Bệnh viêm tử cung do nhiều nguyên nhân vì vậy cần phải chẩn đoán chính xác phát hiện và điều trị kịp thời bằng phác đồ tốt là một trong những cách phòng và điều trị tốt nhất bệnh viêm tử
Trang 1CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.
Một gia súc cái được đánh giá là có khả năng sinh sản tốt thì trước hết phải
kể đến sự nguyên vẹn và mọi hoạt động bình thường của cơ quan sinh dục Do
đó, khi mà bất kỳ một cơ quan, một bộ phận nào của cơ quan sinh dục bị tổn thương sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc cái
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, bệnh viêm tử cung là một bệnh khá phổ biến và nó ảnh hưởng xấu đến sức sinh sản của lợn nái Bệnh viêm tử cung do nhiều nguyên nhân vì vậy cần phải chẩn đoán chính xác phát hiện và điều trị kịp thời bằng phác đồ tốt là một trong những cách phòng và điều trị tốt nhất bệnh viêm tử cung, nhằm làm giảm tỷ lệ mắc, tăng khả năng hồi phục, khả năng sinh sản của những lợn bị bệnh
Xuất phát từ yêu cầu trên, trong thời gian thực tập chúng tôi đã tiến hành theo dõi bệnh viêm tử cung và các yếu tố liên quan đến bệnh viêm tử cung như thời gian đẻ, lứa đẻ, số con sinh ra và thời gian điều trị khỏi bệnh viêm tử cung bằng phác đồ tại trại Trong thời gian thực tập tại trại ông Lại Văn Nhân chúng tôi tiến hành theo dõi 139 con lợn nái ngoại với giống Yorkshire và Landrace về bệnh viêm tử cung:
4.1 Tình trạng viêm tử cung ở lợn nái sau đẻ.
Bảng 1 : tỉ lệ viêm tử cung ở lợn theo dõi tại trại
Từ bảng số liệu về tỉ lệ viêm tử cung theo dõi tại trại chúng tôi nhận thấy tỉ
lệ viêm tử cung tại trại là rất cao 86,33% So với kết quả nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn tại cộng hòa Belarus năm 2011 là 33,6 – 55% thì kết quả của chúng tôi cao hơn 31,33% Với nghiên cứu lợn nái ngoại thuộc một
số địa phương vùng Đồng Bằng sông Hồng của tác giả Nguyễn Văn Thanh,
Trang 2(2003) thì kết quả của chúng tôi cao hơn rất nhiều sao với tỉ lệ 7,1% của nghiên cứu
Tìm hiểu nguyên nhân gây nên bệnh viêm tử cung tại trại ông Lại Văn Nhân chúng tôi nhận thấy bệnh thường xuất hiện trên những lợn nái đẻ có sự can thiệp bằng tay của công nhân và bệnh thường xuất hiện sau khi phối giống đặc biệt là sử dụng phương pháp phối giống nhân tạo Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2005) cho rằng phối giống nhân tạo là phương pháp kỹ thuật nhằm nhân giống, truyền giống và cải tạo giống nhanh nhất, tốt nhất và kinh tế nhất đối với thực trạng chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, nếu các công đoạn của phối giống nhân tạo thực hiện không tốt: dụng cụ sử dụng không đảm bảo vệ sinh hoặc kỹ thuật dẫn tinh kém làm xây sát niêm mạc đường sinh dục tạo điều kiện cho vi khuẩn gây mủ xâm nhập gây viêm đường sinh dục
Khi khảo sát phương pháp đỡ đẻ cho lợn tại trại chúng tôi nhận thấy rằng trường hợp để lợn đẻ tự nhiên là rất ít mà chủ yếu có sự can thiệp bằng tay và bằng thuốc Tại trại trường hợp dùng thuốc can thiệp cho lợn nái đẻ là 100% còn can thiệp bằng tay cũng được sử dụng nhiều Nguyên nhân của kết quả này
