì Huyền chứng kiến cảnh “bên trong cái vách gỗ sơn xanh là chỗ thầy em và cô vợ bé nằm ngủ Những sự thị

uy của ái tình lại bắt đầu vang lên Những cái hôn kêu choen choét, những hơi thở ỳ ạch, sự rung động lắc rắc của cái giường lò so, những tiếng kêu rú khoái lạc, khua rộn cả gian phòng…” Vũ Trọng Phụng miêu tả những khoái cảm xác thịt một cách hết sức tự nhiên để khẳng định quyền làm người bằng một

bản năng vốn có- nhu cầu tình dục Đến Giông tố Vũ Trọng Phụng là người

hiểu chủ nghĩa tình dục Freud một cách sâu sắc: tác giả khéo léo tả Thị Mịch một cách giản dị Từ một cô gái quê khỏe mạnh, vốn nhà nghèo, đã biết mùi đời trong chiếc xe hòm kín đáo bấy giờ lại sa vào cảnh nhàn hạ phong lưu, cái

Trang 29

cảnh làm cho những khối óc non dễ mơ tưởng đến điều dâm dục, từ một cô gái hiền lành Mịch trở thành người đàn bà ngoại tình, một cách vô thức

Thời đại mới đã cung cấp cho con người cái nhìn mới về thế giới xung quanh, về bản thân Thơ Mới giai đoạn 1930 - 1945 đã khao khát khám phá bản thân, “họ nhìn sâu vào bản thể mình, tâm hồn mình và có những khám

phá lí giải tinh vi” Thơ điên của Hàn Mặc Tử là tiếng kêu, tiếng khóc bật ra

từ đời sống vô thức Thơ Hàn Mặc Tử thường ở trạng thái say, gió “say lướt thướt trong màu sáng”, trăng “tràn trề say chới với”, cả vũ trụ đều ở trạng thái quay cuồng “say, say, say lảo đảo cả trời thơ” Trong trạng thái say và mơ, điên – thơ Hàn Mặc Tử rơi vào tận cùng của cõi vô thức Tuy nhiên cũng có khi Hàn Mặc Tử nói tới khoái lạc của đời sống nhưng chủ yếu là khoái lạc tinh thần Ông tìm khoái lạc ở những giây phút thăng hoa của tinh thần, ông

có một định nghĩa lạ lùng về thơ: “thơ là sự ham muốn vô biên những nguồn khoái lạc trong trắng của cõi trời cách biệt” Như vậy cái mơ, say, điên của cõi siêu thực thuộc cõi vô thức, nó rất gần với quan niệm của Freud về sáng tạo như cách giải phóng những xung năng những ẩn ức Đó là khi cõi vô thức thức dậy và dành lại vị trí làm bá chủ trong tâm linh con người

Nhóm Dạ Đài ảnh hưởng Phân tâm học của Jung, họ muốn trả thơ về

với nguồn gốc xa xưa, muốn tái hiện những hình tượng cổ mẫu (mẫu gốc-

archetype), họ tin rằng nguồn gốc cơ chế sáng tạo là vô thức, thật sự đánh thức mọi tiềm năng của đời sống nguyên thủy xa xưa Họ quan niệm “Chúng

ta hãy trở về với cái bản năng mà thế tình che đậy Hãy mơ những giấc mơ cầm thú Hãy gợi lên những cõi sống âm thầm Hãy đánh thức hư không, nghệ

sĩ là cả tấm lòng xưa man rợ”

Văn học Việt Nam trước 1975 còn tương đối dè dặt trong việc đề cập đến những vấn đề tình dục mang tính tế nhị thuộc về đời sống riêng tư của mỗi cá nhân Do ảnh hưởng tư tưởng Nho Giáo và nền văn hóa Phương Đông,

