1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng trong kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương Dao động cơ của học sinh lớp 12 THPT

160 368 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi PP có những ưu điểm và nhược điểm nhất định , không có một PP nào là hoàn mĩ đối với mọi mục tiêu giáo dục.Thực tiễn cho thấy ,dạy học không nên chỉ áp dụng một hình thức thi, kiểm t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYễN Đức Hiệp

Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng trong kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương “Dao động cơ ” của học

sinh lớp 12 tHPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ lí luận và phương pháp dạy học bộ môn vật lí

Mã số : 60.14 10

HÀ NỘI, 2010

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYễN Đức Hiệp

Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng trong kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương “Dao động cơ ” của học sinh

Trang 3

Lời cảm ơn

Trong quá trình hoàn thành luận văn này chúng tôi nhận được sự giúp đỡ của:

- Các thầy cô giáo trong khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm Hà Nội II

- Các thầy giáo và các em HS các trường THPT Kim Anh, Sóc Sơn, Quang Minh

- Đặc biệt cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Thế Khôi

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 4

KTĐG : Kiểm tra đánh giá

KTĐGKQHT : Kiểm tra đánh giá kết quả học tập

KQHT : Kết quả học tập

CHTN: Câu hỏi trắc nghiệm

CHTNKQNLC : Câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn TNKQ : Trắc nghiệm khách quan

Trang 5

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước ta đang bước vào thời kì hội nhập công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Trước những điều kiện và thách thức trong giai đoạn mới của đất nước, ngành Giáo dục và Đào tạo cần phải có những đổi mới thực sự để có thể thực hiện được những nhiệm vụ của mình trong tiến trình đi lên của xã hội.Tinh thần

ấy được thể hiện ở các đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII và các Nghị quyết của TW Đảng đã có những định hướng mà giáo dục phải chăm lo: “ Đổi mới những phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp bậc học…, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”[14] Hay trong Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam vạch rõ: “ Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành…làm chủ kiến thức, tránh học vẹt, học chay….Đổi mới và tổ chức nghiêm minh chế độ thi cử ” [03]

Chính vì vậy mà trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương tiến hành đổi mới nền giáo dục một cách toàn diện về mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, về phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập (KTĐGKQHT) của học sinh (HS)

Muốn đổi mới phương pháp (PP) dạy học, trước hết phải đổi mới PP KTĐGKQHT của HS Kiểm tra đánh giá (KTĐG) là một hoạt động thường xuyên, có một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình dạy học Bởi lẽ , việc KTĐG có hệ thống và thường xuyên sẽ cung cấp kịp thời những thông tin cần thiết giúp HS tự điều chỉnh hoạt động học , đồng thời giúp giáo viên (GV ) có những thông tin phản hồi để điều chỉnh và hoàn thiện quá trình dạy học

Trang 6

Các phương pháp KTĐGKQHT rất đa dạng Mỗi PP có những ưu điểm và nhược điểm nhất định , không có một PP nào là hoàn mĩ đối với mọi mục tiêu giáo dục.Thực tiễn cho thấy ,dạy học không nên chỉ áp dụng một hình thức thi, kiểm tra cho một môn học , mà cần thiết phải tiến hành kết hợp các hình thức thi, kiểm tra một cách tối ưu mới có thể đạt được yêu cầu của việc đánh giá kết quả dạy học Các bài thi , kiểm tra viết được chia làm hai loại : Trắc nghiệm tự luận (TNTL) và loại trắc nghiệm khách quan (TNKQ)

Kiểm tra bằng hình thức TNTL bộc lộ nhược điểm là thiếu tính toàn diện

và hệ thống, thiếu tính khách quan, việc chấm bài khó khăn, mất nhiều thời gian,

điểm số có độ tin cậy thấp và không thể sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại để chấm bài cũng như phân tích kết quả Trong khi đó TNKQ có thể dùng KTĐG với rất nhiều ưu điểm như có thể bao quát một phạm vi rộng của nội dung chương trình , có tiêu chí đánh giá đơn nhất , không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người chấm ,sự phân bố điểm của bài kiểm tra bằng TNKQ được trải trên một phổ rộng cũng như có thể sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại trong việc chấm điểm và phân tích kết quả kiểm tra

Chính vì thế mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trương sử dụng phương pháp TNKQ vào một số kì thi quốc gia quan trọng và sử dụng một phần trong KTĐG HS ở các cấp học

Nhưng muốn kiểm tra bằng TNKQ đạt hiệu quả cao cần có một hệ thống câu hỏi hoàn chỉnh , phù hợp , khoa học Việc biên soạn một hệ thống CHTNKQ cho một bộ môn là một công việc không đơn giản

Mặc dù hiện nay trên “thị trường” có rất nhiều tài liệu tham khảo viết câu hỏi trắc nghiệm nhưng không phù hợp vì hầu hết chúng không tuân thủ các quy tắc của việc soạn câu hỏi trắc nghiệm Nhiều câu hỏi với các phương án nhiễu không phản ánh được các phương pháp tư duy sai lầm khác nhau của học sinh

Trang 7

Hơn nữa, các luận văn trước đây về đề tài xây dựng CHTNKQNLC nhằm

KTĐG KQHT của HS chương “ Dao động cơ ”, nói riêng như của Hoàng Kim

Vui, theo chúng tôi còn nhiều khiếm khuyết; như còn có một số câu hỏi có các phương án nhiễu thiếu căn cứ, chưa phản ánh được những sai lầm phổ biến khác nhau của HS hoặc nếu có thì các PP tư duy sai lầm ít mắc phải của HS chỉ chủ yếu là các cách biến đổi sai …

Một lí do nữa khiến chúng tôi thấy rất hứng thú khi chọn đề tài này vì tôi cũng như hầu hết các giáo viên hiện nay còn rất lúng túng trong việc soạn thảo CHTNKQNLC do thiếu cơ sở lí luận và kĩ thuật soạn thảo Do đó, chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn nắm vững hơn về cách soạn câu hỏi TNKQNLC cũng như hy vọng sẽ xây dựng được hệ thống câu hỏi hoàn chỉnh , phù hợp và khoa học để dùng cho bản thân đồng thời là tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp

Xuất phát từ nhận thức , suy nghĩ ở trên và qua thực tiễn dạy học môn Vật

lí ở trường THPT ,chúng tôi lựa chọn đề tài : Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng trong kiểm tra đánh giá chất lượng

kiến thức chương “Dao động cơ ” của học sinh lớp 12 THPT

Trang 8

2 Mục đớch nghiờn cứu

Nghiên cứu xây dựng hệ thống CHTNKQNLC nhằm KTĐG chất lượng

kiến thức của HS ở chương“Dao động cơ” lớp 12 THPT (Ban cơ bản)

3 Giả thuyết khoa học

Nếu có một hệ thống câu hỏi TNKQNLC được soạn thảo một cách khoa học ,

phù hợp với mục tiêu dạy học và nội dung kiến thức chương “Dao động cơ ” thì

có thể dùng để KTĐG chính xác , khách quan chất lượng kiến thức của HS lớp

Nghiên cứu phương pháp TNKQNLC để soạn thảo hệ thống câu hỏi nhằm

KTĐG chất lượng kiến thức chương “Dao động cơ” của học sinh lớp 12 THPT

và thực nghiệm trên lớp 12 của học sinh ở một số trường THPT thuộc Hà Nội

5.Nhiệm vụ nghiờn cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về KTĐGKQHT của HS ở trường THPT

