Đề tài của chúng tôi là Không gian nghệ thuật trong các tiểu thuyết về đề tài chiến tranh trên cứ liệu các tiểu thuyết về đề chiến tranh ở Lào và Cămpuchia là hoàn toàn mới mẻ, chưa có
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Tiểu thuyết là thể loại văn học tiêu biểu cho loại hình tự sự được coi là
đóng vai trò chủ lực trong nền văn học hiện đại Với đặc trưng thi pháp, phương thức trần thuật riêng, tiểu thuyết luôn có khả năng trong việc mở rộng tối đa tầm vóc hiện thực vốn bộn bề, ngổn ngang của đời sống Điều này cũng
đồng nghĩa với việc khẳng định tiểu thuyết có ưu thế hơn hẳn các thể loại khác trong việc chiếm lĩnh, khái quát hiện thực một cách đa chiều, phức tạp ở văn học Việt Nam hôm nay, nhiều cây bút tiểu thuyết đã có ý thức cách tân trong cách nhìn và trong lối viết Đã xuất hiện những tác phẩm thành công hoặc
đang trên đường tìm tòi, thể nghiệm là những minh chứng cho điều đó
Chiến tranh nhìn từ góc độ nhân tính tự nhiên là một hiện tượng bất thường, nó đem lại cho cả hai bên tham chiến những mất mát, đau thương Hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ đã đi qua mấy chục năm, nhưng những di hại khủng khiếp mà nó để lại cùng những dư âm thảng thốt về nó thì vẫn còn in hằn mãi mãi trong đời sống tinh thần của con người Bởi vậy, chiến tranh trở thành một đề tài không bao giờ vơi cạn trong văn học, thu hút nhiều cây bút viết về nó Đặc biệt, các nhà tiểu thuyết không chỉ viết về đề tài chiến tranh trong nước mà còn viết về chiến tranh ở nước ngoài có người Việt tham gia Đề tài chiến tranh trên đất bạn Lào, Cămpuchia được nhiều nhà văn khai thác, nhiều tác phẩm đạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, giải thưởng Sông Mê Kông của ba nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia Các tác phẩm đã cho thấy sự thành công về nhiều mặt
Nghiên cứu tiểu thuyết về đề tài chiến tranh, đặc biệt là các tác phẩm về
đề tài chiến tranh ở Lào, Cămpuchia, chúng tôi đặc biệt chú ý đến phương diện kết cấu, cụ thể là vấn đề về không gian nghệ thuật trong các tác phẩm này
Trang 2Nghiên cứu không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh, chúng tôi nhận thấy đây là một vấn đề không thể tách khỏi quá trình nghiên cứu kết cấu Vì vậy để có một cái nhìn toàn diện và hệ thống, nhất thiết phải điểm lại một cách khái lược lịch sử nghiên cứu vấn đề này Đề tài
của chúng tôi là Không gian nghệ thuật trong các tiểu thuyết về đề tài chiến
tranh (trên cứ liệu các tiểu thuyết về đề chiến tranh ở Lào và Cămpuchia) là
hoàn toàn mới mẻ, chưa có ai nghiên cứu, nhưng căn cứ vào đặc trưng thể loại chúng tôi xin điểm qua những công trình đề cập tới vấn đề không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh, lấy đó làm điểm tựa để triển khai luận điểm của mình
Theo thống kê, những công trình nghiên cứu tiểu thuyết hiện nay về đề tài chiến tranh chưa nhiều, chủ yếu là những bài viết riêng lẻ về một tác phẩm hoặc một nhóm tác phẩm, hơn nữa hầu hết mới chỉ dừng lại ở những bài viết ngắn trên các tạp chí hay trong tập hợp các bài nghiên cứu ở đây tôi xin khái quát các ý kiến bàn về phương diện không gian nghệ thuật, vấn đề mà chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu Trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh hiện nay, không gian nghệ thuật cũng được các nhà nghiên cứu rất quan tâm
Tìm hiểu sự đa dạng của không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết chiến
tranh hôm nay, tác giả Nguyễn Thanh Tú đã chỉ ra “Năm mô hình không gian
trong tiểu thuyết sử thi hôm nay”, đó là: không gian chiến trường - cái nhìn bi
kịch hóa; không gian đời thường - cái nhìn đời tư hóa; không gian tâm lí - cái nhìn trữ tình hóa, cảm thương hóa; không gian tâm linh, huyền thoại-cái nhìn lạ hóa, thiêng liêng hóa; hình tượng thiên nhiên - xu hướng biểu tượng hóa Tiểu thuyết hôm nay đã chú ý đến nhân vật ở góc nhìn đời tư, trong không gian đời thường nhiều hơn, con người trực tiếp đối diện với những vấn đề của cá nhân, bản chất tự nhiên được tự do lên tiếng, làm cho con người gần người hơn
Trang 3Lê Thị Thu Huyền trong luận văn “Đổi mới kết cấu tiểu thuyết 2004
-2009 về đề tài chiến tranh” cũng chỉ rõ những đổi mới về không gian nghệ
thuật và chỉ ra các hình thức tổ chức không gian trong các tiểu thuyết về chiến tranh giai đoạn này Bàn sâu hơn về không gian nghệ thuật trong các tiểu
thuyết về đề tài chiến tranh, luận văn “Không gian nghệ thuật trong tiểu
thuyết 2004 - 2009 viết về đề tài chiến tranh” của Lê Thị Hạnh phát hiện được
những đặc sắc cũng như những đổi mới trong quan niệm về không gian nghệ thuật của các tác giả giai đoạn này Luận văn đã làm rất tốt việc chỉ ra những
đổi mới về không gian nghệ thuật trong các tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn
2004 - 2009 so với giai đoạn trước năm 1986
Sự đổi mới về nghệ thuật trong các tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hiện nay trong đó có không gian là bắt nguồn từ sự thay đổi điểm nhìn Do vậy phần lớn các nhà nghiên cứu văn học hiện nay đều xuất phát từ điểm nhìn nghệ thuật để soi xét tác phẩm Nhận xét về vấn đề này trong tiểu thuyết Việt
Nam đương đại, Mai Hải Oanh cho rằng: “Bên cạnh những tác phẩm thiết tạo
được điểm nhìn quen thuộc là những hình thức tổ chức điểm nhìn mới, trong
đó đáng chú ý là ba hiện tượng nổi bật: sự dịch chuyển điểm nhìn nghệ thuật; luân phiên điểm nhìn người trần thuật và nhân vật; gấp bội điểm nhìn” [35]
Cùng quan điểm với Mai Hải Oanh, Trần Tố Loan khi tìm hiểu “Điểm
nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú” đã nhìn nhận: “Nguyễn
Đình Tú rất ý thức trong việc đặt điểm nhìn không, thời gian, nhưng có thể nói
điểm nhìn tác giả và nhân vật mới là điểm nhìn đáng chú ý nhất trong nghệ thuật kể chuyện của anh” [27] Về điểm nhìn không gian, Nguyễn Đình Tú đã
cố gắng khu biệt hóa vùng không gian để “nhìn ngắm” nhân vật của mình
dịch chuyển trong đó ở Bên dòng Sầu Diện, trường nhìn của tác giả đặt vào
thị trấn An Lạc - thị trấn Nét Mặt Buồn nằm lọt thỏm giữa núi Cô Hồn và
Trang 4dòng Sầu Diện, trong đó có những không gian nhỏ như Xóm Đáy, xóm Khơme, phố Tứ Phủ
Tìm hiểu về không gian nghệ thuật không thể không chú ý đến thế giới nhân vật hoạt động trong đó Vũ Thúy Mây khi tìm hiểu riêng về phương diện
“Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam về đề tài chiến tranh cách mạng sau năm 2000” đã chỉ ra tính chất “giải sử thi” ở các hình tượng nhân vật tập thể,
nhân vật người anh hùng và cả nhân vật kẻ thù Điều làm nên tính chất “giải
sử thi” ở đây chính là việc xây dựng các hình tượng nhân vật ở cả các phương
diện tốt - xấu, cao cả - thấp hèn Mặc dù còn một số hạn chế khi khai thác vấn
đề nhưng luận văn của Vũ Thị Mây đã góp phần khẳng định sự đổi mới của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam nói chung và sự đổi mới trong cách xây dựng nhân vật của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hiện nay nói riêng
Tôn Phương Lan trong bài viết “Chiến tranh qua những tác phẩm văn
xuôi được giải” (của Hội Nhà văn và Bộ Quốc phòng) đã nhận thấy: “Con người trở thành đối tượng khám phá của cả người viết lẫn người đọc, và hiện thực chiến tranh với đầy đủ tính chất ác liệt của nó được hiện lên qua số phận
và thế giới nội tâm của con người Được xây dựng trong nhiều mối quan hệ
đời thường: có tốt - xấu, có yêu thương - căm giận, có cả cái thấp hèn, nhân vật trong các tác phẩm văn học nên gần gũi với con người hiện tại” [19] Con
người hiện lên trong tiểu thuyết mang tính người hơn, có đầy đủ những cung bậc tình cảm của một con người bình thường, thậm chí, tiểu thuyết hôm nay không ngần ngại nói đến những dục vọng của con người, của người lính
Bàn về vấn đề “Dục vọng trong tiểu thuyết Việt Nam về chiến tranh từ
1986 đến 1996”, Nguyễn Thị Xuân Dung nhận xét: “Trong tiểu thuyết về chiến tranh từ 1986 đến 1996 ta thấy hầu như tác phẩm nào cũng đề cập đến chuyện bản năng, tình yêu, dục vọng của con người và thể hiện nó một cách tự nhiên, chân thực Điều đó càng khẳng định một cách rõ hơn về bộ mặt trần trụi của chiến tranh và số phận khốc liệt của con người trong hiện thực tàn
Trang 5bạo ấy, qua đó hợp lý hóa đời sống bản năng của con người, đề cao nó trong một tinh thần nhân văn cao đẹp; lên án, phê phán chiến tranh là một thế lực phi nhân tính đã tước đoạt của con người quyền được sống với chính những nhu cầu bình thường và thiết yếu của họ” [8] So với giai đoạn trước, đó là
một biểu hiện mới, một cách tân mới của tiểu thuyết về mặt quan điểm khi viết về cuộc chiến tranh đã qua
Cùng bàn về vấn đề này, tác giả Nguyễn Thanh Tú trong cuốn “Văn
học và người lính” cũng khẳng định: “Tiểu thuyết hôm nay phá vỡ bức tường kiêng kị đó để đi sâu vào miền bản năng của người lính để tìm hiểu những vẻ
đẹp tình cảm riêng tư, những khao khát tình dục rất đời thường của con người” [49]
Tập hợp một số bài viết trong cuốn sách đã khái quát được diện mạo phát triển của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh từ năm 1945 đến nay, lí
giải sự chuyển mình theo hướng “giải sử thi” đưa tiểu thuyết về gần hơn với
đặc trưng thể loại là phản ánh đời sống như vốn có của nó Theo tác giả, các
tiểu thuyết hiện nay “gọi là tiểu thuyết sử thi nhưng đọc kỹ thì thấy chất sử thi
đã nhạt đi rất nhiều để nổi lên chất đời tư, thế sự, chúng tôi gọi đó là tính chất giải sử thi” [49, tr.6] Lí giải điều này, Nguyễn Thanh Tú căn cứ vào hai
phương diện cơ bản là chủ thể nhà văn và đặc trưng thể loại Tác giả cho rằng:
“Xét ở mặt chủ thể, tác giả của tiểu thuyết về đề tài này phần lớn là những người trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ Nhưng cuộc chiến đã lùi
xa hơn 30 năm nên họ viết về chiến tranh hôm qua bằng cái nhìn, sự suy nghĩ
và sự tác động bởi những đổi thay của hoàn cảnh lịch sử ở ngày hôm nay Xét
ở mặt thể loại thì tiểu thuyết về đề tài chiến tranh vẫn phải tuân theo những những đặc trưng thể loại, mà đặc trưng nổi bật của tiểu thuyết là yếu tố đời tư” [49, tr.6,7] Chúng tôi tâm đắc với cách kết luận khái quát đầy hình ảnh
này của tác giả: “Có thể hình dung như thế này: dòng sông sử thi được khởi
Trang 6nguồn từ miền núi cổ đại, nước nguồn trong vắt, nguyên thủy Càng chảy về miền hiện tại, vì càng nhận được nhiều phù sa cuộc đời mà dòng nước vừa đổi chất vừa đổi màu, pha tạp hơn, đa sắc hơn và cũng giàu có chất đạm cuộc sống nhiều hơn” [49, tr.7] Tác giả đã chứng minh chất “giải sử thi” của tiểu
thuyết ở phương diện nhân vật và tư duy trần thuật Về phương diện nhân vật,
tác giả nhận xét: “Tiểu thuyết hôm nay luôn được các nhà văn xây dựng gần
với con người đời thường, có tốt có xấu, nhiều hay và cũng lắm dở” [49, tr.7]
Điều này không đồng nghĩa với việc hạ thấp coi thường người lính mà chủ yếu
là để có một cái nhìn trung thực hơn về chiến tranh, tố cáo lên án chiến tranh phi nghĩa Đồng thời làm cho bạn đọc trân trọng hơn, tự hào hơn về chiến thắng vẻ vang mà chúng ta đã giành được vì trên chiến trường những người lính không chỉ phải vượt qua, phải chiến thắng sự tàn bạo, nham hiểm, sự khủng khiếp bởi vũ khí hiện đại, tối tân của kẻ thù mà còn phải vượt qua, phải chiến thắng sự dao động, hèn nhát, cơ hội, ích kỉ … có trong chính bản thân mình Ngược lại, nhân vật kẻ thù cũng được xây dựng theo hướng nhân bản, nhân tính hơn Họ không chỉ toàn là cái xấu mà còn có những nét đẹp của con người Nhưng họ lại ở bên kia chiến tuyến với lý tưởng chống Cộng điên cuồng Từ đây, các nhà tiểu thuyết đặt ra vấn đề quan trọng trong việc giáo dục con người là giáo dục lí tưởng Lí tưởng đúng sẽ định hướng cho con người đi theo con đường đúng và ngược lại
Về phương diện tư duy trần thuật, Nguyễn Thanh Tú đã nhận ra tiểu thuyết về chiến tranh hôm nay trần thuật thiên về góc nhìn đời tư Ông khẳng
định: “Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hôm nay rất chú ý tạo ra nhiều điểm
nhìn và luân phiên thay đổi, dịch chuyển điểm nhìn để tạo ra một sự dân chủ bình đẳng trong nhận xét đánh giá” [49, tr.23] Một tình huống, một sự kiện
nhưng được soi chiếu ở nhiều góc độ cùng phân tích, lật xới, chiêm nghiệm làm cho vấn đề sâu sắc hơn
Trang 7Thông qua tất cả những bài viết, ý kiến trên đây của các nhà nghiên cứu, chúng tôi đã phần nào hình dung ra quá trình vận động các hình thức cấu trúc - kết cấu nghệ thuật trong đó có không gian nghệ thuật của các tiểu thuyết
về đề tài chiến tranh hiện nay Tuy nhiên, các bài viết đều là những ý kiến nhận định mang tính khái quát về kết cấu của tiểu thuyết chiến tranh Các bài viết có đi vào vấn đề riêng lẻ nhưng chủ yếu quan tâm đến vấn đề nhân vật, ít
có bài nghiên cứu mang tính chất chuyên biệt về không gian nghệ thuật, đặc biệt là về vấn đề không gian nghệ thuật trong các tiểu thuyết về đề tài chiến
tranh ở Lào và Cămpuchia Vì vậy, thực hiện đề tài không gian nghệ thuật
trong các tiểu thuyết về đề tài chiến tranh (trên cứ liệu các tiểu thuyết viết về
đề tài chiến tranh ở Lào và Cămpuchia), chúng tôi rất muốn lĩnh hội các quan
điểm, các ý kiến và sự gợi mở của các nhà nghiên cứu đi trước để tìm hiểu một cách toàn diện và sâu sắc hơn về không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh ở Lào và Cămpuchia
2 Mục đớch nghiờn cứu
Trên cơ sở phân tích các tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh ở Lào và Cămpuchia được nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam và giải thưởng Văn học Sông Mê Kông (Việt Nam - Lào - Cămpuchia), người viết hi vọng chỉ ra những nét đặc sắc và đổi mới trong quan niệm về không gian nghệ thuật của các tác giả nằm trong xu thế phát triển chung của tiểu thuyết
3 Nhiệm vụ nghiờn cứu
Làm nổi bật những mô hình và các phương thức mô tả không gian nghệ thuật trong các tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh ở Lào và Cămpuchia
4 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu
Phạm vi nghiờn cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu các tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh
ở Lào và Cămpuchia Cụ thể là các tác phẩm sau:
Xiêng Khoảng mù sương (Bùi Bình Thi)
Trang 8Đất không đổi màu (Nguyễn Quốc Trung)
Sào huyệt cuối cùng (Bùi Thanh Minh)
Một ngày là mười năm (Phạm Quang Đẩu)
Đối tượng nghiờn cứu: Những nét đặc sắc về không gian nghệ thuật trong các tiểu thuyết Việt Nam viết về đề tài chiến tranh ở Lào và Cămpuchia
5 Phương phỏp nghiờn cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
7 Cấu trỳc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính chia làm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Các mô hình không gian
Chương 3: Những phương thức thể hiện
Trang 9NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khỏi niệm khụng gian nghệ thuật
Nhắc tới không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học là nói về một vấn đề được bàn từ lâu Tuy nhiên, các quan điểm đều gặp gỡ nhau trong quan niệm cho rằng: không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian hiện thực Đó là mô hình nghệ thuật về thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận của mình trong không gian đó Không gian nghệ thuật là một yếu tố quan trọng thuộc hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, là phạm trù thuộc hình thức nghệ thuật
Ngày nay, không gian nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng của nghiên cứu thi pháp học, bên cạnh các yếu tố: quan niệm nghệ thuật về
con người, thời gian nghệ thuật, tác giả Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của tác phẩm chứa đựng những quan niệm về thế giới, là phương thức chiếm lĩnh thế giới của nhà văn Không gian nghệ thuật không
những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của một tác giả hay một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo của tác phẩm cũng như nghiên cứu loại hình của các hiện tượng nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, không gian nghệ thuật là “hình thức
bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ điểm nhìn, diễn ra trong một trường nhìn nhất định Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học” [15]
Trang 10Không gian nghệ thuật vừa là hình thức tồn tại của hình tượng, vừa là một lĩnh vực quan trọng thể hiện đặc điểm tư duy nghệ thuật và khả năng chiếm lĩnh thế giới văn học Không có hình tượng nghệ thuật nào lại không có không gian nghệ thuật, không có nhân vật nào lại không tồn tại trong một nền cảnh nhất định nào đó Ngay bản thân người kể chuyện cũng nhìn nhận sự việc trong một khoảng cách, một góc nhìn nhất định
Không gian nghệ thuật gắn liền với cảm thụ về không gian nên nó mang tính chủ quan Không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian trong
đời sống ở tác phẩm, không gian nghệ thuật là bối cảnh tự nhiên nhưng cũng
là sản phẩm của ý đồ sáng tạo Không gian nghệ thuật luôn chứa đựng trong lòng nó những cảnh huống con người và xã hội nhằm thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống Do đó không thể qui không gian nghệ thuật về sự phản ánh giản đơn không gian địa lý hay không gian vật lý, vật chất Trong nghệ thuật (cụ thể là tác phẩm văn học), ngoài không gian vật thể còn có không gian tâm tưởng
Trong cuốn Dẫn luận thi pháp học, Trần Đình Sử còn cho rằng “không
gian nghệ thuật là một hiện tượng khép kín như không gian trò chơi” [39]
Luật chơi ở đây nằm trong quy ước chung giữa tác giả và người đọc, do tác giả
đề xuất và người đọc đồng cảm
Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hóa các mối liên hệ của bức tranh thế giới như: tôn giáo, xã hội, đạo đức, pháp luật Không gian nghệ thuật có thể mang tính địa điểm, tính phân giới, tính cản trở Không gian nghệ thuật cho thấy cấu trúc bên trong của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, quan niệm về thế giới; chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật
Trang 11Thế giới không gian nghệ thuật có thể chia thành các tiểu không gian, giữa các tiểu không gian có các đường ranh giới có thể hoặc không thể vượt qua Theo Iu.Lốtman đó có thể là không gian điểm (địa điểm, địa danh) không gian tuyến hoặc không gian mặt phẳng
Không gian điểm được xác định bằng các giới hạn và các tính chất, chức năng của nó Chẳng hạn như: không gian quảng trường có tính chất công cộng; không gian bãi chiến trường là nơi chiến đấu; không gian ngôi nhà là nơi diễn ra các sinh hoạt riêng tư
Không gian tuyến, không gian mặt phẳng lại có thể vượt ra chiều rộng hoặc chiều thẳng đứng; không gian tuyến có thể hướng theo chiều dài như
không gian con đường, đường đời trong thơ Tố Hữu, Truyện Kiều
Theo tác giả Trần Đình Sử, không gian nghệ thuật còn có thể chia ra không gian bên trong và không gian bên ngoài Không gian bên trong thì phi thời gian, không biến đổi trừ khi thảm họa làm nó bị tiêu diệt Không gian bên ngoài thì biến đổi vô thường, ngẫu nhiên Không gian nghệ thuật còn có không gian hành động và không gian phi hành động Chẳng hạn như trên sân khấu là nơi diễn ra hành động còn sau sân khấu là không gian phi hành động Cũng như thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật trong tác phẩm bao giờ cũng mang tính biểu trưng và tính quan niệm, thể hiện một cách nghĩ, cách nhìn nhận, đánh giá của tác giả về vấn đề đang được nói tới trong tác phẩm của mình