Trang 30

đồng thời cũng do hoàn cảnh thực tế khốc liệt của các cuộc đấu tranh nên văn học phải cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân ta như: tinh thần xả thân, ý thức khắc kỉ, biết kìm chế nhu cầu, ham muốn để hi sinh cho cộng đồng dân tộc Nhu cầu tự nhiên, đời sống tâm hồn cá nhân bị hạ thấp, bị phủ nhận, yếu

tố tình dục trở thành “sự cấm kị không cần thiết của một thời” đã hạn chế

phần nào nội dung và tư tưởng của văn học Việt Nam trước 1975

1.2.2 Vô thức trong văn học Việt Nam sau 1975

Cùng với sự thay đổi có tính chất bước ngoặt của lịch sử, văn học Việt Nam sau 1975 cũng có những bước chuyển mình rõ rệt, có nhiều nỗ lực, đổi mới, cách tân cả về nội dung và nghệ thuật tự sự Đồng thời con người sau 75 trở lại nhịp sống hòa bình, ý thức cái Tôi bắt đầu trỗi dậy mạnh mẽ đòi quyền sống Các yếu tố thuộc kiến trúc bí ẩn trong tâm hồn như tâm linh vô thức mới thực sự được quan tâm, coi trọng Quan niệm hiện thực đa chiều, bên cạnh hiện thực nhìn thấy là hiện thực tâm linh vô thức cực kì mơ hồ, huyền diệu đã tiếp sức cho các nhà văn khám phá mỏ quặng dồi dào này Những cây bút đã mạnh dạn khơi sâu vào con đường tiềm thức, vô thức như: Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp đặc biệt là Nguyễn Bình Phương Các nhà văn này không chỉ đi sâu vào thân phận con người mà còn đề cập đến khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc cá nhân, khát vọng về tình yêu đôi lứa Các tác giả đã khám phá con người tự nhiên trước những nhu cầu đời thường do đó các tác phẩm văn học không ngần ngại miêu tả tình yêu nhục thể - một vấn đề riêng tư của mỗi cá nhân con người Các nhà văn đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm hiện diện hình ảnh con người thực Vì vậy văn học sau 1975 đã tiệm cận với thế giới không chỉ ở thế giới hiện thực mà còn ở thế giới tâm linh vô thức của con người, khám phá “con người ở bên trong con người”

Trang 31

Thơ là cảm xúc nồng nàn, là suy tư, chiêm nghiệm một cách sâu sắc các vấn đề trong cuộc sống và tâm hồn con người Vi Thùy Linh, Trần Dần,

Lê Đạt, Dương Tường, Thanh Tâm Tuyền, Đặng Đình Hưng…mỗi nhà thơ khi cầm bút viết lên những cảm xúc, những rung động thực của mình trước hiện thực cuộc sống Vi Thùy Linh đã viết những vần thơ mang đậm bản chất

nữ giới, không chỉ mạnh bạo đề cập đến tính dục, đến sex mà còn bằng ngòi bút năng động, trẻ trung và sắc sảo Vi Thùy Linh như người lái đò dám

“bươn” tới những khúc thác gập ghềnh, hiểm trở mà ngay cả những vị khách ngồi chung thuyền cũng ngần ngại, lo lắng “Thơ Vi Thùy Linh là những trận bạo động tình” (Nguyễn Trọng Bình), Vi Thùy Linh bằng những cảm xúc thực nhất của mình mà nói lên quyền được yêu, được chung đụng xác thịt, đối với Vi Thùy Linh tình yêu không chỉ là cảm xúc mà là sự thăng hoa của tình

dục, của sex: “Khỏa thân trong chăn Thèm chồng Thèm có chồng ở bên Chỉ

cần Anh gối lên đùi Mình ôm lấy Anh ôm mình Biết sự bình yên của mặt đất.” (Chân dung) Qua cảm xúc, suy tư của mình Vi Thùy Linh đưa ra triết

lý về tình yêu: tình yêu sẽ bền chặt, son sắc mạn mà hơn khi giao thoa, bắt nhịp với tình dục Một tình yêu không tình dục là tình yêu vô nghĩa ngược lại tình dục không tình yêu là giả dối