5.2 Nghiên cứu cơ sở lý luận và kỹ thuật xây dựng CHTNKQNLC

5.3 Điều tra thực trạng hoạt động KTĐGKQHT chương “Dao động cơ” ở một

số trường THPT thuộc Sóc Sơn Hà Nội

5.4 Vận dụng cơ sở lý luận để xây dựng hệ thống CHTNKQNLC chương “Dao

động cơ ” lớp 12 THPT

5.5 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hệ thống câu hỏi đã soạn thảo thông qua

việc KTĐGKQHT

Trang 9

6 Phương phỏp nghiờn cứu

6.1.Các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các văn kiện , nghị quyết của Đảng và Nhà nước , Bộ giáo dục

và Đào tạo có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học , lý thuyết về TN nhằm tìm hiểu cũng như phân tích đánh giá một bài TN để xác định cơ sở lý luận của việc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm nhằm KTĐG chất lượng kiến thức của HS trong môn Vật lí ở trường THPT

- Nghiên cứu chương “Dao động cơ ” và các giáo trình liên quan đến chương

trình vật lí THPT

- Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp KTĐG

6.2.Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

-Khảo sát thực trạng về tình hình KTĐG môn Vật lí của học lớp 12 ở một số trường THPT ở Hà Nội

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của bộ câu hỏi trắc nghiệm đã soạn thảo Từ đó rút kinh nghiệm để sửa đổi bổ sung và hoàn thiện bộ câu hỏi đã soạn thảo

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Được sử dụng để tính toán các chỉ số thống kê , trình bày các kết quả thực

nghiệm sư phạm , kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong kết quả học tập của các nhóm đối chứng và thực nghiệm

7 Đóng góp của đề tài

Hệ thống hoá một số cơ sở lí luận về lí luận và kĩ thuật xây dựng CHTNKQ nói riêng và các hình thức KTĐG KQHT của HS nói chung

Làm tài liệu tham khảo về KTĐG cho bộ môn Vật lí ở trường phổ thông vì

bộ CHTNKQNLC này có thể xem như là một hệ thống bài tập mà thông qua đó

Trang 10

người học có thể tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập của mình , giáo viên có thể

dùng làm tài liệu tham khảo để kiểm tra đánh giá học sinh khi dạy chương “Dao

động cơ ”

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA Đề tài 1.1.Cơ sở lớ luận về việc kiểm tra đỏnh giỏ trong quỏ trỡnh dạy học

1.1.1 Khái niệm về kiểm tra đánh giá

Đỏnh giỏ kết quả học tập là quỏ trỡnh thu thập và xử lý thụng tin về trỡnh

độ , khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh,về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho nhũng quyết định sư phạm của giáo viên(GV) và nhà trường , cho bản thân học sinh để họ học tập ngày một tốt hơn

Đánh giá được hiểu là sự theo dõi tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá “Đánh giá có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp thông tin thu nhập được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu xác định nhằm đưa ra quyết định nào đó ” (J.M.DEKETLE)

Theo GS-TS Phạm Hữu Tòng: “Kiểm tra là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá”.Chúng tôi cho rằng kiểm tra trong giáo dục là nhằm theo dõi thu thập số liệu, chứng cứ để đánh giá kết quả học tập, nhằm củng cố mở rộng, tăng cường việc học tập và phát triển tư duy của HS

Quá trình kiểm tra đánh giá gồm các khâu:

-Đo : Theo định nghĩa của JP.Guilford , là gắn một đối tượng hoặc một biến cố theo một quy tắc được chấp nhận một cách logic

Trong dạy học đó là việc GV gắn các số(các điểm) cho các sản phẩm của

HS Cũng có thể coi đó là việc ghi nhận thông tin cần thiết cho việc đánh giá kiến thức , kĩ năng kĩ sảo của HS

Để việc đo được chính xác thì đề ra phải đảm bảo :

Trang 12

+ Độ giá trị : Đó là khả năng của dụng cụ đo cho giá trị thực của đại lượng

được đo (cho phép đo được cái cần đo)

+ Độ trung thực : Đó là khả năng luôn cung cấp cùng một giá trị của cùng một đại lượng đo với dụng cụ đo

+ Độ nhạy : Đó là khả năng của dụng cụ đo có thể phân biệt được khi hai

đại lượng chỉ khác nhau rất ít

- Lượng giá : Là việc giải thích các thông tin thu được về kiến thức kĩ năng của

HS , làm sáng tỏ trình độ tương đối của một HS so với thành tích chung của tập thể hoặc trình độ của HS so với yêu cầu của chương trình học tập

+ Lượng giá theo chuẩn : Là sự so sánh tương đối với chuẩn trung bình chung của tập hợp

+ Lượng giá theo tiêu chí : Là sự đối chiếu vói những tiêu chí đã đề ra

- Đánh giá : Là việc đưa ra những kết luận nhận định , phán xét về trình độ của

HS :

Các bài kiểm tra , bài TN được xem như phương tiện để kiểm tra kiến thức

kĩ năng trong dạy học Vì vậy việc soạn thảo nội dung cụ thể của các bài kiểm tra có tầm quan trọng đặc biệt trong việc KTĐG kiến thức , kĩ năng

Như vậy , kiểm tra và đánh giá là hai công việc có nội dung khác nhau nhưng liên quan mật thiết với nhau vì đều nhằm miêu tả và tập hợp các bằng chứng về kết quả học tập của học sinh Kiểm tra là phương tiện đánh giá ,muốn

đánh giá thì phải tiến hành kiểm tra KTĐG trong đề tài này là quá trình xác

định mục tiêu , yêu cầu , nội dung , PP tiến hành kiểm tra , để phân tích nhằm thúc đẩy hoạt động dạy và học ngày càng tốt hơn

1.1.2 Mục đích của kiểm tra đánh giá

- Việc kiểm tra đánh giá có thể có các mục đích khác nhau tùy trường hợp Trong dạy học KTĐG gồm ba mục đích chính :

Trang 13

+ Kiểm tra kiến thức kĩ năng : Để đánh giá trình độ xuất phát của người học có liên quan tới việc xác định nội dung phương pháp dạy học một môn khoa học , một học phần sắp bắt đầu

+ KTĐG nhằm mục đích dạy học : Bản thân việc KTĐG nhằm định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần dạy

+ Kiểm tra nhằm mục đích đánh giá thành tích kết quả học tập hoặc nhằm nghiên cứu đánh giá mục tiêu phương pháp dạy học

- Mục đích đánh giá trong đề tài này là :

+ Xác nhận kết quả nhận biết ,hiểu ,vận dụng theo mục tiêu đề ra

+ Xác định xem khi kết thúc một học phần của dạy học , mục tiêu của dạy học đã

đạt đến mức độ nào so với mục tiêu mong muốn

+ Tạo điều kiện cho người dạy nắm vững hơn tình hình học tập của HS Từ đó giảng dạy tốt hơn , góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Vật lý

1.1.3 Chức năng của kiểm tra đánh giá

Chức năng của KTĐG được phân biệt dựa vào mục đích KTĐG Các tác giả nghiên cứu KTĐG nêu ra các chức năng khác nhau

GSTS Trần Bá Hoành đề cập ba chức năng của đánh giá trong dạy học : Sư phạm , xã hội , khoa học

- Chức năng sư phạm : KTĐG thể hiện có ích cho bản thân học sinh được kiểm tra cũng như chất lượng dạy của GV trong việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy

- Chức năng xã hội : Công khai hóa kết quả học tập của mỗi HS trong tập thể lớp, trường , thông báo nội dung kết quả học tập cho HS , gia đình và xã hội

