Là một giáo viên THPT khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn góp thêm một cái nhìn mới vào việc nghiên cứu và giảng dạy các tác phẩm văn hoc về đề tài chiến tranh, từ đó tăng cườ
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
1 Trong văn học Việt Nam hiện đại, đề tài chiến tranh là một trong những đề tài lớn, không thôi ám ảnh các nhà văn mà thành tựu của nó đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta đã đi qua nhiều năm nhưng nỗi đau vẫn âm ỉ không nguôi trong kí ức con người Cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết sử thi của Bộ Quốc phòng được tổng kết vào cuối năm 2009 đã thu được những thành tựu đáng kể Quan tâm nghiên cứu với đề tài kết cấu tiểu thuyết hôm nay về đề tài chiến tranh, chúng tôi lựa chọn thi pháp kết cấu với
hi vọng sẽ chỉ ra được những đặc điểm cơ bản nhất, từ đó hi vọng đưa ra những kiến nghị cần thiết trong việc sáng tạo và thẩm định phương diện tiểu thuyết
Nằm trong sự vận động của tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết về đề tài chiến tranh sau 2004, mặc dù có những hạn chế nhất định về nội dung nhưng đã có nhiều đổi mới về hình thức thể loại
2 Là một giáo viên THPT khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn góp thêm một cái nhìn mới vào việc nghiên cứu và giảng dạy các tác phẩm văn hoc về đề tài chiến tranh, từ đó tăng cường cách hiểu, tình yêu văn học và bồi dưỡng tình yêu đất nước, con người, tinh thần sẵn sang hi sinh bảo vệ tổ quốc …
Mặc dù vấn đề này cũng đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu nhưng hầu hết các ý kiến còn lẻ tẻ, phát hiện ở cấp độ những tác phẩm cụ thể Do vậy thực hiện
đề tài này, chúng tôi muốn có cái nhìn khái quát, hệ thống về tiểu thuyết chiến tranh Việt Nam được viết gần đây Qua đó, chúng tôi hi vọng sẽ hình dung ra sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam về đề tài chiến tranh Trong ý nghĩa này, đề tài mang tính cấp thiết rõ rệt Dù những tiểu thuyết này chưa có trong chương trình dạy học ở trường phổ thông nhưng với đề tài này, người viết có cơ hội hiểu hơn về bản chất kháng chiến đau thương mất mát nhưng rất hào hùng của dân tộc Vì tiểu thuyết về
Trang 2chiến tranh, bên cạnh phần hư cấu còn có cốt lõi sự thật lịch sử Nghiên cứu đề tài này, giúp cho chúng ta hiểu về truyền thống, về lịch sử, giúp ta thêm tự hào dân tộc Đồng thời còn bổ sung cho cho chúng ta những kiến thức lịch sử, văn học và lí luận văn học để phục vụ cho việc giảng dạy sau này
II Lịch sử vấn đề
1 Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 (1986), sự đổi mới văn học đã diễn ra một cách toàn diện, sôi nổi và mạnh mẽ Trong các đề tài này mà văn học đề cập đến thì đề tài chiến tranh vẫn là đề tài hấp dẫn, thu hút được nhiều nhà văn, nó như nguồn khơi mãi không bao giờ vơi cạn Chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm, độ lùi thời gian này là cần thiết để những nhà văn có điều kiện suy ngẫm, chiêm nghiệm về quá khứ để họ tìm ra những cách viết đa dạng hơn, sâu sắc hơn, đi sâu hơn khám phá những góc canh mới đa chiều
Khi bàn về sức sống của đề tài chiến tranh cách mạng trong đời sống văn học
trong bài viết "Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh sau 1975 và những thành tựu nghệ thuật bị bỏ lỡ", Nguyễn Phượng đã khẳng định: "Theo tôi bây giờ cho đến nhiều chục
năm về sau, chiến tranh vẫn là một đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều thế hệ con người Việt Nam cùng các bên tham gia vào sự cố đặt biệt này"
Trong cuộc hội thảo về đề tài chiến tranh cách mạng, một khẳng định tương tự cũng được đưa ra "Đề tài chiến tranh và người lính, tuy không còn là nhất, là chủ đạo,
là thống soái của văn học Việt Nam nhưng nó có một vị trí hết sức quan trọng, vẫn là nguồn cảm hứng sâu sắc của các văn nghệ sĩ, kể cả đối với các nhà văn tương lai "còn ngồi trong các nhà trẻ mẫu giáo"
Nói theo cách nói trong một nhà văn Xô Viết trước đây, bởi vì chiến tranh tuy
đã lùi xa hơn ba mươi năm nay nhưng "những vấn đề về hậu chiến" còn đang rất nóng
bỏng Ấy là vấn đề hàn gắn vết thương chiến tranh, việc tìm hài cốt liệt sĩ, vấn đề chất độc mầu da cam, công tác tháo gỡ bom mìn, chính sách đối với người có công Bởi
Trang 3vì các nhà văn hôm nay, phần đông là những người đã trải qua chiến tranh vẫn rất tha thiết với đề tài này"
Có thể nói văn học sau năm 2000, tiểu thuyết viết về mảng này vẫn chiếm một
vị trí nhất định
2 Tìm hiểu những bài phê bình, nghiên cứu về tiểu thuyết ở mảng đề tài chiến tranh cách mạng sau năm 1975
Theo thống kê của chúng tôi, những vấn đề nghiên cứu tiểu thuyết hiện nay về
đề tài chiến tranh chưa nhiều, chưa hệ thống, chủ yếu là những bài riêng lẻ về một tác phẩm hoặc một nhóm tác phẩm một trong những công trình nghiên cứu khá sâu rộng với đề chiến tranh là của Lê Thị Thu Huyền Trong luận văn Thạc sĩ này tác giả đã khái quát được những đặc điểm của thể loại tiểu thuyết Việt Nam về chiến tranh trong những năm gần đây trên các phương diện Xu hướng phá vỡ cấu trúc nhân vật sử thi truyền thống Sự chuyển đổi các cáp độ yếu tố không gian, thời gian và đổi mới điểm nhìn, cảm hứng và giọng điệu Luận văn của Lê Thị Thu Huyền đã ít nhiều chỉ ra những điểm đổi mới kết cấu của tiểu thuyết Việt Nam về đề tài chiến tranh trên cứ liệu những tiểu thuyết được giải thưởng của Hội nhà văn và Bộ Quốc phòng từ 2004 –
2009, nhưng chưa toàn diện Vấn đề mới chỉ đề cập ở những đổi mới căn bản, do vậy còn thiếu cụ thể Đây là những vấn đề tiếp theo để chúng tôi bổ xung, khái quát
Trong sự vận động không ngừng của tiểu thuyết, kết cấu là phương diện cơ bản bộc lộ những đặc điểm của thể loại thông qua mối liên hệ mật thiết giữa các yếu tố và các cấp độ của nó cũng như giữa các yếu tố với chỉnh thể kết cấu của tiểu thuyết Đặc biệt là tiểu thuyết hiện đại đang có sự vận động và biến đổi không ngừng do sự vận động và biến đổi của thời đại, những kết cấu lệ thuộc tuyệt đối vào trật tự trước, sau của cốt truyện hay kết cấu kiểu tái hiện, mô phỏng, không còn phù hợp phải nhường chỗ cho những kết cấu mới lạ hơn, sáng tạo hơn và năng động hơn ở đó những kỹ thuật tự sự hiện đại đều được thử nghiệm để xây dựng kết cấu
Trang 4Chiến tranh là một đề tài lớn, ở ngày hôm nay nó thường được thể hiện bằng thể loại tiểu thuyết, và trường ca những thể loại chủ lực của nền văn học hiện đại Việt nam Nói đến sức sống của đề tài chiến tranh cách mạng đã có rất nhiều ý kiến chú ý đến vấn đề kết cấu nhân vật Nhân vậtểtong tiểu thuyết sử thi hôm nay được xây dựng
đa sắc diện là điểm chung mà các nhà nghiên cứu đã chỉ ra Về tiểu thuyết Thượng Đức, Nguyễn Thanh Tú đã nhận thấy: "Cấu trúc hình tượng nhân vật sử thi (ở đây là những lãnh đạo chỉ huy) trong Thượng Đức đã được nhận thức lại và đổi mới so với nhân vật sử thi truyền thống Trong tiểu thuyết này, ranh giới gữa nhân vật và đời sống bị rút ngắn đến mức thấp nhất Nhân vật không chỉ là một ánh hào quang tỏa chiếu mà đã có cái lấm láp bụi bặm của đời thường, nói cách khác nhà văn đã phá bỏ
"khoảng cách sử thi" để tạo ra một tinh thần dân chủ hóa, đậm hơn [97; 91]
Khuất Quang Thụy đánh giá cao ở việc tổ chức các tuyến nhân vật, cuốn tiểu thuyết ngổn ngang, bề bộn sự kiện nhưng vẫn theo dõi được vì các tuyến nhân vật
trong Xiêng Khoảng mù sương của Bùi Bình Thi
Vũ Thúy Mây khi tìm hiểu riêng về phương diện nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam viết về đề tài chiến tranh cách mạng sau năm 2000 đã chỉ ra tính chất “giải sử thi” ở các hình tượng nhân vật tập thể, nhân vật người anh hùng và cả nhân vật kẻ thù Điều làm nên tính chất “giải sử thi” ở đây chính là việc xây dựng các hình tượng nhân vật ở các phương diện tốt – xấu, cao cả - thấp hèn… Mặc dù còn một số điểm chưa hợp lý khi triển khai vấn đề nhưng luận văn của Vũ Thúy Mây đã góp phần khẳng định sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam nói chung và sự đổi mới trong cách xây dựng nhân vật của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hôm nay nói riêng
Hầu hết các ý kiến đều khẳng định nhân vật trong tiểu thuyết 1945 – 1975 thường xây dựng theo kết cấu phân tuyến đối lập địch – ta, còn tiểu thuyết hôm nay đã phá vỡ lối kết cấu đơn giản ấy Nếu nhân vật trong tiểu thuyết 1945 – 1975 xuất hiện với vai trò xã hội, cộng đồng thì trong văn học hôm nay người lính được khám phá và soi ngắm ở nhiều bình diện, nhiều phương diện khác nhau một trong những vấn đề dễ
Trang 5nhận ra nhất đó là các tác giả miêu tả con người trong nhiều chiều kích, nhiều môi trường hoàn cảnh khác nhau Đặc biệt các tác giả không ngần ngại đi vào khai thác các yếu tố “nhạy cảm” nhất của con người Vì thế người lính trong tiểu thuyết hôm nay được khám phá ở nhiều mức độ, nhiều khía cạnh khác nhau, thể hiện tính chất phức tạp của cái thế thời bao quanh con người và ngay trong nội tâm con người Đây
là điểm khác biệt, nổi bật của văn học viết về đề tài chiến tranh và người lính thời hậu chiến mà các nhà nghiên cứu đã chỉ ra Nguyễn Thanh Tú cũng dành bài viết riêng về
nhân vật trong Thượng Đức “Nhà tiểu thuyết đã đi sâu phân tích tâm ký nhân vật” bổ