Thuyết phân tâm học của Freud đã nhập tâm Lê Đạt, ông trở thành đệ

tử của Freud khi cho rằng: người làm thơ như một người điên, và người điên

bước sang cõi vô thức rồi ngưng lại trở về ý thức để viết Tập thơ Bóng chữ là

lịch sử của một đời người qua buồn vui một cá nhân, giữa thăng trầm của dân tộc, và trăn trở của một nghệ sĩ thường xuyên tra vấn ngôn ngữ

Thơ hiện đại là mỗi khao khát tự nhận thức triệt để của con người hiện

đại Muốn đào tới “gốc rễ của tiếng kêu”(Lorca) Sự hiện diện im lặng của vô

thức đã tạo cho thơ hiện đại một thứ quyền lực mà thơ trước đó chưa biết tới

Bến lạ của Đặng Đình Hưng là một bài thơ độc thoại trong nỗi cô đơn, một

Trang 32

dòng tâm thức rối bời những tia kí ức khi tỏ khi mờ, những khát khao thèm

thùng vô vọng, từ tầm thường đến siêu hình Bến lạ là một cuộc phơi bày tận

cùng bản ngã trong một bút pháp siêu thực khiến những mảnh vạn thực tại xa cách về không gian thời gian giống như trong mơ, hòa tấu những ngôn ngữ của trí tuệ, tình cảm, trực giác, tiềm thức và tâm linh

Văn xuôi là mảnh đất mầu mỡ phì nhiêu cho người nghệ sĩ phiêu lãng vào miền sâu cảm xúc của con người Văn học sau 1975 đã mạnh dạn lật xới được những vấn đề nhức nhối của xã hội và con người Văn học khắc họa con người tự ý thức, kiểu con người được nhìn từ bên trong là con người đời tư, bằng hành động tự ý thức con người mới phát hiện ra chính mình Quá trình

tự ý thức là bước phát triển mới của tư duy nghệ thuật đương đại Nói cách khác nó gắn liền với sự thức tỉnh ngày càng cao của nhà văn về giá trị cá nhân

Tác phẩm đầu tiên cọ xát bên trong tâm hồn là “Bức tranh” (Nguyễn

Minh Châu), với nhân vật “tôi” – người họa sĩ, nhà văn vẽ ra bức chân dung,

tự họa của người họa sĩ gồm hai khuôn mặt, để rồi “tôi” nhận ra rằng con người “tôi” đang sống lẫn lộn người tốt kẻ xấu, thiên thần và ác quỷ, rồng phượng lẫn rắn rết Đặc biệt văn học Việt Nam sau 1975 đi sâu thế giới của tiềm thức, vô thức, các nhà văn bằng cái nhìn trực giác nghệ thuật của mình

đã góp phần dò vào miền tâm linh sâu thẳm của con người để thể hiện tối đa cái nhìn hiện thực, đời sống con người Tiêu biểu các tác giả: Phạm Thị Huệ, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Thuận, Nguyễn Bình Phương…

Phạm Thị Huệ cũng viết về những nhu cầu mang tính bản năng của con

người Truyện Tân cảng là những cảm xúc rạo rực, thức dậy ngững khát khao

ái ân từ lâu bị chôn vùi trong đau khổ của người vợ Giờ đây lại ùa về “vô thức thấy rạo rực đôi môi và tim vô thức đập mạnh Mọi thứ đều vô thức

Trang 33

Chắc tại một thứ vô thức là bản năng đàn bà khao khát trỗi dậy bên trong” Những động chạm xác thịt đã trở thành ý thức đánh thức chị dậy, đánh thức

bản năng người đàn bà bấy lâu ngủ quên Truyện Thiếu phụ chưa chồng là

một cô gái thôn quê đang tuổi dậy thì, sau lần động chạm xác thịt với chàng diễn viên, bản năng người đàn bà trỗi dậy trong My Cô không cưỡng lại được khi ở bên cạnh Dương – người anh rể của mình “Cô vùng lên Dang tay ôm lấy người Dương…cả hai đã chìm trong đống rơm” Như vậy, những ham muốn bản năng trong truyện Phạm Thị Huệ là những gì đời thường, giản dị và gần với truyền thống hơn