- Chức năng khoa học : Nhận định chính xác về một mặt nào đó trong thực tế dạy

và học , về hiệu quả học một cách sáng kiến , cảI tiến nào đó trong dạy học Tùy theo mục đích đánh giá mà một hoặc vài chức nào đó sẽ được đưa lên hàng đầu

Trang 14

Theo GSTS Phạm Hữu Tòng , dạy học ở phổ thông chủ yếu quan tâm đến chức năng sư phạm , được chia nhỏ thành ba chức năng : Chức năng chuẩn đoán ; chức năng chỉ đạo , định hướng hoạt động học ; chức năng xác nhận thành tích học tập, hiệu quả dạy học

- Dùng các bài KTĐG khi bắt đầu dạy học một học phần để thực hiện chức năng chuẩn đoán

+ Chức năng định hướng hoạt động học

- Các bài kiểm tra TN , kiểm tra trong quá trình dạy học có thể được sử dụng như phương tiện , PP dạy học Đó là các câu hỏi kiểm tra từng phần , kiểm tra thường xuyên được sử dụng để chỉ đạo hoạt động học

- Các bài TN được soạn thảo công phu, nó là một cách diễn đạt mục tiêu dạy học

cụ thể đối với các kiến thức , kĩ năng nhất định Nó có tác dụng định hướng hoạt

động học tập tích cực của HS Việc thảo luận các CHTN được tổ chức tốt , đúng lúc nó trở thành PP dạy học tích cực giúp người học chiếm lĩnh kiến thức một cách tích cực, sâu sắc và vững chắc, giúp người dạy kịp thời điều chỉnh, bổ sung hoạt động dạy có hiệu quả

+ Chức năng xác nhận thành tích học tập, hiệu quả dạy học

- Các bài kiểm tra TN , kiểm tra sau khi kết thúc dạy một phần được sử dụng để

đánh giá thành tích học tập, xác nhận trình độ kiến thức, kĩ năng của người học

Trang 15

- Với chức năng này đòi hỏi phải soạn thảo nội dung các bài kiểm tra TN và các tiêu chí đánh giá, căn cứ theo các mục đích dạy học cụ thể đã xác định cho từng kiến thức kĩ năng Các bài kiểm tra TN như vậy có thể được sử dụng để nghiên cứu đánh giá mục tiêu dạy học và hiệu quả của PP dạy học

1.1.4 Các yêu cầu sư phạm đối với việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

1.1.4.1 Đảm bảo tính khách quan trong quá trình đánh giá

- Là sự phản ánh trung thực kết quả lĩnh hội nội dung tài liệu học tập của học sinh so với yêu cầu chương trình quy định

- Nội dung kiểm tra phải phù hợp với các yêu cầu chương trình quy định

- Tổ chức thi phải nghiêm minh

Để đảm bảo tính khách quan trong KTĐG từ khâu ra đề, tổ chức thi tới khâu cho điểm, xu hướng chung là tùy theo đặc trưng môn học mà lựa chọn hình thức thi thích hợp

1.1.4.2 Đảm bảo tính toàn diện

Trong quá trình KTĐGKQHT của HS phải chú ý đánh giá cả số lượng và chất lượng, cả nội dung và hình thức

1.1.4.3 Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống

- Cần KTĐG HS thường xuyên trong mỗi tiết học , sau mỗi phần kiến thức

- Các câu hỏi kiểm tra cần có tính hệ thống

1.1.4.4 Đảm bảo tính phát triển

- Hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó

- Trân trọng sự cố gắng của HS , đánh giá cao những tiến bộ trong học tập của

HS

1.1.5 Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra đánh giá

Trang 16

Để đảm bảo tính khoa học của việc KTĐG kiến thức , kĩ năng thì việc đó phảI được tiến hành theo một quy trình hoạt động chặt chẽ Quy trình này gồm :

- Xác định rõ mục đích KTĐG

- Xác định rõ nội dung các kiến thức kĩ năng cần KTĐG , các tiêu chí cụ thể của mục tiêu dạy học với từng kiến thức kĩ năng đó , để làm căn cứ đối chiếu các thông tin cần thu Việc xác định các mục tiêu , tiêu chí đánh giá cần dựa trên quan niệm rõ ràng và sâu sắc về các mục tiêu dạy học

- Xác định rõ biện pháp thu lượm thông tin (hình thức kiểm tra) phù hợp với đặc

điểm của nội dung kiến thức kĩ năng cần kiểm tra , phù hợp với mục đích kiểm tra Cần nhận rõ ưu nhược điểm của mỗi hình thức kiểm tra để có thể sử dụng phối hợp và tìm biện pháp phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm của mỗi hình thức đó

- Xây dựng các câu hỏi, các đề kiểm tra, các bài TN cho phép thu lượm các thông tin tương ứng với các tiêu chí đã xác định

- Tiến hành kiểm tra, thu lượm thông tin (chấm), xem xét kết quả và kết luận

đánh giá

- Chấm điểm các bài kiểm tra căn cứ theo một thang điểm được xây dựng phù hợp với các tiêu chí đánh giá đã xác định Xem xét kết quả chấm thu được, rút ra các kết luận đánh giá tương ứng với mục đích KTĐG đã xác định

1.1.6 Các hình thức kiểm tra đánh giá cơ bản

Các hình thức kiểm tra đánh giá cơ bản được diễn tả bằng sơ đồ sau :

Trong đề tài này chỉ nghiên cứu sâu 2 loại TNTL và TNKQ

Trang 17

*Trắc nghiệm tự luận : Là loại hình câu hỏi hoặc bài tập mà HS phải viết đầy

đủ các câu trả lời hoặc bài giải theo cách riêng của mình Đây chính là loại câu hỏi và bài tập lâu nay chúng ta vẫn quen dùng để ra các đề kiểm tra viết Loại TNTL này có những ưu điểm và nhược điểm sau:

- Ưu điểm :

+ Tạo điều kiện để HS bộc lộ khả năng diễn đạt suy luận của mình

+ Có thể thấy được quá trình tư duy của HS để có lời giải hay

+ Soạn dễ hơn, mất ít thời gian hơn so với soạn đề bằng các hình thức khác

Trang 18

+ Thiếu tính toàn diện và hệ thống, thiếu tính khách quan

+ Việc chấm bài khó khăn, mất nhiều thời gian Điểm số có độ tin cậy thấp + Không thể sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại để chấm bài cũng như phân tích kết quả

*Trắc nghiệm khách quan : Là loại hình câu hỏi , bài tập mà các phương án trả

lời đã có sẵn , hoặc nếu HS phảI tự viết câu trả lời thì câu trả lời phải là câu trả lời ngắn và chỉ có duy nhất một cách viết đúng TN này gọi là “khách quan” vì tiêu chí đánh giá là đơn nhất, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người chấm, so với TNTL thì TNKQ có một số ưu điểm và nhược điểm sau:

-Nhược điểm :

+ Không cho phép đánh giá năng lực diễn đạt của học sinh cũng như không cho thấy quá trình suy nghĩ của HS để trả lời câu hỏi hoặc giải đáp một bài tập

+ Việc biên soạn đề kiểm tra rất khó và mất nhiều thời gian

* Tựu chung lại : Với hình thức TNTL việc kiểm tra thường bộc lộ nhiều nhược

điểm là không phản ánh được toàn bộ nội dung chương trình, gây tâm lý học tủ

và khi chấm bài GV còn nặng tính chủ quan Vì thế để nâng cao tính khách quan trong KTĐG nhiều tác giả cho rằng nên sử dụng TNKQ Nhìn chung nếu xây