sung quan niệm về người chỉ huy giỏi “phẩm chất cao quý nhất của người chỉ huy không phải là chuyện thắng thua mà là tình yêu thương đồng chí mình” [65, 90]
“Nhân vật chỉ huy được kéo trở về với đời thường như nó vốn có, nhờ vậy mà thật hơn … có ưu điểm và khuyết điểm, không tránh khỏi những sai lầm” [65, 90 – 91]
Nguyễn Thanh Tú cũng khẳng định thêm: “Cấu trúc hình tượng của kiểu nhân vật anh hùng đã được nhận thức lại, quan niệm mới hơn, phức tạp đa dạng đa diện hơn [64, 99 – 100]
Là người dành nhiều tâm huyết cho nghiên cứu tiểu thuyết sử thi giai đoạn này,
Nguyễn Thanh Tú còn chú ý đến những kiểu nhân vật tập thể trong Những bức tường lửa – Khuất Quang Thụy: “Nhân vật tập thể có tính đa chiều góc cạnh hơn vì thế mà
sinh động hơn, thật hơn” [66, 67]
Một khía cạnh nữa của tiểu thuyết viết về chiến tranh hôm nay cũng được miêu
tả khá nhiều, đó là dục vọng và bản năng của con người Miêu tả dục vọng và bản năng không phải để phê phán con người mà là để tố cáo chiến tranh với sức tàn phá hủy diệt ghê ghớm của nó không cho con người có quyền được sống như chính họ mong muốn và khao khát Về vấn đề này Nguyễn Thanh Tú cũng khẳng định: “Tiểu thuyết hôm nay phá vỡ bức tường kiêng kỵ đó để đi sâu vào miền bản năng của người lính, để tìm hiểu những vẻ đẹp riêng tư, những khao khát tình dục rất đời thường của con người” [96, 97]
Trang 6Nguyễn Thị Xuân Dung khi Bàn về vấn đề dục vọng trong tiểu thuyết Việt Nam
về chiến tranh từ 1986 – 1996, đã nhận xét: “Trong tiểu thuyết chiến tranh từ 1986 –
1996 ta thấy hầu như tác phẩm nào cũng đề cập đến truyện bản năng, tình yêu – dục vọng của con người và thể hiện nó một cách tự nhiên, chân thực Điều đó càng phản ánh một cách rõ hơn bộ mặt trần trụi của chiến tranh và số phận khốc liệt của con người trong hiện thực tàn bạo ấy, qua đó hợp lý hóa đời sống bản năng của con người,
đề cao nó trong một tinh thần nhân văn cao đẹp; Lên án, phê phán chiến tranh là một thế lực phi nhân tính đã tước đoạt cướp mất của con người quyền được sống với chính những nhu cầu bình thường và thiết yếu của họ” [17]
Vì vậy đi sống tinh thần tư tưởng tâm hồn của con người cũng là một khía cạnh được nhiều người bàn đến trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hiện nay Trần Thị
Mai Nhâm đã khẳng định trong Quan niệm về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam giai đoạn 1986 – 2000: “Bên cạnh ý nghĩa lịch sử của cuộc chiến tranh, các nhà văn đã
“gia tăng sự chú ý” đến việc trình bày “con người trong diễn biến lịch sử” nghĩa là nhà văn chú ý miêu tả các biến cố, sự kiện trong toàn bộ đời sống, đặc biệt là đời sống tinh thần, đời tư, tâm hồn con người Cái mà họ quan tâm không phải là chiến tranh xảy ra như thế nào mà trong chiến tranh, sau chiến tranh người ta sống như thế nào” Đây cũng là những điểm mới của tiểu thuyết viết về cuộc chiến đã qua
Ngoài kết cấu hệ thống hình tượng nhân vật thì trong kết cấu hình tượng không gian và thời gian cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm chú ý Nguyễn Thanh Tú đã
tìm ra Năm mô hình không gian trong tiểu thuyết sử thi hôm nay là không gian chiến
trường – cái nhìn bi kịch hóa, không gian đời thường – cái nhìn đời tư hóa, không gian tâm lý – cái nhìn trữ tình hóa, cảm thương hóa, hình tượng thiên nhiên – xu hướng biểu tượng hóa
Không gian tiểu thuyết được mở rộng có thể là không gian chiến trường rộng lớn, cũng có thể là không gian sâu lắng trong tâm hồn con người
Trang 7Như vậy, nhân vật thường được đặt trong không gian sinh hoạt đời tư, con người trực tiếp đối diện với những vấn đề cá nhân mình, bản chất cá nhân được tự do lên tiếng, làm cho con người gần “người” hơn còn thời gian tiểu thuyết hiện đại nói chung trong đó có tiểu thuyết về đề tài chiến tranh đã sử dụng khuynh hướng đảo tuyến kết cấu Mai Hải Oanh cho rằng “Bên cạnh những tác phẩm thiết tạo điểm nhìn quen thuộc
là những hình thức tổ chức điểm nhìn mới, trong đó đáng chú ý là ba hiện tượng nổi bật, sự dịch chuyển điểm nhìn nghệ thuật, sự luân phiên điểm nhìn người trần thuật và nhân vật, gấp bội điểm nhìn” [68]
Khi tìm hiểu điểm nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, Trần Tố Loan đã rất tinh tế nhận ra “Nguyễn Đình Tú rất ý thức trong việc đặt điểm nhìn không gian, thời gian nhưng có thể nói điểm nhìn tác giả và nhân vật mới là điểm nhấn chú ý nhất trong nghệ thuật kể chuyện của anh”
Về điểm nhìn không gian, Nguyễn Đình Tú đều cố gắng “khu biệt hóa” vùng
không gian để “nhìn ngắm” nhân vật của mình dịch chuyển trong đó “Ở Bên dòng Sầu Diện, Trường nhìn của nhà văn đặt vào thị trấn An Lạc, dòng Sầu Diện, trong đó
có những không gian nhỏ hơn như xóm Đáy, xóm Khơ me, phố Tứ phủ…
Trong không gian ánh ảnh và có tên gọi gắn với huyền thoại tự tạo ấy, nhà văn
kể chuyện về cuộc đời nhân vật Minh Việt từ khi ra đời đến cúc già cũ [50]
Về thời gian của Nguyễn Đình Tú thường là hiện tại quá khứ hoàn thành, - quá khứ - quá khứ tiếp diễn Ở “nhà văn để cho nhân vật luân phiên kể chuyện của mình v lúc xưng tôi, lúc xưng tên… Ngoài việc dịch chuyển điểm nhìn từ người trần thuật sang nhân vật chính, tác giả sử dụng điểm nhìn của các nhân vật phụ, hỗ trợ cho dòng
tự sự chính” [50]
Tất cả những nhận định, nghiên cứu trên đây đã phần nào giúp chúng tôi hình dung được quá trình vận động các hình thức cấu trúc – kết cấu nghệ thuật của tiểu thuyết hiện đại nói chung và thiểu thuyết về đề tài chiến tranh nói riêng trong quỹ đạo
Trang 8đổi mới của văn xuôi Việt Nam những năm gần đây Tuy nhiên các bài viết mới chỉ là những ý kiến nhận định mang tính riêng lẻ, chưa đặt thành một hệ thống nghiên cứu
Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hôm nay đã vượt qua giới hạn lịch sử của tiểu thuyết sử thi giai đoạn 1945 - 1975 Những tiểu thuyết được đạt giải thưởng văn học
Bộ Quốc phòng 2004- 2009 là những tác phẩm mới nên chưa có công trình nào nghiên cứu về nó một cách sâu sắc toàn diện nhất là phương diện kết cấu
Chúng tôi mong muốn sẽ nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện hơn về sự đổi mới phương diện kết cấu và các yếu tố cấu thành kết cấu của tiểu thuyết hôm nay
về đề tài chiến tranh
III Mục đích và phạm vi đối tượng nghiên cứu
1 Mục đích nghiên cứu
1.1 Với đề tài đã chọn, luận văn của chúng tôi nhằm củng cố chắc thêm vấn đề
lý luận về kết cấu của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh
1.2 Xác định được vai trò của kết cấu trong việc thể hiện những giá trị nội dung
tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện từ góc độ thể loại – tiểu thuyết sử thi và những khuynh hướng vận dụng đa dạng phức tạp của các yếu tố cũng như mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành nên tiểu thuyết về đề tài chiến tranh
1.3 Nhận diện và cắt nghĩa sự xuất hiện của các yếu tố cấu thành nên kết cấu tiểu thuyết Từ đó chứng minh tính hiện đại mới mẻ của nó đồng thời làm rõ sự vận động về mặt thể loại của tiểu thuyết Việt Nam những năm gần đây
2 Đối tượng nghiên cứu
Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh - nhìn từ phương diện kết cấu (trên cứ liệu những tiểu thuyết tiêu biểu được giải thưởng văn học của Bộ Quốc phòng 2004 – 2009)
Trang 93 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào những tiểu thuyết sử thi được giải thưởng của Hội nhà văn và Bộ Quốc phòng từ 2004 – 2009
Cụ thể là các tác phẩm sau:
Tiếng khóc của nàng Út (Nguyễn Trí Chung)
Thượng Đức (Nguyễn Bảo Trường Giang)
Mùa hè giá buốt (Văn Lê)
Xiêng Khoảng mù Sương (Bùi Bình Thi)
Phòng tuyến Sông Bồ (Đỗ Kim Cuông)
Màu rừng ruộng (Đỗ Tiến Thụy)
Xuân lộc (Hoàng Đình Quang)
Thời hậu chiến (Nam Hà)
Bên dòng Sầu Diện (Nguyễn Đình Tú)
Rừng thiêng nước trong (Trần Văn Tuấn)
Trang 10IV Phương pháp nghiên cứu
Luận văn tiếp cận nghiên cứu các tác phẩm từ góc độ thể loại, vì vậy trong quá trình nghiên cứu chúng tôi vận dụng các thao tác của thi pháp học để phát hiện những đặc điểm kết cấu của tác phẩm trong quá trình vận động của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam Ngoài ra chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
1 Phương pháp hệ thống
Đề tài được đặt trong hệ thống các tác phẩm được Gải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng 2004 – 2009 để khảo sát tìm hiểu Bên cạnh đó đề tài này còn được đặt trong hệ thống văn học với những đề tài trước đó để so sánh, đối chiếu
2 Phương pháp so sánh đối chiếu
So sánh đối chiếu với kết cấu tiểu thuyết sử thi giai đoạn 1945 – 1975 để thấy được những đổi mới về kết cấu của tiểu thuyết về chiến tranh giai đoạn 2004 – 2009
3 Phương pháp thống kê phân loại
V Đóng góp của luận văn
1 Góp phần khẳng định vai trò quan trọng của kết cấu trong tiểu thuyết hiện nay 2004 - 2009
2 Chỉ ra những biểu hiện cụ thể của kết cấu tiểu thuyết hiện nay
VI Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tư liệu tham khảo nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý thuyết chung về kết cấu
Chương 2: Hình tượng nhân vật và hình tượng không gian, thời gian Chương 3: Điểm nhìn cảm hứng lời văn giọng điệu
Trang 11CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ KẾT CẤU
I Khái niệm “Kết cấu”
Như chúng ta đã biết, kết cấu là một khái niệm khá phức tạp từ xưa đến nay, mỗi tác phẩm lại có một cách kết cấu riêng nhằm phù hợp với những tư tưởng, chủ đề khác nhau
I.1 Kết cấu của tác phẩm văn học có từ rất lâu trong các tài liệu nghiên cứu của các nhà lý luận cổ đại và được hiểu rằng: Kết cấu là cách sắp xếp, tổ chức để tạo ra hình tượng nhân vật hay cốt truyện biểu hiện nhân vật đó Hay nói cách khác, kết cấu
là sự tổ chức hình thức bên ngoài, kết cấu bề mặt của tác phẩm
Ở Phương Đông, các nhà lý luận Trung Quốc gọi kết cấu bằng rất nhiều thuật ngữ “Bố cục”- sự xắp xếp các bộ phận, “Phân bố”- sắp ra bề mặt hay “bố trí” – sắp xếp thứ tự Cách bắt đầu hay kết thúc một bài văn… là những hình dung đầu tiên về kết cấu của tác phẩm Ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, tác giả Nhữ
Bá Sĩ đã khẳng định không có kết cấu thì không thành văn chương
I.2 Ở phương Tây thời cổ Hy Lạp, kết cấu được quan niệm là một thể thống nhất, hữu cơ giữa ba phần Mở – Thân – Kết Platon và Arixtot là những tư tưởng gia đầu tiên được đặt ra vấn đề về kết cấu Platon thì cho rằng kết cấu của bài văn phải là một yếu tố có sức sống, có cái thân thể vốn có của nó, có đầu, có đuôi, có phần thân,
có tứ chi, có bộ phận này và bộ phận khác, có quan hệ bộ phận và toàn thể, tất cả đều phải có vị trí của nó
Còn Arixtot luôn quan tâm đến sự thống nhất tự nhiên giữa các phần của sự kiện trong tác phẩm cần phải sắp xếp như thế nào để khi thay đổi hay bỏ đi một phần thì cái chỉnh thể cũng biến động theo, bởi vì cái gì mà có hoặc thiếu nó cũng được thì cái đó không phải là bộ phận hữu cơ của thể thống nhất ấy
Trang 12I.3 Nhưng sang đến đầu thế kỷ 20, lý luận hiện đại đã xem kết cấu như một phương tiện nhằm để biểu hiện và biểu đạt, một phương tiện tổ chức tạo ra trên cơ sở phân biệt kết cấu với những kỹ thuật, thư pháp riêng lẻ, thuần túy hình thức
Những nhà nghiên cứu hình thức ở Nga và Phương Tây hiện đại đã tìm ra cấu trúc bề sâu cảu văn bản nghệ thuật- Tức là cấu trúc có vai trò như một ngôn ngữ chi phối lời nói, từ đó chi phối văn bản và ý nghĩa của văn bản Một hướng đi mới được
mở ra cho việc nghiên cứu kết cấu, đó là nghiên cứu các mối liên kết ở mọi phương diện tổ chức tác phẩm, theo sự phát hiện đời sống và suy nghĩ của nhà văn tạo thành một hệ thống đem lại hiệu quả tư tưởng thẩm mĩ
Sự sắp xếp tổ chức các yếu tố thuộc về kết cấu không phải chỉ nhằm tái hiện các sự vật mà còn nhằm làm cho sự vật có thể biểu đạt ý nghĩa nào đó
I.4 Nhìn chung lại thì kết cấu có thể được hiểu: Là phương diện cơ bản của hình thức tác phẩm văn học, là biểu hiện của nội dung văn học, là sự tổ chức sắp xếp các yếu tố cũng như mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố cấu thành nên tác phẩm theo những nguyên tắc nhất định
II Các nguyên tắc của kết cấu
Theo tác giả Trần Đình Sử, có ba nguyên tắc mà kết cấu phải phục tùng:
Một là “Kết cấu phải phục tùng yêu cầu biểu đạt tư tưởng” [40; 130]
Bất kỳ một nhà văn nào khi lựa chọn kết cấu cũng phải nhằm nâng cao sức biểu hiện của đề tài và chủ đề, tăng cường sức tác động nghệ thuật phục vụ tối đa cho nhiệm vụ nghệ thuật và tư tưởng của tác phẩm
Hai là “Kết cấu phục tùng việc xây dựng hình tượng nhân vật” [40; 111]
Trang 13Vì xét ở bình diện cá thể nhân vật với tính cách, số phận, ý nghĩa nhân sinh văn
có thể nựa chọn một giai đoạn hay một phương diện nhất định của cuộc đời nhân vật
Tố, Vũ Trọng Phụng…
Hoặc trong “ Chiến tranh và Hòa bình” trong “ Tấn trò đời” thì LepTônxtôi và Banzắc đã tái hiện bức tranh xã hội rộng lớn với nhiều hạng người, nhiều mối quan hệ đan xen phức tạp Điều này cho thấy kết cấu tác phẩm sẽ sử dụng hình thức đa tuyến,
đa chiều
Ba là ‘’Kết cấu đạt đến sự hoàn chỉnh [40, 114]
Đây là một nguyên tắc quan trọng của kết cấu tác phẩm Ba yếu tố này không phải là mẫu số chung cho tất cả các kiểu kết cấu mà tùy thuộc vào nội dung tư tưởng
và cách lựa chọn các yếu tố hiện thực để cấu thành tác phẩm cảu nghệ sĩ mà xây dựng
sự hoàn chỉnh hay dang dở, thẩm mĩ của kết cấu
Như vậy, để hiểu được khái niệm kết cấu, để nắm được các nguyên tắc kết cấu của nó, chúng ta cần phải có sự linh hoạt khi tìm hiểu tác phẩm Bởi không phải tác phẩm nào, nhà văn nào cũng lựa chọn kết cấu giống nhau Tuy nhiên nhà văn nào cũng phải đi từ cái chung đến cái riêng của mình
III Các cấp độ của kết cấu
Kết cấu là một phương diện cơ bản của sáng tạo nghệ thuật Do vậy kết cấu bao giờ cũng gắn liền với ý nghĩa nội dung và hình thức biểu hiện của tác phẩm cho lên
Trang 14khái niệm kết cấu luôn được đề cập trong hầu hết các công trình nghiên cứu văn học gần đây
Kết cấu có hai cấp độ: kết cấu hình tượng và kết cấu văn bản kết cấu hình tượng chính là cách kết cấu dựa trên hệ thống các mặt trong tác phẩm và mối quan hệ giữa chúng, từ đó biểu đạt một ý nghĩa tư tưởng thẩm mỹ xác định
Kết cấu văn bản tác phẩm: Kết cấu này theo Trần Đình Sử lại chia làm hai loại: kết cấu bề mặt và kết cấu bề sâu
“Kết cấu bề mặt là kết cấu bên trong bao gồm bố cục, sự sắp xếp của các bộ phận, cách tổ chức sự kiện và trần thuật- vân đề điểm nhìn tổ chức văn bản theo thể loại có sự phân bố cục các biện pháp nghệ thuật.”
Kết cấu bề sâu là cấu trúc bên trong của văn bản, được định hình qua các “cặp đối lập” (Chữ dùng của J Cullar) trong ngôn ngữ đối thoại, trong cách tổ chức trung gian, trong sự phân cấp hệ thống biểu tượng [67.308] Mặc dù vậy nhưng giữa hai loại kết cấu này luôn có mối quan hệ gắn bó mật thiết, tác động qua lại và hỗ trợ nhau để tạo nên tính thống nhất của kết cấu
Tuy nhiên, chia ra các loại cụ thể như vậy, cũng chỉ là tương đối bởi vì các nhà văn có thể lựa chọn kết cấu bề mặt hoặc bề sâu hoặc có thể có tác giả đều có ý thức sử dụng nhiều kết cấu trong qua trình sáng tác tùy theo ý đồ nghệ thuật của từng nhà văn nhằm giúp người đọc đi tìm ý nghĩa ẩn chìm dưới lớp ngôn từ thường giản dị mộc mạc ít gọt rũa
IV Một số hình thức kết cấu
Kết cấu là một phương tiện cơ bản của sáng tác nghệ thuật Đồng thời cũng cần phân biệt kết cấu như một phương diện hình thức của tác phẩm văn học với kĩ thuật, thi pháp Tuy nhiên những hình thức kết cấu trong tác phẩm văn học bao giờ cũng rất
đa dạng và phong phú Có thể thấy sự khác nhau giữa thể loại này với thể loại khác và
Trang 15mỗi giai đoạn lịch sử cũng có thể có hình thức kết cấu khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu của mỗi giai đoạn, nhưng nhìn chung, các nhà văn khi lựa chọn kết cấu cho tác phẩm của mình bao giờ cũng nhằm để thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm Giúp cho người đọc có thể tìm thấy vẻ đẹp của từng tác phẩm ấy Cho nên khi nói tới hình thức kết cấu có thể kể đến một số kiểu kết cấu đã và đang xuất hiện trong lịch sử văn học
Một là kết cấu theo trình tự thời gian
Là kiểu kết cấu theo trật tự thời gian tuyến tính của sự kiện Câu chuyện được trình bày theo thứ tự từ trước đến sau Các sự kiện được sắp xếp xâu chuỗi lại và lần lượt xuất hiện không bị đứt quãng Hầu hết những tác phẩm chương hồi đều sử dụn lối kết cấu thời gian tuyến tính Tác phẩm được chia thành nhiều chương, hồi theo sự phân
bố về mặt hành động và sự kiện của cốt truyện Đồng thời mỗi chương, mỗi hồi đều gắn liền với một giai đoạn nào đó của cốt truyện và nhiều khi khá trọn vẹn Loại kết cấu này giúp người đọc dễ theo dõi câu chuyện nhưng nhiều khi tạo cảm giác đơn điệu
Hai là kết cấu theo hai tuyến nhân vật đối lập hoặc song song
Nếu sáng tác theo lối kết cấu này thì nhà văn thường xây dựng hai tuyến nhân vật phản diện và chính diện, đối lập nhau về chính kiến, đạo đức và hành động Hai tuyến nhân vật này thương một bên là đại diện cho lực lượng chính nghĩa còn bên kia thì đại diện cho những gì xấu xa nhất Đồng thời hai lực này luôn đấu tranh không khoan nhượng với nhau và thường kết thúc với thắng lợi của lực lượng chính nghĩa Điểm nổi bật của kết cấu này là chỉ rõ chủ đề tư tưởng thông qua so sánh đối chiếu.Tuy nhiên hai tuyến nhân vật nay không phải lúc nao cũng đối lập nhau mà có lúc song song với nhau, làm cơ sở để hỗ chợ cho nhau cùng phát triển Kiểu kết cấu theo hai tuyến nhân vật này bao giờ cũng có sự phân biệt khá rạch ròi giữa thiện và ác nên dễ dẫn đến lý tưởng hóa hiện thực ,thiếu tính chân thưc khách quan
Ba là kết cấu đa tuyến
Trang 16Có thể là kết cấu đa nhân vật, hoặc đa tuyến sự kiện Đây chính là sự thể hiện nới rộng biên độ không muốn sống mãi trong ngôi nhà thể loại chật hẹp của những tác phẩm truyền thống Những tác phẩm hiện đại, đặc biệt là tiểu thuyết xuất hiện khá nhiều kiểu kết cấu này Có thể mỗi sự kiện tự nó có nguyên nhân và hệ quả do đó có thể tự mở rộng thành cả một cốt truyện Vì vậy tác phẩm có điều kiện tái hiện bức tranh xã hội rộng lớn đa chiều
Erewbourg đã nhận xét: “Tiểu thuyết ở thời đại ta có nhiều chỗ khác so với thế
kỷ XXI vốn xây dựng trên lịch sử một con người hay một giai đoạn Trong tiểu thuyết hiện đại có nhiều nhân vật hơn, số phận của họ đan chéo vào nhau, nhà văn thường hay đưa người đọc từ thành phố này sang thành phố khác, đôi khi đi sang một nước khác nữa, cách kết cấu khiến người ta nghĩ tới sự luân phiên của những đoạn cận cảnh quần chúng trên màn ảnh” [12, 98]
Bốn là kết cấu tâm lý
Lối kết cấu này xuất hiện cùng với sự xuất hiện của các trào lưu văn học khẳng định vai trò của cá nhân trong xã hội Nhà văn thường lựa chọn trạng thái tâm lý có ý nghĩa nào đó để xắp xếp các sự kiện, nhân vật, cốt truyện… Qua đó người đọc được chiêm nghiệm không chỉ là hiện thực mà cả những trạng thái, cung bậc, những diễn biến tâm lý phức tạp, khó nắm bắt của nhân vật
Năm là kết cấu đảo trật tự thời gian
Có thể gọi kiểu kết cấu này dưới một cái tên khác là kết cấu thời gian phi tuyến tính
Văn học hiện đại và đương đại thường khai thác kiểu thời gian đảo tuyến đa chiều như một phương thức xử lý cốt truyện, xây dựng kết cấu tác phẩm Vì vậy trong truyện, điểm mốc thời gian phát ngôn không phải quá khứ mà cũng không hẳn hiện tại, nó thuộc ranh giới giữa hai chiều thời gian ấy Cho nên thời điểm phát ngôn có tính chất lưỡng phân vì điểm mốc này là hiện tại nhưng lại là tương lại so với quá khứ
Trang 17được hồi tưởng và quá khứ so với tương lai sắp xếp được kế tiếp theo “Quá khứ và hiện tại không phải như những mảnh lắp ghép lại theo một trình tự không gian, theo đường thẳng mà chồng chéo lên nhau” [10, 95]
Chúng ta có thể thấy, các hình thức kết cấu là phong phú đa dạng đến đâu cũng chỉ là hữu hạn Ở từng tác phẩm, nhà văn có thể vận dụng nhiều hình thức kết cấu khác nhau Vì vậy, không thể quy những tác phẩm cụ thể vào cùng một dạng kết cấu riêng biệt nào mà cần phải xem xét tác động nghệ thuật của kết cấu đối với người đọc cũng như chức năng cụ thể của nó trong việc thực hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm
1.2 Kết cấu tiểu thuyết hiện đại
Tiểu thuyết là thể loại văn học tiêu biểu cho loại hình tự sự, đóng vai trò là chủ lực trong nền văn học hiện đại
Theo Sartre thì tiểu thuyết hiện đại là tiểu thuyết chứa đầy sự suy ngẫm về bản thân nó
Tiểu thuyết hiện đại đã và đang dần phá vỡ những hệ trình cũ với kỹ thuật, thủ pháp riêng, định hình những kiểu kết cấu mới tạo ra hiệu quả thẩm mĩ cao Nhà phê bình Pháp Tadie cho rằng các nhà văn hiện đại thường vận dụng một kiểu lắp ghép (montage) quá khứ (có khi là hết sức xa xôi) và hiện tại của nhân vật, hành động luôn luôn chuyển từ thời gian này sang thời gian khác Nhưng mối quan hệ bên trong mang
ý nghĩa khác – Cảm xúc tức là liên hệ kết cấu giữa các tình tiết truyện, có lúc lại có chức năng quan trong hơn so với các mối liên hệ thời gian, nhân quả của bản thân cốt truyện đây là “kiểu kết cấu mở” của một tác phẩm mở, cho phép sự cắt dán, lắp ghép bấp bênh , chưa hoàn tất
Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào trong cuốn “Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương tây hiện đại” có đề cập đến kiểu kết cấu dựa trên yếu tố thời gian và kiểu kết
Trang 18cấu dựa trên dòng tâm tư của tư tưởng hiện đại cũng như mối liên hệ giữa hại kiểu kết cấu này
Kiểu thứ nhất được triển khai theo hai hướng: Xoáy vào dòng chảy của thời gian và tăng thêm cảm giác về thời gian hiện tại Sự phá vỡ trật tự tuyến tính thông thường của thời gian sự kiện khiến quá khứ, hiện tại và tương lai “xuất hiện cùng một lúc không bị ngăn cách, liên tục như một dòng chảy, đó là hiện tượng thời gian đồng hiện” hoặc “thời gian chồng chéo lên nhau” [10, 34]
Kiểu thứ hai khai thác những dòng suy nghĩ, hồi ức, thậm chí những ám ảnh bên trong của nhân vật đối với những sự kiện xảy ra trong quá khứ và ở hiện tại “Xuất phát của chúng vẫn là từ một điểm của hiện tại, nên chẳng những tương lai chỉ là một thứ cảm giác của hiện tại, mà cả quá khứ… cũng sống dậy từ một nguy cơ của hiện tại và những cảm giác sống động, tươi mới của hiện tại” [10,37] Đây được coi là một hình thức thi pháp và kỹ thuật mới mẻ làm nên diện mạo tiểu thuyết hiện đại thế giới
Khai thác cuộc sống góc cạnh, nhiều chiều, cuộc sống như những mảnh vỡ được lắp ghép, cắt dán, các nhà văn còn lựa chọn lối kết cấu dựa trên những yếu tố kì
ảo giả huyền thoại hoặc mô phỏng huyền thoại
Huyền thoại trong quan niệm hiện đại như một cấu trúc nghệ thuật đảm nhiệm chức năng của cái biểu đạt vừa độc lập vừa khơi gợi đến cái được biểu đạt thông qua mối liên tưởng đồng sáng tạo hết sức phong phú của người tiếp người Huyền thoại trở thành một yếu tố cấu thành nên nghệ thuật hình tượng – biểu tượng ở bề sâu của kết cấu phía sau cấu trúc bề mặt của các biến cố được kể lại đó là cấu trúc huyền thoại Trong thế giới văn bản, huyền thoại không chỉ là bộ phận được ghép thêm vào tác phẩm mà nó là toàn bộ tác phẩm chi phối mọi mặt của tác phẩm Còn một kiểu kết cấu khác nữa là phát triển mạch truyện theo đường xoáy trôn ốc - Tức là từ một tâm điểm hướng ra nhiều ngả và cuối cùng lại quy tụ tại chính tâm điểm đó
Trang 19Hơn thế nữa, chúng ta phải nhắc đến một kết cấu của tư tưởng hiện đại đó là kết cấu liên văn bản hay còn gọi là “Tiểu thuyết trong tiểu thuyết” - Đây là một kết cấu phức tạp và có thể gọi đó là đa kết cấu bởi tại thân mỗi truyện cũng là một tổ chức chịu sự chi phối của một tổ chức lớn là câu chuyện bao trùm Vì lẽ đó truyện đi theo kết cấu này thường có chủ đề nằm trong một chủ đề chung Kết cấu này đòi hỏi ngưòi
kể phải biết xâu chuỗi các câu chuyện cho thống nhất trong một chỉnh thể
Tuy nhiên, đa kết cấu không có ý nghĩa là các tổ chức câu chuyện gắn với nhau theo lối cơ học giản đơn, hết chuyện này đến chuyện khác mà câu chuyện này lại là nguyện nhân hay hệ quả của câu chuyện kia Nó ràng buộc chi phối lẫn nhau cùng hướng về chủ đề chung của tác phẩm
Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết, các tác giả cũng tiếp thu và thể nghiệm những đặc điểm của lối kết cấu hiện đại với tư duy hiện đại khai thác tối đa các yếu tố cấu thành nên kết cấu bằng những hình thức nghệ thuật độc đáo, đặc sắc, không lặp lại người khác cũng như lặp lại chính mình Cho nên nhiều tác giả của tiểu thuyết hiện đại đều lựa chọn cho mình một kiểu kết cấu riêng Phạm Thị Hoài thông qua bút pháp huyền thoại pha trộn trào phúng, soi thế giới vào tấm gương cong hay mô hình hóa toàn bộ trạng thái hiện sinh của con người đã công khai đi ngược lại nguyên tắc miêu tả hiện thực kiểu truyền thống Nguyễn Huy Thiệp thường đề cập tới lối kể chuyện khơi gợi tối đa sự liên tưởng của người đọc và lối kể chuyện phi ngã Ma Văn Kháng, Phạm Hải Vân, Hòa Vang thì sử dụng các yếu tố kỳ
ảo trong mạch kể của mình
Châu Minh Hùng có bài viết “Tìm kiếm hình thức đa thanh mới của văn xuôi hiện đại qua tổ chức truyện của Nguyễn Huy Thiệp” đã nghiên cứu hiện tượng đa thanh
như một nguyên tắc tổ chức kết cấu của văn xuôi hiện đại qua phân tích tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp Những đối thoại đa thanh tự nhiên tuôn chảy, không bị gò bó trong một khuôn khổ cứng nhắc chuẩn mực Do đó cốt truyện chỉ là cái cớ, trôi đi nhợt nhạt, không có vai trò trong việc kiến tạo kết cấu “Lối kể chuyện của Nguyễn Huy Thiệp
Trang 20luôn luôn biến hình không chú ở một góc khuất nào đó như Nam Cao, cầm đèn soi rọi vào trái tim người như Dostoievski Con người của ông lẩn trốn từ người này đột nhiên chạy sang người khác, xóa hẳn tiếng nói của riêng mình Cho nên ta hiểu vì sao Thiệp thường tạo nên những lời kết giả tưởng, kết một, kết hai, kết ba… [21, 4]
Khác với những công trình nghiên cứu và bài viết đã được đề cập thì bài viết:
“Tiểu thuyết – Khoảng cách giữa khát vọng và thực tế” lại không chỉ những khám
phá, sáng tạo đáng trân trọng trong ngôn ngữ tiểu thuyết đương đại mà cả những hạn chế còn tồn tại Nhìn chung tác giả cũng ghi nhận những cố gắng cách tân tiểu thuyết trên các phương diện kết cấu của văn bản như: Giọng điệu trần thuật, điểm nhìn, tình huống truyện… ở những nhà văn có đóng góp đáng kể Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng “Không xây dựng theo lối chuyện kể thông thường, chúng được xử lý một cách sinh động trong tương quan chặt chẽ giữa giọng điệu trần thuật với thời gian tâm
lý, thời gian ý thức” [64, 108] Nguyễn Khải lại “Sử dụng khá thuần thục thủ pháp thời gian đồng thời thu hẹp không gian Thời gian tiểu thuyết, ít sa đà miêu tả chi tiết đời sống những nhân vật có xu hướng giãi bày tâm sự độc thoại nội tâm đến mức có trường hợp nhân vật như là nơi tác giả gửi gắm những chiêm nghiệm được anh rút ra sau những suy tư về cuộc đời [64, 110] Còn Tạ Duy Anh lôi cuốn người đọc bởi cách
kể tạo tình huống đặc biệt để triển khai ý tưởng và góc nhìn luôn lưu chuyển, nhằm tăng thêm các điểm nhìn về số phận nhân vật [64, 113] Tuy nhiên tác giả cũng cho rằng “Kết cấu tiểu thuyết theo lối kịch bản dễ dẫn tới sự khiên cưỡng trong giải quyết xung đột, tăng điểm nhìn nhưng chưa nắm bắt được sắc thái ngôn ngữ thuần túy riêng làm cho cái nhìn đa chiều xét đến cũng chỉ là cái nhìn một chiều”
Tóm lại, kết cấu tiểu thuyết hiện đại đã và đang có những cách tân đồng sáng tạo, chứa đựng nhiều quan niệm mới của nhà văn hiện đại về hiện thực, phản ánh nhiều vấn đề của cuộc sống, làm thay đổi cách tiếp nhận của độc giả Vì vậy qua chương II và chương III, chúng tôi sẽ tìm hiểu cụ thể hơn về kết cấu tiểu thuyết hôm nay về đề tài chiến tranh
Trang 21CHƯƠNG II: HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT VÀ HÌNH TƯỢNG KHÔNG GIAN,
THỜI GIAN
I Hình tượng nhân vật
I.1 Nhân vật tập thể
Trang 22Viết về chiến tranh đã trở thành nguồn cảm hứng dồi dào cho rất nhiều nhà văn, nhà thơ và đã rất nhiều tác giả viết thành công với những tác phẩm có giá trị hôm nay,
chúng ta sẽ thấy sự thành công của Bùi Bình Thi với “Xiêng khoảng mù sương”, Nguyễn Trí Chung với “Tiếng khóc của nàng Út” Hữu Mai với “Không phải huyền thoại”, Văn Lê với “Mùa hè giá buốt”, Bùi Thanh Minh với “Cõi đời thực hư” ,
“Mạch máu của rừng” của Nguyễn Tiến Hải và Nam Hà với “Thời hậu chiến”
Họ viết về chiến tranh, nhưng là lúc chiến tranh đã lùi xa hàng mấy chục năm Thế nhưng những cảm xúc về chiến tranh như chưa bao giờ ngừng tuôn chảy Họ viết
mà cảm thấy tự hào về những chiến công hiển hách nhưng không khỏi đau đớn tiếc thương cho những mất mát của dân tộc của nhân dân Họ viết về ai, viết về những người đã làm nên những chiến thắng vang dội của dân tộc ấy chính là nhân dân- Họ
đã tạo thành một sức mạnh không gì có thể sánh được Họ đều hướng tới mục tiêu chung của đất nước; Độc lập- Tự Do
I.1.1.Tinh thần tất cả vì cách mạng
Trong chiến tranh, tập thể quần chúng nhân dân chính là nguồn sức mạnh lớn lao và là lực lượng góp phần quan trọng làm nên những chiến thắng Vì vậy ở hầu hết các tác phẩm về chiến tranh, các nhà văn đã chỉ ra vai trò to lớn của quần chúng trong tác phẩm của mình Ở chiến trường họ anh dũng kiên cường, ở hậu phương họ bền gan, gắng sức hết mình vì tiền tuyến Sức manh kiên cừng bền gan, gắng sức của nhân dân của dân tộc cũng được thể hiện khá thành công trong văn học Nền văn học 1945-
1975 là nền văn học mang tính Xã hội chủ nghĩa, văn học là một mặt trận văn hóa tư tưởng, phục vụ sự nghiệp chiến đấu và xây dựng chủ nghĩa xã hội một trong những vấn đề được đề cập trong văn họcchính là cuộc sống mới của quần chúng công mông binh và nỗ lực cao của những người cầm bút là làm sao “miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn cuộc sống mới, con người mới” Đặc biệt văn học 1945- 1975 luôn chịu sự chi phối của cảm hứng sử thi, văn học chủ yếu quan tâm đến con người trong các vai trò xã hội trong tư cách là động lực cách mạng luôn đặt con người trong mối
Trang 23quan hệ với giai cấp với nhân dân để phát huy tính tích cực tinh thần và trách nhiệm cảu mọi cá nhân trước cộng đồng dân tộc Còn tiểu thuyết hôm nay viết về đề tài chiến tranh luôn đặt con người trong mối quan hệ với cái thường ngày, lấy cá nhân để soi ngắm mọi giá trị
Con người không chỉ được nhìn ở phương diện đạo lý mà còn ở phương diện sáng tạo con người và con người tâm linh Nhưng dù nhìn ở góc độ nào thì sức mạnh của chiến tranh, chiến thắng của dân tộc chính là nhờ vào tinh thần tất cả vì cách mạng của nhân dân Những năm tháng khốc liệt của chiến tranh, có biết bao con người lên đường nhập ngũ, chiến đấu và hy sinh Mặc dù đứng trước sự sống và cái chết cận kề nhưng chúng ta vẫn nhận thấy niềm vui nhập ngũ, một tinh thần lên đường tràn đầy niềm lạc quan tin tưởng của “các đoàn xe cắm đầy lá ngụy trang nối đuôi nhau chờ xuất phát Lệnh báo động vang lên ở các doanh trại, Bộ đội rầm rập chạy đến đứng xếp hàng bên lề đường… Gương mặt nào cũng chộn rộn hào hứng Xe nào đủ người
là chạy… Rồi những chiếc xe ấy lại trở lại doanh trại Tiếng ầm ầm vang vọng một đêm… dân bản chạy ra súm xít hai bên đường Ông già bà lão, thanh niên vẫy tay, chẻ con chạy theo xe hò reo Những nụ cười những tiếng nói ríu ran Các chiến sĩ trẻ vẫy tay chào lại Càng vào sâu đoàn xe lại càng gặp nhiều bộ đội, thanh niên xung phong đang làm đưòng” [17,102]
Có thể nhận thấy, họ nên đường với một tinh thần một ý chí “Không một ai tin rằng, ngày mai khi mặt trời lên mình không còn có mặt trên cõi đời này” Tinh thần này không chỉ thể hiện ở việc lên đường nhập ngũ mà còn thể hiện ở tinh thần lao động tích cực, hàng ngày họ làm việc không kể ngày đêm, không quản khó khăn gian khổ, tất cả vì cách mạng
Trong cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ, quần chúng nhân dân luôn sát cánh cùng các cán bộ chiến sĩ để làm nên tinh thần đoàn kết bất diệt Đoàn kết là sức mạnh để có những chiến thắng vang dội Những ngày gian khổ hy sinh, quần chúng đã
“Cắn răng chịu đựng, vượt qua những ngày thê thảm Đói khát nằm hầm bí mật, nằm
Trang 24ngay dưới ao bèo, ăn cám lợn” Khi bị đàn áp họ tự nói với lòng mình; Bằng mọi cách
phải sống, phải gây dựng lực lượng Cho nên đọc “Thương Đức” của Nguyễn Bảo
Trường Giang, chúng ta không bao giờ quyên hình ảnh cảnh đối đàu với kẻ địch của quần chúng nhân dân “Những bà mẹ lao lên trước mũi xe ủi của thằng địch, tay cầm quốc, tay xách can xăng “ Mày cứ nghiến vào đây Tao chết mày chết Những chị gái
ôm con nhỏ trong lòng lăn ra ngay trước xe bọc thép của địch Những đoàn học sinh, sinh viên trẻ măng phơi phới tuổi xuân rầm rập xuống đường biểu tình, đấu tranh Súng địch xả vào họ” [17,256] Trong cuộc kháng chiến không cân sức giữa ta và địch
ấy, thật cảm phục sự hy sinh và tinh thần dũng cảm vì cách mạng của dân tộc Của các
bà, các mẹ, các anh chị một thời máu lửa sẵn sàng xả thân vì đất nước
Dù cuộc chiến còn đầy khó khăn và gian khổ, dù hậu phương phải chịu bao nhiêu cơ cực nhưng quần chúng nhân dân vẫn luôn hết lòng vì tiền tuyến vì Miền Nam ruột thịt Hình ảnh những bà mẹ với mái tóc bạc phơ, nét mặt siêu thoát nhân từ những ngón tay nhăn nheo trong “Khúc bi tráng cuối cùng” của Chu Lai đang dõi về nơi người con của vùng đang chiến đấu với rất nhiều niềm tin và hy vọng vào một ngày mai thắng lợi, vào sự trở về của những đứa con Trong “Tiếng khóc của nàng út” Nguyễn Trí Chung đã giúp bạn đọc thấy được tinh thần vì cách mạng, vì nhân dân, vì dân tộc của gia đình ông bà Sang Họ đã bất chấp kẻ địch rình rập, đe dọa nhưng gia đình ông vẫn tạo điều kiện để các đồng chí cán bộ có thể họp bí mật tại nhà mình Ông
bị kẻ thù bắt trói ở chợ, hành hạ đến chết Nhưng không một lời khai, ông còn chửi bọn chúng và dõng dạc đọc thơ trước khi chúng giết mình “thân già nào hết nhục thương dân nước gập gềnh” [63,65], Trong ngôi làng ấy còn có gia đình bà On, tiêu biểu cho tinh thần hoạt động và sự hi sinh cho cách mạng Chồng bà bị bọn tay sai Tịch, Cửu Sùng đánh đập nhưng bà vẫn động viên các con: Thơm, Toàn, Đua hết lòng
vì cách mạng
Toàn trở thành một cán bộ giỏi, còn Thơm hoạt động bí mật bị chúng phát hiện đánh đập đến tàn tạ, còn Đua bị cưa chân và chôn sống Gia đình bà On đã phải
Trang 25chịu nỗi đau đớn vô hạn nhưng đây cũng mới chỉ là một trong vô vàn sự hy sinh của quần chúng cho cách mạng mà thôi
Trong cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ, quần chúng nhân dân luôn sát cánh cùng các cán bộ chiến sĩ để làm nên tinh thần đoàn kết bât diệt
Xiêng khoảng mù sương viết về cuộc chiến đấu của bộ đội cụ Hồ và Pathét Lào
trong khoảng thời gian từ 1965- 1975 với những sự kiện và nhân vật có thật Đây là cuốn tiểu thuyết thấm đẫm nghĩa tình anh em Việt Lào Dẫn đầu phái đoàn Việt Nam
là Nguyễn Đình San và Lê Vân San là nhân vật chính của tiểu thuyết đã cùng đồng chí và các bạn Lào lỗ lực tột cùng để xoay chuyển tình thế Và tình thế đã được cải thiện dần Tiếc thay lòng đố kỵ ganh ghét của đồng đội lại là một thực thể đã xuất hiện ngay từ ngày đầu khi San được giao nhiệm vụ Đỗ Hà, đại tá, phó tổng đoàn cảm thấy như bị mất cơ hội tiến thân đã kết hợp cùng Nguyễn Hoán, Hoàng Xuyên, hai phần tử háo danh, thoai hóa, ra sức cản trở San và cuối cùng đặt điều vu vạ gán cho San mắc trọng tội là phản bội chạy sang hàng ngũ của địch Nhưng thực tế San vẫn đang công tác tại một đơn vị bạn Anh cùng các chiến sĩ tiểu đoàn Pachay toàn người
Mông, chiến đấu, giải phóng một loạt địa bàn quan trọng Xiêng khoảng mù sương đã
miêu tả cuộc chiến đấu dũng cảm ngoan cường của quân và dân các bộ tộc Lào với sự sát cánh đồng cam cộng khổ, chia sẻ ngọt bùi của bộ đội tình nguyện Việt Nam Để thấy được lòng người dân nơi đây, để họ hiểu được việc làm của bộ đội họ đã phải sống với dân, thuyết phục họ bằng những hành động cụ thể, chữa bệnh cho họ, tuyên truyền để họ nhận thức được Tuy nhiên trong bộ tộc ấy vẫn có rất nhiều mang tinh thần hướng về cách mạng như Vàng Seo Mẩy Vàng Seo Mẩy đã tập hợp được một đội du kích đông và mạnh “cháu dự đoán phải ba, bốn trăm tay súng Bây giờ mà bà Vàng kiếm được quân phục Pathét cho họ mặc, là bà Vàng có mấy tiểu đoàn quân chính ngay Lính AC2 của cháu hồi cháu còn làm cái việc bảo vệ vòng ngoài Long Cheng, chúng nó sợ gặp phải du kích của bà Vàng như sợ gặp phải con hổ ấy… Toàn
bộ vùng rừng núi chỗ bà Vàng Seo Mẩy coi như lính của thiếu tướng Vàng Pao
Trang 26không dám bén mảng Thế nên trong vòng hai là vòng hết sức quan trọng thì lính ông Vàng dày đặc Đến con chuột cũng khó lọt qua” [511,552] Người Mông thiện chiến
và rất can trường Đó là tinh thần đáng kính phục vì cách mạng Đã đi lính thì dù có chết họ cũng phải õăn sang xông vào trận mạc lúc khói lửa tơi bời để đánh giặc
Mùa hè giá buốt lại là câu chuyện về một tiểu đoàn bộ binh độc lập do thượng
úy Nguyễn Sĩ Việt chỉ huy từ Tây Nguyên được điều vào mặt trận B2 Đông Nam Bộ Tham gia chiến dịch chống càn Junction City trận đánh chiếm căn cứ pháo đài Cổ Loa, trại thiết giáp Phù Đổng và xưởng quân vụ và tham gia đợt hai chiến địch Mậu Thân 1968 Những trận đánh cực kì ác liệt đó đã được kể với độ chân thực đến từng góc cạnh
Tiếng rít lộng óc của phi cơ oanh tạc, tiếng đạn bắn thẳng đanh nhọn, rát bỏng, tiếng bộc phá, tiêng rên la của thương binh chen lẫn với tiếng hô xung trận đầy sát khí với những bãi chiến trường ngổn ngang tử thi và sạm đen khói súng một mùa hè khốc liệt mà để đi qua nó, tiểu đoàn bộ binh Bến Nghé do thương úy Nguyễn Sĩ Việt chỉ huy gần như đã bị xóa sổ Khốc liệt đến mức độ tất cả các nhân vật chính của câu chuyện đều bị cuộc chiến cuốn phăng
Nguyễn Sĩ Việt là một chỉ huy dạn dày chiến trận nhưng cũng vẫn thấy rợn người vì sự khốc liệt của chiến tranh “Việt sựng người khi nhìn thấy hàng chục con kỳ
đà lớn bé vòng quanh một xác người, cách anh mấy chục mét… Anh rùng mình rẽ ngang, chân vấp phải một vật gì đó trườn trượt, bầy nhầy Cú vấp không mạnh nhưng
đủ làm Việt lặng người đi… Cùng lúc anh nhìn thất xác một tên lính Sài Gòn nằm úp sấp ngay trước mặt anh… mùi hôi thối, khắm lặm xộc vào mũi làm cho anh thấy lợm giọng… Anh chới với bịt miệng như thể cố nén không cho cơm trong bụng thốc ra ngoài…Việt bịt mũi, nín thở ra hiệu cho đơn vị nhanh chóng vượt khỏi vùng tử khí” [30; 32] Tiểu đoàn 505 vào tới chiến trường B2 đúng giữa mùa mưa Tại đây căn cứ Tống Lê Chân được coi là kiên cố lợi hại nhất nhưng … Trận địa cốt 120 mm và 82mm đặt ở Bàn lạc bắt đầu phát hỏa Cùng lúc, tiếng bộc phá càng đồn nổ đanh,
Trang 27mạnh như những trái bom xé trang màn đêm ướt át Căn cứ Tống Lê Chân tràn ngập hơi chớp lửa và tiếng nổ đè lên nhau một cách hỗn loạn Những đám cháy bốc lên màn đêm bị băm nát, bị xé toang bởi ánh sáng hỏa châu và đạn vạch đường nằm ở tuyến hai, qua ánh lửa nhạt nhòa quằn quại bị che lấp bởi những tầng khói,Việt nhìn thấy những ngôi nhà, những người lính xung kích, vai khoác tiểu liên, tay kẹp bộc phá, nằm thành một hàng dài trên đất trống Dưới sự yểm trợ của bọ hỏa lực đi kèm những người lính ôm bộc phá lao nhanh về phía hàng rào… Những người lính đánh bộc phá cản trở bắt đầu sôi máu Người này ngã, người sau lại vọt lên thay chỗ Hàng chục người lính đón ngõ ở ngay hàng rào, những người còn sống vẫn như mạch nước ngừng trào bên chỗ mở cửa Họ chiến đấu mà không hề nghĩ sự sống chết mà họ chỉ với một tinh thần quyết chiến cho tổ quốc quyết sinh, chiến tranh tàn khốc đã cướp đi bao mạng sống của ngưỡng người lính xung trận nhưng “trong ánh đèn dù hấp hối, Việt nhìn thấy người lính cầm cờ chạy lên phía trước và bị trúng đạn một người lính khác nhào tới đỡ lấy ngọn cờ cũng bị đạn bắn gục” Vậy nhưng ngọn cờ vẫn được truyền từ tay người chết sang tay người sống, tiến về phía trước” [33;36]
Viết Mùa hè giá buốt Văn Lê cũng đã tự đặt câu hỏi để thấy được tinh thần
chiến đấu vì cách mạng, những người lính “khi phát lệnh xung phong, các đại đội đã tràn lên như bầy sói hùng hải đạp qua những vũng máu, đạp qua cả xác đội mình tại chỗ mở cửa để trào vào căn cứ phải chăng họ không biết sợ? Họ muốn trả thù hay khao khát lập công” Điều gì thôi thúc họ bất chấp hi sinh, coi thường cái chết, lòng tự trọng, sự giác ngộ hay còn là một cái gì đó sâu sắc mà anh chưa nhận ra? Trước mắt anh họ chiến đấu một cách linh hoạt Nhiều chiến sĩ còn sử dụng cả lưỡi lê giết địch
Có lúc đạn cối cuốn phăng một lúc ba, bốn chiến sĩ, những vẫn không cản được tinh thần quyết chiến của họ » [36; 37]
Văn Lê cho người đọc thấy được cận cảnh, sự quyết liệt của chiến tranh nhưng bên cạnh sự ác liệt của chiến tranh là sự gặp gỡ của biết bao thái cực đối lập của tình yêu và hận thù, lòng dũng cảm và sự lười nhác, tính kiên định và sự phản bội Ở đâu
Trang 28cũng có những người lĩnh dũng cảm nhưng có thể vùng vằng phản ứng trước mệnh lệnh của cấp trên nhưng khi xung trận họ vẫn chiến đấu với tất cả sự dũng mãnh của
nó
Tình thương và lòng dũng cảm đã khiến bà vợ một thượng sĩ Việt Nam cộng hòa có con vừa chết trận lại dang tay che chở tốp Việt cộng xuốt một tuần trời
Ở hậu phương Miền Bắc thì có rất nhiều người với tinh thần tự nguyện lên
đường nhập ngũ Đó là Vinh (Màu rừng ruộng), những tưởng cậu vẫn tiến xa trên con
đường học vấn như mong nuốn và kỳ vọng của người cha nhưng kỳ thi đại học đầu tiên đã trượt nên cậu trở về sống với những người dân quê quanh năm lam lũ cùng đồng ruộng
Vinh đã tự nguyện đi khám tuyển bộ đội, tình nguyện lên đường bảo vệ quê hương đất nước Với những người thanh niên đầy chí hướng ấy, họ đã tìm thất niềm vui, sự lạc quan, tin tưởng vào ngày mai tươi sáng của dân tộc Cậu đã sống chiến đấu và hi sinh anh dũng ở chiến trường khát vọng được cống hiến cho đất nước luôn thường trực trong những cậu học trò đang học lớp 10, họ vào trận với suy nghĩ như Thạch, Trí, Nghiệp,
Nhiên, Phương (Xuân Lộc – Hoàng Đình Quang) Không đi chiến đấu lúc này sợ học
song không còn thời cơ, ‘‘lúc ấy vào có mà nhặt lon sữa bò” Họ ý thức khoác lên người
bộ quần áo chiến sĩ là đặt lên vai trách nhiệm nặng nề đối với sự mất còn của Tổ quốc [52; 50]
Họ quan niệm “tất cả sự hi sinh đều cao quý nhưng được hi sinh máu lá cao quý người” [52; 50]
I 1.2 Những khuyết điểm, nhược điểm
Tìm hiểu phân tích nhân vật tập thể chúng ta bắt gặp những nét đẹp trong những con người mang dòng máu Việt đồng thời thấy được những phẩm chất của những con người trong lòng tràn đầu niềm tin vào cuộc sống, vào sự thắng lợi của cuộc chiến
Trang 29Chiến tranh chính là nơi để khẳng định lòng yêu nước, tinh thần yêu nước của quần chúng nhân dân Đây là lực lượng chính tạo nên sức mạnh lớn giúp dân tộc ta chiến thắng kẻ thù Bên cạnh những ưu điểm thì nhân vật tập thể không thể tránh khỏi những nhược điểm
Nhưng tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh 1945 - 1975 ít đề cập tới những khuyết điểm, nhược điểm của nhân vật tập thể thì trong tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh 2004 – 2009 sẽ khắc phục và bổ sung nó
Nếu trong tiểu thuyết 1945 – 1975 nhân vật tập thể được xây dựng chủ yếu để tập trung thế lực một số tiểu thuyết chủ đề có tính phổ quát trong văn học luôn coi cách mạng là ngày hội của quần chúng, luôn thấy tập thể cách mạng với sức mạnh vô địch và đặc biệt họ cho rằng không có tập thể anh hùng thì sẽ không có cá nhân anh hùng Tiểu thuyết 1945- 1975 gần như tuyệt đối hóa sức mạnh của nhân vật tập thể, luôn nhằm gợi
ca các trang viết của mình thì trong tiểu thuyết hôm nay 2004-2009 lại kể đến tính nóng vội chủ quan duy ý chí là điều dễ nhận thấy, nhất là tập thể lãnh đạo chỉ huy Trong
Những bức tường lửa của Khuất Quang Thụy, tập thể lãnh đạo vì nóng vội đã đưa ra
quyết định sai lầm: hành quyết người chiến sĩ có tên là T vì tội đầu hàng địch và chỉ điểm B52 T đã hết lời kêu van nhưng đều không có hiệu lực và ngay sau đó lệnh xử tử với nhân vật này vẫn được thực hiện Trong sự việc này, nhiều người đã đặt câu hỏi
“Liệu…nó có bị oan không…?.” Điều này cũng được ghi lại trong suy nghĩ Lương Xuân Báo – Chính trị viên đại đội, T mới chỉ vừa được đề bạt từ tiểu đội trưởng Nó mới vào đi chiến trường hai tháng, đánh vài ba trận nhì nhằng gì đó một thằng ú ớ như thế thì….làm sao đọc được bản đồ để mà chỉ trúng từng vị trí đóng quân ở trung đoàn trong một vùng địa hình phức tạp như vậy [61; 767]
Đây là những dòng nhật ký của Lương Xuân Báo – Chính ủy viên của đại đội cũng chứng tỏ rằng quyết định của tập thể đối với T là sai lầm Cũng vì nóng vội, chủ
quan duy ý chí mà Bí thư Huyện ủy Hoàng Thủy trong Thượng Đức đã bị dồn đến
đường cùng khiến cho anh phải “nhảy núi” khi có người trong hàng ngũ cách mạng
Trang 30theo địch Nhưng khi thoát thoát ra khỏi vùng địch chiếm thì vợ con anh lại bị kẹt ở lại vùng địch kiểm soát này Anh đau đớn đến tột cùng khi nghe tin cả gia đình bị sát hại nhưng anh vẫn nén chịu đựng và giữ kín trong lòng Song đau đớn lớn nhất đối với anh chính là khi họ cho rằng anh đã dựng lên cảnh đó để có thể đi lại với cảnh binh, người đồng chí trẻ tuổi, xinh đẹp
Họ còn nghi ngờ anh viết thư cho cháu là Thông đang làm cho địch để lộ thông tin khiến cho trận đánh vào Thượng Đức vì thất bại Tập thể đã khiến Hoàng Thủy tính đến cái chết mong sáng tỏ những uất ức cho mình, để gạt bỏ những khúc mắc nghi kỵ cho đồng chí, để cấp trên, bạn bè, đồng chí hiểu tấm lòng mình, xóa đi những ngờ vực ám ảnh họ [17; 360]
một biểu hiện khác của bệnh chủ quan đó là sự xem nhẹ vai trò của chiến dịch,
đã chỉ ra một điều mang tính khái quát “… chúng ta quá chủ quan không chỉ có chỉ huy các cấp mà từ cấp dưới, từ anh em chiến sĩ cũng tỏ ra lạc quan Ai đời quyết tâm của bộ đội còn cao hơn cả tư lệnh Mấy hôm trước tôi ghé vào thăm một đơn vị của
341, toàn tân binh, toàn lính nông trường từng đứa từ Hà Tĩnh vào Thế mà cứ một mực đòi thủ trưởng cho chúng em đánh ngay đi kẻo chúng em đi nhặt ống bí” (!) Tinh thần của bộ đội rất tốt, rất đáng khích lệ Anh em nào cũng nôn nao khi nghe tin
ta giải phóng Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang … Thế nhưng lại không biết được câu châm ngôn “Càng gần thắng lợi, càng nhiều gian nan” … Hành quân không chú ý ngụy trang, vũ khí trang bị không………
Như vậy, tập thể mà có những cán bộ chỉ huy và những chiến sĩ đều mắc bệnh chủ quan thì không biết hậu quả sẽ nghiêm trọng như thế nào?
Có thể thấy rằng, sự nhìn nhận, đánh giá về nhân vật tập thể là đa dạng, nhiều chiều, nhiều góc cạnh
Trong tiểu thuyết 1945 – 1975 nhân vật tập thể trở thành nhân vật chính diện, nhân vật trung tâm của văn học (Trần Đình Sử) được đánh giá từ quan điểm giai cấp
Trang 31với cảm hứng sử thi Vì vậy nhân vật luôn được mô tả trong ánh hào quang của chiến thắng nên luôn đẹp một cách lý tưởng Còn trong tiểu thuyết 2004 – 2009, nhân vật dường như không thuần nhất là chính diện hay trọng tâm mà ở họ có những điểm xấu
và tốt, cả yếu tố phi thường và bình thường Nếu văn học 1945 – 1975 nhận thấy sự thống nhất của nhân vật tập thể thì giai đoạn 2004 – 2009, nhân vật tập thể đa dạng, phức tạp hơn Điều này giúp chúng tôi khẳng định tính chất giải sử tư ở nhân vật tập thể trong tiểu thuyết 2004 – 2009
Nhân vật là nơi thể hiện quan niệm về con người và thái độ với hiện thực Đọc tiểu thuyết sử thi trước 1975, độc giả có thể hiểu ngay được nên noi gương, ngợi ca ai
và phê phán ai, tẩy chay đối tượng nào với quan niệm nhà văn ở vị trí tối cao, toàn tri, nhân vật tất yếu là công cụ của tư tưởng, là nơi tác giả dội từ trên xuống dưới những quy định, những mô hình có sẵn, còn tiểu thuyết hôm nay về đề tài chiến tranh luôn đặt con người trong mối quan hệ với cái thường ngày, lấy cá nhân để soi ngắm mọi giá trị Con người không chỉ được nhìn ở phương diện đạo lý, mà còn ở phương diện con người tự nhiên, con người tâm linh và con người vô thức… cả nhân vật người lính
và nhân vật kẻ thù đều được nhìn trong hệ quy chiếu nhân bản với xã hội, với tự nhiên với con người và với chính mình Đó là cách tiếp cận thể hiện con người ở phía
“người” nhất, nhân bản nhất
Cho nên trong những tiểu thuyết được giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng
2004 – 2009 có hàng trăm mảnh đời khác nhau của các nhân vật, tập thể hay cá nhân,
cả “ta” hay “địch” là người lính cụ Hồ viên sĩ quan hay người tù binh Mỹ … đều được các tác giả tập trung khai thác ở phương diện “người” là chủ yếu Còn trong văn học
1945 – 1975 hình tượng người lính được các nhà văn tập trung miêu tả chất “lính” đậm hơn chất “người”
II Những cá nhân tiêu biểu
II.1 Tài trí, bản lĩnh vì sự nghiệp chung:
Trang 32Đây là đặc điểm cần phải có và dễ nhận thấy ở những cá nhân tiêu biểu Nhân
vật San trong Xiêng khoảng mù sương – Bùi Bình Thi là người nhiệt tình và có bản
lĩnh Tư lệnh Khăn Mằn khẳng định: San là người chỉ huy đã “đi xuống tất cả các đơn
vị chỗ khó khăn nhất, nhiều thổ phỉ nhất như muỗi mùa mưa, làm việc chẳng quản ngày đêm không quản khó nhọc” Khăn Phăn Annaxi lại nhất mực cho rằng: “Đồng chí San làm việc như một người hùng”, là một người gần gũi rất hiểu các anh em chiến sĩ Tài năng và bản lĩnh của Sanb còn được thể hiện qua cái nhìn thành kiến của Hoán Hoán là người vốn không ưa San và luôn tìm cách hại San nhưng qua cuộc đối thoại ta thấy được sự đối lập giữa San và Hoán Trong khi Vân và San xuống thăm đơn vị bạn thì thái độ của Hoán dửng dưng:
“Hoán đứng ngoài sân trông dáng đủng đỉnh, anh hỏi:
- Hai bố sắp sửa đi đâu thế này?
Trang 33- Con chán hai “cụ quá đấy” Vừa mới lệnh cho chúng nó vào bản mua lấy con chó, về tối nay chúng ta “e rờ tê sê” có phải thần sầu không? Mà thịt chó Lào nổi tiếng
là ngon Lặn lội rừng thiêng nước độc, hai “cụ” đúng là thân làm tội đời Hoán vừa thả bước ung dung vừa ca cẩm” [58, 310] “Cái bố San chỉ vẽ chuyện Với tư cách một trưởng đoàn chuyên gia quân sự làm quái gì phải mò xuống gặp thằng chủ nhiệm pháo binh quèn Bun Thâng Pha Ti Vông để làm gì nhỉ? … Làm như vào đây sẽ ít được đi
bộ lắm đấy – Nguyễn Hoán vẫn cay cú cái chuyện San đưa non nửa số thành viên của đoàn đi trước, mà đã cho anh ta ở lại đi ô tô, lại là ô tô tải, … [58, 570]
Tài năng bản lĩnh của con người không chỉ thể hiện ở lý tưởng mà còn thể hiện
ở hành động Hành động của Nguyễn Sĩ Việt, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn bộ binh độc
lập Bến Nghé - Là nhân vật chính trong tiểu thuyết Mùa hè giá buốt của Văn Lê
Cuộc đời Việt gắn với nhiều trận đánh ác liệt tại Miền Đông Nam Bộ, nhất là trong chiến dịch chống càn Junction City Trong đợt một chiến dịch Mậu Thân năm 1968, dưới sự chỉ huy của Việt, tiểu đoàn đánh vào chiếm căn cứ pháo binh Cổ Loa trại tiếp giáp Phù Đổng và xưởng quân vụ Tiểu đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ và được lệnh rút
ra khỏi thành phố để củng cố do bị thương vong lớn
Có thể nói San là nhân vật có phẩm chất đáng quý của người lính cụ Hồ San cùng với đoàn chuyên gia Việt Nam sang Lào để giúp đỡ họ trong kháng chiến, và trong thời gian ở Lào, San nóng lòng muốn giúp đỡ cách mạng bạn đang trong những ngày “nước sôi lửa bỏng” Khi nhận được tờ điện của Khăn Mằn với nội dung: gửi đồng chí Khăm Sản, tình hình chiến sự dọc đường bẩy rất căng thẳng, quân khu đang tích cực giải tỏa Thời gian trong một tuần sẽ có xe đón đồng chí và đoàn”
Bùi Bình Thi đã miêu tả cảm giác “sung sướng đến tột độ” của San khi tìm ra con đường đi nhanh nhất đến bộ đội Lào “Trên đỉnh đầu anh ran ran một cảm giác như ở chỗ ấy, dưới chân tóc da đầu đang mọc làm anh rạo rực toàn thân”
Trang 34Những câu hỏi dồn dập: “tình hình địch thế nào, Phỉ ra sao? Quân viên chăn có tới
đó không, tới khúc nào quãng nào? Các em có lắm vững không?” Cho thấy sự quan tâm
lo lắng ý thức trách nhiệm của San về tình hình cách mạng của nước bạn Lào
Như vậy vẻ đẹp bản lĩnh tài năng của San được Bùi Bình Thi khắc họa sâu sắc trong tác phẩm này Nếu như San là con người hành động, làm hết mình để hoàn thành nhiệm vụ được giao thì Hoán là con người ngại khó ngại khổ, thích lối sống hưởng thụ Nếu như San là một trưởng đoàn chuyên gia gắn bó, gần gũi với chiến sĩ cán bộ cấp dưới thì phó đoàn Hoán lại là một người quan cách, có quan niệm sai lầm
về người cán bộ chỉ huy Nếu San thực tế bao nhiêu thì Hoán lại lý thuyết và xa rời thực tế bấy nhiêu
Sau khi hành quân từ chiến trường Tây Nguyên vào tăng cường cho mặt trận B2 Việt đã đi trinh sát thực địa cả một vùng mà đại đội tấn công để xem tình hình địa bàn ra sao
Trong cuộc đối thoại với Quách Cường – Đại đội trưởng đại đội hai ta mới thấy
rõ tài năng của Việt trong quá trình chỉ huy
“Mùa xuân đầu tiên ở chiến trường Miền Đông Nam Bộ dường như đến sớm hơn thường lệ Nguyễn Sĩ Việt tiểu đoàn trưởng nhận ra điều này nhưng Việt nhớ lại rằng sau tết con dê, tiểu đoàn đang triển khai nhiệm vụ đánh vào Tân Khai thì nhận được lệnh phải di chuyển khỏi căn cứ trước 18 giờ, hành quân về Bầu Sen để chuẩn bị cho một chiến dịch lớn Như vậy kể từ lúc nhận điện đến khi khởi hành, đơn vị chỉ
có hai tiếng để chuẩn bị Điều này đã làm cho nhiều cán bộ chiến sĩ trong tiểu đoàn
ấm ức, bực bội nhưng Nguyễn Sĩ Việt thì suy nghĩ rằng: “theo kế hoạch, đơn vị sẽ từ Bầu Trâm cắt rừng đi về hướng Suối Bông từ đó vượt lộ bốn ở khoảng giữa Bổ Túc –
Cà Tum, quay ngược về phía biên giới là đến Bầu Sen Nhìn trên bản đồ ai cũng cảm thấy đường hành quân có vẻ zích zắc, nhiêu khê thế nào ấy Nếu cắt rừng đi thẳng thì
Trang 35chỉ trong vòng hai ngày, tiểu đoàn có thể đến được mục tiêu Còn đi theo kiểu hành xác như thế này, ít phải ba ngày dòng dã mới có thể đến đích
- Việt chẳng lẽ ông không thấy hành quân kiểu này là mua đường sao?” [39,43] Cuộc đối thoại giữa Cường và Việt, cuối cùng Việt đã giải thích: - Ngốc ơi là ngốc! – Việt giảng giải – Từ xưa tới nay cấp trên chỉ quy định về thời gian đến mục tiêu chứ chưa bao giờ quy định thời gian khởi hành cả đúng không? Còn bức điện này thì ngược lại đó chính là sự bất thưởng Sự bất thường này chắc hẳn hàm chứa một
ẩn ý nào đó mà cấp trên không tiện nói ra”
Người chỉ huy luôn luôn phải làm việc bằng cái đầu, bằng những suy nghĩ đúng đắn Từ những suy nghĩ đúng đắn sẽ có đường lối và chiến thắng kẻ thù Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Sĩ Việt còn được khẳng định mạnh mẽ hơn bằng hành động thực tiễn của mình Đó là cuộc chống càn Junction City Từ lúc nhận được thông tin của cấp trên về cuộc chống càn, Việt phổ biến ngay cho cán bộ các địa đội Và yêu cầu các đơn vị khẩn trương về vị trí tiến hành đào hầm trú ẩn ngay trong đêm Suốt đêm ấy cả tiểu đoàn thức trắng làm việc Việt đã thức trắng để chỉ huy tiểu đoàn
Vì vậy khi trả lời phỏng vấn tạp chí Văn nghệ quân đội về Mùa hè giá buốt,
Văn Lê nói: “Trong cuốn sách còn có nhiều nhân vật khác với cuộc đời, hoàn cảnh và thân phận khác nhau Họ là những cán bộ chỉ huy dũng cảm, dày dạn trong chiến đấu
và những người lính bộ binh trong sáng, thông minh, hài ước, “mánh khóe” Ở họ có tốt, có xấu, có đúng, có sai, có ghét, có yêu, có dũng cảm và có cả hèn nhát
Tóm lại tôi cố gắng để có thể đưa vào cuốn sách của mình những mẫu người lính đa dạng qua cách nghĩ, cách sống, cách phân tích những vấn đề nhạy cảm … Tôi
cố gắng để thực hiện một cuốn sách viết về chiến tranh chứ không chỉ viết về chiến thắng” [49, 9] Thế nhưng ngoài Việt, một tiểu đoàn trưởng giỏi giang nhanh nhẹn, mưu trí và dũng cảm thì chúng ta còn thấy anh chàng tân binh Vũ Văn Bảng khi được hỏi lý do gì một thân một mình cậu ta dám lao vào vòng lửa, chiến đấu với hàng
Trang 36chục tên lính Tiger Mỹ, diệt được 2 tên, thu một khẩu đại liên M60 và một máy bộ đàm, anh đã trả lời vì một lý do hết sức đơn giản là vì tiểu đội trưởng Bùi Quang Thái hát chèo rất hay, tiếng hát đã thành quen đem lại niềm vui không thể thiếu cho Bảng vào mỗi buổi sáng Thế rồi Thái hy sinh, chính quân Mỹ đã chiếm đoạt mất niềm vui ấy của Bảng nên cậu lao vào chiến đấu Chỉ vì một động cơ đơn giản như thế mà Bảng đã quyết tâm ra trận
Phải chăng tài trí bản lĩnh này là xuất phát từ mục tiêu chung của dân tộc Hơn nữa dòng máu của người Việt là dòng máu đấu tranh dựng nước và giữ nước, vì thế trong con người Bảng đang chảy dòng máu ấy Đồng thời “không phải người lính nào
ra đi chiến đấu cũng có một động cơ rõ ràng Nhiều người chiến đấu và họ chiến đấu rất dũng cảm chỉ đơn thuần là vì nghĩa vụ, vì trách nhiệm, vì danh dự Nhưng lại có người ra đi theo phong trào, có người vì lòng tự tôn dân tộc, có người ra đi chỉ vì sự lay động của một bài ca Song đơn giản hơn là nếu không chiến đấu và chiến đấu không dũng cảm thì mình sẽ chết” [49, 349] Vũ Văn Bảng đã làm cho cả Ban chỉ huy tiểu đoàn ngỡ ngàng và ngay cả đến việc Việt cũng nghĩ thế Nhưng rồi anh lại nhận thấy Bảng là người trung thực khôn ngoan Vì thường thì họ không trả lời đúng theo những suy nghĩ của mình mà họ sẽ trả lời một cách hết sức trôi chẩy rằng: “Gia đình tôi từng bị bọn đế quốc, phong kiến bóc lột thậm tệ Tôi chiến đấu dũng cảm để đền ơn Đảng và Chính phủ đã đem lại cuộc sống ấm no cho dân tộc, trong đó có gia đình tôi” Hoặc “tôi căm thù đế quốc Mỹ dã man Chúng đã xâm lược đất nước ta, tàn xác nhân dân ta Tôi chiến đấu là để trả thù cho đồng bào đã bị chúng giết hại” Nhưng với Bảng anh đã không vì cấp trên mà nói sai sự thật
Như chúng ta biết văn học 1945 – 1975 hầu hết những nhân vật ra trận đều xuất phát từ những động cơ do hoàn cảnh gia đình, người thân bị giặc giết, bản thân bị giặc tra tấn, quê hương bị giặc tàn phá … Đó là những hoàn cảnh rất cụ thể Còn chiến sĩ
Vũ Văn Bảng ra trận không chỉ vì những lý do trên Chính vì vậy Nguyễn Đức Xuân – Chính trị viên tiểu đoàn cất tiếng hỏi: “- Chẳng lẽ gia đình đồng chí không từng bị Đế
Trang 37quốc sài lang, bóc lột, hà hiếp sao? Hình như anh muốn “điều chỉnh” lại lập trưởng chiến đấu của Bảng
- Không a!- Bảng ngơ ngác trả lời – Ông cô nói em lúc sinh thời từng là hiệp tá đại thầm Nam triều, ông nội em là kỹ sư canh nông Bố em là giáo viên cấp ba Em lớn lên được học hành tử tế Em chẳng có lý do gì để căm thù ai cả Em chỉ là người yêu nước!