Nhà văn Bùi Hiển cho rằng “Văn học với chức năng của nó là khám phá bản thể con người, lẽ tất nhiên nó rất khao khát soi tìm vào những miền u uẩn, ảo của nội tâm, và những động cơ thầm kín tối tăm của những ứng xử ý

thức…” Truyện ngắn của Bảo Ninh khám phá nội tâm thần bí của nhân vật,

hoặc để nhân vật làm “phát lộ trong bóng tối gương mặt một người quen biết” Những giấc mơ, những cơn mộng mị của người lính Quang, người ta

“nghe thấy tiếng khóc thút thít sụt sùi” Giấc mơ cho Quang được sống với nỗi đau Đi vào tìm hiểu, khám phá con người từ nỗi “ám ảnh tâm linh”,

“những tiếng vang vọng tiềm thức”, Bảo Ninh đã giúp chúng ta nhận thức về con người, hiện thực được nhìn nhận đánh giá từ nhiều phía góp phần tạo nên quan niện mới phong phú về con người và hiện thực

Nhân vật Đoài trong Không có vua (Nguyễn Huy thiệp) vì ham muốn

chị dâu đến mức để bảo vệ Sinh mà có thể sẽ giết anh trai mình “Anh mà đụng vào cô ấy là tôi chém liền”, “Nếu Sinh yêu tôi, tôi sẽ gây sự tống cổ anh

ra đường” Còn ở Tốn dù bị thần kinh mà người teo tóp, dị dạng nhưng bản năng vô thức vẫn muốn đem lại niềm vui cho mọi người - đặc biệt là với chị dâu (Sinh) nên lúc nào cũng vừa quét nhà vừa hát câu hát đầy gợi tình do hắn nghĩ ra: “Tớ với mình dây dưa, tình với tính hay chưa?”

Trang 34

Nội tâm nhân vật trong Văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975 luôn có

sự đấu tranh giữa ý thức và vô thức để dẫn đến xáo trộn hành vi con người,

đặc biệt là hành vi tình dục Tác phẩm Năm ngày của Phạm Thị Hoài, nhân

vật Vi và người chồng luôn phải đấu tranh giữa rạn nứt và bản năng tính dục trong cuộc sống thường nhật giữa ngày và đêm Ngày thì lãnh cảm, nhăn nhúm Đêm thì nhục cảm, trần trụi Đêm là lúc vô thức thắng ý thức nên bản năng tính dục đã dẫn dắt họ vượt qua những thờ ơ ban ngày để thỏa mãn diễn cái trò ân ái muôn thuở của nhân loại đến nỗi người chồng lúc nào “cũng có gương mặt đần độn vì hạnh phúc” Kết thúc truyện Vi - người vợ bỏ đi để tìm

ý nghĩa sự sống đích thực của mình

Vấn đề then chốt của yếu tố vô thức trong học thuyết phân tâm của Freud là giấc mơ Thông thường, trong thực tế những ước muốn của con người-nhất là vấn đề tình dục nếu không thực hiện được sẽ dẫn đến rối loạn,

ức chế, khi ấy trong trạng thái lưỡng phân giữa ý thức và vô thức càng đảy nhân vật đến những hành vi không bình thường Đó là những bản năng thác loạn và ám ảnh tâm linh làm cho con người không làm chủ được mình trong từng tình huống, dẫn đến sự đau khổ, dằn vặt, uất ức Những tác phẩm như:

Thổ cẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Xin hãy tin em của Phạm Thị Huệ, Yêu pháp

của Triệu Tuấn, gần đây là Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Ánh trăng của Nguyễn Bản…pha chút yếu tố sex các

nhà văn cố gắng thể hiện chiều sâu ẩn ức, những khao khát và xáo động tính dục để lý giải đời sống tâm lý của con người hiện đại một cách có cơ sở nhất Trong số các nhà văn trẻ Việt nam sau 1975 ảnh hưởng yếu tố vô thức trong phân tâm học của Freud, nhà văn Nguyễn Bình Phương đã có hàng loạt các

tác phẩm đề cập đến vấn đề này như: Thoạt kỳ thủy, Người đi vắng, Ngồi, Trí

nhớ suy tàn, Những đứa trẻ chết già…

Trang 35

1.3 Vô thức trong sáng tạo của Nguyễn Bình Phương

1.3.1 Nguyễn Bình Phương – “Người đi xa nhất” trong việc khám phá vô thức

Nhà văn Nguyễn Bình Phương tên khai sinh là Nguyễn Văn Bình Sinh ngày 29 tháng 12 năm 1965 Quê quán Thái Nguyên Thời chiến tranh, tác giả cùng gia đình sơ tán về xã Linh Nham thuộc huyện Đồng Hỷ, đến năm 1979 mới trở lại Thái Nguyên

Nguyễn Bình Phương học hết phổ thông trung học năm 1985 rồi vào bộ đội, năm 1989 vào học trường viết văn Nguyễn Du, ra trường công tác tại đoàn kịch nói Quân đội Ông từng làm biên kịch tại đoàn kịch nói Quân đội, làm biên tập viên nhà xuất bản Quân đội Nhân dân Năm 2004, Nguyễn Bình Phương là trưởng ban thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội

Nguyễn Bình Phương viết văn bằng cả niềm đam mê, nhạy cảm của người nghệ sĩ và bằng tài năng của một cây bút được đào tạo qua trường lớp Tác giả viết ở nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn…

Là một nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến, với tư duy đổi mới, Nguyễn Bình Phương đã tiếp thu tư tưởng phân tâm học của Freud Tuy nhiên, những học thuyết phân tâm học khi đến với Nguyễn Bình Phương đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn Không giống các nhà văn hiện đại phản ánh cuộc sống con người với những mảnh vỡ chứa đựng bao điều vô nghĩa, phi lí giống như một nốt nhấn kéo dài Nguyễn Bình Phương, quan niệm

“Lịch sử chả là gì cả nếu không có những cá nhân và cá nhân chẳng là gì cả nếu bản thân nó không vang lên bất kỳ một ý nghĩa nào” [52] nên nhà văn hướng ngòi bút lách sâu vào thế giới tinh thần chứa đựng nhiều bí ẩn của con người khám phá các chiều kích, gợi dậy cả những vùng tâm tư u tối nhất, hoang sơ nhất Trong sáng tác của nhà văn, chúng ta gặp nhiều những nhân vật sống bản năng, những người điên và cả những giấc mơ triền miên Yếu tố

Trang 36

vô thức đã trở thành một đối tượng khám phá đầy thú vị của Nguyễn Bình Phương

Như đã trình bày ở trên, “vô thức” là lục địa của những tiềm ẩn, chôn vùi, dấu kín trong lòng mỗi chúng ta Trước kia, triết học truyền thống từ Platon đến Descartes, cho rằng con người là “thú vật biết suy nghĩ”, từ đó kết luận rằng con người, bằng lý trí có thể điều khiển được những tình cảm phức tạp nhất, những dục vọng u tối nhất, những bản năng thú tính nhất Nhưng Freud với phân tâm học và thuyết vô thức đã chỉ ra tâm lý con người gồm có

ý thức và vô thức Con người luôn bị chi phối bởi ý thức và vô thức Có thể gọi ý thức là ánh sáng thì vô thức là bóng đêm Nếu một bên là bề nổi, thì bên kia là vực thẳm Vậy để hiểu con người không thể xem phần ánh sáng mà phải lẫn vào cõi hỗn mang, vào chốn âm u Và để đi tận cùng của cõi vô thức trong tâm hồn con người, nhà văn Nguyễn Bình Phương đã có nhiều cách tân nghệ thuật bằng một lối viết riêng biệt, mới mẻ từ cách nhìn hiện thực, tiếp cận nhân vật, sáng tạo cốt truyện, xây dựng không gian thời gian nghệ thuật cho đến sử dụng ngôn từ