Trang 19

dựng và sử dụng có hiệu quả hệ thống CHTNKQ thì góp phần nào khắc phục

được những hạn chế của hình thức kiểm tra tự luận

1.2 Mục tiêu dạy học

1.2.1 Khái niệm mục đích, mục tiêu dạy học

Mục đích dạy học là những khẳng định chính xác, rõ ràng về những gì mà hoạt động của cá nhân(nhóm)muốn đạt được Mục đích cho biết hướng đi nhưng mục đích không cụ thể tới mức chỉ rõ việc lựa chọn những hành động và cách tiến hành như thế nào , tiến độ và thời hạn hoàn thành …

Mục tiêu dạy học : Là sự lượng giá của mục đích tại những thời điểm nhất

định, cho phép có thể kiểm soát được các bước đi và kết quả thực tế của nó trong

lộ trình đi đến mục đích Mục tiêu có tính lượng giá cao Mục tiêu dạy học phải chỉ rõ cái mà học sinh phải đạt được

1.2.2 Tầm quan trọng của việc xác định mục tiêu dạy học

- Có được phương hướng, tiêu chí để quyết định về nội dung, PP, phương tiện dạy học

- Có được ý tưởng về cái cần KTĐG khi kết thúc mỗi môn học, học phần hay trong quá trình giảng dạy từng kiến thức cụ thể

- Thông báo cho người học biết những cái mong đợi ở đầu ra của sự học là gì ?

Điều này giúp họ tự tổ chức công việc học tập của mình

- Có được ý tưởng rõ ràng về các kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có của GV

1.2.3 Yêu cầu cảu phát biểu mục tiêu

- Phải rõ ràng, cụ thể

- Phải đạt tới được trong khóa học hay đơn vị học tập

- Phải bao gồm nội dung học tập thiết yếu của môn học

- Phải quy định rõ kết quả của việc học tập, nghĩa là các khả năng mà người học

sẽ có được khi họ đã đạt đến mục tiêu

Trang 20

- Phải đo lường được

- Phải chỉ rõ những gì người học có thể làm được vào cuối giai đoạn học tập

1.2.4 Phân loại bốn trình độ của mục tiêu nhận thức

Nghiên cứu về cách phân loại các hoạt động nhận thức, vận dụng vào phạm vi nghiên cứu của đề tài Có nhiều cách phân loại mục tiêu nhận thức nhưng theo GS TS Phạm Hữu Tòng có bốn trình độ như sau :

1.2.4.1 Trình độ nhận biết, tái hiện, tái tạo

Trình độ này thể hiện khả năng nhận ra được, nhớ lại được, phát biểu lại

được đúng sự trình bày kiến thức đã có, giải đáp được câu hỏi thuộc dạng “A là gì ? Thế nào ? Thực hiện A như thế nào ? ”

1.2.4.2 Trình độ hiểu , áp dụng (giải quyết tình huống tương tự như tình huống đã biết)

Trình độ này thể hiện khả năng giải thích , minh họa được nghĩa của kiến thức , áp dụng được kiến thức đã nhớ lại , hoặc đã được gợi ra để giải quyết được những tình huống tương tự với tình huống đã biết , theo cùng một mẫu như tình huống đã biết ; giải đáp được câu hỏi thuộc dạng “A giúp giải quyết X như thế nào ?” (Kiến thức A giúp bạn giải quyết vấn đề này như thế nào ?)

1.2.4.3 Trình độ vận dụng linh hoạt (giải quyết được tình huống có biến đổi

so với tình huống đã biết)

Trình độ này thể hiện ở khả năng lựa chọn , áp dụng tri thức trong tình huống có biến đổi so với tình huống đã biết , nhận ra rằng có thể giải quyết tình huống đã cho bằng cách vận dụng phối hợp các cách giải quyết các tình huống theo các mẫu đã biết , giải đáp được các câu hỏi dạng “Các A nào giúp giải quyết

X và giải quyết như thế nào ?” (Bạn biết gì về cái sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề này và giải quyết như thế nào ?)

Trang 21

Các câu hỏi nêu ở mỗi bậc trên đây có thể xem như những tiêu chí chung

để phân biệt các trình độ nắm tri thức khi KTĐG.Dựa theo các dạng chung đó của các câu hỏi,có thể soạn thảo các câu hỏi hoặc các đề bài KTĐG kiến thức kĩ năng cụ thể phù hợp vói mục tiêu dạy học đã xác định và phù hợp với mục đích KTĐG kiến thức kĩ năng đã đề ra

1.2.5 Phương pháp và kĩ năng trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

+Đây là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm về nhũng sự kiện

+Nó giúp cho việc trắc nghiệm một lĩnh vực rộng lớn trong khoảng thời gian ngắn

+Dễ soạn thảo Nội dung chiếm ít chỗ của trang giấy kiểm tra

-Nhược điểm:

+ Xác suất chọn được phương án đúng cao

+ Nếu dùng nhiều câu hỏi trong sách giáo khoa sẽ tạo cho HS thói quen học vẹt + Việc dùng nhiều câu “sai” có thể gây tác dụng tiêu cực trong việc ghi nhớ kiến thức

+ Tiêu chí “đúng sai ” có thể phụ thuộc vào chủ quan của HS và người chấm + Có thể khuyến khích sự đoán mò , khó dùng để thẩm định HS yếu , có độ tin cậy thấp

- Phạm vi sử dụng :

+ Thích hợp cho việc kiểm tra vấn đáp nhanh

+ Thường sử dụng khi không được đủ phương án cho câu nhiều lựa chọn

Trang 22

1.2.5.2 Trắc nghiệm cặp đôi (xứng hợp)

Loại câu này được trình bày thành hai dãy , dãy bên trái là phần dẫn , trình bày những nội dung muốn kiểm tra (khái niệm , định nghĩa , định luật …) , dãy bên phải là phần trả lời trình bày với các nội dung (câu , mệnh đề, công thức …) phù hợp với nội dung phần dẫn Để tránh sự đoán mò của HS người ta thường để

số câu lựa chọn ở bên phải nhiều hơn số câu dẫn ở bên trái

- Ưu điểm :

+ Các câu ghép đôi dễ viết , dễ dùng , ít tốn giấy

+ Có thể kiểm tra nhiều nội dung trong thời gian ngắn

- Nhược điểm :

+ HS dễ trả lời thông qua phương pháp loại trừ

+ Khó đánh giá được mức độ tư duy ở trình độ cao

+ Muốn soạn câu hỏi đo các kiến thức cao đòi hỏi nhiều công phu

+ HS mất nhiều thời gian làm bài vì để trả lời mỗi câu hỏi lại phải đọc lại toàn bộ những câu lựa chọn , trong đó có cả những câu rõ ràng nhưng không thích hợp

- Phạm vi sử dụng : Thích hợp với việc kiểm tra kiến thức cơ bản sau khi học

- Phạm vi sử dụng :

+ Thích hợp cho các môn ngoại ngữ , xã hội và nhân văn

+ Phù hợp hơn với các cấp học dưới

Trang 23

1.2.5.4 Phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

Dạng TNKQ hay dùng nhất là TNKQNLC Đây là loại câu hỏi mà chúng tôi sử dụng trong hệ thống chương sau của luận văn

Trong đề tài , chúng tôi chọn TNKQ 4 lựa chọn vì theo chúng tôi nếu ít lựa chọn hơn thì không bao quát được sai lầm của học sinh , nhiều lựa chọn hơn sẽ

+ Cho phép đánh giá một hệ thống , chính xác ở mức cao Bài kiểm tra có rất nhiều câu hỏi nên có thể kiểm tra một cách hệ thống , chính xác ở mức cao Có thể kiểm tra toàn diện kiến thức kĩ năng , tránh được tình trạng học tủ , dạy tủ + Cho phép đưa ra các yêu cầu chính xác ,độ tin cậy cao ; yếu tố đoán mò , may rủi giảm nhiều nếu số phương án tăng lên