Xét trong mối quan hệ với thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật luôn gắn bó chặt chẽ với thời gian nghệ thuật Chúng ta khó có thể tìm thấy không gian nào xuất hiện mà không gắn với một thời gian cụ thể và ngược lại Không gian nghệ thuật cũng có sự tương quan chặt chẽ với thời gian nghệ thuật Khi tác giả dừng lại để khắc họa không gian, thời gian bị hãm lại Người ta còn có thể không gian hóa thời gian bằng cách miêu tả các sự kiện, biến đổi theo trật tự liên tưởng cái này đặt bên cạnh cái kia Có thể xem không
Trang 12gian nghệ thuật trong tác phẩm như một hệ thống mà không gian nhân vật là một yếu tố
Nhìn chung, không gian nghệ thuật không phải là không gian hiện thực, vật lý mà là hình tượng không gian, là hình thức tồn tại của hình tượng con người trong thế giới nghệ thuật Nó là mô hình nghệ thuật về cái thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí và số phận mình Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của sự sống con người, gắn liền với ý niệm về giá trị
và sự cảm nhận về giới hạn giá trị của con người Nó được coi là sinh quyển tinh thần bao bọc cảm thức con người, là một hiện tượng tâm linh nội cảm chứ không phải là một hiện tượng địa lí hay vật lí Không gian nghệ thuật gắn liền với quan niệm về con người và góp phần biểu hiện cho quan niệm ấy
Tóm lại, không gian nghệ thuật là mô hình không gian của thế giới nghệ thuật Sự đối lập và liên hệ của các yếu tố không gian, các miền phương vị: cao - thấp, xa - gần; các chiều: sâu - cao - rộng tạo thành các ngôn ngữ nghệ thuật để biểu hiện thế giới quan niệm của tác phẩm Sự lặp lại của các hình thức không gian tạo thành tính loại hình của không gian nghệ thuật
1.2 Khụng gian nghệ thuật trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh - Một
số đặc trưng chủ yếu
Trong các tiểu thuyết Việt Nam về đề tài chiến tranh, không gian luôn
được các nhà văn chú ý miêu tả Bởi trong chiến tranh thì không gian là vấn đề quan trọng, giành được không gian có nghĩa là làm chủ được mặt trận Có thể nói không gian nghệ thuật trong các tiểu thuyết chiến tranh đã bao hàm trong
đó toàn bộ sự thật về chiến tranh Các nhà văn dựng lên một không gian sử thi hoành tráng, dung chứa nhiều loại không gian khác nhau khiến cho vấn đề chiến tranh được soi chiếu nhìn nhận từ nhiều góc độ Mỗi không gian cho phép nhà văn bộc lộ một phương diện của chiến tranh ví như không gian chiến trường cho thấy sự khốc liệt của chiến tranh, không gian tâm linh nói về những huyền thoại của chiến tranh, không gian đời tư sẽ cho thấy số phận của
Trang 13con người trong chiến tranh Dưới đây là một số kiểu không gian chủ yếu trong các tiểu thuyết về đề tài chiến tranh nói chung
1.2.1 Nói tới không gian nghệ thuật trong các tiểu thuyết về đề tài chiến tranh
ắt không thể không nói tới không gian chiến trường, nơi phản ánh rõ nhất bộ mặt thật của mỗi cuộc chiến Không gian chiến trường trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh nói chung thường đậm chất bi kịch đúng như những gì vốn có của nó Không gian ấy có sự đa dạng, phong phú, có nhiều diện mạo thể hiện khác nhau nhưng đều có chung một đặc điểm là khơi lại những ký ức bi hùng
đầy tự hào vừa đáng nhớ nhưng cũng muốn quên đi trong tâm hồn dân tộc Chiến trường hiện lên với tất cả sự căng thẳng và ngột ngạt của nó Chiến trường là nơi đối đầu giữa ta và địch, nơi diễn ra các trận đánh Song dù có ác liệt đến đâu chăng nữa thì chiến trường trong các tiểu thuyết về chiến tranh
vẫn là mảnh đất ươm mầm bao cái “đẹp”, ở đó con người Việt Nam hiện lên
với vẻ anh hùng, lí tưởng, có trí thông minh tuyệt vời, có niềm tin tuyệt đối vào cách mạng và thành công của sự nghiệp cách mạng mà mình đang theo
đuổi
Trong các tiểu thuyết về đề tài chiến tranh vẫn đậm đặc những cảnh
tượng đầy tráng ca: “Các đoàn xe cắm đầy lá ngụy trang nối nhau chờ xuất
phát Bộ đội rầm rập chạy đến đứng xếp hàng bên lề đường Gương mặt nào cũng chợn rợn hào hứng Ông già, bà lão, thanh niên vẫy tay, trẻ con chạy theo hò reo Những nụ cười Những tiếng nói ríu ran Các chiến sĩ trẻ vẫy tay chào lại Càng vào sâu đoàn xe gặp càng nhiều bộ đội” [13, tr.102]
Đó là không gian của ngày ra trận với không khí một ngày hội, trùng phức những hình ảnh tươi vui, ngập tràn âm thanh rộn rã, đông nghịt người từ trẻ
đến già, có cả ông già bà lão Tất cả đều hồ hởi, hân hoan Đó chính là một
thực tế, tâm thế của một thời: “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước - mà lòng phơi
phới dậy tương lai” (Tố Hữu) Người ra trận luôn hát vang câu ca: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”
Trang 14Không gian chiến trường cũng được tái hiện với những trận chiến ác liệt như trận đánh trên Đồi không số, với quân số hạn chế, các chiến sĩ trẻ của ta
đã đánh bật nhiều đợt tấn công của địch: “Tính cho đến sáu giờ chiều ngày
thứ tư của cuộc hành quân, lữ đoàn kị binh bay đã bị thiệt hại nặng nề nhưng vẫn không làm được nhiệm vụ giải vây cho bọn lính thủy đánh bộ ở Khe Sanh” [6, tr 496, 497] Cuộc chiến đấu ấy đã giành được thắng lợi, thắng lợi
ấy có được là nhờ vào tinh thần chiến đấu hi sinh của các chiến sĩ trẻ: “Sử
sách về sau sẽ ghi tên Quả Đồi Không Tên, gần một chục chiến sĩ trẻ tuổi, tất cả đều là đoàn viên thanh niên do một đồng chí đảng viên chỉ huy, họ đã đem ngực mình dựng thành chiến lũy cản mười đợt tấn công điên cuồng của địch
Họ đã chiến đấu đến người cuối cùng ” [6, tr.499] Những người lính trẻ
tuổi trong Dấu chân người lính không chỉ tiếp nối cha anh về truyền thống
đánh giặc giữ nước mà họ còn là những người có học vấn, có trình độ khoa học, họ hiểu rõ việc mình đang làm và lí giải sâu sắc về ý nghĩa của nó
Chiến tranh đã lùi xa nhưng tiểu thuyết viết về chiến tranh thì không chấm dứt Ngày càng nhiều những tiểu thuyết mới về chiến tranh Không gian chiến trường trong tiểu thuyết chiến tranh hôm nay không chỉ là những trận
đánh, những chiến thắng của ta mà cả những thương vong, mất mát nặng nề của cả hai phía với một không gian bi thương của sự thất bại và hình ảnh những cái chết
Khảo sát nhiều cuốn tiểu thuyết về đề tài chiến tranh, chúng tôi nhận thấy hầu hết các tác phẩm đều nói đến sự thất bại và những mất mát to lớn của
quân ta với những mức độ đậm nhạt khác nhau Theo Chu Lai, “chiến tranh,
là số người chết gấp ba lần số người đi chôn, số người bị thương đang vật vã ở
phẫu cũng tương đương số người lành lặn” [24] Sư trưởng Lâm (Khúc bi
tráng cuối cùng) nhận ra một sự thật tàn nhẫn: “chiến tranh dài quá! Hi sinh
mất mát nhiều quá!” [24]
Trang 15Hai Hùng trong Ăn mày dĩ vãng, trở về sau chiến tranh là một người
chiến thắng, nhưng cái mà anh còn lại không gì khác ngoài những kỉ niệm chiến đấu cùng đồng đội, những kỉ niệm về một tình yêu không thành vừa ngọt ngào, vừa cay đắng Sống trong hoàn cảnh hoà bình hiện tại, anh vẫn luôn chạy theo, đi tìm quá khứ, đi tìm lại con người thực của chính mình và
đau đớn nhận ra mình chỉ là kẻ ăn mày dĩ vãng
Nhân vật Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh trở về sau chiến thắng
nhưng những mất mát mà anh phải gánh chịu trong và sau chiến tranh thì không gì có thể bù đắp nổi Chiến tranh đã để lại trong anh những kí ức kinh hoàng, những trận đánh mà thắng lợi phải đổi bằng biết bao xương máu của
đồng đội, những cái chết được báo trước và không được báo trước Và tình yêu, mối tình trong sáng thời tuổi trẻ của anh cũng không còn Chính những
điều đó khiến Kiên trở về với tư cách là người chiến thắng nhưng thực chất bản thân Kiên lại là kẻ bại trận vì đã đánh mất quá nhiều Nhà văn Bảo Ninh
đã không ngần ngại nói đến những mất mát, đau thương, những nỗi buồn mà chiến tranh để lại cho con người, thậm chí kể cả trong ngày chiến thắng Sài Gòn ngày 30 - 4 hiện lên trong tiểu thuyết của Bảo Ninh không rực rỡ cờ hoa,
ầm vang tiếng nhạc và rạng rỡ những nụ cười mà bề bộn những xác người, mù
mịt khói lửa tàn dư: “ Sân bay yên ắng lạ lùng Những đám cháy vẫn nhả
khói song không khí được một trận mưa làm dịu nhuốm một vẻ mơ màng Khắp sân bay, lính tráng vạ vật lăn lóc ngủ Bàn ghế bị xô đổ, đập nát chẻ băm ra, ngổn ngang lổng chổng Giấy má tiền bạc tung tóe bay Ly cốc bình tách bằng sứ, bằng thủy tinh bị đập vỡ vụn Chai vỡ từng két tràn suối rượu”
[31, tr.118] Con người đã đón nhận chiến thắng với tâm trạng: “bàng hoàng,
đau đớn nhiều hơn mừng vui” [31, tr.116] Không gian bi thương này đã làm
kinh hoàng lòng người Bảo Ninh không cho bạn đọc xem một cuốn phim đã qua kỹ thuật xử lý mà là một cảnh hậu trường đằng sau màn ảnh Sự thật là để
có được chiến thắng con người đã trải qua quá nhiều tàn khốc
Trang 16Thất bại, thua trận hay thắng trận thì đều có sự hi sinh, đấy là điều không thể tránh khỏi của chiến tranh Chiến tranh mang đến bao cái chết
thương tâm, như cái chết bi thương, ám ảnh của Thoan, Đại trong Những bức tường lửa Từ hai chàng trai, hai người lính khỏe mạnh trong trận đánh địch
đầu tiên họ đã trở thành “hai cục đen sì, nham nhở nằm trên mặt đất Đại có
vẻ nhiều da thịt hơn nhưng vì thế mà trông nó lại càng đáng sợ Bộ răng của
nó trắng nhởn, chìa ra, hai cái hốc mắt bây giờ chỉ còn là hai cái hốc thô lố, một dòng nước sền sệt đen đen từ đó rỉ ra nước mắt” [44, tr.298] Trước cảnh
máu xương đồng đội, khi nghe quân mình chiến thắng, tiêu diệt hơn 300 tên
Mỹ ngụy nhưng người thì “khóc ròng”, người thì “không sao nuốt nổi một
miếng cơm dù đói cồn cào” bởi xung quanh đều thấy vắng bóng những đồng
đội thân yêu
1.2.2 Dù viết về chiến tranh, các tiểu thuyết vẫn không thể không dựng lên
không gian sinh hoạt đời thường bởi sau những trận đánh, người lính vẫn phải trở về với những sinh hoạt bình thường; sau tiền tuyến vẫn là hậu phương, tiền tuyến không thể nào tách rời khỏi hậu phương Không gian sinh hoạt đời thường của các tiểu thuyết về đề tài chiến tranh chính là nơi diễn ra các hoạt
động bình thường hàng ngày của người lính, nơi sinh sống của những người
mẹ, người chị, người vợ, người em của các chiến sĩ Đó là hậu phương lớn vô cùng vững chắc để những người lính yên tâm chiến đấu ở ngoài mặt trận Mọi hoạt động của cá nhân đều gắn bó mật thiết với cộng đồng vì mục tiêu
cao cả: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”
Mọi nhân lực, vật lực đều để dành cho tiền tuyến, tất cả các miền quê
đều hiến dâng những đứa con ưu tú của mình cho Tổ quốc Bởi Tổ quốc chính
là gia đình của họ, một gia đình lớn Họ yêu Tổ quốc như yêu chính bản thân
mình, như yêu những người thân thiết nhất của mình: “Ôi Tổ quốc ta, ta yêu
như máu thịt - Như mẹ cha ta, như vợ như chồng” (Chế Lan Viên)
Trang 17Đó cũng chính là tinh thần của những người dân của vùng Hòn trong
tiểu thuyết Hòn đất của Anh Đức Tất cả bà con cô bác nơi vùng Hòn đều một
lòng yêu nước, yêu quê hương và hết lòng giúp đỡ cách mạng Chị Sứ hiến cho cách mạng người chồng yêu dấu, trụ cột gia đình; chiến sĩ Ngạn thì được
“đồng bào ở đó chặt cái còng trên tay anh, giấu kín anh, rồi đưa anh đi” [11]
khi anh trốn thoát trong một lần bị giặc đem đi liệng xuống biển Lúc giặc về làng, nhân dân vùng Hòn lại hết lòng che chở cho anh em cách mạng trốn trong hang Hòn, tìm đủ mọi cách tiếp tế thức ăn, nước uống để họ cầm cự Bà con hiểu rằng giúp đỡ anh em cũng chính là giúp đỡ cách mạng Những khó khăn mà họ phải gánh chịu không làm mòn đi ý chí quyết tâm đánh giặc của
họ, nó càng nung đỏ thêm làng căm phẫn trong lòng họ mà thôi Tuy nhiên những người anh hùng, những người dân trong các tiểu thuyết này nhiều khi bị
lí tưởng hóa quá cao nên dường như đã tạo ra một khoảng cách khá lớn với
nhân dân, chưa thực sự giống “con người bình thường”
Trong các tiểu thuyết về đề tài chiến tranh sau này, các nhà văn đã chú
ý hơn đến không gian sinh hoạt đời thường của các nhân vật Điều đó làm cho các nhân vật tiểu thuyết chiến tranh ít chất sử thi hơn, gần gũi hơn với những con người đời thường Chất con người đời thường được chú ý tô đậm Đó là các nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu, Chu Lai
1.2.3 Văn học bao giờ cũng lấy đối tượng phản ánh trung tâm nhất là con
người mà con người bình thường dù sống trong hoàn cảnh nào thì cũng đều có những tâm tư, tình cảm cá nhân Không đi chệch khỏi quỹ đạo ấy, văn học viết về chiến tranh cũng viết về những tâm tư, tình cảm riêng tư của con người, nhưng ở mỗi một thời điểm vấn đề này được đề cập theo những cách khác nhau
Tiểu thuyết viết về chiến tranh trước đây khi viết về những gì thuộc về cá nhân riêng tư thường gắn với nhiệm vụ cách mạng Trong cuộc chiến đấu gay go, ác liệt với kẻ thù, con người dường như không có thì giờ để tâm tư,
Trang 18suy nghĩ những gì thuộc về cá nhân, mỗi suy nghĩ, tình cảm của con người
đều gắn bó hòa hợp với tình cảm cách mạng, ngay cả tình yêu nam nữ, tình cảm vợ chồng cũng gắn bó mật thiết với cách mạng
Quyên - một cô gái vùng Hòn xinh đẹp, khắp vùng có nhiều người ghếm ghé, mai mối, trong đó có cả những tên sĩ quan và những gã con trai bảnh bao về bãi Tre tắm biển nhưng Quyên không hề để ý đến bởi Quyên đã yên Ngạn Ngạn mới hơn hai mươi tuổi đời, nhưng có tới ba tuổi Đảng Ngạn
được kết nạp Đảng ngay cả khi anh đang ở trong tù bởi những cống hiến và hi sinh lớn lao của anh cho cách mạng Ngay cả mẹ Quyên cũng chủ động nói gả Quyên cho Ngạn giữa lúc cơ sở của anh bị đánh phá dữ dội nhất, giữa lúc anh phải náu mình dưới cái hầm tăm tối, chưa biết lúc nào thoát ra được Hơn ai
hết, Ngạn hiểu: “mẹ Sáu muốn giao đời cô gái út cho anh, ngoài sự thương
yêu riêng anh, ắt còn vì mẹ tin và yêu thương cách mạng” [11, tr.14] Khi
nghe tin đồn Ngạn phản bội cách mạng, Quyên đã khóc lóc vật vã trọn một
tháng và nghĩ rằng “nếu Ngạn đã vậy thì giữa cô với Ngạn đâu còn gì nữa, và
tình yêu thế là tan nát rồi sao?” [11, tr 15] và nếu sự thật đúng là vậy thì cô
sẽ “coi như không có ảnh, coi ảnh chết rồi ” [11, tr.16] Gần giống như Quyên, chị út Tịch trong ngày cưới đã “ra điều kiện vối chồng: hễ theo giặc
là thôi nhau luôn, còn đánh lộn chết bỏ cũng không thôi nhau” [38, tr.33]
Chuyển dần từ cái nhìn sử thi sang cái nhìn thế sự, con người trong tiểu thuyết hôm nay không chỉ là con người sử thi mà còn là con người của những trăn trở đời tư, vì vậy mà không gian tâm lí được chú ý như một lẽ đương nhiên Đặc điểm của không gian tâm lí trong tiểu thuyết chiến tranh hôm nay
là được nhìn với cái nhìn trữ tình hóa, cảm thương hóa
Không gian tâm lí gắn liền với điểm nhìn, trường nhìn và luôn nhuốm màu sắc tâm trạng của nhân vật Thường có hai không gian xen kẽ nhau, không gian trong quá khứ và không gian hiện tại, đều được bao choán trong sự
hồi tưởng của nhân vật, chịu sự chi phối bởi “dòng ý thức” của nhân vật
Trang 19Trong Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), nhân vật Kiên đang tham gia trận
đánh “giáp la cà” kinh hoàng dưới chân núi Ngọc Brây lại được trở về trong
căn phòng nhỏ ấm áp ở Hà Nội, rồi lại bị đặt vào những địa danh khác xa lạ như truông Gọi Hồn, sông Sa Thầy, đèo Thăng Thiên, hồ Cá Sấu Những lớp không gian này như một cuốn phim quay chậm cứ lần lượt hiện ra theo dòng suy nghĩ của nhân vật
Để làm sâu sắc hơn sự mất mát đau thương mà chiến tranh đem lại cho con người, các nhà tiểu thuyết còn tạo ra một không gian đậm chất cảm
thương: “ơi cô gái về đâu trong chiều rét tê tái này? Cô đi về một mái nhà có
cha, có mẹ hay có chồng, có con đang ngóng đợi bên mâm cơm đạm bạc và cũng có thể chẳng có ai mong đợi cả, chỉ có mái nhà trống tuềnh với bát hương người chồng liệt sĩ ngát khói bên ban thờ trong bóng hình người yêu hun hút ở nơi xa để mỗi đêm chợt thức giấc đôi mắt đẹp của cô lại rơm rớm nước mắt” [24, tr.5, 6] Bằng giọng điệu buồn thê thiết, đoạn văn đã đặt nhân
vật vào không gian thật buồn trong một buổi chiều rét tái tê Buổi chiều là lúc con người gác lại mọi công việc để trở về với chính mình, đối diện với lòng mình, con người tìm về với sự sum họp ấy vậy mà cuộc sống thì thật trông trênh, trông trênh giữa cái có và cái không Nơi mà cô gái trẻ về có thể có nhiều người thân đang đợi nhưng cũng có thể chẳng còn ai Không gian tưởng tượng ấy đã gợi ra trong lòng người đọc niềm day dứt về thân phận con người Trong chiến tranh, mọi chuyện đều có thể xảy ra nên số phận con người thật
nhỏ bé, mong manh Toản trong Khúc bi tráng cuối cùng nhận ra một sự thật
tàn nhẫn: “bom đạn mù trời, cuộc đời đo bằng gang tấc” [24] Sự hư vô của kiếp người đã được Chu Lai cảm nhận thật sâu sắc: “Cảnh vật thì vẫn cảnh
vật này, thiên nhiên vẫn là thiên nhiên này, mười năm trước là thế, mười năm sau, một trăm năm, một nghìn năm sau là thế, chỉ có con người là thay đổi,
Trang 20buồn vui sướng khổ sao thật hư vô trước ngọn gió cao nguyên ngàn năm thổi bất biến này” [24, tr.364, 365]
1.2.4 Trong cuộc sống của mỗi con người luôn có một phần dành cho tâm
linh Nó thể hiện sự chiêm nghiệm, cách đánh giá sâu sắc về các khía cạnh của cuộc sống Tâm linh cũng thể hiện niềm tin của con người vào những giá trị đôi khi mang màu sắc huyền thoại, trừu tượng như tin vào sự thần kì, tin vào sức sống Tâm linh có thể là chiều sâu văn hóa dân tộc, có thể là cảm giác, linh cảm của con người, có thể là sự giao cảm, ràng buộc vô hình giữa con người và vũ trụ, khả năng biết trước (tiên tri, linh cảm, giấc mơ, tưởng tượng ), những câu chuyện về quá khứ, về dân tộc mang màu sắc huyền bí
Trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh trước đây, vấn đề tâm linh
được bàn đến rất hạn chế do nhận thức của con người cách mạng triệt để theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tránh tin vào mê tín dị đoan mà ranh giới giữa văn hóa tâm linh với những điều mê tín lại rất mong manh nên rất khó phân biệt Song văn hóa tâm linh vẫn được đề cập ở một mức độ nhất định Đó là không gian của những truyền thống tốt đẹp yêu nước thương dân, không gian của truyền thống đánh giặc giữ nước Chắc hẳn chúng ta còn rất ấn tượng với không gian huyền thoại bên bếp lửa bập bùng xung quanh là lớp lớp dân làng Xôman, người già có, thanh niên có, trẻ con cũng đông đủ quây quần ngồi nghe cụ Mết kể về truyền thống đánh giặc, lịch sử của buôn làng Cụ Mết kể chuyện bằng một giọng nói ồ ồ rất trầm cứ như tiếng hồn thiêng của vùng đất Tây Nguyên dội về từ một cõi xa xăm Cụ kể cho con cháu nghe như để truyền lại cho con cháu trang sử oai hùng của dân tộc, mong chúng sẽ tiếp nối một cách xứng đáng truyền thống ấy
Sau 1975, đặc biệt là từ những năm 1980 con người có dịp nhìn lại chiến tranh, những sự kiện đã xảy ra trong chiến tranh và con người thấy rằng
đã có sự tham gia của những yếu tố tâm linh trong đó Trong không khí của sự phát triển xã hội ngày nay, trong cảm quan nhận thức lại thế giới, yếu tố tâm
Trang 21linh được đề cập đến trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh tương đối nhiều
Có thể nhắc đến một loạt tiểu thuyết như Mùa hè buốt giá (Văn Lê), Những bức tường lửa (Khuất Quang Thụy), Tiếng khóc của nàng út (Nguyễn Chí Trung), Xuân Lộc (Hoàng Đình Quang) nhưng yếu tố tâm linh, huyền thoại
được xây dựng đậm đặc nhất vẫn phải kể đến Nỗi buồn chiến tranh của Bảo