Nguyễn Bình Phương thường hướng ngòi bút vào những mảnh vỡ hiện thực, những “tiểu tự sự” của cuộc sống hiện đại Nếu các cây bút trước 1975 thường viết về các vấn đề “đại tự sự”, những sự kiện lịch sử, chính trị lớn lao bao quát toàn bộ đời sống con người thì ngòi bút Nguyễn Bình Phương lại miêu tả những hiện thực phân mảnh, hiện thực bị xé lẻ, phân tách Nguyễn Bình Phương không vuốt ve hiện thực, cũng không ảo tưởng về nó Tác phẩm của ông đơn giản là giấc mơ của kẻ điên loạn, hình ảnh con cú trôi dạt triền

sông (Thoạt kỳ thủy), là chuyện những kẻ đi tìm kho báu (Những đứa trẻ chết

già), là sự suy tàn của trí nhớ (Trí nhớ suy tàn) Rất nhiều hiện thực đời sống

được đan chéo, gài lồng, móc nối trong một dung lượng câu chữ hạn hẹp

Trong Trí nhớ suy tàn tác giả xây dựng cho mỗi nhân vật một mảng hiện thực

Trang 37

riêng Mỗi nhân vật tự đóng khung trong thế giới của mình Có tới 20 nhân vật được khắc họa trong tác phẩm nhưng mỗi người lại có một số phận, cuộc đời không liên hệ gì với nhau Tác giả tái hiện cuộc sống thông qua cái nhìn của Huyền, nhưng cái nhìn của cô mờ nhạt, xa xôi, nhòe nhoẹt, vì cô đánh mất mọi ý nghĩa về đời sống, về thời gian về không gian, về tình yêu, tình dục Cuối cùng cô đã tự mình cỏi trói khỏi ràng buộc, chỉ còn một ám ảnh vẫn

theo đuổi “Trí nhớ đang suy tàn ghê ghớm” Bước vào thế giới của Những

đứa trẻ chết già ta thấy hiện thực được tái hiện qua các câu chuyện của một

cái làng nhỏ bé – làng Linh Nham Ở đó nhân vật mê mải, quay cuồng trong cuộc hành trình đi tìm kho báu Khi họ ngộ ra nhiều điều cũng là lúc họ hoang mang tột cùng trước thế giới đổ nát, hoang tàn Tất cả các mối quan hệ không tìm thấy sự móc nối: Tiến quắt chết, Hương đau đớn thắt ruột, ông Trình chới với hoảng loạn, Quý cụt ra đi, Loan day dứt, ông Liêm bàng hoàng, Hải im lìm câm lặng

Hiện thực phân mảnh thực sự gây ấn tượng trong Thoạt kỳ thủy Hiện

thực đời sống trong tác phẩm này bị thái nhỏ, nhàu nát, chắp nối Các nhân vật quằn quại trong nỗi niềm ẩn ức riêng Tính chỉ biết sống trong thế giới hoang tưởng, điên loạn: thích máu, thích chơi với người điên, thích giết người Hiền quay cuồng trong niềm khao khát dục vọng bà Liên sống trong buồn tẻ bên người chồng dường như không tồn tại trên đời Hưng điên loạn với quá khứ chiến tranh Như vây, Nguyễn Bình Phương không gồng mình lên để tô vẽ, công kênh hiện thực mà chấp nhận những mảnh vỡ của hiện thực, coi sự tồn tại của chúng là tất yếu và nhìn nó bằng con mắt tỉnh táo Ngòi bút của nhà văn đã hướng tới hiện thực đa chiều phức tạp và chấp nhận

nó, coi đó là một phần không thể thiếu của cuộc sống

Một điểm mới trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương là nhà văn đã đưa người đọc khám phá những bí mật của thế giới bên trong tâm hồn con

Trang 38

người Vì vậy Nguyễn Bình Phương được đánh giá “có lẽ là nhà văn Việt

Nam đương đại đã đẩy cuộc thăm dò về vô thức đi xa nhất”(Đoàn Cầm

Thi).Vô thức chiếm vị trí quan trọng trọng các cuốn tiểu thuyết của ông Vậy đâu là cái mới, là điểm khác biệt của nhà văn so với các cây bút cùng thời khi viết về vấn đề vô thức?