- Yêu nước cũng là một động cơ chiến đấu có đúng không? – Vẫn Xuân hỏi
- Dạ đúng! Nhưng người Việt Nam ai chẳng yêu nước ạ?
- Cậu nói thế hóa ra bọn ngụy quân, ngụy quyền cũng có lòng yêu nước cả sao
- Em nghĩ họ cũng có lòng yêu nước nhưng yêu theo cách của họ”[49; 349 - 350]
Có thể thấy đoạn trao đổi trên giữa Nguyễn Đức Xuân và chiến sĩ Vũ Văn Bảng, ta thấy không nhất thiết người lính ra trận đều vì những động cơ rõ ràng, cụ thể
mà có khi chỉ là một trách nhiệm, một danh dự Tất cả vì độc lập tự do ấm no của dân tộc
Như vậy miêu tả được những phẩm chất tiêu biểu để làm nổi bật người anh hùng, các nhà văn thường đặt nhân vật vào hoàn cảnh mang tính thử thách để có cơ hội tự bộc lộ hoàn cảnh đó thường là chiến tranh với tính ác liệt, hủy diệt của nó
Nếu tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 viết trong hoàn cảnh chiến tranh nên hình ảnh trung tâm thường là người lính – hiện thân của chủ nghĩa anh hùng Nhân vật thường đồng nhất với lịch sử, con người giống như một phương diện
để khẳng định bước đi tất yếu của nó Cách thể hiện này tạo ra sự nguyện vọng khẳng định đề cao ở người đọc một khoảng cách “sử thi” cần thiết Do đó cách thể hiện phương diện con người xã hội của nhân vật anh hùng còn đơn giản, nhân vật có phần quen thuộc dễ bị chìm lấp giữa những hình tượng cùng loại đã có trong lịch sử văn học dân tộc
Trang 38Còn với tiểu thuyết về đề tài chiến tranh Việt Nam 2004 – 2009 đã khắc phục được những hạn chế đó Con người tiêu biểu đã được nhìn nhận đa chiều, nhiều góc cạnh Không chỉ là những người có phẩm chất của người anh hùng mà còn bộc lộ những đặc điểm đời thường Đặc điềm đời thường chính là đặc điểm của tiểu thuyết hôm nay
II 2 Nhân vật mang đặc điểm đời thường
Nguyễn Thanh Tú đã viết “Nhân vật không chỉ là một ánh hào quang tỏa chiếu
mà đã có cái lấm láp bụi bặm của đời thường, nói cách khác nhà văn đã xóa bỏ khoảng cách sử thi trong cấu trúc nhân vật truyền thống tạo ra một tinh thần dân chủ
rõ hơn, đậm hơn cho hình tượng nhân vật”
Tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh hôm nay đã đặt con người trong mối quan
hệ với cái thường ngày, lấy cá nhân để soi ngắm mọi giá trị, các nhân vật trong tiểu thuyết chiến tranh hôm nay đều được các nhà văn khai thác ở phương diện “Người” là chủ yếu
Nếu văn học 1945 – 1975 nhìn ngắm nhân vật bằng cái nhìn sử thi nhằm tạo nên một vẻ đẹp toàn diện Họ luôn là những anh hùng với những phẩm chất cao quý như yêu nước, căm thù giặc, dũng cảm, sẵn xàng sả thân vì sự nghiệp chung Còn với tiểu thuyết hôm nay 2004 – 2009 thì lại nhìn ngắm nhân vật bằng cái nhìn phi sử thi Cho nên nhân vật xuất hiện ngoài tài trí, bản lĩnh, gan dạ, dũng cảm mưu trí trong chiến đấu thì mỗi nhân vật xuất hiện là một số phậm cá nhân một con người tự nhiên bản năng
II.2.1 Con người với những số phậm cá nhân
Nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết 1945 – 1975 là người mang phẩm chất tốt đẹp, mang cốt cách của quần chúng, luôn đóng vài trò là người đi đầu dẫn đường Sự
lý tưởng hóa hình tượng người anh hùng một mặt còn giữ nguyên trong sự chi phối
Trang 39của nguồn cảm hứng sử thi mặt khác nhằm phục vụ cho hoạt đông tuyên truyền cổ vũ kháng chiến cũng như để chứng minh tính đúng đắn về đường lối Trong tiểu thuyết
1945 – 1975 chúng ta thường chỉ thất những con người của những khái niệm lớn: Con người của lịch sử, thời đại, con người của cộng đồng, giai cấp… nhưng ở tiểu thuyết viết về chiến tranh cách mạng 2004 – 2009, chúng ta lại thấy rõ con người cá nhân, cá thể
Nguyễn Sĩ Việt tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn bộ binh độc lập không chỉ là một người chỉ huy tài năng và bản lĩnh mà còn được tác giả rất chú ý khắc họa những nét đời thường Nguyễn Sĩ Việt được khắc họa ở động cơ ra trận Động cơ ra trận của anh trước hết là chạy trốn khỏi sự đòi hỏi tình dục quá mạnh mẽ của Lụa – vợ anh Việt cưới vợ năm anh 16 tuổi: “ Thực lòng, khi đồng ý cưới vợ, Việt cũng chưa hề có ý thức để chuẩn bị làm chồng” [212; 214], tất cả đều là do sự sắp đặt của mẹ Việt Lụa hơn anh sáu tuổi “ Việt nhớ rằng Lụa hơn anh sáu tuổi thuộc loại liền chị, không mấy xinh đẹp, nhưng ngoan và rất hiền” Đặc biệt mẹ Việt chọn Lụa cũng vì dựa trên cơ sở nòi giống Nhưng chính Lụa lại là người: “….khai sáng, mở cửa cuộc đời anh Cô đã làm thay đổi anh, đưa anh trở về với cội rễ bản năng của con đực, đó là sự truyền giống Cô dậy anh làm chồng Cô biến anh từ một gã thanh niên mới lớn trắng tinh, hời hợt, khở khạo trở thành một người đàn ông hoen ố, bụi bặm và đầy ham muốn.Chỉ
có một điều đáng trách là cô không biết dừng lại đúng chỗ Chính vì vậy mà cô làm cho anh từ trạng thái khao khát, hưng phấn, trở nên ngán ngẩm rồi sợ hãi Anh tham gia quân ngũ cũng một phần vì lý do này” [49; 216]
Quả thật tiểu thuyết hôm nay viết về chiến tranh khi khai thác chất “lính” mang đậm chất “người” đến thế Đó là một sự táo bạo, sự phá phách của nhận thức về cuộc sống của người lính Còn tiểu thuyết 1945 – 1975 không dám động chạm đến cái đời thường trần trụi như thế Cho nên Nguyễn Minh Châu đã viết: “Những năm kháng chiến vừa qua thật là hào hùng, thật là đẹp nhưng cũng đầy khó khăn và hi sinh… ngòi bút của chúng ta sẽ trở nên phản bội người chiến sĩ nếu chỉ biết cái lúc họ vác
Trang 40súng ra trận với một tâm hồn phơi phới mà không biết đến cái lúc buồn bã, đau đớn, những lúc nằm giữa đồng đội chết và đau thương trong đầm nầy, trong mưa bom bão đạn” vì vậy tiểu thuyết hôm nay đã có cái nhìn khác – cái nhìn phi sử thi Nếu Việt ra trận với đông cơ chạy chốn khỏi sự đòi hỏi tình dục của vợ thì Vinh – nhân vật chính
trong tiểu thuyết Màu rừng ruộng ra trận cũng là một sự chạy chốn Nhưng sự chạy
chốn cùa Vinh là chạy chốn khỏi nỗi buồn, nỗi xót xa khi người con gái anh thương mến đi lấy chồng, lấy một ông chồng già đã có tám đứa con Đám cưới diễn ra khi bà
vợ cả vừa mất còn đắp chiếu để đấy “Vâng, tôi muốn đi Đi khỏi cái làng Bùi tin hin này” Đầu nghĩ thế nhưng suýt nữa thì Vinh đã văng một câu mắng ra trò rằng Đất nước lâm nguy, nam nhi không thể ngồi yên, như lời anh xã đội vẫn nói Nhưng trước đôi mắt mở to đang dân dấn nước Vinh tự rưng cấm khẩu [86; 132]
Màu rừng ruộng là cuộc đời của Vinh Cuộc đời của anh gắn với cái nghèo của
quê hương, của gia đình gắn với cái trái ngang của những tập tục hủ lậu, gắn với sự tự
ti của dân tộc và cuối cùng gắn với sự độc ác của con người Xuất thân trong một gia đình nghèo Vinh lớn lên với việc học hành dang rở và mối tình không đi đến đích Vào lính, Vinh gặp biết bao cảnh ngang trái nơi đơn vị anh làm nhiệm vụ Ở đơn vị anh gặp Juny đi tìm hài cốt cha Anh và Juny có tình cảm đặc biệt với nhau nhưng vì
tự ti, vì “Vinh nhìn lại thân mình, một thân thể suy dinh dưỡng gầy còm đang nhuốm màu bệnh tật một thân thể quê kệch với nét mặt tối tăm u uổn và tù đọng”.Còn Juny
“ Nằm nghiêng nghiêng mái tóc như nắng vàng chảy dài xuống cổ, đôi mắt như trời xanh mênh mang…những đường cong như sóng lượn tỏa ánh hào quang Sắc da trắng hồng phát ra” [86; 378]
Vinh cảm thấy giữa Juny và mình “là một sự chênh lệch khủng khiếp Không thể có sự bình đẳng Juny càng khêu gợi, nỗi mặc cảm trong Vinh càng dâng lên điều này khiến cho Vinh cảm thấy “Nỗi mặc cảm truyền kiếp ngấm sâu ngủ yên trong dòng máu nhược tiểu ngàn năm giờ đột nhiên dềnh chỗi” [86; 379]