Ninh Hình ảnh vong hồn những người lính cả bên ta và bên địch hiện hình, đi lại bên một cái truông trong rừng gọi là truông Gọi Hồn; hình ảnh của những người bạn đã hi sinh thỉnh thoảng lại vỗ về an ủi Kiên là những chi tiết mang
đậm tính chất tâm linh, huyền bí Hay chỉ đơn giản là những mách bảo mang tính linh cảm, giúp Kiên và đồng đội tránh được những cái chết có thể đã đến cận kề
Có thể thấy, càng các tác phẩm viết về sau này thì yếu tố tâm linh, huyền thoại lại càng được chú ý khai thác đậm nét hơn Điều này thể hiện rõ quan niệm sống hướng nội và khả năng đi sâu tìm tòi khám phá thế giới sâu kín trong lòng con người của các nhà văn Đây là nền tảng vững chắc để các tác giả đi sau kế thừa
1.2.5 Thiên nhiên luôn gắn chặt với đời sống của con người Vì thế hình ảnh
thiên nhiên luôn có mặt trong tiểu thuyết dù ở giai đoạn nào, đặc biệt là các tiểu thuyết về đề tài chiến tranh
Các tiểu thuyết viết về chiến tranh thường miêu tả thiên nhiên trong sự
gắn bó với người lính, với anh bộ đội cụ Hồ: “Rừng che bộ đội, rừng vây quân
thù” (Tố Hữu) Rừng không chỉ là nơi trú ngụ, là địa bàn hoạt động của người
lính, đó còn là nơi cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm trong những ngày
đầu kháng chiến còn thiếu thốn, những giờ phút lạc đơn vị chưa tìm được lối
về Những đoàn xe tấp nập mang lương thực, đạn dược và tân binh ra tiền
tuyến cũng đi dưới tán rừng Những đoàn “quân xanh màu lá” hòa cùng màu
của núi rừng bạt ngàn khiến kẻ thù không thể phát hiện ra
Trang 22Thiên nhiên trong tiểu thuyết viết về chiến tranh vô cùng đẹp và lãng mạn giống như tâm hồn của những người lính trẻ luôn khao khát tự do và vô tư chiến đấu vì lí tưởng Dù chiến tranh có ác liệt đến đâu, chỗ này chỗ kia có
bị tàn phá thì thiên nhiên vẫn hồi sinh, vẫn đẹp như chưa bao giờ có cuộc
chiến nào đi qua: “Buổi sớm Rừng vắng Những hoa nắng nhảy nhót trên mặt
đất, trên thảm cỏ còn ướt sương Không khí tĩnh mịch bao trùm Tĩnh mịch đến nỗi dường như nghe được cả tiếng lá khô rơi, cả tiếng chân con chồn nhỏ nào giẫm lên cỏ lá ngoài bìa trảng Vẳng một tiếng vượn hót chíu chít nghe như nuốt xoay vào không gian” [24, tr.64, 65]
Nhiều tiểu thuyết còn nói đến thiên nhiên với niềm tự hào gắn bó với con người trong cuộc sống và chiến đấu, song còn thêm hình ảnh của thiên nhiên bị hủy diệt một cách chân thực Đó là hình ảnh của những cánh rừng bị bom Napan thiêu rụi, chỉ còn trơ lại thân cành khẳng khiu bởi sự tàn phá của chất độc điôxin mà bọn Mỹ đã rải để bộ đội ta không còn nơi trú ẩn Những hình ảnh này xuất hiện trong các tiểu thuyết gần đây như lời tố cáo gay gắt tội
ác của kẻ thù và thêm một lần nữa cho chúng ta thấy sức hủy diệt vô cùng lớn của chiến tranh đối với con người nói riêng và sự sống nói chung
Cũng có tác phẩm lựa chọn thiên nhiên làm đối tượng chính để miêu tả
như Rừng thiêng nước trong của Trần Văn Tuấn đã lấy rừng làm nhân vật
chính, con người gần như là nền tảng để rừng đến với người đọc thật tự nhiên Ngay cả nhan đề tác phẩm hay tên gọi của mỗi chương đều mang dấu ấn của rừng: Rừng thiêng nước trong, Tiếng nói của gỗ, Lời của gió, Tiếng nói của sông trăng rừng Mỗi trang viết của Trần Văn Tuấn đều đầy ắp cảnh tượng rừng, được miêu tả tinh tế, nhẹ nhàng Rừng là nơi để người lính thư giãn sau những phút chiến đấu căng thẳng, là nơi để bộc lộ tâm tình và rừng khiến người ta nhận ra rõ hơn sức tàn phá của chiến tranh
Trở lên chúng tôi đã đi tìm hiểu một số đặc trưng chủ yếu của không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh, lấy đó làm điểm tựa, ở
Trang 23các chương sau chúng tôi xin đi sâu hơn vào các mô hình cụ thể và các phương thức thể hiện không gian nghệ thuật trong bốn cuốn tiểu thuyết viết về
đề tài này
Trang 24CHƯƠNG 2 CÁC Mễ HèNH KHễNG GIAN
2.1 Khụng gian chiến trường
Với đề tài viết về chiến tranh ở Lào và Cămpuchia, ống kính máy quay của các nhà văn không chiếu vào những con đường nườm nượp tấp nập, đầy nhuệ khí với những đoàn xe cắm đầy lá ngụy trang rùng rùng nối tiếp nhau ra
trận như trong Thượng Đức: “Các đoàn xe cắm đầy lá ngụy trang nối nhau
chờ xuất phát Bộ đội rầm rập chạy đến xếp hàng bên lề đường Gương mặt nào cũng chợn rợn, hào hứng ông già, bà lão, thanh niên vẫy tay, trẻ con chạy theo hò reo Những nụ cười, những tiếng nói ríu ran Các chiến sĩ trẻ vẫy tay chào lại Càng vào sâu đoàn xe càng gặp nhiều bộ đội” [13,
tr.102] ống kính ấy cũng không lia đến không gian linh thiêng, trang trọng của giờ phút những chàng trai, cô gái bắt đầu được đứng xếp vào hàng ngũ của một tổ chức, một đơn vị mới như không khí thành lập tiểu đoàn vận tải H50
trong Ngày rất dài của Nam Hà: “Vũ Thời quay đằng sau về vị trí cũ rồi hô
to:
Chào chào Quốc ca
Nam nữ diễn viên hát như chưa bao giờ được hát Lồng ngực mỗi người căng lên Rừng đột nhiên im lặng, gió rừng như ngừng thổi, tiếng hát quốc ca trầm hùng lượn trong từng lá cây vang đi rất xa” [14, tr.367] mà các nhà
văn chủ yếu tập trung tái hiện lại không gian nơi biên giới cam go căng thẳng
giành giật nhau từng tấc đất Địch không lúc nào không nhăm nhe lấn tới, ta không lúc nào không đề phòng, cố gắng giữ chốt để địch không thể tràn sang Với cái nhìn đổi mới, tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh ở Lào và Cămpuchia không chỉ nhìn vào chiến thắng mà còn dám nhìn thẳng vào sự thật trong những cuộc tranh giành vùng đất vùng trời tổ quốc, có lúc chúng ta
cũng thua: “Được một lúc, lính địch từ bên kia tràn sang quá đông, bộ đội đã
Trang 25gần hết đạn, đành phải mở đường máu để rút” [45, tr.7] Nói về cái thua, cái
thất bại không có nghĩa là nhà văn phủ nhận những sự cố gắng, phủ nhận tinh thần quyết chiến quyết thắng cao độ của quân đội ta mà đây là một cách phản
ánh trung thực cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ của nhân dân ta Trải qua quãng thời gian kháng chiến dài dằng dặc như thế, thắng thua là chuyện bình thường, thậm chí phải trải qua cái thua, cái thất bại mới đúc rút được kinh nghiệm, mới có bài học để chiến thắng Huống hồ con người ta cũng phải có
những lúc chùng xuống, lúc chủ quan do hoàn cảnh: “nào ai lường được chiến
tranh xảy ra ở biên giới Tây Nam này Sau khi thằng Mỹ cuốn cờ, chế độ tay sai sụp đổ, chẳng ai dám bảo rằng có kẻ xâm lược nước ta Tất cả đều mắc bệnh chủ quan dẫn tới ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng, khi bè lũ Pônpốt thọc vào sườn Tây Nam Tổ quốc mới bừng tỉnh” [45, tr.27] Thất bại
này đã khiến người lính nhận ra một hiện thực: chiến tranh không cho phép người lính được trì trệ, được nghỉ ngơi, lơ là, không được coi thường khinh
địch, ngủ quên trong chiến thắng
Nói về chiến tranh biên giới, các nhà văn không quên tái hiện không gian chiến trường ở những chiến dịch truy quét bọn tàn quân Pônpốt đang trú
ẩn ở phía Tây Nam, biên giới Việt Nam - Cămpuchia Bọn này xây dựng khu căn cứ kháng chiến lâu dài ở dãy núi Đậu Khấu và Con Voi để chống lại cách mạng Cămpuchia Đây là những trận chiến oanh liệt nhưng ta cũng gặp không
ít khó khăn: “Khi đang bí mật triển khai chiến dịch thì Sư đoàn 339 của quân
khu bị sư đoàn 210 của Pônpốt phát hiện Lập tức chúng tập trung lực lượng
bu bám, có cả xe tăng và pháo binh yểm trợ đánh liên tục, cả vào sở chỉ huy sư đoàn ở Tà âm, điểm cao 85, 79, 251 và 171 gây cho ta không ít thương vong, có nguy cơ khó thực hiện được ý định của chiến dịch Sư đoàn 339 đã cố gắng đánh bật các cuộc phản kích của địch và phát triển về hướng tây nam Nhưng địch lại đánh tiếp phía sau sư đoàn, nên không tiến được bao nhiêu
Trang 26Trong khi đó hướng trung đoàn 52 của Sư đoàn 320 cũng không phát triển
được do địch phát hiện và đánh tiếp Rất may là hướng Sư đoàn 4 vẫn giữ
được bí mật Chính vì vậy mà ngày 23 tháng 3, Sư đoàn 4 bất ngờ từ sau lưng
đánh thẳng vào Quân khu Tây Nam địch ở khu vực điểm cao 128, khu vực huyện Kiri Skop, rồi nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm khu vực trung tâm, phát triển rộng đánh tiếp căn cứ Sư đoàn 201 và các mục tiêu lân cận, trận
địa pháo diệt hàng trăm tên, địch tháo chạy tán loạn” [30, tr.17] Mặc dù
thắng lợi lớn như vậy nhưng cuộc chiến ở biên giới Tây Nam vẫn chưa thể
chấm dứt vì theo như nhận định của tướng Lê Đức Anh: “bọn giặc cỏ Pônpốt
rất khó tiêu diệt, chúng có khả năng chịu đựng gian khổ rất cao và có khả năng phán đoán hướng tấn công của ta, chính vì vậy nhiều trận khi ta tiến
đánh đều có thể chiếm được mục tiêu dễ dàng Nhưng chỉ trong hai, ba ngày sau, không biết chúng từ đâu lại xuất hiện quấy rối ta khó mà yên được” [30,
tr.18] Chính vì vậy thật khó khăn cho các cấp chỉ huy khi phải dò xem sào
huyệt cuối cùng của Pônpốt ở đâu Tiểu thuyết Sào huyệt cuối cùng đã tái
hiện lại một cách hấp dẫn cuộc đọ sức giữa Trần Bá Luân, thiếu tá trung đoàn trưởng Trung đoàn 7 với Tà Khốc, trung đoàn trưởng Trung đoàn 61 của Pônpốt, một tên tướng giặc khát máu, thông minh, nham hiểm Để có thể dò tìm nơi ẩn nấp của Tà Khốc, Bá Luân phải cho quân trinh sát không từ bỏ một
dấu hiệu nào thậm chí cả “một bãi phân”, “một ít nước tiểu”, “xác một cô
gái”, “một cành cây có dính bùn”, “một tiếng nổ của đạn K56 phát ra vào lúc 12 giờ đêm” hay chỉ đơn thuần là “một tiếng kêu không bình thường”,
“mùi thuốc lá”, “mùi hơi người” Cái khó khăn của tổ trinh sát là tất cả đều
chỉ là phán đoán nên “mọi cử động phải hết sức thận trọng, mỗi một gang,
một tấc di chuyển đều phải rà thuốc mìn cẩn thận, người sau bò và đi đúng
đường của người đi trước, tuyệt đối không được xê dịch một phân, đi đến đâu
bẻ cành đánh dấu đến đấy; khi rút ra lại phải vuốt lại và xóa hết dấu vết”
Trang 27[30, tr.164] Để truy cùng diệt tận bọn Pônpốt, trung đoàn của Bá Luân gặp
không ít khó khăn: “Chủ nhiệm hậu cần báo cáo là số lương thực của trung
đoàn chỉ đủ ăn hai ngày nữa, nhưng gạo tiếp tế từ Việt Nam sang vẫn chưa về Trong khi hai chiếc xe chở gạo bị vướng mìn bốc cháy, hi sinh bốn chiến sĩ vừa lái xe, vừa quân nhu áp tải Đại đội 5 đã hai ngày nay phải ăn cháo đánh giặc Một số đồng đội do thiếu rau xanh lại ăn quá nhiều cá nên bị kiết lỵ Quân y đã bố trí đủ cơ số thuốc chữa kiết lỵ, nhưng số anh em bị nặng thì thuốc đặc trị thiếu Bệnh viện sư đoàn đã quá tải do thương binh và bệnh nhân sốt rét nhiều Quân số khỏe chiến đấu được chỉ còn sáu mươi phần trăm Đại đội trưởng và chính trị viên đại đội 7 vướng chung một quả mìn,
Đại đội trưởng hi sinh, chính trị viên bị thương nặng mất sức chiến đấu” [30,
tr.170, 171] Bên cạnh đó, Tà Khốc còn sử dụng nhiều miếng đòn hóc hiểm để
đối phó với Trần Bá Luân: tạo ra cái bẫy thuốc độc, bẫy trận địa giả Tướng giặc Tà Khốc đã nhử quân ta về hướng đông dãy núi Con Voi-một địa hình hiểm trở, không quen thuộc đối với quân ta để tìm cách tiêu diệt ta Đồng thời
Tà Khốc còn thâm hiểm hơn nữa khi đã chuẩn bị một lượng thuốc độc lớn đổ vào chiếc hồ nước ngọt gần đó để hạ độc bộ đội ta khi cho rằng chúng ta bắt buộc phải dựa vào chiếc hồ nước ngọt này để nuôi quân Tà Khốc thực sự
khoái trá khi tuyên bố rằng “chúng mày là một đội quân “sinh Việt, tử Cô
Công” ” [30, tr.90] Những khó khăn này đã bày ra trước mắt Trần Bá Luân
một bài toán vô cùng khó khăn mà nếu không xử lý được thì có thể chưa đánh
đã thua Quả thực nhà văn Bùi Thanh Minh đã bám sát và rất am hiểu hiện thực chiến trường mới dựng lên được một không gian chiến trường phức tạp
đến như thế
Không gian chiến trường cũng là nơi mà con người đối diện với cái chết Bởi nơi đây đầy rẫy những trái mìn luôn ẩn chứa trong nó sức mạnh của
sự hủy diệt Trong tiểu thuyết Đất không đổi màu, bọn lính áo đen (bọn phản
động Pônpốt) cài rất “nhiều loại mìn, mìn chống tăng, mìn cóc, mìn nhảy, mìn
Trang 28định hướng, có nơi chúng chồng ba thứ mìn lên nhau, nếu người tháo không có kinh nghiệm, chỉ tháo quả trên, lập tức quả phía dưới sẽ nổ bung ở đây, một mét vuông đến bốn quả, với nhiều thủ đoạn cài xảo quyệt” [45, tr.49,50]
Không những vậy mà “hầu như cứ một vài tuần chúng lại tung ra một loại
mìn mới và những cách cài mìn mới hình như bọn Pônpốt có hẳn một viện nghiên cứu, chế tạo mìn để thiến chân cẳng đối phương thì phải” [45, tr.50]
Trong Sào huyệt cuối cùng, Trung đoàn trưởng Trần Bá Luân cũng nhận thấy
“Cái khó khăn nhất bây giờ là mìn Địch cài mìn bất cứ chỗ nào Một cây đu
đủ có quả địch cũng đặt mìn Đường mòn dứt khoát có mìn Cạnh chuồng gà cũng có mìn Mìn chống tăng thì đặt trên đường lớn, mìn K58 thì gài diệt bộ binh Xe bộ đội ta hành quân thường hay bị địch đặt mìn và phục kích dùng B40 bắn cháy rồi xung phong tiêu diệt những người sống sót” [30, tr.172]
Quả thật chiến trường là một mảnh đất xấu găm đầy mảnh đạn và bom mìn Các chiến sĩ của ta đặt chân lên mảnh đất ấy là đặt chân lên trước lưỡi hái của
tử thần Cái chết có thể đến bất kì lúc nào Bởi vậy để có thể sống sót, không còn cách nào khác là họ phải phá mìn, mặc dù biết rằng đó là một công việc
rất cực khổ và nguy hiểm: “Họ gỡ mìn trong cái nắng như đổ lửa, hơi nóng
bốc đến ngạt thở Tháo mìn luôn trong trạng thái căng thẳng vì phải tập trung cao độ, nếu sơ sẩy một chút, chớp lóe lên tiếng nổ khô khốc người sẽ bị bứng lên khỏi mặt đất, thân thể nát nhừ, cụt cả chân, mù cả mắt Họ dùng thuốc để
dò, khi phát hiện thấy mìn mới tìm cách tháo Trán người nào cũng vã mồ hôi hột, quần áo ướt sũng, đất bám vào nhèo ra như bùn” [45, tr.49] Đã có cách
cài tất có cách tháo gỡ Thông thường là vậy, nhưng cũng có khi gặp những cách cài quá phức tạp thì để bảo toàn tính mạng, bộ đội phải tìm cách làm cho
nó nổ Mà công đoạn làm cho mìn nổ cũng khó khăn nguy hiểm không kém gì tháo gỡ mìn, phải cẩn thận đến từng chi tiết và đặc biệt là phải hết sức bình tĩnh, phải chai lì như vỏ những quả bom thì mới có thể làm được Đúng là nếu
Trang 29không nhắc đến vấn đề này, các nhà văn không thể tái hiện hết được không khí căng thẳng ngột ngạt và mức độ hết sức khốc liệt của không gian chiến trường
Nói đến tính chất khốc liệt của chiến tranh, tiểu thuyết về đề tài chiến tranh ở Lào và Cămpuchia còn dựng lên một không gian chiến trường ồn ào sôi động, đầy xáo trộn, không lúc nào im tiếng súng Nó diễn ra ở chốn rừng núi nhưng cảnh tượng mà con người thường xuyên nhìn thấy không phải là khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp mà là những tia chớp điên cuồng giằng xé không trung của đạn pháo, đất đai oằn mình rung chuyển, khói lửa mù trời Còn âm thanh mà họ nghe không phải là tiếng chim kêu, tiếng suối chảy êm tai mà là tiếng súng nổ, tiếng nổ chát chúa đinh tai nhức óc, tra tấn thần kinh con người, có lúc lại khô khốc vô hồn thật đáng sợ Sau tiếng nổ ấy rất có thể
là người nào đó sẽ bỏ mạng: “Từ phía bên kia đường biên vút lên không trung
những viên đạn lửa, tiếp theo là tiếng súng bộ binh rộ lên Từ phía bên kia chớp nhoáng lên, kèm theo tiếng súng nổ chát chúa Hai tiếng nổ liên tiếp khiến đất rung lên” [45, tr.38, 41], “Pháo địch bắn, những viên đạn xé gió rít ghê rợn trên không trung và nổ ở ngã ba phía thị trấn Mộc Bài, khói đen trộn
đất bụi bưng kín góc trời” [44,tr 58], “Trước mặt là đường biên, chớp đạn lóe lên nhoáng nhoàng, tiếng nổ âm âm, những viên đạn đỏ lừ vọt lên vòm trời
đen đặc” [45, tr.226,227] Đó là những cảnh tượng trong tiểu thuyết Đất
không đổi màu, còn trong Sào huyệt cuối cùng là khung cảnh “Phía bờ sông
Kếp có một tiếng nổ lớn rung chuyển cả vách hầm Những cánh hoa lộc vừng
bờ suối rơi lả tả Con chim gõ kiến đang ôm cây khộp giật mình vụt bay và hét
lên một tiếng “khẹc” ” [30, tr.280] hay một cảnh tượng khác trong Xiêng
Khoảng mù sương: “Đám lửa chỗ tập trung xe cộ cháy mỗi lúc một lớn, bao
phủ sáng rực cả một vùng không nhìn rõ được từng chiếc một vì khói đen và lửa đang bao phủ, đang ngùn ngụt lan tỏa ra từng đống, từng đống lớn Có
ba mỏm chính của BV27, BV21, BV25 thấy rõ có hầm đạn vẫn đang cháy và
Trang 30đang nổ đì đoàng, mảng văng lên trời đêm vèo vèo rồi nổ đì đùng trên không
trung đen ngòm như pháo hoa” [43, tr.288] Trong Một ngày là mười năm là
cảnh: “Loạt cối 120 ly đầu tiên trùm lên cả ba cứ điểm cùng một lúc, chính
xác đến từng xăngtimét Loạt sau trùm lên loạt trước Phút chốc cả căn cứ
địch chìm trong biển khói bụi đỏ một góc trời Tiếng chúng la ó, rồi cối, đại liên từ các lỗ châu mai, hầm hào trong đồn bắn như đổ đạn ra xung quanh, chúng đã hoảng loạn vì bị ăn đòn phủ đầu quá bất ngờ” [ 9, tr.245] Những ai
từng tham gia chiến trận hoặc ít ra từng xem những thước phim tài liệu về hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ thì chắc chắn hiểu rằng đây chính
là những cảnh tượng đặc trưng nhất của chiến trường Nó cho thấy bộ mặt thật của chiến tranh Đó là một khuôn mặt dữ dằn lúc nào cũng phát hỏa ngùn ngụt
và tiếng súng chính là thứ thể hiện uy lực của nó Bởi vậy tiếng súng có mặt ở mọi lúc mọi nơi, đi vào mọi ngõ ngách của chiến trường, len lỏi vào tận trước
cửa hầm chỉ huy của ta: “Quả cối 82 nổ bên hầm Trần Bá Luân được xác định
là cối của địch bắn vu vơ không có địa chỉ Cũng may là lúc đó Trần Bá Luân
đang nằm, lại được một thân cây lớn chắn ngang cửa nên anh chỉ bị thương nhẹ” [30, tr.168] và của địch, hơn nữa đó lại là hầm của cán bộ cấp cao, hết
sức bí mật của bọn chính quyền phản động Iêng Sary ở Cămpuchia: “Lại một
tiếng nổ nữa làm rung chuyển vách hầm Lần này có tiếng ai đó bên kia suối thét Tiếp đó một loạt đạn AK nổ chói óc Im bặt Khiêu Naphon mặt cắt không còn hột máu, nép vào Khiêu Thirít Không khí căng thẳng ngột ngạt”
[30, tr.339]
Một đặc điểm nữa mà chúng tôi nhận thấy khi tìm hiểu về không gian chiến trường là các nhà văn đã dựng lên một không gian của nỗi đau, không gian mang đầy thương tích Tiểu thuyết 1945-1975 không nói hoặc nói rất ít
đến nỗi đau bởi vì nói ra ở thời điểm ấy sẽ không có lợi cho việc động viên cổ
vũ tinh thần chiến đấu Chỉ đến khi chiến tranh đã lùi xa, cần một cái nhìn trung thực về chiến tranh thì điều này mới được đề cập đến nhiều Không gian
Trang 31mang đầy thương tích không chỉ là thương tích của người tham gia chiến trận
mà còn là thương tích của thiên nhiên ở đâu trên mảnh đất chiến trường cũng
có thể thấy những cảnh tượng tàn phá quen thuộc này: “Nhiều cây lớn bị pháo
đánh bật gốc, nằm ngổn ngang, thân nhăm vết đạn, những cây sót lại thân cháy đen như thể cây giữa đám rẫy vừa đốt” [45, tr.96] hay: “Hai người ngồi lên thân cây dầu bị pháo tiện xuống dọc vệ đường Nơi pháo tiện đứt và những chỗ có mảnh đạn găm, nhựa tứa vón cục vàng như sáp mật ong, thoảng mùi hăng hắc” [45, tr.488] Cảnh tượng này khiến chúng ta liên tưởng đến cảnh
những thân cây xà nu mang đầy thương tích trong truyện ngắn Rừng Xà nu
của Nguyễn Trung Thành Cảm hứng đau thương được nhà văn trở đi trở lại trong hình tượng cây xà nu Cả rừng xà nu, hàng vạn cây không có cây nào không bị thương Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão ở chỗ vết thương của cây nhựa ứa ra tràn trề rồi dần dần bầm lại
đen và đặc, quyện lại thành từng cục máu lớn Chắc hẳn nhà văn Nguyễn
Quốc Trung trong tiểu thuyết Đất không đổi màu cũng giống như nhà văn
Nguyễn Trung Thành coi mỗi thân cây cũng là một cơ thể, có thể cảm nhận
được nỗi đau của thân thể mình Mỗi câu văn như cứa vào tâm hồn bạn đọc, khiến cho mỗi người đều cảm nhận rõ nét về một thời đại gian khổ trong chiến tranh Cây chết còn người thì đổ máu Đây là những người lính-những thân thể
đầy thương tích: “Một cậu còn trẻ măng bị một vết vào đầu và một vết vào
bàn chân phải dập nát nhưng cậu ta lại ngất lịm Người chiến sĩ còn lại trông
có vẻ cứng tuổi hơn thì bị mìn bóc tuốt hai chân lên gần tới bẹn, xương cốt, gân thịt nhoe nhoét” [30, tr 178]; “Một ánh chớp lóe lên, kéo theo tiếng nổ khô khốc Pen Bách nhổm dạy, trong quầng bụi, người chiến sĩ đang vật vã giữa vũng máu Chân phải người chiến sĩ bị tiện cụt đến gần đầu gối, thân thể
bị mảnh mìn băm nát” [45, tr.493]
Trang 32Những cái chết mới là tận cùng của nỗi đau Có biết bao nhiêu cái chết thì có bấy nhiêu cảnh huống khác nhau Có cái chết do đạp mìn khi đang canh
gác tuần tra như cái chết của Quang: “Biết chuyện chẳng lành, Sáu Tèo từ căn
hầm chạy đến, giật mình khi thấy Quang đang vật vã, nửa thân dưới dập nát, máu trào ra, phun xuống đất” [45, tr.363] Có cái chết do dẫm phải mìn của
một người lính còn rất trẻ mới mười tám tuổi khi đưa đường cho cán bộ đến
kho gạo để xin tiếp tế: “Người chiến sĩ từ từ ngồi xuống, anh đặt khẩu AK
sang một bên và dựa hai tay moi cát quanh chân phải Mặt quả mìn đó đã lộ dần Anh khóa chốt trái mìn Nhưng vừa nhấc lên thì trái mìn lớn phía dưới hiện ra, không kịp nữa rồi” [45, tr.493] Có cái chết do trực tiếp chiến đấu
giáp mặt với kẻ địch của Thảnh và chiến sĩ B40: “Thảnh trung đội phó dẫn
hai chiến sĩ, một cầm AK một vác B40, nhanh chóng trườn lên bờ đất, hình như thấy quá chậm, họ đứng bật dạy lom khom chạy hai chiến sĩ bị hất tung Quyền thét lên và anh thấy tai mình ù đặc, ngực anh đau nhói Thảnh và chiến sĩ B40 hi sinh rồi” [45, tr.141] Còn có cái chết như của một bộ đội du
kích khi chống trả toán phỉ Vàng Pao vào cướp bò, lợn, lương thực tại một bản
Lào Mông: “Tháng trước, một toán phỉ Vàng Pao từ cụm Tây Bắc nống ra
cướp bò, lợn, lương thực bị đội du kích của chồng Vi Lăm chống trả, phải rút chạy bỏ lại mấy xác Địch đông hơn, trang bị mạnh hơn, chồng Vi Lăm trúng
đạn bị mất nhiều máu, vài giờ sau tắc thở ” [9, tr.241] Và có cái chết thật anh
dũng kiên cường, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng của Sáu Tèo Anh hi sinh
để mở đường cho đơn vị tiến qua con rạch hướng về giải phóng Phnôm Pênh:
“Họ tiến theo rảnh mương cạn để tiến về phía công sự địch Họ vừa vận động
được một đoạn đã bị ổ đại liên quét những tràng đạn như hất lại Một trái pháo nổ ngay trên bờ, đất vùi lên người Sáu Tèo, anh vùng dậy, chạy lên mấy bước, cảm thấy nóng ở má Máu, máu từ màng nhĩ đã trào ra Tai Sáu Tèo ù
đặc, không còn nghe gì nữa” [45, tr.555] Cũng có cái chết do bị nước cuốn
Trang 33trôi giữa sông như của Ba Quân Cũng giống như Sáu Tèo, Ba Quân chết trong trận tiến quân sang Cămpuchia để giúp bạn giải phóng Phnôm Pênh Trên
đường tiến quân, tiểu đoàn của anh phải vượt qua sông Tôn Lê Sáp để chiếm lấy địa bàn Mặc dù biết đó là một việc rất nguy hiểm nhưng trong tình trạng
địch rối loạn, nếu ta dừng lại ở bên này sông, địch sẽ củng cố lập thành phòng tuyến dọc sông, sẽ gây nhiều khó khăn cho ta nên tiểu đoàn bắt buộc phải cho mấy người bơi giỏi sang trước để cảnh giới cho các đơn vị vượt tiếp Và rồi Ba
Quân, người dẫn đầu đã hi sinh khi đang bơi ở giữa sông: “Có tiếng đạn rơi
lụp bụp, mọi người biết bọn lính Pônpốt đã phát hiện bộ đội bơi sang, đang cố sức ngăn chặn Đạn nổ, những cột nước vun lên Bất chợt, Sáu Tèo thấy Ba Quân ngưng bơi, chới với, trồi trụt, cơ hồ bị chìm Sáu Tèo tiến lại, Ba Quân
đã bị trúng đạn, ở bắp tay, máu phun ra dòng nước ngầu phù sa thành những tia đỏ ối” [ 45, tr.551] Lại có cái chết rất oan uổng như cái chết của Tiếu
Anh hoạt động trong đội du kích xã nằm ngay biên giới Sáng ấy, Tiếu lên chốt biếu bộ đội đàn gà để họ bồi dưỡng Anh đã không hi sinh nếu trên
đường về không gặp người lái xe Cămpuchia chở máy thông tin về đơn vị làm nhiệm vụ gấp Xe của anh ta bị hỏng, chờ để sửa, có thể sẽ làm hỏng luôn cả việc lớn Tiếu đã không chần chừ lấy xe trâu của mình chở giúp máy thông tin
về đơn vị Trên đường trở lại, xe Tiếu bị vướng mìn, anh hi sinh để lại nỗi đau khôn nguôi cho người vợ và mấy đứa con thơ Có biết bao cái chết khác nhau, cái chết nào cũng đem lại cho người đọc sự xót xa, tiếc nuối Phải chăng phía
tự phổ quát của hình tượng cái chết ở chỗ này: chiến tranh là chết chóc Con người muốn hạnh phúc phải tránh xa chiến tranh
Một điều ám ảnh là dựng lên hình ảnh về cái chết, các nhà tiểu thuyết
đã tái hiện lại những cảnh tượng hết sức kinh hoàng Đó là hình ảnh của những cái hố, cái giếng chôn người tập thể nơi biên giới ở Cămpuchia, từ ngày bọn phản động Pônpốt - Iêng Sary lên cầm quyền, chúng dồn những người dân vô tội vào sống ở công xã Và với chế độ diệt chủng cuồng loạn,
Trang 34chúng tự do giết người, chỉ cần người dân phạm một lỗi nhỏ hoặc bị tình nghi
có ý đồ phản lại chúng thì ngay lập tức bọn Ăngca sẽ đưa họ ra rừng, thế là một nhát cuốc hay báng súng vào đầu và đẩy xuống hố hoặc xuống giếng:
“Hái một trái dừa về - bị đập đầu chết; bắt được con cá, mang về ăn riêng - cũng bị đập đầu chết; nói xấu Ăngca - đập đầu chết, lao động không quên mình-đập đầu chết; ương bướng không tuân lệnh lục thum - đập đầu chết ”
[30, tr.96] Trong công xã tất cả những người dân thuộc tầng lớp trên như trí thức, chủ xưởng, buôn bán, sinh viên, văn nghệ sĩ - những người không phải lao động chân tay và những người không chịu cải tạo bị xếp vào dân loại ba và
đều bị giết Thường mỗi đợt bọn Ăngca giết khoảng năm mươi người Bởi vậy mới xuất hiện những chiếc hố, chiếc giếng chôn người tập thể rùng rợn như
thế này: “Tiểu đội trưởng Lý và các chiến sĩ của một tiểu đội quân đội cách
mạng Cămpuchia, đơn vị cùng phối hợp chiến đấu trận này, đến từng nhà để xem lại nguồn nước giếng Ba năm bỏ hoang cỏ đã che lấp các miệng giếng
Họ đã tìm được một cái giếng khá lớn, thành giếng được xây kè bằng đá ong, chắc trước đây là giếng chung của cả phum Chợt Lý nhìn xuống và anh thét lên, lòng giếng đầy thi thể người, có xác đã trương phình, có xác như vừa mới
bị giết Mùi chướng khí bốc tởm lợm” [45, tr.295] Dựng lên không gian nỗi
đau này, các nhà tiểu thuyết đã chứng minh một điều rằng chiến tranh một khi
đã xảy ra thì dù ở đâu, ở Việt Nam, Lào hay Cămpuchia, con người đều phải gánh chịu rất nhiều nỗi đau Nỗi đau không phải của riêng ai, không phân biệt người Lào, người Việt Nam hay người Cămpuchia
2.2 Khụng gian đời tư
Đây là kiểu không gian được đề cập nhiều trong các tiểu thuyết viết về
đề tài chiến tranh hiện nay so với giai đoạn trước Tiểu thuyết trước 1975,
không gian đời thường, đời tư ít được đề cập tới, bởi đó là lúc “Tất cả vì tuyền
tuyến”, là lúc mọi thứ tình cảm riêng tư đều phải đặt thấp hơn hai tiếng
“nhiệm vụ”, “Vui duyên không quyên nhiệm vụ” Nếu có không gian đời tư
Trang 35thì không gian ấy cũng phải đại diện cho một không gian rộng lớn nào đó của quê hương, của đất nước
Không gian đời tư là không gian cho phép nhân vật sống đích thực với cuộc sống riêng của mình, được là chính mình Nếu không gian chiến trường
để người lính bộc lộ những phẩm chất chung vì lí tưởng, vì đất nước thì không gian đời thường lại giúp tái hiện chiều sâu tâm lí trong con người họ, giúp người đọc nhận ra họ cảm, họ nghĩ gì về cuộc sống xung quanh và đó cũng là lúc con người mới là người nhất Hơn nữa, dù có tham gia chiến trận, dù có mặt tại chiến trường thì người lính vẫn không thể nào dứt bỏ hẳn bao nhiêu mối quan hệ với gia đình, với họ hàng thân thích phía sau mặt trận; không thể nào tránh được những mối quan hệ phức tạp với anh em đồng đội quanh mình Trên mặt trận, họ chia lửa với nhau nhưng khi trở về với những quyền lợi cá nhân, cũng có con người đầy toan tính, vị kỷ, ganh đua ganh tị thậm chí tìm cách hãm hại cả đồng đội của mình; có kẻ còn bán rẻ nhân phẩm, phản bội tổ quốc để chạy theo kẻ địch Đặc biệt hơn ở những tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh ở Lào và Cămpuchia, không gian sinh hoạt đời tư của người lính còn có mối quan hệ với người dân bản địa Bởi khi quân tình nguyện Việt Nam sang Cămpuchia và Lào, giúp Lào và Cămpuchia giải phóng dân tộc, họ
ăn ở hoạt động cùng người dân bản địa, được nhân dân bản địa chở che, bao bọc, yêu quý nên có mối quan hệ với họ là lẽ tất nhiên
Đọc Một ngày là mười năm của Phạm Quang Đẩu ta sẽ được chứng
kiến mối quan hệ cá nhân rất phức tạp của trung tá Nhị Nguyễn với một người con gái Lào tên là Xão Xọi Mối quan hệ ấy hay nói đúng hơn là mối tình giữa hai người sâu sắc và phức tạp đến nỗi khiến cho Nhị Nguyễn khi đã là cựu chiến binh tám mươi năm tuổi mà ở góc sâu thẳm nơi lương tâm vẫn còn đó
bao trăn trở, tiếc nuối về thủa đầu xanh tuổi trẻ “mối tình mang xuống tuyền
đài chưa tan” Ai cũng bảo cái số ông sướng nhưng chỉ đến khi ông đột ngột
ngã bệnh, lúc ông hấp hối trên gường bệnh, mọi người mới biết được ông đã
Trang 36phải chịu đựng nỗi dày vò tâm can như thế nào kể từ khi ông từ Lào trở về nước cho đến nay Hồi đó ông nhận nhiệm vụ sang Lào nắm vùng Pha Lan của Nha Hởn ở cao nguyên Bô lô Vên Ông làm công tác dân vận giúp nhân dân các bản bắt tay nhau đồng lòng chống lại chiến dịch giành dân giành đất của giặc Pháp Một lần ông lên sở chỉ huy phân khu báo cáo tình hình, vừa trở
về đến bản thì bất chợt thấy có địch theo dõi, ông vội chèo lên cầu thang một nhà dân gần nhất May mà mẹ con Xão Xọi - chủ căn nhà đã nhanh trí nhận luôn Nhị Nguyễn là chồng Xão Xọi vừa lên nương về thăm vợ ốm mà Nhị Nguyễn thoát chết Theo tục lệ Nha Hởn, người đàn ông bước vào buồng con gái thì đã là chồng của cô gái Xão Xọi đem lòng yêu Nhị Nguyễn Vì nhiệm
vụ quốc tế, Nhị Nguyễn không hề có ý định yêu Xão Xọi và cũng đã nhiều lần
từ chối tình cảm của nàng Nhưng Xão Xọi thì khác, nàng coi cuộc gặp gỡ bất
đắc dĩ với Nhị Nguyễn trong căn buồng liếp sơ sài ấy như cơ duyên trời định Nàng tìm mọi cách để được gặp gỡ và chủ động gần gũi thân xác với Nhị Nguyễn Nhị Nguyễn lạnh lùng, lí trí nhưng Nhị Nguyễn vẫn là một con người bình thường, một chàng trai đang độ tuổi yêu đương Vì thế cái gì đến đã đến:
“Như có luồng điện từ đường nét trên thân thể qua lần vải mỏng của nàng truyền sang và bản năng mạnh như thác đổ của người con gái đang tuổi xuân mơn mởn ấy phút chốc đè bẹp, làm tan biến cái lí trí phòng vệ mong manh vốn thường trực, ông hối hả áp môi mình vào đôi môi nóng bỏng, vào đôi mắt ướt
át, vào bờ ngực tròn căng của nàng” [9, tr.168] Cứ thế Nhị Nguyễn hối hả
đón nhận tình cảm của Xão Xọi Nhưng rồi sau “màn khởi thủy” ấy, cái túi
giấy tờ đột ngột giúp Nhị Nguyễn mang lí trí trở lại và thế là kỷ luật quân tình nguyện không cho phép Nhị Nguyễn và Xão Xọi công khai yêu nhau Mọi chuyện không êm xuôi mãi được khi chuyện tình của hai người bị Đỗ Trường phát hiện Chưa quên chuyện cũ - vì Nhị Nguyễn mà có lần Đỗ Trường bị cách chức - Đỗ Trường liền báo cáo chuyện này lên cấp trên Nhị Nguyễn bị
kỷ luật, giáng xuống mấy cấp và phải trở về Việt Nam ngay mà không hề biết
Trang 37rằng Xão Xọi đã có con với mình Trở về Việt Nam không bao lâu, Nhị Nguyễn vội vàng cưới vợ như một cách để quên đi mối tình nơi bên kia biên giới Xão Xọi một mình sinh con Chỉ đến khi sang Lào tham gia chiến dịch Sẩm Thông-Long Chẹng, Nhị Nguyễn mới được biết mình có một đứa con rơi, lúc đó Khăm Đi - con trai ông, đã tròn mười tám tuổi Nhưng đau khổ cho Nhị Nguyễn là ở chỗ Khăm Đi không nhận ông là cha Không có điều kiện gặp lại
Khăm Đi nhưng ông luôn day dứt và ân hận nghĩ “mình là thằng sở khanh,
thằng hèn, để đến lúc chết người ta còn mang hận trong lòng” [9, tr.263] Nhị
Nguyễn luôn muốn chuộc lại phần nào lầm lỗi bằng việc bù đắp cho phần thiếu thốn tình cảm của Khăm Đi và mong Khăm Đi chuyển ý Nhưng Nhị Nguyễn chưa kịp làm thì ông đã đột ngột qua đời trên gường bệnh Ông chỉ kịp nhờ người bạn của mình kể lại cho vợ con ông biết bí mật ấy
Tác giả còn đặt Nhị Nguyễn vào mối quan hệ cũng rất phức tạp với Đỗ Trường Từ khi hoạt động cùng nhau ở cao nguyên Bô Lô Vên bên Lào, mối quan hệ của hai người vốn đã chẳng mấy tốt đẹp, ấy vậy mà khi hòa bình trở
về nước họ lại luôn được đặt bên cạnh nhau như để tiện cho việc so sánh thiệt hơn, được mất Nhị Nguyễn hết mình cống hiến cho đất nước mà khi trở về chỉ
được đeo lon trung tá, lại phải chui ra rúc vào trong căn hộ tập thể ba chục mét vuông của cơ quan vợ Còn Đỗ Trường, con người khó chơi kia thì lại về nghỉ với quân hàm đại tá, được cấp mảnh đất gần sân bay Bạch Mai Ông ta liền cắt phăng một nửa bán, có tiền xây nhà ba tầng to đùng Thế nhưng ông trời có lúc trêu ngươi mà cũng có lúc công bằng, Nhị Nguyễn có hậu vận tốt: con cái giỏi giang, gia đình đề huề yên ấm còn gia đình Đỗ Trường thì lục đục: già rồi còn phải ghen bóng ghen gió vợ mình với người khác để đến nỗi suýt nữa phải
ly dị Không những vậy, chính Đỗ Trường còn tâm sự: “Giờ tôi không còn
thằng bạn nào bác ạ, đứa chết bệnh, đứa thấy mình đã hết quyền thì ngoảnh mặt đi” [9, tr.65] Thì ra mỗi một con người là một số phận, có mặt này tốt,
mặt kia xấu Dù cho họ có ưu tú thế nào trên mặt trận thì khi trở về với cuộc
Trang 38sống đời thường họ vẫn là những con người bình thường như bao người mà thôi
Gần giống với hoàn cảnh của Nhị Nguyễn là hoàn cảnh nhân vật ông bố
của Luân trong tiểu thuyết Sào huyệt cuối cùng Ông sang Cămpuchia hoạt
động cách mạng khi đã có vợ con ở quê hương Sang đất bạn, ông làm chiến sĩ tình báo, được cử đóng vai một nhà tư sản buôn bán cao su ở Phnông Pênh Và trong thời gian này ông đã để lại trên đất nước Chùa Tháp một đứa con rơi Năm ông về nước cũng là lúc con gái ông vào học trường múa Ông đã phải giữ điều thầm kín ấy trong suốt nhiều năm cho đến khi con trai ông sang Cămpuchia chiến đấu, ông mới thổ lộ với con để con tìm đứa em gái cùng cha
khác mẹ Tại sao phải giữ bí mật chuyện đó? Bởi vì “đành rằng đó là vì nhiệm
vụ, nhưng bỏ ra ngoài nhiệm vụ, thì đó còn là tình yêu, tình cảm” [9, tr.245],
vợ ông đã chắc gì thông cảm được Quả là mỗi người lính ra đi chiến đấu đều phải đối mặt với những hoàn cảnh số phận hết sức éo le trắc trở Trần Bá Luân cũng đầy trắc trở trong tình cảm Làm một thiếu tá trung đoàn trưởng đã từng lập nhiều chiến công mà anh vẫn không được gia đình người yêu chấp nhận
chỉ vì “Luân con bà mẹ nghèo có lí lịch không rõ ràng (cha di cư vào Nam
mất tin tức)” [30, tr.41] nhưng chắc hẳn đó chưa phải là tất cả lí do mà hẳn
còn vì một lí do khác nữa: Luân là bộ đội, phải đi xa nay đây mai đó, tương lai chưa biết thế nào? Chính bởi vậy bố mẹ Hòa (người yêu Luân) phản đối quyết liệt, phản đối không được thì thuê người phá đám Nay thì bố mẹ Hòa tung tin
đang có con của một quan chức cấp Bộ đang tìm hiểu Hòa Lúc khác lại đánh
điện gửi sang nói là Hòa đã ăn hỏi Chỉ khổ cho Luân phải đối mặt với cái chết ngoài mặt trận và trong quan hệ với đồng nghiệp (luôn bị Phạm Chiến nhăm nhe vào sơ hở để chơi xấu) vậy mà vẫn còn phải bận tâm lo lắng về chuyện của Hòa Thật đáng trách cho những người như bố mẹ Hòa, chỉ biết lo cho
quyền lợi cá nhân mà “quên mất nhiệm vụ tối cao bây giờ là tính mạng và
Trang 39thắng lợi của người ngoài mặt trận Mọi sơ suất của người phía sau, của điểm tựa người lính đều có thể là một nguyên nhân dẫn đến thất bại của họ” [30,
tr.335]
Mỗi người lính sau mỗi trận đánh căng thẳng đều có những giờ phút trăn trở, luôn suy nghĩ về gia đình, về những người thân ở hậu phương với bao niềm vui, nỗi buồn Đặt những người chiến sĩ giữa không gian đời tư chúng ta
mới hiểu hết được tình cảm, hoàn cảnh của họ Chính bởi thế, Dần trong Đất không đổi màu rất khó tiến thân trong quân đội vì người vợ luôn kè kè bên
cạnh Anh đang chuẩn bị được cân nhắc đề bạt lên làm tham mưu trưởng sư
đoàn, thì đùng một cái đơn vị anh bỏ chốt để địch tràn sang cũng chỉ vì Dần lơ
là không có mặt Nhưng căn nguyên sâu xa của việc lơ là ấy cũng tại Tuyết (vợ Dần) cứ làm nũng, nằng nặc đòi anh cùng đi dự đám cưới Sau này vợ đã phản bội Dần để đi theo một tên lái xe dâm đãng lừa lọc Dần biết tin vợ bỏ đi theo trai đúng lúc trước giờ trung đoàn xuất kích Mọi người lo Dần không đủ bình tĩnh để chỉ huy đơn vị, định tìm người thay thế nhưng phương án tác chiến đã được bàn bạc kĩ, người khác làm sao có thời gian để nắm phương án tác chiến, đó là chưa kể phải hiểu được tình hình các đơn vị cấp dưới và thế là Dần quyết nén đau để ra đi, hoàn thành nhiệm vụ Còn gì khó khăn bất lợi hơn khi trước giờ ra trận mà phải chịu đựng nỗi đau quá lớn như vậy
Cũng trong Đất không đổi màu, Vương Thế - trưởng phòng dân vận -
bước vào cuộc chiến tranh biên giới, công tác dân vận của anh càng trở nên quan trọng, bận trăm công nghìn việc Vậy mà đằng sau những công việc ấy anh vẫn phải bận lòng vì chuyện gia đình: vợ anh theo người khác Khi miền Nam giải phóng, Vương Thế mới biết tin ấy, anh như bị choáng Suốt thời
đánh Mỹ, Vương Thế đã từng giữ chức vụ chính trị viên tiểu đoàn, anh là một cán bộ chính trị luôn có mặt ở những điểm nóng, đến tận điểm chốt sống với chiến sĩ cả tuần, cả tháng, gan lì và quả cảm, nhưng tin ấy đã khiến anh suy sụp Sau đó, Vương Thế có yêu mấy người nhưng không thành vì khi gặp, anh
Trang 40thường kể chuyện người vợ cũ khiến họ tự ái và xa lánh anh Bước sang tuổi năm mươi, nửa đêm về sáng anh thường không ngủ nổi, đầu óc trống rỗng, nghĩ miên man Anh sợ không kịp lập gia đình, chẳng có vợ con, về già sống cô độc ý nghĩ đó ám ảnh, khiến anh nôn nóng, lắm lúc hay cáu gắt cấp dưới Như để chứng tỏ mình còn độc thân, anh ăn mặc chải chuốt hơn Anh vẫn để ý
đến những phụ nữ chưa có gia đình nhưng đã trên dưới bốn mươi, có tuổi xuân
đi quan chiến tranh Anh nghĩ phải lựa chọn vợ trong giới phụ nữ ấy, sống với
họ, vừa là vợ chồng, vừa là đồng đội, dễ thông cảm nhau hơn Nhưng rồi, sự
đời lại xoay theo hướng khác: khi thấy má anh không có người chăm nom, một người bạn đã cho cháu gái đến giúp Khanh, tên cô gái, là người biết chiều người già Có đêm cô thức trắng để xức dầu, xoa bóp cho bà Thế rồi
“cô và Vương Thế đã cảm tình với nhau từ lúc nào không hay, nhiều lần trong bữa cơm chỉ có hai người, Khanh lén nhìn anh và cúi đầu như lén tiếng thở dài Thế cũng thấy mình không thể thiếu cô” [45, tr.78,79] Rồi trong một lần
về thăm nhà, hai người đã coi nhau như vợ chồng Nhưng hạnh phúc đâu có
đến một cách dễ dàng như thế đối với một người lính lúc nào cũng biền biệt xa nhà Và thế là cứ như sự bỡn cợt của số phận, ngay lần về thăm nhà sau đó,
Vương Thế đã vỡ mộng khi người yêu anh trong “bộ quần áo hồng rộng thùng
thình, khuôn mặt hồn nhiên ngày nào giờ đã phết bôi lớp son phấn lòe loẹt, mí mắt nhuộn xanh tím nom thật khiếp” [45, tr.424] Cô ta đã nhờ mẹ mình ra
trông coi nhà cửa và mẹ của Thế để đi bán càfê Cô ta không hề ngượng nghịu
khi nói: “Tôi bán càfê ấy mà càfê đèn mờ, có chiếu phim giải trí, đông
khách lắm” [45, tr.424] Thế thấy tởm lợm và thất vọng vô cùng Anh còn thất
vọng hơn khi biết chính Khanh đã phá bỏ cái thai của hai người mà không hề báo cho anh Thế đấy, hạnh phúc đến rồi lại vụt bay, vỡ tan như bong bóng xà phòng chỉ trong chốc lát Có đến với không gian đời thường, đời tư của người lính chúng ta mới thấy hết được những mất mát, hi sinh lớn lao của họ