Trong học thuyết vô thức, Freud đã chỉ ra trạng thái cơ bản nhất của cõi

vô thức là giấc mộng và bản năng của con người Tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương là sự kết hơp giữa mơ, điên và bản năng tự nhiên của con người

Những đứa trẻ chết già là giấc mơ của cụ Trường hấp “mơ thấy mình được

kiệu đến gặp ông tổ của dòng họ” [4; 277], là ám ảnh của cụ pha chút nuối tiếc khi cụ chưa hoàn thành trách nhiệm với dòng họ Nhân vật ông luôn đắm chìm trong quá khứ và những giấc mơ kéo dài Ông mơ thấy Tính – con trai của người vợ, mơ về tiền kiếp của mình mà chẳng còn gì ngoài bộ xương Những giấc mơ của ông có kí ức đau buồn và niềm khao khát tìm lại chính

mình Bao bọc Ngồi là những giấc mơ của Kim và Khẩn Khẩn sống với Minh

nhưng lại triền miên trong những giấc mơ về Kim đã trở thành quá khứ Hầu hết những giấc mơ của Khẩn là những khoảnh khắc của hai người ở bên nhau với những tình cảm trong sáng Đằng sau giấc mơ là niềm khao khát mãnh liệt

về tấm tình cảm thầm lặng mà trong sáng của Khẩn với Kim Người đi vắng

các nhân vật luôn chìm trong giấc mộng Kí ức chiến tranh khiến Thắng có những giấc mơ đứt đoạn “mơ thấy mình giương súng nhắm bắn vào một các bóng thập thò đằng sau bức tường đổ trước mặt…”[3; 383] Hoàn triền miên trong trạng thái hôn mê đã vô tình đánh thức vùng vô thức ngủ quên lâu nay

trong Hoàn Vì thế điên và mộng là chủ đề chính của tiểu thuyết Thoạt kỳ

thủy, nhiều trang của tiểu thuyết miêu tả giấc mơ của Tính và Hiền – hai nhân

vật chính Tính mơ đứng mơ nằm, mơ đêm mơ ngày, đang ngồi cũng mơ:

“Tính ngồi cắm cúi nhặt kiến…Tính nhắm mắt trong bóng tối lảo đảo, hiện ra

Trang 39

một cái tai cưỡi trên lưng con ngựa già” [5;40] Với Tính, mơ còn lồng trong mơ: “Trong giấc mơ của Tính, Hiền đang ngủ mơ thấy hai con bọ ngựa cắn nhau” [5;51] Hiền có giấc mơ kì quái “Hoa nở đặc bãi nghiền sàng Hiền mặc

áo mới đi tìm rau vừng thấy một con trâu mặt người chạy ra Sợ, thét lên Tỉnh” [5;160] Con trâu mặt người là hình ảnh người được vật hóa, thể hiện nỗi sợ trong vô thức của Hiền, nỗi sợ bật lên thành tiếng thét

Thoạt kỳ thủy có nhiều nhân vật bị coi là “điên”: “Linh Sơn nhiều

người điên, họ hay tụ tập ở cột số múa hát í a” [5;16] như: Hưng, Phùng Đặc biệt là Tính có sắc mặt lúc nào cũng “ngô nghê”, lời nói mê sảng “mắt chó vàng như trăng”, lại có hành động không bình thường: “đêm…vùng dậy, xô cửa ra sân, nhặt đá đáp lên trời”, thích chơi với người điên, thích máu lửa và chọc tiết Nhưng với tài năng của Nguyễn Bình Phương không phải ở chỗ anh khám phá ra mối liên hệ giữa vô thức với điên và mộng – điều này các nhà triết học và phân tâm học đã nói từ lâu – mà chính là nhà văn đã nêu lên và giải quyết thấu đáo những vấn đề mà vô thức đặt ra cho văn học Cụ thể: các giấc mộng có thể được sử dụng như một phương tiện để tìm hiểu và phân tích nhân vật? làm thế nào để chuyển tải ngôn ngữ điên trong tác phẩm văn học, nhà văn phải đứng ở vị trí nào để nói về điên?