+ Đảm bảo thái độ khách quan trong việc chấm bài Chấm bài nhanh , chính xác

và khách quan

+ Tính giá trị tốt , người ta có thể đo được khả năng nhớ, vận dụng , khả năng suy diễn , tổng quát hóa , … tạo điều kiện cho HS tự đánh giá kết quả học tập của mình một cách chính xác

+Có thể sử dụng các phương tiện hiện đại trong chấm bài và phân tích kết quả kiểm tra

- Nhược điểm:

Trang 24

+ Khó khăn trong việc đánh giá một số kĩ năng:Kĩ năng trình bày và viết ra những điều suy nghĩ,kĩ năng đưa ra các giảI pháp trả lời mới thậm chí là khả năng tự viết lại những điều trong trí nhớ có liên quan đến bài kiểm tra

+Đưa ra các giảI pháp sai cho học sinh.Không có khả năng dẫn dắt việc đưa các câu trả lời

+Biên soạn các câu hỏi khó,tốn nhiều thời gian

+Có thể có trường hợp HS có thể tìm ra cách trả lời hay hơn nên họ không thỏa mãn với phương án đã lựa chọn.Hạn chế trong việc đánh giá khả năng sáng tạo của HS

+Khó khăn trong việc truyền đạt miệng cho học sinh nội dung một câu hỏi TNKQ[18 tr 92 – 93]

- Phạm vi sử dụng:

+Có thể dùng cho mọi hình thức KTĐG

+Thích hợp cho việc đánh giá xếp loại học sinh

1.3.1.Cấu trúc và kĩ thuật soạn thảo câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

Câu hỏi thuộc dạng này gồm hai phần:phần gốc và phần lựa chọn

-Phần gốc: Là một câu hỏi hay một bộ câu bỏ lửng(chưa hoàn chỉnh).Yêu cầu phải tạo căn bản cho sự lựa chọn,bằng cách tạo ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho người làm bài có thể hiểu rõ câu hỏi ấy muốn đòi hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời cho thích hợp

+Cũng có khi phần gốc là một câu phủ định,trong trường hợp ấy phải in đậm hoặc gạch dưới chữ diễn tả sự phủ định để HS khỏi nhầm

-Phần lựa chọn: Gồm có nhiều giải pháp có thể lựa chọn,trong đó có một lựa chọn được dự định là đúng,hay đúng nhất,những phần mềm còn lại là những

Trang 25

phương án nhiễu.Điều quan trọng là làm sao cho những phương án nhiễu ấy đều hấp dẫn ngang nhau với những HS chưa học kĩ hay chưa hiểu kĩ bài học

-Đối với phần lựa chọn:

+Trong 4 hay 5 phương án lựa chọn chỉ có một phương án đúng

+Nên tránh hai lần phủ định liên tiếp

+Câu lựa chọn không nên quá ngây ngô

+Phần gốc và phần lựa chọn khi kết hợp phải mang ý nghĩa trọn vẹn,tuy nhiên nên sắp xếp các ý vào phần gốc sao cho:

*Phần lựa chọn được ngắn gọn

*Người đọc thấy nội dung cần kiểm tra

1.3.2.Một số nguyên tắc cần chú ý khi soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

*Các quy tắc biên soạn câu hỏi với mục đích hỏi

+ CHTNKQNLC chỉ được sử dụng nó thích hợp nhất với PP đánh giá mà ta đặt

ra Nên tránh dùng CHTNKQNLC khi ta cần đặt câu hỏi gợi mở hay câu hỏi dùng cho việc đánh giá khả năng tóm tắt và hệ thống kiến thức , loại câu dành cho việc đánh giá khả năng tập chung hay khả năng sáng tạo

+ Câu TNKQNLC cần phải gắn liền với mục đích kiểm tra và phù hợp với cách

đánh giá

+ Câu TNKQNLC không được gây trở ngại cho việc học

*Các quy tắc biên soạn liên quan đến giá trị chuẩn đoán câu trả lời

- Câu TNKQNLC cần phải hướng GV đến diễn biến tư duy đã sử dụng của HS

- Các yếu tố gây nhiễu cần phải chỉ rõ được cái lỗi của kiến thức hoặc cái lỗi tư duy không chính xác của HS

Trang 26

- Cần chỉ rõ phần câu dẫn mà câu hỏi đề cập đến trong câu TN Phần dẫn phải có nội dung rõ ràng và chỉ nên đưa vào một nội dung , tránh đưa vào nhiều nội dung , nhất là nội dung trái ngược nhau

* Sáu quy tắc biên soạn câu dẫn (câu hỏi )

+ Câu hỏi cần tuân thủ đúng quy tắc cho trước

+ Cần phải đưa ra các mệnh đề chính xác về mặt cú pháp

+ Tránh đưa ra những thuật ngữ không rõ ràng

+ Tránh các hình thức câu phủ định và việc đặt ra nhiều mệnh đề phủ định trong câu hỏi

+ Cần tách biệt rõ phần dữ kiện và phần hỏi trong câu dẫn

+ Trước khi đưa ra các giải pháp trả lời , ta phải nhóm các yếu tố chung của câu trả lời

* Tám quy tắc trong việc soạn các phương án trả lời

+ Độc lập về cú pháp

+ Các phương án đưa ra phải độc lập với nhau về mặt ngữ nghĩa

+ Tránh dùng các từ chung cho phần câu hỏi và phần các phương án trả lời + Không được đưa vào các từ không có khái niệm để đánh lạc hướng người trả lời

+ Không được biên soạn câu trả lời đúng với phần giải thích được mô tả chi tiết hơn so với các phương án trả lời khác

+ Các phương án trả lời phải có độ phức tạp như nhau, có độ dài như nhau

+ Nếu phải đưa ra các từ kĩ thuật hoặc từ chuyên môn vào các phương án trả lời thì mức độ chuyên môn phải đồng đều trong các phương án đó

+ Các phương án trả lời phải có cùng mức độ tổng quát

1.3.3 Kĩ thuật soạn thảo các phương án nhiễu

Trang 27

Trong phần trả lời chỉ có một phương án đúng gọi là đáp án, các phương

án còn lại đều sai gọi là các phương án nhiễu Một CHTNKQNLC có chất lượng tốt cần được hiểu là ngoài đáp án thì các phương án nhiễu phải phản ánh được các PP tư duy khác nhau của HS nhưng chưa dẫn đến kết quả đúng vì thiếu chính xác Từ đó suy ra một câu hỏi có chất lượng kém là câu hỏi có các phương án nhiễu không có mối liên hệ gì với phương án đúng , dẫn đến không phản ánh

được các sai lầm của HS Một câu TNKQ có các phương án nhiễu hấp dẫn sẽ làm tăng sự hứng thú , kích thích sự tìm tòi khám phá , phát triển năng lực tư duy của HS Vì vậy, khi biên soạn CHTNKQNLC cần ý thức được vai trò và tầm quan trọng của các phương án nhiễu Dưới đây là một số kĩ thuật soạn thảo các phương án nhiễu :

Từ kinh nghiệm giảng dạy và nắm bắt được những sai lầm của học sinh thường mắc phải để có thể dễ dàng dự đoán trước được các phương án nhiễu nhằm vào những sai lầm này Ví dụ, lỗi sai phổ biến nhất của học sinh là thường không để ý đến đơn vị của các đại lượng vật lí