là do lợn đẻ khó phải can thiệp bằng tay và có nhiều trường hợp không đẻ khó nhưng các công nhân vẫn dùng tay móc thai nhằm rút ngắn thời gian sổ thai và kiểm tra hết thai hay chưa, nhưng khi can thiệp không đảm bảo vệ sinh, không đúng kỹ thuật làm tổn thương niêm mạc đường sinh dục Chúng tôi cho đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho tỷ lệ bệnh viêm tử cung ở lợn nái tăng cao Nhận xét này phù hợp với kết luận của nghiêm cứu của tác giả Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong, (2000) cho rằng phương pháp đỡ đẻ thô bạo, không đúng kỹ thuật là nguyên nhân chính gây bệnh viêm tử cung Đặc biệt là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay và dụng cụ Ngoài ra các yếu tố khác như lứa đẻ, thời gian đẻ, số con sinh ra cũng là một trong những nguyên nhân là gia tăng tỷ lệ viêm tử cung trên lợn
Trang 3Cùng với tỷ lệ viêm tử cung cao thì một trong những biểu hiện quan trọng đẻ nhận biết lợn nái bị viêm tử cung là hiện tượng chảy dịch từ cơ quan sinh dục Lợn nái mẹ khỏe mạnh sau khi sinh có dịch chảy ra ở âm hộ, thường là dịch lỏng, trong, không mùi, lượng dịch ít và thường kéo dài 2 – 4 ngày rồi mất hẳn,
âm hộ khô Với những lợn nái bị viêm tử cung, dịch chảy ra khá nhiều và kéo dài, dịch có màu trắng xám, hồng hoặc đỏ nâu, thường là dịch quánh có mùi tanh thối Dịch viêm chảy ra nhiều hơn khi con vật nằm xuống và cho con bú Một số con sốt cao, thở mạnh có phản ứng đau và giảm ăn Trong thời gian thực tập tại trại chúng tôi nhận thấy rằng khi bị viêm tử cung thì dịch viêm từ âm hộ chảy ra trong 2 ngày đầu thường với số lượng ít, dịch đặc có độ kết dính cao thường dính vào âm hộ của lợn nái, dịch thường có màu trắng như mủ mùi hôi tanh Lợn ở những ngày này thường sốt, bỏ ăn hoặc ăn ít có thể mất sữa hay nằm cơ thể đỏ lên Các ngày tiếp theo thì số lượng dịch nhiều lên nhưng dịch lỏng hơn độ kết dính thấp hơn, lợn giảm sốt, ăn trở lại vận động nhiều hơn sau
đó dịch giảm dần và hết hẳn
Trang 4Hình ảnh: Lợn nái sau đẻ bị viêm tử cung vào 2 ngày đầu tiên Dịch viêm trắng, đặc và có độ kết dính cao và thường dính vào âm hộ
Trang 5Hình ảnh: Dịch viêm tử cung đọng lại ở âm hộ lợn nái sau đẻ ở những ngày đầu
Trang 6Hình ảnh: Dịch viêm đặc, số lượng dịch ít và dính vào âm hộ
Trang 7khi lợn nái nằm dịch viêm thường chảy ra nhiều hơn, dịch màu trắng đục
Trang 8Dịch viêm tử cung của lợn nái vào những ngày cuối: dịch lỏng, lợn cợn, dịch thường nhiều nhưng không dính vào âm hộ của lợn nái
Xuất phát từ thực tế này chúng tôi tiến hành khảo sát một số yếu tố có liên quan đến tỷ lệ bệnh viêm tử cung trên lợn nái đẻ tại trại ông Lại Văn Nhân
4.2 Ảnh hưởng của lứa đẻ đối với tình trạng viêm tử cung sau đẻ của lợn nái
Bảng 2: Ảnh hưởng của lứa đẻ đối với tình trạng viêm tử cung sau đẻ của lợn nái
dõi
Số con mắc viêm tử cung
Tỷ lệ (%)
Trang 9Từ bảng số liệu ta thấy được rõ ràng ảnh hưởng của viêm tử cung đến lợn nái sinh sản sau đẻ Ở lứa 1 theo dõi 26 lợn nái thì có 23 lợn nái mắc bệnh tỷ lệ viêm tử cung đạt đến 88,5% Lứa 2 và lứa 3 tỷ lệ đạt 82,8% với 29 con theo dõi
có 24 lợn mắc bệnh Với số lượng theo dõi đầu nái nhiều nhất 53 con ở lứa 4 và lứa 5 chúng tôi thấy có 49 lợn nái mắc bệnh, tỷ lệ viêm tử cung cao lên đến 92,5% Những lợn nái đẻ từ lứa thứ 6 và cao hơn lứa thứ 6 thì tỷ lệ viêm tử cung là 74,2% Phương pháp kiểm định Khi bình phương cho thấy không có sự khác nhau về tỉ lệ ở lợn nái sau đẻ giữa các lứa với nhau Tuy không thể so sánh lứa đẻ nào lợn nái bị mắc viêm tử cung cao hơn nhưng qua bảng số liệu và điều tra theo dõi tại trại chúng tôi thấy được bất kỳ lứa đẻ nào thì tỉ lệ viêm tử cung đều cao Theo Khuất Văn Dũng, (2005) bệnh sinh sản thường đi cùng với sinh
lý sinh đẻ, nếu đẻ nhiều thì khả năng mắc bệnh sinh sản sẽ cao hơn Đối với đàn nái đẻ nhiều lứa do trương lực cơ tử cung giảm, dẫn tới co bóp yếu, không đủ cường độ để đẩy các sản phẩm trung gian sau đẻ ra ngoài, thời gian đóng kín cổ
tử cung cũng chậm hơn do đó tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập từ môi trường vào Như vậy có thể nói kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với nhận xét trên
Như vậy ta không nên nuôi những con nái đã đẻ quá nhiều lứa, năng suất chăn nuôi thấp, tỷ lệ mắc bệnh sinh sản cao, đặc biệt là bệnh viêm tử cung Với những nái kiểm dịch, nên dùng Oxytocine một cách thận trọng, vì nếu tạo cơn
co bóp mạnh niêm mạc tử cung rất dễ xây xát và dẫn tới viêm tử cung
4.3 Ảnh hưởng của thời gian đẻ đến tình trạng viêm tử cung ở lợn nái sau đẻ.
Bảng 3: Ảnh hưởng của thời gian đẻ đến tình trạng viêm tử cung ở lợn nái sau đẻ.
Thời gian đẻ trung bình (h) 4,40 ± 1,594
Trang 10Thời gian đẻ lớn nhất (Max) 15,00
Chúng tôi theo dõi 139 lợn nái trong thời gian thực tập và kết quả cho thấy thời gian đẻ trung bình của lợn nái là 4.40 ±1.59 giờ, biến động từ 1.75giờ đến 15.00 giờ Khi sử dụng phương pháp hồi qui logistic để đánh giá ảnh hưởng của thời gian đẻ tới tình trạng viêm tử cung ở lợn nái chúng tôi thấy rằng mặc dù tỉ
số Odds bằng 1.353 cũng gợi ý rằng khi thời gian đẻ tăng lên, nguy cơ bị mắc viêm tử cung ở lợn nái cũng tăng lên, tuy nhiên sự sai khác là không có ý nghĩa thống kê (P=0.159)
Theo Trần Tiến Dũng, 2002 thì thời gian đẻ của lợn là 2 – 6 giờ Với bảng ảnh hưởng lứa đẻ ở lợn nái sau sinh của chúng tôi cho thấy thời gian đẻ trung bình tại trại là 4,40 ± 1,594 Có thể nói thời gian đẻ tại trại phù hợp với khoảng thời gian đẻ tự nhiên mà tác giả Trần Tiến Dũng đưa ra Tỉ số Odds là 1.353 cũng gợi ý rằng khi thời gian đẻ tăng lên, nguy cơ bị mắc viêm tử cung ở lợn
nái cũng tăng lên Có thể giải thích, khi lợn nái đẻ thời gian đẻ càng lâu thì càng
làm tăng nguy cơ vi khuẩn cơ hội có hại tấn công vào đường sinh dục càng nhiều dẫn đến viêm nhiễm và gây nên bệnh ở đường sinh dục, một trong những bệnh phổ biến là bệnh viêm tử cung Theo Đặng Thanh Tùng, (2006) hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự xuất hiện của vi sinh vật cơ hội thường xuyên có mặt trong chuồng nuôi Lợi dụng lúc sinh sản, tử cung có nhiều dịch,
vi trùng xâm nhập vào cơ quan sinh dục gây viêm tử cung, như vậy giải thích của chúng tôi phù hợp với nguyên nhân mà tác giả đưa ra
4.4 Ảnh hưởng của biện pháp can thiệp bằng tay đối với tình trạng viêm tử cung ở lợn nái sau đẻ.
Bảng 4: Ảnh hưởng của biện pháp can thiệp bằng tay đối với tình trạng
viêm tử cung ở lợn nái sau đẻ.
Can thiệp Không can thiệp
Trang 11Lợn nái bị viêm tử cung 100%(29/29) 81,82%(90/110) Lợn nái không bị viêm tử
cung
0% (0/0) 18,19%(20/110)
Từ bảng số liệu ta có thể nhận thấy được lợn khi can thiệp bằng tay trong khi
đẻ tỷ lệ viêm lên đến 100% với 29 lợn nái can thiệp thì cả 29 lợn nái đều mắc viêm tử cung Trong khi lợn không can thiệp tỷ viêm tử cung là 81,82% và có
20 lợn nái không bị viêm tử cung So sánh tỉ lệ viêm ở lợn không được can thiệp
và lợn can thiệp tay bằng phương pháp Khi bình phương cho thấy tỉ lệ viêm tử cung ở lợn can thiệp tay cao hơn hẳn tỉ lệ viêm ở lợn không can thiệp tay (P=0.014) Có thể thấy can thiệp bằng tay là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây bệnh viêm tử cung Chính vì thế để giảm thiểu bệnh viêm tử cung trại nên hạn chế bớt việc can thiệp bằng tay khi lợn đẻ tránh gây tổn thương niêm mạc tử cung và tránh điều kiện có lợi cho vi khuẩn gây bệnh
Trang 12biện pháp can thiệp bằng tay khi lợn nái đẻ là một trong những ảnh hưởng lớn đến bệnh viêm tử cung của lợn nái sau đẻ
Trang 134.5 Ảnh hưởng của số lượng con tới tình trạng viêm tử cung ở lợn mẹ sau đẻ.
Bảng 5: Ảnh hưởng của số lượng con đẻ ra với tỉ lệ viêm tử cung ở lợn
mẹ sau đẻ
Số lượng con
sinh ra
Số lợn nái theo dõi đẻ
Số lợn nái mắc viêm tử cung
Tỷ lệ (%)
Ý nghĩa thống kê
(P)
0,18
Với lượng mẫu theo dõi là 137 con chúng tôi nhận thấy lợn tại trại của ông Lại Văn Nhân có số con đẻ ra trên một đầu nái tập chung vào 9 – 12 con, số lượng trung bình thường là 11 con trên một đầu nái Với những lợn nái đẻ với
số lượng con nhiều hơn 12 con thì tỷ lệ viêm tử cung cũng rất cao Với 39 con theo dõi thì có đến 33 con mắc viêm tử cung thì tỷ lệ viêm là 84,62% Để giải thích cho số liệu trên chúng tôi nhận thấy rằng khi lợn nái đẻ với lượng con càng nhiều thì thời gian đẻ càng lâu vì thế cổ tử cung mở lâu hơn vi khuẩn cơ hội có khả năng xâm nhập cao hơn Với lợn đẻ ít hơn 9 con do con to cộng với biện pháp can thiệp là cho tỷ lệ viêm đạt 100% Như vậy có thể nói khảo sát của chúng tôi phù hợp với kết luận của Khuất Văn Dũng, (2005) về thực trạng khả năng sinh sản và hiện tượng rối loạn sinh sản
Với phác đồ điều trị như đã nêu ở trên và cách chăm sóc, vệ sinh phòng bệnh của trại chúng tôi nhận thấy tỷ lệ khỏi bệnh lên đến 100% Tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của từng con lợn mà liệu trình và thời gian điều trị khác nhau Dưới đây là bảng theo dõi số ngày điều trị bệnh viêm tử cung tại trại
4.6 Hiệu quả phòng và điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái sau đẻ
Trang 14Bảng 6: số con khỏi và thời gian điều trị
Thời gian điều trị trung bình 6,42
Thời gian điều trị ngắn nhất (Min) 4
Thời gian điều trị dài nhất (Max) 12
Qua bảng 6 chúng ta có thể thấy rằng hiệu quả của việc điều trị viêm tử cung là rất cao lên đến 100% với việc điều trị 120 nái bị viêm tử cung thì cả 120 nái đều khỏi bệnh Phác đồ điều trị tại trại ông Lại Văn Nhân cho hiệu quả cao với thời gian điều trị trung bình là 6,42 ngày, thời gian điều trị cao nhất với lợn nái là 12 ngày và thấp nhất là 4 ngày Cùng với việc điều trị thì vệ sinh cho lợn nái sau khi đẻ cũng là một trong những yếu tố làm giảm sự xâm nhập vi khuẩn vào đường sinh dục của lợn Sau khi đẻ lợn được bôi cồn vào ngay âm hộ để sát trùng việc bôi cồn này được thực hiện liên tục đến khi lợn không còn dịch viêm chảy ra nữa Việc kết hợp giữa vệ sinh và điều trị tại trại giúp chúng tôi nhận thấy rằng hiệu quả của việc điều trị bệnh viêm tử cung là khá khả quan tuy nhiên việc lợn bị viêm tử cung lại vẫn xảy ra Vì thế việc điều trị và vệ sinh cần phải làm chặt chẽ hơn nữa, việc theo dõi điều trị bệnh nên cần được quan tâm hơn để tình trạng lợn bị tái phát lại bệnh giảm thiểu đi giúp cho người căn nuôi nâng cao hiệu quả chăn nuôi và kinh tế
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Từ kết quả thu được tại trại ông Lại Văn Nhân trong suốt quá trình làm khóa luận chúng tôi rút ra được những kết luận sau:
Đàn lợn nái nuôi tại trại ông Lại Văn Nhân mắc bệnh viêm tử cung sau đẻ rất cao 88,41%
Trang 15Việc sử dụng biện pháp can thiệp là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng mắc viêm tử cung cao tại trại
Bệnh viêm tử cung ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của lợn nái sau đẻ làm lợn nái lười vận động, sốt, bỏ ăn trong những ngày đầu của bệnh
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái sau đẻ điều trị cho kết quả cao với tỷ lệ 100% khỏi sau điều trị bằng pháp đồ điều trị tại trại (sử dụng Oxytocine và amoxinject tiêm bắp) kết hợp với vệ sinh sạch sẽ
Kiến nghị:
Cần tiếp tục theo dõi tình hình lợn nái sinh sản nuôi tại trại mắc bệnh viêm
tử cung để đưa ra được những đề xuất hay cho việc phòng và trị bệnh cũng như
tỷ lệ mắc theo mùa, theo năm
Thực hiện tốt công tác vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ, có thao tác đỡ đẻ khoa học để giảm bớt tỷ lệ mắc viêm tử cung trên lợn
Cần duy trì phác đồ điều trị hiện nay tại trại để điểu trị bệnh viêm tử cung
Có thể kết hợp với việc thụt rửa cho những trường hợp nặng, truyền thêm gluco 5% cho lợn để nâng cao sức khỏe
Cần loại thải những trường hợp lợn bị viêm tử cung nặng và lợn có lứa đẻ cao đề đảm bảo hiệu quả kinh tế
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH.
1 De Winter, P J J., Verdonck, M., de Kruif, A., Coryn, M., Deluyker, H A., Devriese, L A., Haesebrouck, F (1996): The relationship between the blood progesterone concentration at early metoestrus and uterine infection in the sow Anim Repr Sci 41, 51-59
Trang 162 De Winter, P J J., Verdonck, M., de Kruif, A., Devriese, L A., Haesebrouck, F (1995): Bacterial endometritis and vaginal discharge in the sow: prevalence of different bacterial species and experimental reproduction of the syndrome Anim Repr Sci 37, 325-335
3 BOMA, M.H & BILKEI, G 2006 Gross pathological findings in sows
of diffirent parity, culfed due to recurring swine urogenital disease (SUGD) in Kenya Onderstepoort Journal of Veterinary Research, 73: 139-142
4 WALLER, C M., BILKEI, G & CAMERON, R D.A 2002 Effect of peri parturient disease and/or reproductive failure accompa – nied by excessive vulval discharge and weaning to mating interval on sows’ reproductive performance Australian Veterinary Journal, 80: 545 – 549
5 SANDERS, L.M.G & BILKEI, G 2004 Urrogenital diseases and their effsct on reproductive performance in high – parity sows Tijdschrift voor Diergenees kunde, 129: 108 – 112
6 BIKSI, I., TAKACS, N., VETESI, F., FODOR, L., SZENCI, O & FENYÖ, E 2002 Association between endometritis and urocystitis in culled sows Acta Veterinaria Hungarica, 50: 413 – 423
7 Daniel Givens M, Marly MSD, Infectious causes of embryonic and fetal mortality, Theriogenology (2008), doi: 10.1016/J theriogenology 2008 04 018
8 Jana, B., Kucharski, J., Ziecik, A J., 2004 Effect of intrauterine infusion
of Escherichia coli on hormonal patterns in gilts during the oestrous cycle: Reprod Nutr Dev 44, 37 – 48
9 Jana B, Kucharski J, Dzienis A, Deptula K 2007: Changes in prostaglandin production and ovarian function in gilts during endometritis induced by Escherichia coli infection Anim Reprod Sci 97: 137 – 150
10.Spring P, Wenk C, Dawson KA, Newman KE, 2000, The effects of dietary mannan – oligosaccharides on caecal parameters and the concentrations