Văn học truyền thống, đặc biệt Văn học Việt Nam ít quan tâm đến các giấc mộng Nếu có, chúng thường chỉ được trình bày như sự trao đổi giữa con người với thế giới siêu hình, từ đó dẫn đến những điềm báo, những lời tiên tri

Ngược lại trong tác phẩm của Nguyễn Bình Phương – đặc biệt là Thoạt kỳ

thủy, giấc mộng là biểu hiện của biểu hiện của những gì thầm kín, bí mật,

riêng tư của mỗi cá nhân Khi miêu tả một giấc mơ, nhà văn thật tiết kiệm lời, không bình phẩm hay dẫn giải, tuyệt đối tôn trọng ngôn ngữ riêng của mơ: thường thường đó là hình ảnh, âm thanh được lắp ghép một cách phi lí Đọc cơn mơ của Hiền, người ta hiểu thêm những thèm khát tình yêu và nhục dục

Trang 40

của nhân vật này: “Một ông râu rậm từ đâu rơi xuống…người cởi trần, đóng khố…Hiền chạy tìm, nghe nói buồn rầu, yếu ớt: Tôi khổ lắm.”[5; 162] Qua cơn mơ của Tính, thường là ác mộng với nhiều “cười”, “kêu”, “thét”, “gào”,

“vỡ”, người ta xúc động trước một tâm hồn bị chấn thương, trước mặc cảm tội ác, bị bỏ rơi, bị đào thải: “Bố cười, hươ chai rượu đòi nhốt Tính vào trong Tính sợ, thét lên”, “ông Điện xọc dao vào cổ lợn Lợn kêu, hóa thành ông khoa.”[5; 159-160]

Nguyễn Bình Phương là nhà văn hiện đại, với quan điểm mới nên đã thoát khỏi những khái niệm cũ về điên coi đó là một thứ “bệnh” tương đương với các bệnh khác Nhà văn không đặt vấn đề điên trên bình diện y học, đạo đức và xã hội mà tự tìm hiểu nguyên nhân bất hạnh của Tính: những cú đá của cha khi Tính còn trong bụng mẹ, còn khi chào đời sống trong chiến tranh

và bạo lực Nguyễn Bình Phương đã chọn nhân vật Tính là một người “bình thường” – một thợ đập đá, không biết đọc viết, để tránh xa mẫu “kẻ điên vĩ

đại” có trong văn học, từ Quichotte đến thằng Ngốc Tính trong Thoạt kỳ thủy

hiện lên như một kẻ muốn từ chối, đập phá và đương nhiên là thất bại Ở Tính nhà văn không đặt ra những câu hỏi lớn, không lấy nhân vật làm ngoa phát ngôn để truyền đạt tư tưởng, không tiên đoán điều gì ở nhân vật Nhưng tư tưởng của Nguyễn Bình Phương làm cho người đọc phải suy ngẫm rằng thế giới của họ sống không bao giờ tròn trịa, bản thân mỗi người cũng không

hoàn thiện, nói như Nguyễn Bình Phương “ai cũng có một người điên trong

chính mình”.[52]

Điều quan trọng nhất trong tác phẩm là Nguyễn Bình Phương đã trao cho Tính ngôn ngữ của người điên, để từ đó giải quyết một vấn đề nan giải: ngôn ngữ của người điên ngoài những lời lảm nhảm, những cơn mộng mị còn biểu hiện như thế nào? Có thể nói các nhà văn đi trước từ Nguyễn Công

Hoan trong Lá ngọc cành vàng (1934) đến Võ Thị Hảo trong Người sót lại

Ngày đăng: 20/11/2016, 15:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cấu trúc nhân cách theo quan điểm của Freud - Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
Sơ đồ c ấu trúc nhân cách theo quan điểm của Freud (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w