Một đại lượng vật lí có liên quan với nhiều đại lượng vật lí khác Do đó nếu học không kĩ hoặc không để ý đến thứ nguyên của các đại lượng, thì khi đó việc giải các bài tập về mặt biến đổi toán học có vẻ hợp lí nhưng vẫn dấn đến kết quả sai Các phương án nhiễu có thể nằm ở lỗi này

Sử dụng phương án sai bắt nguồn từ cách biến đổi, suy luận toán học sai để làm các phương án nhiễu

Có thể dùng các phương án nhiễu dựa trên việc định nghĩa quá rộng hoặc quá hẹp

Có thể xây dựng các phương án nhiễu dựa trên mối quan hệ nhân quả của các đại lượng vật lí Tuy nhiên quan hệ nhân quả giữa các đại lượng chỉ thể hiện

ở biểu thức gốc, không có ở các biểu thức hệ quả

Trang 28

Dùng các khái niệm, sự vật hiện tượng, tính chất có nét tương đồng để gây

sự nhầm lẫn cho HS, tạo cảm giác gần đúng hoặc khó phân biệt để làm phương

án nhiễu

Tóm lại : Các phương án nhiễu phải được bắt nguồn từ các quan niệm sai lầm và những sai lầm HS thường mắc phải thì các phương án nhiễu mới gây hấp dẫn và sự chú ý cho HS Để đưa ra được phương án nhiễu hay mà HS dễ mắc phải trong quá trình làm bài thì người biên soạn đòi hỏi phải có kiến thức sâu, có kinh nghiệm trong giảng dạy và đặc biệt là phải có những cuộc trò chuyện, trao đổi trong tập thể các GV đang trực tiếp giảng dạy

1.3.4 Các giai đoạn soạn thảo một bài trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

Cách tốt nhất để lên kế hoạch cho một bài TN là liệt kê các mục tiêu giảng dạy cụ thể hay năng lực cần đo lường (trả lời câu hỏi : Cần khảo sát những gì ở

HS ) hay nói cách khác là xác định rõ mục đích của bài TN

Một sự phân tích về nội dung sẽ cho ta một bản tóm tắt ý đồ chương trình giảng dạy được diễn đạt theo nội dung : Đặt tầm quan trọng vào những phần nào của môn học và mục tiêu nào? Những lĩnh vực nào trong nội dung đó nên đưa vào trong bài TN đại diện này

Cần phải suy nghĩ cách trình bày các câu dưới hình thức nào cho hiệu quả nhất và mức độ khó dễ của bài trắc nghiệm đi đến đâu

1.3.4.1 Mục đích của bài trắc nghiệm

Một bài trắc nghiệm có thể phục vụ nhiều mục đích, nhưng bài TN ích lợi

và có hiệu quả nhất khi nó được soạn thảo để nhằm phục vụ cho mục đích chuyên biệt nào đó

Trang 29

- Nếu bài TN là một bài thi cuối kì nhằm xếp hạng HS thì các câu soạn phải đảm bảo điểm số được phân tán rộng, như vậy mới phát hiện ra được HS giỏi và HS kém

- Nếu bài TN là một bài kiểm tra nhằm kiểm tra những hiểu biết tối thiểu

về một phần nào đó thì ta soạn thảo những câu hỏi sao cho hầu hết HS đều đạt

được điểm tối đa

- Nếu bài TN nhằm mục đích chuẩn đoán, tìm ra những chỗ mạnh, chỗ yếu của HS, giúp cho GV điều chỉnh PP dạy phù hợp, thì các câu TN được soạn thảo sao cho tạo cơ hội cho HS phạm tất cả mọi sai lầm về môn học nếu chưa học kĩ

Bên cạnh các mục đích nói trên ta có thể dùng TN với mục đích tập luyện giúp HS hiểu thêm bài học và có thể làm quen với lối thi TN

Tóm lại , TN có thể phục vụ nhiều mục đích, người soạn TN phải biết rõ mục đích của mình thì mới soạn thảo được bài TN giá trị vì mục đích chi phối nội dung hình thức bài

1.3.4.3 Thiết lập dàn bài trắc nghiệm

Sau khi nắm vững được mục đích của bài TN và phân tích nội dung môn học ta lập được một dàn bài cho TN

Trang 30

Lập một bảng quy hoạch 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và chiều kia biểu thị mục tiêu nhận thức mà bài TN muốn khảo sát Số câu hỏi cần được đưa vào trong mỗi loại phải được xác định rõ ma trận này phải được chuẩn bị xong trước khi viết câu TN

Một mẫu dàn bài :

Mục tiêu nhận thức

Nội dung kiến thức

Nhận biết (Số câu)

Hiểu (Số câu)

Vận dụng (Số câu)

1.3.4.4 Lựa chọn số câu hỏi và soạn thảo các câu hỏi cụ thể

*Số câu hỏi trong bài trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn :

- Số câu hỏi được bao gồm trong bài TN phải tiêu biểu cho toàn thể kiến thức mà ta đòi hỏi ở học sinh phải có

- Số câu hỏi phụ thuộc vào thời gian dành cho nó, nhiều bài TN được giới hạn trong khoảng thời gian một tiết học hoặc kém hơn

- Yêu cầu chính xác các điểm số, nghĩa là làm sao mẫu nghiên cứu mang tính chất đại diện cho quần thể

* Viết câu hỏi

Căn cứ vào kết quả phân tích nội dung và ma trận 2 chiều để viết các câu hỏi TN Khi viết nên tuân theo các quy tắc đã soạn thảo, những lời khuyên thực

tế, những gợi ý của các chuyên gia về đánh giá giáo dục

Trang 31

1.3.4.5 Chỉnh lí sơ bộ các câu hỏi

Phân tích sơ bộ các câu hỏi trước khi đem ra thực nghiệm để phát hiện trước những sai sót có thể có trong quá trình soạn thảo : Sự chính xác của các thuật ngữ, cách diễn đạt những câu chưa đảm bảo yêu cầu kiến thức, các phương

án nhiễu không hợp lí … Do đó các ý kiến của các đồng nghiệp, các chuyên gia rất bổ ích trong việc sửa chữa, hiệu chỉnh các câu hỏi

1.3.4.6.Hoàn thiện câu hỏi

Thực nghiệm nhằm mục đích kiểm tra tính khả thi, tính hiệu quả của việc

sử dụng các câu hỏi Qua các đợt thực nghiệm để có những số liệu thống kê làm cơ sở để lựa chọn và giữ lại các câu hỏi tốt đồng thời sửa lại hoặc loại bỏ các câu không đạt yêu cầu

Trang 32

Tiến trình trên được biểu diễn bằng sơ đồ khối sau

Không

Chỉnh lí sơ bộ các câu hỏi

Hoàn thiện câu hỏi

Lựa chọn câu hỏi

Tiêu chuẩn hóa và lưu ngân hàng câu hỏi

Phân tích câu hỏi

Lựa chọn số câu hỏi va soạn thảo các câu hỏi cụ thể

Thiết lập dàn bài trắc nghiệm môn học

Trang 33

Sơ đồ tiến trình xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

1.4 Cách trình bày và cách chấm điểm một bài trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

1.4.1.Cách trình bày

Có hai cách thông dụng :

-Cách 1 : Dùng máy chiếu , ta có thể viết bài trắc nghiệm trên phim ảnh rồi

chiếu lên màn ảnh từng phần hay từng câu Mỗi câu mỗi phần ấy được chiếu lên màn ảnh trong khoảng thời gian nhất định đủ cho HS bình thường có thể trả lời

được Cách này có ưu điểm :

+ Kiểm soát được thời gian

+ Tránh được sự thất thoát đề thi

+ Tránh được phần nào gian lận

-Cách 2 : Thông dụng hơn là in bài TN ra nhiều bản tương ứng với số người dự

thi Trong phương pháp này có hai cách trả lời khác nhau :

+ Bài có dành phần trả lời của HS ngay trên đề thi , thẳng ở phía bên phải hay ở bên trái

+ Bài HS trả lời bằng phiếu riêng theo mẫu :

- Lưu ý khi in bài TN :

+ Tránh in sai , in không rõ ràng , thiếu sót

+ Cần được trình bày rõ ràng , dễ đọc

+ Cần làm nổi bật phần gốc , phần lựa chọn , cần xếp các câu theo hàng hoặc theo cột cho dễ đọc

+ Để tránh sự gian lận của HS ta thể in thành những bộ bài TN với những câu hỏi giống nhau nhưng thứ tự các câu hỏi bị đảo lộn

1.4.2 Chuẩn bị cho học sinh

Trang 34

-Báo trước cho HS ngày giờ kiểm tra,cách thức,nội dung kiểm tra.Huấn luyện cho HS cách thức làm bài TN,nhất là trường hợp họ làm bài TN lần đầu

-Phải nhắc nhở HS trước khi làm bài:

+HS phải lắng nghe và đọc kĩ càng những lời chỉ dẫn cách làm bài TN +HS phải được biết về cách tính điểm

+HS phải được nhắc nhở rằng họ phải đánh dấu các câu lựa chọn một cách

rõ ràng,sạch sẽ.Nếu có tẩy xóa thì phải tẩy xóa thật sạch

+HS cần được khuyến khích trả lời tất cả các câu hỏi, dù không hoàn toàn chắc chắn

+HS nên bình tĩnh khi làm bài TN không nên quá lo ngại

1.4.3 Công việc của giám thị

-Đảm bảo nghiêm túc đúng thời gian làm bài

-Xếp chỗ ngồi cho HS sao cho tránh được nạn quay cóp

-Dùng máy chấm bài

-Dùng máy vi tính chấm bài

1.4.5 Các loại điểm của bài trắc nghiệm

Có hai loại điểm:

-Điểm thô: Tính bằng điểm số cho trên bài trắc nghiệm

Trong bài TN mỗi câu đúng được tính một điểm và câu sai được tính không điểm.Như vậy điểm thô là tổng điểm tất cả các câu đúng trong bài TN

Trang 35

-Điểm chuẩn: Nhờ điểm chuẩn có thể so sánh điểm số của HS trong nhiều nhóm

hoặc giữa nhiều bài TN của nhiều môn khác nhau

Công thức tính điểm chuẩn:

S Z

x

x 

Trong đó : x - điểm thô

x - điểm thô trung bình của nhóm làm bài TN

S - độ lệch chuẩn của nhóm ấy

Bất lợi khi dùng điểm chuẩn Z là :

+ Có nhiều trị số Z âm , gây nhiều phiền hà khi tính toán

+ Tất cả các điểm Z đều là số lẻ

Để tránh khó khăn này người ta dùng điểm chuẩn biến đổi

+ T = 10.Z + 50 (Trung bình là 50 , độ lệch chuẩn là 10 )

+ V = 4.Z + 50 ( Trung bình là 10 , độ lệch chuẩn là 4 )

+ Điểm 11 bậc (từ 0 đến 10) dùng ở nước ta hiện nay , đó là cách biến đổi điểm

20 trước đây ; ở đây chọn điểm trung bình là 5 , độ lệch tiêu chuẩn là 2 nên

V = 2.Z + 5

- Cách tính trung bình thực tế và trung bình lý thuyết :

+ Trung bình (thực tế ) : Tổng số điểm thô toàn bài TN của tất cả mọi người làm bài trong nhóm chia cho tổng số người Điểm này tùy thuộc vào bài làm của

từng nhóm :

N

x x

N

i i

+ Trung bình lý tưởng : Là trung bình cộng của điểm tối đa có thể có với điểm may rủi có thể làm đúng (số câu chia cho số lựa chọn) Điểm này không thay đổi với một bài TN cố định

Trang 36

Ví dụ : Một bài TN có 54 câu hỏi , mỗi câu có 4 lựa chọn, ta có :

Điểm may rủi : 13 , 5

1.5 Phân tích câu hỏi

1.5.1 Mục đích của phân tích câu hỏi

- Kết quả bài thi giúp GV đánh giá mức độ thành công của công việc giảng dạy

và học tập để thay đổi PP, lề lối làm việc

- Việc phân tích câu hỏi là để xem HS trả lời mỗi câu như thế nào , từ đó sửa lại các câu hỏi để bài TN có thể đo lường thành quả khả năng học tập một cách hữu hiệu hơn

1.5.2 Phương pháp phân tích câu hỏi

Trong phương pháp phân tích câu hỏi của một bài trắc nghiệm thành quả học tập chúng ta thường so sánh câu trả lời của HS ở mỗi câu hỏi với điểm số chung toàn bài Chúng ta mong có nhiều HS ở nhóm điểm cao và ít HS ở nhóm

điểm thấp trả lời đúng mỗi câu hỏi Nếu kết quả không như vậy , có thể câu hỏi viết chưa chuẩn hoặc vấn đề chưa được dạy đúng mức

Để xét tương quan giữa cách trả lời mỗi câu hỏi với điểm tổng quan chúng

ta có thể lấy 25% - 30% HS có nhóm điểm cao nhất và 25%- 30 % HS có nhóm

điểm thấp nhất

Chúng ta đếm số câu trả lời cho mỗi câu hỏi trong bài TN ở mỗi câu hỏi cần biết có bao nhiêu HS trả lời đúng , bao nhiêu HS trả lời sai , bao nhiêu HS không trả lời Khi đếm sự phân bố các câu trả lời như thế ở các nhóm có điểm cao , điểm thấp và điểm trung bình ta sẽ suy ra :

- Mức độ khó của câu hỏi

Trang 37

- Mức độ phân biệt nhóm giỏi và nhóm kém của mỗi câu hỏi

- Mức độ lôi cuốn của các phương án của các phương án nhiễu

Sau khi chấm một bài TN chúng ta thực hiện các giai đoạn sau đây:

- Sắp các bài làm theo tổng số điểm từ cao xuống thấp

- Chia tập bài ra làm 3 chồng:

+Chồng 1: 25% hoặc 27% những bài điểm cao

+Chồng 2: 50% hoặc 46% bài trung bình

+Chồng 3: 25% hoặc 27% bài điểm thấp

-Lập 1 bảng có dạng sau:

Số người Câu hỏi số

Tổng số người chọn

Số giỏi trừ số kém

+Ghi các số đã thống kê được trên bài chấm vào bảng với từng nhóm và từng câu +Hoàn thiện bảng đã nhập

+Cột số giỏi trừ số kém có thể có giá trị âm,tổng đại số ở cột này bằng không

Trang 38

giá trị cần xem xét lại các phương án nhiễu đó vì nó không phân biệt được nhóm giỏi và nhóm kém Câu trả lời đúng bao giờ cũng có giá trị dương cao

Khi phân tích ta cần tìm hiểu xem có khuyết điểm nào trong chính câu hỏi hoặc trong phương pháp giảng dạy không

- Tính các chỉ số thống kê :

+ Độ khó của một câu hỏi :

(0≤ P ≤ 1)

Nếu P = 0 thì câu hỏi quá khó

Nếu P = 1 thì câu hỏi quá dễ

+ Độ khó vừa phải của một câu hỏi : là trung bình cộng của 100% và tỉ lệ may rủi kì vọng:

Ví dụ : Một TN có bốn phương án lựa chọn , độ khó vừa phải là :

Một bài có giá trị và đáng tin cậy thường là bài gồm những câu có độ khó xấp xỉ bằng độ khó vừa phải

+ Độ phân biệt của một câu hỏi :

n

L H

2

PVP = = 62,5%

Trang 39

L : Số người trả lời đúng nhóm điểm thấp n: Số người trong mỗi nhóm

Dương Thiệu Tống đã đưa ra một thang đánh giá độ phân biệt dưới đây :

Chỉ số D Đánh giá câu

Từ 0,4 trở lên Rất tốt

Từ 0,3 đến 0,39 Khá tốt , có thể làm cho tốt hơn

Từ 0,20 đến 0,29 Tạm được , cần hoàn chỉnh

Dưới 0,19 Kém , cần loại bỏ hay sửa lại

* Tiêu chuẩn để lựa chọn câu hỏi hay :

Sau khi phân tích , chúng ta có thể tìm ra được các câu hỏi hay là những câu có tính chất sau :

1.6 Phân tích đánh giá bài trắc nghiệm thông qua các chỉ số thống kê

1.6.1 Độ khó của bài trắc nghiệm

Trang 40

Độ khó .100%

c

x

x : Điểm chuẩn trung bình thực tế

c : Điểm tối đa (số câu của bài)

0≤ Độ khó ≤ 1

1.6.2 Độ lệch tiêu chuẩn

Một trong các số đo lường quan trọng nhất là độ lệch tiêu chuẩn , là số đo lường độ phân tán của các điểm số trong một phân bố Trong phần nghiên cứu , chỉ cần tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn phân bố đơn và đẳng loại Độ lệch chuẩn tính trên mỗi nhóm HS làm thực tế nên có thể thay đổi Để tính nó ta

Trong đó : n là số người làm bài

D = xi - x với : xi - điểm thô của mẫu thứ i

x - điểm trung bình cộng điểm thô của mẫu Tính d : Lập điểm thô của từng bài , cộng lại chia cho tổng số người làm được

điểm trung bình cộng của bài TN , lấy điểm thô của từng bài trừ cho điểm trung bình ta có từng độ lệch d , bình phương từng độ lệch ta có d2

Hoặc

)1.(

2)(2

n n

x x

Ngày đăng: 20/11/2016, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] .“Báo cáo của ban chấp hành TW khóa VIII về các văn kiện trình đại hội IX Đảng cộng sản Việt Nam ” , Báo nhân dân ngày 22/04/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của ban chấp hành TW khóa VIII về các văn kiện trình đại hội IX Đảng cộng sản Việt Nam
[2]. Lương Duyên Bình - Vũ Quang - Nguyễn Thượng Chung - Tố Giang - Trần Chí Minh - Ngô Quốc Quýnh (2008) , Bài tập Vật lí 12 , NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Vật lí 12
Nhà XB: NXBGD
[3]. Lương Duyên Bình - Vũ Quang - Nguyễn Thượng Chung - Tố Giang - Trần Chí Minh - Ngô Quốc Quýnh (2008) , Vật lí 12 , NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 12
Nhà XB: NXBGD
[4] .Đoàn Ngọc Căn - Đặng Thanh Hải - Vũ Đình Túy (2008) , Bài tập chọn lọc VËt lÝ 12 , NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập chọn lọc VËt lÝ 12
Nhà XB: NXBGD
[5]. Đinh Thị Hà (2010) , Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương “Hạt nhân nguyên tử ” lớp 12 THPT , Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương "“"Hạt nhân nguyên tử "”" lớp 12 THPT
[8]. Phan Trọng Ngọ (2005) , Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường , NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Nhà XB: NXBGD
[10]. Nguyễn Trọng Sửu (chủ biên) , Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12 , NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12
Nhà XB: NXBGD
[11]. Nguyễn Đức Thâm - Nguyễn Ngọc Hưng - Phạm Xuân Quế (2002) , Phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông , NXBĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông
Nhà XB: NXBĐHSP
[12]. Lâm Quang Thiệp (2008) , Trắc nghiệm và ứng dụng , NXB Khoa học và kĩ thuËt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc nghiệm và ứng dụng
Nhà XB: NXB Khoa học và kĩ thuËt
[13]. Phạm Huy Thông (2008) , Bộ đề thi trắc nghiệm Vật lí 12 , NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ đề thi trắc nghiệm Vật lí 12
Nhà XB: NXBGD
[14]. Phạm Hữu Tòng (2004) , Dạy học vật lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động tích cực , tự chủ , sáng tạo và tư duy khoa học, NXB§HSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học vật lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động tích cực , tự chủ , sáng tạo và tư duy khoa học
Nhà XB: NXB§HSP
[15]. Phạm Hữu Tòng (2004) , Lý luận dạy học vật lí ở trường trung học , NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học vật lí ở trường trung học
Nhà XB: NXBGD
[16]. Phạm Hữu Tòng (2008), Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học vật lí. Bài giảng chuyên đề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học vật lí
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Năm: 2008
[17]. Dương Thiệu Tống (1998) , Trắc nghiệm tiêu chí , NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc nghiệm tiêu chí
Nhà XB: NXBGD
[18]. Dương Thiệu Tống (1995) , Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập (phương pháp thực hành ) , NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập (phương pháp thực hành )
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
[19]. Hoàng Kim Vui (2004) , Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương“Dao động cơ ” lớp 12 THPT , Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương "“"Dao động cơ "”" lớp 12 THPT
[6].Nguyễn Thế Khôi - Vũ Thanh Khiết - Nguyễn Đức Hiệp - Nguyễn Ngọc Hưng - Nguyễn Đức Thâm - Phạm Đình Thiết - Vũ Đình Túy - Phạm Quý Tư Khác
[9]. Nguyễn Trọng Sửu - Vũ Đình Túy - Vũ Đức Thọ (2009), Hướng dẫn ôn tập thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Vật lí Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cấu trúc - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng trong kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương Dao động cơ của học sinh lớp 12 THPT
Sơ đồ c ấu trúc (Trang 47)
Bảng 3.1. Điểm thô và điểm chuẩn qui tròn 11 bậc của học sinh - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng trong kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương Dao động cơ của học sinh lớp 12 THPT
Bảng 3.1. Điểm thô và điểm chuẩn qui tròn 11 bậc của học sinh (Trang 84)
Bảng 3.2. Tần số, tần suất điểm chuẩn bài làm của học sinh - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng trong kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương Dao động cơ của học sinh lớp 12 THPT
Bảng 3.2. Tần số, tần suất điểm chuẩn bài làm của học sinh (Trang 86)
Bảng 3.3.Phân bố các loại điểm - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng trong kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương Dao động cơ của học sinh lớp 12 THPT
Bảng 3.3. Phân bố các loại điểm (Trang 87)
Bảng  3.4  .  Đánh  giá  mức  độ  đạt  được  kiến  thức  và  kĩ  năng  học  sinh  theo  mục  tiêu - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng trong kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương Dao động cơ của học sinh lớp 12 THPT
ng 3.4 . Đánh giá mức độ đạt được kiến thức và kĩ năng học sinh theo mục tiêu (Trang 88)
Bảng 3.5.Đánh giá câu trắc nghiệm qua chỉ số độ khó, độ phân biệt của 50  câu trắc nghiệm - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng trong kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương Dao động cơ của học sinh lớp 12 THPT
Bảng 3.5. Đánh giá câu trắc nghiệm qua chỉ số độ khó, độ phân biệt của 50 câu trắc nghiệm (Trang 148)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm