ĐỀ CƯƠNG ÔN THICâu 1. Phân biệt đồng phạm. Ý nghĩa.Khái niệm đồng phạm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 BLHS thì: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm Đồng phạm là một khái niệm pháp lý nói lên quy mô tội phạm, được thực hiện trong một vụ án có nhiều người tham gia. Để được coi là động phạm thì những người thực hiện tội phạm đều phải có đủ các điều kiện cấu thành tội phạm.Có hai loại đồng phạm: đồng phạm giản đơn và đồng phạm có tổ chức Đồng phạm giản đơn: là tất cả những người cùng thực hiện một tội phạm đều là người thực hành. Đồng phạm có tổ chức là đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 3 Điều 20). Trong vụ đồng phạm tùy vào quy mô và tính chất mà có thể có nững người giữ vai trò khác nhau: người tổ chức, người xúi giục, người thực hành, người giúp sức .1.Người tổ chức: Là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. (Khoản 2 điều 20 BLHS).Chỉ trong trường hợp phạm tội có tổ chức mới có người tổ chức. Người tổ chức có thể có những hành vi: khởi xướng việc phạm tội, vạch kế hoạch thực hiện việc phạm tội cũng như kế hoạch che giấu tội phạm; rủ rê, lôi kéo người khác cùng thực hiện hành vi phạm tội; phân công trách nhiệm cho những người đồng phạm khác; Điều khiển hành động của những người đồng phạm khác; Đôn đốc, thúc đẩy người đồng phạm khác thực hiện tội phạm ...............
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN THI
Câu 1 Phân biệt đồng phạm Ý nghĩa.
Khái niệm đồng phạm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 BLHS thì: "Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm" Đồng
phạm là một khái niệm pháp lý nói lên quy mô tội phạm, được thực hiện trong một
vụ án có nhiều người tham gia Để được coi là động phạm thì những người thựchiện tội phạm đều phải có đủ các điều kiện cấu thành tội phạm
Có hai loại đồng phạm: đồng phạm giản đơn và đồng phạm có tổ chức
- Đồng phạm giản đơn: là tất cả những người cùng thực hiện một tội phạmđều là người thực hành
- Đồng phạm có tổ chức là đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa nhữngngười cùng thực hiện tội phạm (khoản 3 Điều 20) Trong vụ đồng phạm tùy vàoquy mô và tính chất mà có thể có nững người giữ vai trò khác nhau: người tổ chức,người xúi giục, người thực hành, người giúp sức
1 Người tổ chức:
Là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm (Khoản 2 điều 20BLHS)
Chỉ trong trường hợp phạm tội có tổ chức mới có người tổ chức Người tổ chức
có thể có những hành vi: khởi xướng việc phạm tội, vạch kế hoạch thực hiện việcphạm tội cũng như kế hoạch che giấu tội phạm; rủ rê, lôi kéo người khác cùng thựchiện hành vi phạm tội; phân công trách nhiệm cho những người đồng phạm khác;Điều khiển hành động của những người đồng phạm khác; Đôn đốc, thúc đẩy ngườiđồng phạm khác thực hiện tội phạm
2 Người thực hành:
Trang 2Là người trực tiếp thực hiện tội phạm (khoản 2 điều 20 BLHS)
Theo luật hình sự Việt Nam có hai loại trường hợp sau được coi là trực tiếp thựchiện tội phạm:
- Trong vụ phạm tội cố ý có thể có nhiều người cùng tự mình thực hiện hành
vi được mô tả trong CTTP Trong trường hợp này không đòi hỏi mỗi người phảithực hiện trọn vẹn hành vi được mô tả trong CTTP mà có thể mỗi người chỉ thựchiện một phần hành vi đó Nhưng đòi hỏi hành vi tổng hợp của họ phải là hành vi
có đủ dấu hiệu của CTTP
+ họ không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý do sai lầm
+ họ được loại trừ TNHS do bị cưỡng bức tinh thần
- Do đặc điểm riêng, người trực tiếp thực hiện tội phạm ở dạng này không thểxảy ra ở những tội đòi hỏi chủ thể phải tự mình thực hiện tội phạm như tội hiếpdâm (điều 111), hoặc tội loạn luận (điều 150)
3 Người xúi giục:
Trang 3Là những người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm(khoản 2 điều 20 BLHS).
Hành vi kích động, dụ dỗ thúc đẩy người khác thực hiện hành vi phạm tội chỉđược coi là người đồng phạm trong vụ án có tổ chức, khi hành vi xúi giục có liênquan trực tiếp đến toàn bộ hoạt động phạm tội của những đồng phạm khác và ngườithực hiện tội phạm trước khi bị xúi giục chưa có ý định phạm tội, vì có người khácxúi giục nên họ mới nảy sinh ý định phạm tội Nếu việc xúi giục không liên quantrực tiếp đến hoạt động tội phạm của những người đồng phạm khác và người thựchiện tội phạm đã có sẵn ý định phạm tội thì không phải là người xúi giục trong vụ
án có đồng phạm
Trường hợp xúi giục trẻ em dưới 14 tuổi, người không có năng lực tráchnhiệm hình sự thực hiện tội phạm thì hành vi xúi giục được coi là hành vi thựchành thông qua hành vi của người không chịu trách nhiệm hình sự Trong trườnghợp này người không phải chịu trách nhiệm hình sự trở thành công cụ để người xúigiục thực hiện tội phạm Nếu xúi giục trẻ em từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tộithì người xúi giục còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự " xúi giụcngười chưa thành niên phạm tội" (điểm n khoản 1 Điều 48 BLHS)
Trong trường hợp người xúi giục lại là người tổ chức và cùng thực hiện tộiphạm thì họ trở thành người tổ chức và nếu xúi giục người chưa thành niên phạmtội thì họ phải chịu tình tiết tăng nặng "xúi giục người chưa thành niên phạm tội"
Hành vi xúi giục phải cụ thể, tức là người xúi giục phải nhằm vào tội phạm
cụ thể và người phạm tội cụ thể, nếu chỉ có lời nói và tính chất thông báo hoặc gợi
ý chung chung thì không phải là người xúi giục và không phải chịu trách nhiệmhình sự về hành vi phạm tội của người thực hiện tội phạm
4 Người giúp sức:
Là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tộiphạm(khoản 2 điều 20 BLHS)
Trang 4Trong 1 vụ án có đồng phạm, vai trò của người giúp sức cũng rất quan trọng,nếu không có người giúp sức thì người thực hiện tội phạm cũng gặp khó khăn Vídụ: H hứa với T sẽ tiêu thụ toàn bộ số tài sản nếu T trộm cắp được Có sự hứa hẹncủa H nên đã thúc đẩy T quyết tâm phạm tội vì đã có nơi tiêu thụ tài sản trộm cắpđược.
Người giúp sức có thể giúp bằng lời khuyên, lời chỉ dẫn, cung cấp phươngtiện phạm tội hoặc khắc phục những trở ngại cho việc thực hiện tội phạm, hứa chegiấu người phạm tội, phương tiện, xóa dấu vết, hứa tiêu thụ tài sản do phạm tội màcó
Dù tạo điều kiện vật chất hay tinh thần cho việc thực hiện tội phạm thì hành
vi đó cũng chỉ tạo điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện tội phạm chứ người giúpsức không trực tiếp thực hiện tội phạm
Hành vi tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm của người giúp sức cũng
có thể là hành vi của người tổ chức, nhưng khác với người tổ chức, người giúp sứckhông phải là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy mà chỉ có vai trò thứ yếu trong vụ
án đồng phạm Nếu các tình tiết khác như nhau thì người giúp sức bao giờ cũngđược áp dụng hình phạt nhẹ hơn những người đồng phạm khác
Ý nghĩa :
- Nhằm xác định trách nhiệm hình sự của từng người trong đồng phạm Việc
chịu TNHS chung về tội phạm nhưng mỗi cá nhân lại có mức độ tham giakhác nhau Do đó cần phải phân biệt để xác định trách nhiệm hình sự củamỗi cá nhân
- Nhằm xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội của vụ phạm tội Mỗi vụ
phạm tội có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội là khác nhau, và mộttrong những dấu hiệu thể hiện mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội chính
là sự xuất hiện của đồng phạm, tính chất có tổ chức của vụ phạm tội
Trang 5Câu 2 Chứng cứ trong Tố tụng hình sự
Khái niệm chứng cứ:
Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định mà CQĐT, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án" (Khoản 1 điều 64 BLTTHS)
Chứng cứ được xác định bằng nguồn chứng cứ, gồm:
- Vật chứng: Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vậtmang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác
có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội
- Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo;
Trang 6- Tính khách quan: Chứng cứ là những gì có thật, tồn tại trong thế giới khách quan,phản ánh trung thực những tình tiết liên quan đến vụ án.
- Tính hợp pháp: Chứng cứ phải được cung cấp, thu thập và bảo quản theo trình tựthủ tục mà pháp luật quy định để đảm bảo giá trị chứng minh của chứng cứ Ví dụnhư: chứng cứ thu được từ các hoạt động mật thám, nội gián, đặc vụ sẽ không đượccoi là chứng cứ hợp pháp vì đặc trưng của những hoạt động này là không thu thậpbằng con đường công khai, hợp pháp
Mỗi chứng cứ đều phải có đủ ba thuộc tính nói trên, các thuộc tính này cómỗi liên hệ khăn khít với nhau và cùng tồn tại trong một chứng cứ Mỗi thuộc tính
có một vị trí, vai trò nhất định trong việc hình thành chứng cứ vì vậy khi sử dụngchứng cứ phải xem xét đồng thời cả ba thuộc tính nói trên, nếu thiếu một trong bathuộc tính ấy thì không được coi là chứng cứ
Câu 3 Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong công tác kiểm sát xét xử án hình sự
Khái niệm công tác kiểm sát xét xử vụ án hình sự:
Là những hoạt động của VKS nhằm kiểm sát quá trình xét xử vụ án hình sựsao cho đúng với quy định của pháp luật, đảm bảo tính bình đẳng trước pháp luật,tính khách quan và công khai minh bạch trong quá trình xét xử án hình sự
Nhiệm vụ quyền hạn của viện kiểm sát trong công tác xét xử vụ án hình sự:
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự của Tòa án.(khoản 1 điều 19 luật tổ chức VKSND 2014) Hoạt động kiểm sát việc tuân theopháp luật trong việc xét xử vụ án hình sự được hiểu là việc viện kiểm sát xem xétviệc xét xử vụ án hình sự đã được thực hiện đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm quyềnxét xử, những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng đã đúng hay chưa? từ đó
Trang 7để đưa ra các quyết định nhằm ngăn chặn những hành vi trái pháp luật trong quátrình xét xử vụ án hình sự.
- Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án (khoản 2 điều 19 luật tổ chức VKSND2014) Quyền hạn kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án là quyền năng xuất phát
từ quyền truy tố của VKS và giới hạn xét xử của tòa án trong TTHS Theo đó, Tòa
án chỉ được xét xử bị cáo theo tội danh mà vks đã truy tố hoặc với tội khác nhẹ hơntội mà vks đã truy tố Vì vậy, để đảm bảo việc tòa án ra những bản án, quyết đínhđúng đắn nhất thì VKS đã được quy định quyền kiểm sát bản án và quyết định củaTòa án Quyền năng này được thực hiện thông qua quyền kháng nghị bán án, quyếtđịnh của VKS
- Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiếnnghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng viphạm pháp luật Bằng việc tham gia phiên tòa xét xử vụ án hình sự, VKS sẽ trựctiếp theo dõi, kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của những người tham gia tố tụng
từ đó nhận ra những vi phạm pháp luật, thông qua đó để đưa ra những biện phápthích hợp để xử lý những vi phạm đó
- Yêu cầu Tòa án cùng cấp, cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xem xét, quyếtđịnh việc kháng nghị Một trong những quyền trong công tác kiểm sát quá trình xét
xử vụ án hình sự đó là quyền yêu cầu Tòa án cùng cấp, cấp dưới chuyển hồ sơ vụ
án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị Thông qua việc kháng nghịVKS thể hiện được vai trò kiểm sát của mình Kháng nghị khi thấy bản án, quyếtđịnh chưa hợp lý, kháng nghị khi thấy có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụnghình sự Để có thể thấy được điều đó thì phải được xem xét hồ sơ vụ án
- Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tốtụng Trong quá trình xét xử vụ án hình sự Nếu nhận thấy Tòa án có vi phạm
Trang 8nghiêm trọng về thủ tục tố tụng thì VKS có quyền kháng nghị những quyết định,bản án có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng đó.
- Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị và nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sátxét xử vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Theo đó, VKS có những quyền hạn nhất định: đảm bảo sự tuân theo phápluật trong việc xét xử án hình sự ( công tác xét xử của Tòa án, hoạt động của ngườitiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng), cũng như xem xét tính hợp pháp của cácbản án, quyết định của Tòa án…
Câu 4 Trách nhiệm hình sự của người đồng phạm.
Khái niệm đồng phạm
Khái niệm đồng phạm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 BLHS thì: "Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm" Đồng
phạm là một khái niệm pháp lý nói lên quy mô tội phạm, được thực hiện trong một
vụ án có nhiều người tham gia Để được coi là động phạm thì những người thựchiện tội phạm đều phải có đủ các điều kiện cấu thành tội phạm
Trong vụ án có đồng phạm, những người cùng tham gia đều bị xét xử về mộttội nhưng tính chất và mức độ tham gia của mỗi người là khác nhau Nên khi xácđịnh TNHS của những người đồng phạm phải xem xét mức độ và tính chất thamgia của từng người
Tính chất tham gia là vai trò của người đó trong quá trình thực hiện đồngphạm và việc thực hiện tội phạm như: người tổ chức, người thực hành, người xúigiục hay người giúp sức
Mức độ tham gia là mức độ mà người đó tham gia vào đồng phạm và việcthực hiện đồng phạm như tham gia đến cùng hay tự ý nửa chừng chấm dứt việc
Trang 9phạm tội… Dựa trên tính chất nguy hiểm cho xã hội để xác định mức độ tham giacủa người phạm tội.
Việc xác định TNHS đối với những người đồng phạm còn phải dựa trênnguyên tắc chung được áp dụng cho tất cả những trường hợp phạm tội và nguyêntắc cá thể hóa tội phạm Cụ thể là:
- Những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm
- Những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực
vụ động phạm
Những người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá củangười đồng phạm khác Hành vi vượt quá của người đồng phạm chính là hành vivượt ra ngoài ý định chung của những người đồng phạm và hành vi đó có thể đãcấu thành tội khác hoặc cấu thành tình tiết tăng nặng định khung Hành vi vượt quáthông thường được hiểu là hành vi vượt quá của người thực hành
Việc miễn TNHS hoặc miễn hình phạt đối với người đồng phạm này không loại trừTNHS đối với người đồng phạm khác
Hành vi của người tổ chức, xúi giục hay giúp sức dù chưa đưa đến thực hiện tộiphạm vẫn phải chịu TNHS
Trang 10Sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người đồng phạm này không loạitrừ TNHS của những người đồng phạm khác.
- Khi xác định TNHS của những người đồng phạm cần tuân thủ nguyên tắc
cá thể hóa TNHS,
.Trong vụ đồng phạm, những người tham gia tuy phạm cùng tội nhưng tínhchất và mức độ tham gia của mỗi người có khác nhau, tính chất, mức độ nguy hiểmcủa hành vi của mỗi người cũng khác nhau Do vậy TNHS của mỗi người phảiđược xác định khác nhau
Câu 5 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc thi hành án hình sự
Công tác kiểm sát vụ án hình sự của VKS được thể hiện trong các giai đoạn
tố tụng khác nhau có những nhiệm vụ và quyền hạn riêng Cụ thể nhiệm vụ, quyềnhạn của VKS trong công tác kiểm sát thi hành án hình sự được quy định tại Luật tổchức VKSND năm 2014:
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, cơquan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành ánhình sự, người có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thihành án hình sự
Khi kiểm sát thi hành án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ,quyền hạn sau đây:
Thứ nhất, Yêu cầu Tòa án ra quyết định thi hành án hình sự; yêu cầu Tòa án,
cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành
án hình sự tự kiểm tra việc thi hành án hình sự và thông báo kết quả cho Viện kiểmsát nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc thi hành án hình sự.(Điểm a khoản 2 điều 25)
Trang 11Thứ hai, Trực tiếp kiểm sát việc thi hành án hình sự; kiểm sát hồ sơ thi hành
án hình sự Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực tiếpkiểm sát việc thi hành án phạt tù của trại giam đóng tại địa phương ((Điểm b khoản
Thứ năm, Kháng nghị hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật của cơ quan,người có thẩm quyền trong việc thi hành án hình sự(Điểm đ khoản 2 điều 25)
Thứ sáu, Kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chấm dứt, khắc phục
vi phạm pháp luật trong thi hành án hình sự; xử lý nghiêm minh người viphạm(Điểm e khoản 2 điều 25)
Thứ bảy, Khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khiphát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm trong thi hành án hình sự theo quy định củapháp luật(Điểm g khoản 2 điều 25)
Thứ tám,Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát thi hành ánhình sự theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự(Điểm h khoản 2 điều25)
Câu 6 Phân tích phòng vệ chính đáng, điều kiện vượt quá phòng vệ chính đáng
Khái niệm phòng vệ chính đáng
Điều 15 BLHS 1999 có quy định về vấn đề Phòng vệ chính đáng, cụ thể như
sau: “ Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà
Trang 12chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm ”.
Theo đó, một người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệquyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách
“cần thiết” người đang có hành vi tấn công hiện hữu xâm phạm các lợi ích nói trênmặc dù gây thiệt hại cho người có hành vi tấn công, thì hành vi này được coi làphòng vệ chính đáng và người phòng vệ không bị coi là tội phạm
Việc phòng vệ chính đáng nói trên phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Thứ nhất, hành vi tấn công của người có hành vi vi phạm phải là đang hiệnhữu xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chínhđáng của công dân Đây là điều kiện đầu tiên phải nói đến trong phòng vệ chínhđáng, ta chỉ nói đến phòng vệ chính đáng khi có hành vi của con người đang gâythiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội Không thể coi một hành vi là phòng
vệ chính đáng khi xâm hại đến người mà hành vi của họ không gây nguy hiểm cho
xã hội
- Thứ hai, hành vi nguy hiểm cho XH đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gâythiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ Hành vi tấncông của con người là cơ sở của quyền phòng vệ chính đáng nhưng nó chỉ là cơ sởchừng nào còn đang xảy ra hoặc đe dọa sẽ xảy ra ngay tức khắc Khi hành vi tấncông đã chấm dứt có nghĩa là không còn đòi hỏi phải có hành vi ngăn chặn
- Thứ ba, PVCĐ không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công mà còn cóthể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại
- Thứ tư, người phòng vệ có sự chống trả lại một cách cần thiết người đang
có hành vi tấn công ngay cả những trường hợp có biện pháp khác tránh được sự tấn
Trang 13công (sự chống trả này phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vitấn công đặt trong hoàn cảnh cụ thể và để đánh giá được hành vi phòng vệ là cầnthiết, phù hợp là tương đối phức tạp cà cần phải dựa vào một số căn cứ sau: tínhchất của quan hệ xã hội bị xâm hại, mức độ thiệt hại bị đe dọa gây ra, sức mạnh vàsức mãnh liệt của hành vi tấn công, tính chất và mức độ nguy hiểm của phươngpháp và phương tiện hay công cụ mà người tấn công sử dụng ).
- Vượt quá phòng vệ chính đáng
Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mứccần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vixân hại (khoản 2 điều 15 BLHS)
Đây là những trường hợp người phòng vệ đã dùng những phương tiện vàphương pháp gây ra thiệt hại quá đáng cho người xâm hại mà tính chất và mức độnguy hiểm của hành vi cũng như hoàn cảnh cụ thể chưa đòi hỏi phải dùng cácphương tiện và phương pháp đó
Nếu hành vi chống trả của người phòng vệ rõ ràng quá mức cần thiết, khôngphù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại thì đó
là vượt quá phòng vệ chính đáng và người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệchính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự và các hành vi tương ứng như: giết người
do vượt quá phòng vệ chính đáng, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác do vượt quá phòng vệ chính đáng
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu tráchnhiệm hình sự Tuy nhiên theo điều 46 thì vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
là tình tiết giảm nhẹ TNHS
Câu 7 Phân tích biện pháp tạm giữ
Khái niệm tạm giữ
Trang 14Điều 86 BLTTHS năm 2003 quy định : “ Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan và những người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo lệnh truy nã"
Mục đích tạm giữ là nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc hành vi cản trởviệc điều tra khám phá tội phạm của người bị nghi là thực hiện hành vi phạm tội,tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền đủ thời gian để xác định tính chất, mức độcủa hành vi; nhân thân của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội để từ đó
có thể quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc không khởi tố vụ ánhình sự, khởi tố bị can hoặc các quyết định pháp lý cần thiết khác như: tạm giam,
áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác hay trả tự do cho người bị bắt…
Chẳng hạn như, mục đích của tạm giữ đối với người bị bắt trong trường hợpkhẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú là để ngăn chặn hành
vi phạm tội, hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở hoạt động điều tra của ngườiphạm tội, tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra thu thập chứng cứ tài liệu, bước đầuxác định tính chất hành vi của người bị tạm giữ Còn tạm giữ đối với người bị bắttheo lệnh truy nã để có thời gian cho cơ quan đã ra quyết định truy nã đến nhậnngười bị bắt
2 Đối tượng tạm giữ
Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn cần thiết có tác dụng ngăn chặn kịp thờihành động phạm tội; đồng thời giữ kẻ bị tình nghi phạm tội lại để xem xét xử lý.Đối tượng có thể bị tạm giữ được quy định tại Điều 86 BLTTHS năm 2003 baogồm: người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp; người bị bắt trong trường hợp phạmtội quả tang; người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy
nã Nhưng sau khi bị bắt trong các trường hợp nêu trên, người bị bắt chưa chắc đã
Trang 15bị tạm giữ ví dụ như trong trường hợp người bị bắt phạm tội quả tang nhưng sựviệc phạm tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người bị bắt có nơi cư trú rõ ràng vàkhông có hành động, biểu hiện sẽ cản trở việc điều tra thì không cần phải tạm giữ.Còn đối với bắt người trong trường hợp khẩn cấp thường phải tạm giữ vì trong hầuhết các trường hợp khi quyết định bắt khẩn cấp, Cơ quan điều tra đã xác định cầnphải ngăn chặn việc người đó trốn hoặc cản trở điều tra Hoặc đối với người bị bắttheo lệnh truy nã việc tạm giữ chỉ đặt ra khi xét thấy cơ quan đã ra lệnh truy nãkhông thể đến ngay để nhận người bị bắt
Qua đó ta có thể thấy rằng, biện pháp tạm giữ là một biện pháp ngăn chặnđộc lập, việc quy áp dụng biện pháp này phải có những căn cứ nhất định chứ khôngphụ thuộc vào biện pháp bắt, hay nói cách khác, biện pháp tạm giữ không phải làbiện pháp ngăn chặn bắt buộc phải áp dụng sau khi bắt người Như vậy sau khi bịbắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang , hoặc khi người phạm tội rađầu thú, tự thú thì họ có thể không bị tạm giữ trong các trường hợp sau đây:
- Các cơ quan có thẩm quyền xác đinh được ngay việc bắt khẩn cấp hoặc bắtquả tang đối với họ là không có căn cứ
- Ngay sau khi bắt người khẩn cấp hoặc bắt người phạm tội quả tang, ngaysau khi có người ra tự thú, đầu thú các cơ quan có thẩm quyền đã xác định đượcđầy đủ căn cứ để có thể khởi tố vụ án hoặc khởi tố bị can đối với người bị bắt,người tự thú, đầu thú nên đã ra các quyết định khởi tố cần thiết và cũng đã xác địnhđược ngay căn cứ để có thể tạm giam đối với họ nên đã gia lệnh tạm giam 2 đối với
bị can mà không cần tạm giữ Hoặc ngay sau khi bắt khẩn cấp hoặc phạm tội quảtang, ngay sau khi có người ra tự thú, đầu thú đã xác định đầy đủ căn cứ để khởi tố
vụ án và khởi tố bị can nên cơ quan có thẩm quyền không ra quyết định tạm giữ,rồi sau khi đã ra quyết định khởi tố cần thiết nhưng xét thấy không cần thiết phảitạm giam bị can nên cơ quan có thẩm quyền để cho bị can được tại ngoại mà không
Trang 16cần thiết phải tạm giam bị can Ngoài các trường hợp nêu trên, nếu sau khi bắt khẩncấp hoặc bắt quả tang, các cơ quan có thẩm quyền bắt đã gửi lệnh bắt cho Việnkiểm sát để Viện kiểm sát kiểm sát việc bắt và Viện kiểm sát đã không phê chuẩnviệc đó thì cũng không được ra quyết định tạm giữ đối với người bị bắt
3 Thẩm quyền tạm giữ
Khoản 2 Điều 86 BLTTHS quy định “ Những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này, Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển có quyền ra quyết định tạm giữ” Theo khoản 2 Điều 86 quy định về thẩm
quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp thì có bốn nhóm người cóquyền ra lệnh bắt khẩn cấp, gồm những nhóm người sau đây:
- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp (gồm: cơ quan điều tratrong công an nhân dân, cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, cơ quan điều tracủa Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
- Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương;người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới
- Người chỉ huy tàu bay, sân bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sânbay, bến cảng
- Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển
Theo quy định BLTTHS 2003 thì cơ quan điều tra cấp huyện trở lên mới cóquyền ra lệnh tạm giữ Chính quyền và công an cấp xã, phường, thị trấn không cóquyền tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự Thực hiện quy định này, khi nhậnngười bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì UBND
xã, phường hoặc thị trấn phải tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, biên bảnbắt người đang bị truy nã và giải ngay người bị bắt đến cơ quan có thẩm quyền
Trang 17Như vậy, những người có quyền ra quyết định tạm giữ không hoàn toàn là nhữngngười đại diện của các cơ quan tiến hành tố tụng mà bao gồm cả những người củacác cơ quan Nhà nước khác hoặc trong lực lượng vũ trang
4 Thủ tục tạm giữ
Theo quy định tại khoản 3 Điều 86 BLTTHS 2003, việc tạm giữ phải có lệnhviết của người có thẩm quyền Lệnh tạm giữ phải ghi rõ lý do tạm giữ, thời hạn tạmgiữ, ngày hết hạn tạm giữ và giao cho người bị tạm giữ một bản Nếu việc tạm giữkhông có lệnh của người có thẩm quyền, người bị tạm giữ có quyền yêu cầu trả tự
do cho họ
Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra lệnh tạm giữ, lệnh tạm giữ phải được gửicho Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Khikiểm sát việc tạm giữ, nếu thấy việc tạm giữ không đúng pháp luật hoặc không cầnthiết phải tạm giữ thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ lệnh tạm giữ và cơ quan
đã ra lệnh tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ
Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ lệnh tạm giữ trong những trường hợp sauđây:
- Người bị tạm giữ không phải là người bị bắt quả tang trong trường hợp khẩn cấp,trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và không phải là người phạm tội
Trang 185 Thời hạn tạm giữ.
Điều 87 BLTTHS năm 2003 quy định: “ 1 Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày, kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt 2 Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá ba ngày Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần hai nhưng không quá 3 ngày Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn: trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được
đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn 3 Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ 4 Thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam” Việc quy định được gia hạn tạm giữ cụ thể quy định có thể gia hạn tạm
giữ hai lần nhằm bảo đảm tính có căn cứ và cần thiết của việc tạm giữ, hạn chế hiệntượng tạm giữ tràn lan, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bịtạm giữ, do vậy đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải nhận thức rõ vấn đề này đểbảo đảm áp dụng pháp luật được tốt Ngoài ra việc đặt ra quy định khi gia hạn tạmgiữ cần có quyết định phê chuẩn của viện kiểm sát cùng cấp nhằm bảo đảm quyềnlợi cho công dân tránh tình trạng do những mâu thuẫn cá nhân ảnh hưởng đếnquyền lợi của người bị tạm giữ
Khoản 4 Điều 87 quy định thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam.Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam Quy định này có mục đíchnhân đạo, do vậy cho phép nếu sau đó người bị tạm giữ bị khởi tố bị can và họ tạmgiam thì được trừ đi thời hạn họ đã bị tạm giữ vào thời hạn tam giam Tuy nhiênsau này, nếu như người phạm tội bị Tòa án kết án tù có thời hạn thì pháp luật ViệtNam vẫn cho phép trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam vào thời hạn họ phải chấp hànhhình phạt tù Điều 33 BLHS năm 1999 quy định “Thời gian tạm giữ, tạm giam
Trang 19được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằngmột ngày tù”
Điểm mới về thời hạn tạm giữ trong BLTTHS 2003 so với BLTTHS 1988 là
bổ sung về thời hạn trong khoảng thời gian 12 giờ Viện kiểm sát phải ra quyết địnhphê chuẩn hay không phê chuẩn quyết định ra hạn tạm giữ Điều này góp phần đảmbảo quyền lợi của người bị tạm giữ
Câu 8 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam.
Khái niệm tạm giữ, tạm giam
Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan và nhữngngười có thẩm quyền áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp,phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theolệnh truy nã (Điều 86 BLTTHS)
Tạm giam là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan, cánhân có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo trong trường hợp bị can, bị cáophạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng; bị can, bị cáo phạm tộinghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt trênhai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy
tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội (khyoanr 1 điều 88 BLTTHS)
Nhiệm vụ, quyển hạn của VKS nhân dân khi kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam
Công tác kiểm sát vụ án hình sự của VKS được thể hiện trong các giai đoạn
tố tụng khác nhau có những nhiệm vụ và quyền hạn riêng Cụ thể nhiệm vụ, quyềnhạn của VKS trong công tác kiểm sát việc việc tuân theo pháp luật của cơ quan,
Trang 20người có thẩm quyền trong việc tạm giữ, tạm giam được quy định tại Luật tổ chứcVKSND năm 2014 và BLTTHS 2003:
Thứ nhất, hủy bỏ quyết định tạm giữ không có căn cứ hoặc không thiết Trongthời hạn 12 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ phải được gửicho Viện kiểm sát cùng cấp Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặckhông cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người
ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ (khoản 3 điều 86BLTTHS)
Thứ hai, trực tiếp ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh tạmgiam của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp Trong thời hạn bangày, kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ, tài liệuliên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặcquyết định không phê chuẩn Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điềutra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn (khoản 3 điều 88 BLTTHS)
Thứ ba, Trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam; hỏi người bị tạmgiữ, tạm giam về việc tạm giữ, tạm giam;
Thứ tư Kiểm sát hồ sơ tạm giữ, tạm giam;
Thứ năm, Yêu cầu Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam tự kiểmtra việc tạm giữ, tạm giam và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân; cungcấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc tạm giữ, tạm giam; thông báo tình hình tạmgiữ, tạm giam; trả lời về quyết định, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luậttrong việc tạm giữ, tạm giam;
Thứ sáu, Quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, tạm giam không cócăn cứ và trái pháp luật;
Trang 21Thứ bảy, Kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyềntrong việc tạm giữ, tạm giam đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định
có vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, chấm dứt hành vi vi phạm phápluật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật;
Thứ tám, Khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khiphát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm trong tạm giữ, tạm giam theo quy định củapháp luật;
Thứ chín, Giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạnkhác trong kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật
Câu 9 Lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý do quá tự tin
1 Lỗi cố ý gián tiếp
Khái niệm lỗi cố ý gián tiếp
Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả củahành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậuquả xảy ra (điều 9 BLHS)
Sự nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội chỉ có thể là sự thấy trước hậuquá đó có thể xảy ra Không thể có trường hợp người phạm tội đã thấy trước hậuquả tất nhiên phải xảy ra mà lại có thái độ để mặc, không mong muốn hậu quả đókhi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Thái độ có ý thức để mặc cho hậu quảnguy hiểm cho xã hội xảy ra chỉ có thể có được trong trường hợp thấy trước cả haikhả năng- khả năng hậu quả xảy ra và khả năng hậu quả không xảy ra
Từ phân tích trên có thể rút ra những dấu hiệu của lỗi cố ý gián tiếp như sau:
- Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội củahành vi của mình, thấy trước hành vi đó có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xãhội
Trang 22- Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hậu quả nguy hiểm cho xã hộixảy ra Hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà người phạm tội đã thấy trước không phùhợp với mục đích của họ Người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
là nhằm mục đích khác Chính để đạt được mục đích này mà người phạm tội đãchấp nhận hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình có thể gây ra Ngườiphạm tội với lỗi cố ý gián tiếp tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc đốivới hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình mà họ đã thấy trước
VD: A dùng dao chém B vào đùi với mục đích để cảnh cáo B nhưng sau đó
bỏ về nhà Do không được cấp cứu kịp thời, máu ra nhiều nên B đã chết
2 Lỗi vô ý vì quá tự tin
Khái niệm lỗi vô ý vì quá tự tin
Lỗi vô ý phạm tội vì quá tự tin là lỗi trong TH người phạm tội tuy thấy trướchành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậuquả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đã gây rahậu quả nguy hại đó (điều 10 BLHS)
Về lý trí: Người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội củahành vi của mình, thể hiện ở chỗ thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội mà hành
vi của mình có thể gây ra Tuy nhiên, người phạm tội trong trường hợp vô ý vì quá
tự tin thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra nhưng đồng thời lạicho rằng hậu quả đó không xyar ra Như vậy, trước sự thấy trước hậu quả nguyhiểm cho xã hội ở đây thực chất chỉ là sự cân nhắc khả năng hậu quả xảy ra haykhông và kết quả là người phạm tội đã loại trừ khả năng hậu quả xảy ra Thấy trướcđược hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra nhưng lại tin tưởng rằng hậu quả
đó không xảy ra
Chính sự tin tưởng này thể hiện người phạm tội đã không nhận thức đượcmột cách đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
Trang 23Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hành vi của mình gây ra hậuquả nguy hiểm cho xã hội Sự không mong muốn này khác với không mong muốn
ở trường hợp cố ý gián tiếp vì người phạm tội đã loại trừ khả năng hậu quả xảy ra,
họ đã tính toán, cân nhắc và cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngănngừa được
VD: A điều khiển xe ô tô trên đường nhìn thấy B chuẩn bị sang đường nhưngnghĩ B sẽ sang từ từ và mình có thể tránh được Không may B sang đột ngột làm Akhông thể tránh nên gây ra tai nạn làm B chết
Câu 10 Điều kiện áp dụng biện pháp cải tạo không giam giữ
Khái niệm biện pháp cải tạo không giam giữ
Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính có thời hạn từ sáu tháng đến banăm được áp dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêmtrọng, có nơi làm việc ổn định hoặc nơi thường trú rõ ràng khi xét thấy không cầnthiết phải cách li người phạm tội khỏi xã hội (điều 31 BLHS)
Trong hệ thống hình phạt, cải tạo không giam giữ nhẹ hơn hình phạt tùnhưng nặng hơn phạt tiền và cảnh cáo Cải tạo không giam giữ không buộc người
bị kết án phải cách li khỏi xã hội Do vậy, cải tạo không giam giữ chỉ áp dụng đốivới người phạm tội khi có các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, người phạm tội phạm vào tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạmnghiêm trọng Tội phạm ít nghiêm trọng là loại tội mà mức cao nhất của khunghình phạt đối với tội ấy là đến 3 năm tù giam Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm
mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó là đến 7 năm tù giam Vì hìnhphạt nhẹ hơn hình phạt tù và không phải cách li khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo,cho nên cải tạo không giam giữ chỉ áp dụng cho những trường hợp phạm tội ítnghiêm trọng hoặc nghiêm trọng
Trang 24Thứ hai, người phạm tội có nơi làm việc ổn định hoặc nơi thường trú rõ ràng.Những yếu tố cơ bản đưa đến hiệu quả của cải tạo không giam giữ là sự giám sátcủa cơ quan, tổ chức xã hội, chính quyền địa phương, sự phối hợp của gia đình vớicác cơ quan, tổ chức nói trên trong việc giáo dục và sự tự cải tạo của người bị kết
án qua hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tại địa phương Chính vì vậy, cải tạokhoonhg giam giữ chỉ áp dụng khi người phạm tội đang có nơi làm việc ổn địnhhoặc có nơi thường trú rõ ràng
Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính, cho nên Tòa án còn có thể quyếtđịnh thêm hình phạt bổ sung mà luật có quy định đối với tội đó
Câu 11 Nghĩa vụ của người bị kết án cải tạo không giam giữ
- Khái niệm biện pháp cải tạo không giam giữ
Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính có thời hạn từ sáu tháng đến banăm được áp dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêmtrọng, có nơi làm việc ổn định hoặc nơi thường trú rõ ràng khi xét thấy không cầnthiết phải cách li người phạm tội khỏi xã hội (điều 31 BLHS)
- Nghĩa vụ của người bị kết án cải tạo không giam giữ
Người bị kết án cải tạo không giam giữ có nghĩa vụ được quy định tại điều 4
NĐ số 60/2000/NĐ - CP quy định về việc thi hành hình phạt cải tạo không giamgiữ:
Thứ nhất, Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước; tích cực thamgia lao động, học tập, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, quy ước của thôn, làng,
ấp, bản, cụm dân cư nơi mình cư trú;
Trang 25Thứ hai, Làm bản cam kết với cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục, trong đónêu rõ nội dung quyết tâm và hướng sửa chữa lỗi lầm của mình Bản cam kết phải
có ý kiến của người được phân công trực tiếp giám sát, giáo dục
Thứ ba, Thực hiện nghiêm chỉnh bản cam kết của mình, phải tích cực sửachữa lỗi lầm; làm ăn lương thiện và tham gia các hoạt động chung tại cộng đồngnơi mình cư trú;
Thứ tư, Ghi chép đầy đủ các nội dung quy định trong sổ theo dõi và nộp chongười trực tiếp giám sát, giáo dục khi hết thời hạn cải tạo không giam giữ;
Thứ năm, Chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung và nghĩa vụ bồi thườngthiệt hại (nếu có);
Thứ sáu, Hàng tháng phải báo cáo bằng văn bản với người trực tiếp giám sát,giáo dục về tình hình rèn luyện, tu dưỡng của mình; trong trường hợp người bị kết
án vắng mặt khỏi nơi cư trú trên 30 ngày, thì bản báo cáo phải có nhận xét của cảnhsát khu vực hoặc công an xã nơi người đó đến tạm trú;
Thứ bảy, Ba tháng một lần phải tự kiểm điểm về kết quả thực hiện bản camkết của mình nói tại điểm 2 Điều này trước tập thể nơi mình làm việc, học tập hoặc
cư trú theo quy định tại Điều 8 của Nghị định này;
Thứ tám, Khai báo và giao nộp đầy đủ phần thu nhập bị khấu trừ theo quyếtđịnh của Tòa án là thi hành án dân sự Nếu không nộp đúng hạn thì phải chịu lãisuất theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Thứ chín, Phải có mặt khi cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục yêu cầu;
Thứ mười, Trong trường hợp người bị kết án cần đi khỏi nơi cư trú:
+ Nếu là cán bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người laođộng làm công ăn lương, thì phải xin phép Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi mình
Trang 26làm việc, đồng thời báo cho tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản hoặccảnh sát khu vực, công an xã nơi mình cư trú;
+ Nếu là người đang học tập tại cơ sở giáo dục, đào tạo thì phải xin phéplãnh đạo cơ sở giáo dục, đào tạo, đồng thời báo cho tổ trưởng tổ dân phố, trưởngthôn, làng, ấp, bản hoặc cảnh sát khu vực, công an xã nơi mình cư trú;
+ Nếu là người được giao cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn giámsát, giáo dục thì phải báo với người trực tiếp giám sát, giáo dục mình; trong trườnghợp đi khỏi nơi cư trú trên 30 ngày thì phải báo cáo bằng văn bản gửi Chủ tịch Uỷban nhân dân xã, phường, thị trấn giám sát, giáo dục, trong đó ghi rõ thời gian vắngmặt, nơi đến tạm trú;
+ Trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c khoản 10 Điều này, nếungười bị kết án đi khỏi nơi cư trú qua đêm thì khi đến nơi phải trình báo ngay vànộp sổ theo dõi người bị kết án cho cảnh sát khu vực hoặc công an xã nơi đến tạmtrú
Câu 12 Phân tích kiểm sát tuân theo pháp luật trong TTHS
Khái niệm kiểm sát tuân theo pháp luật
Theo khoản 2 Điều 23 BLTTHS quy định: “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này”
Theo đó, trong quá trình tiến hành tố tụng Viện kiểm sát còn kiểm sát việctuân theo pháp luật (kiểm sát hoạt động tư pháp) đối với Cơ quan tiến hành tố tụng;Người tiến hành tố tụng; Người tham gia tố tụng nhằm bảo đảm cho pháp luật được
Trang 27thi hành thống nhất, không để cơ quan, cá nhân nào làm trái quy định của pháp luật,gây oan sai cho người vô tội.
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự:
Theo khoản 3 Điều 23 BLTTHS quy định: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội” Theo đó, Viện kiểm sát thực hành
quyền công tố phải gắn với kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sựnhằm bảo đảm từ việc tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tốđến việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án bảo đảm đúng người, đúngtội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người
vô tội
Như vậy, theo khoản 3 Điều 23 BLTTHS Viện kiểm sát ngoài kiểm sát việctuân theo pháp luật đối với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng,người tham gia tố tụng còn có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật tronglĩnh vực thi hành án (Điều 257 BLTTHS)
Theo đó, trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, Viện kiểm sát không thểtách rời hoạt động thực hành quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theopháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách độc lập mà hai chức năng đóphải thực hiện song trùng và có sự tác động tương hỗ lẫn nhau
Chẳng hạn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quyết định phê chuẩn quyếtđịnh khởi tố bị can; phê chuẩn lệnh bắt tạm giam đối với Nguyễn Văn A; phạm tộiGiết người đúng người, đúng tội, đúng pháp luật là kết quả Kiểm sát viên C thựchành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, bắt tạmgiam, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tramột cách chặt chẽ, tuân thủ đúng pháp luật Nhờ đó, mọi hành vi phạm tội của A đã
Trang 28được phát hiện, xử lý kịp thời, Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định khởi tố bị can,phê chuẩn lệnh bắt tạm giam… đối với A bảo đảm đúng người, đúng tội, đúngpháp luật.
Câu 13 Căn cứ cho hưởng án treo Phân biệt án treo và án cải tạo không giam giữ
Khái niệm án treo
Án treo là một biện pháp chấp hành hình phạt tù
Theo quy định tại Điều 60 BLHS: “ Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn
cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm” Tuy nhiên, điều luật không quy định các
điều kiện cụ thể để áp dụng biện pháp án treo đối với người phạm tội
Căn cứ cho hưởng án treo
Tại Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007, Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn, chỉ cho người bị xử phạt tù hưởng ántreo khi có đủ các điều kiện:
- Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì Trường hợp
người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hìnhphạt chung không quá ba năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo
- Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấphành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa
có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng
- Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó
có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS
Trang 29Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảmnhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên.
- Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho
xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tộiphạm”
Như vậy, người phạm hai tội (đều là tội ít nghiêm trọng) và đã bị tạm giamthì vẫn có thể được hưởng án treo nếu có đủ điều kiện nói trên, tuy nhiên, tòa án chỉcho người đó hưởng án treo khi thời gian đã bị tạm giam ngắn hơn thời hạn phạt tù
Phân biệt án treo và án cải tạo không giam giữ
- Điểm giống: án treo và cải tạo không giam giữ đều không bắt người bị kết áncách ly ra khỏi xã hội mà buộc họ phải tự cải tạo giáo dục dưới sự quản lý giáo dụccủa chính quyền địa phương, cả người bị án treo và cải tạo không giam giữ đều cóthể bị áp dụng thêm các hình phạt bổ sung
- Song giữa hai chế định này có sự khác nhau rất lớn:
+ Về bản chất:
Án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt có điều kiện, còn cải tạokhông giam giữ lại là một loại hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của luậthình sự
Khi tuyên cho người phạm tội được hưởng án treo, tòa án phải thực hiện qua haibước:
Bước 1 Quyết định một mức hình phạt tương ứng với tính chất và mức độ nguyhiểm của hành vi phạm tội (và để được xem xét hưởng án treo thì mức hình phạtphải từ ba năm trở xuống)
Bước 2 Tòa án xem xét, đối chiếu với các điều kiện để cho hưởng án treo vàkhi thấy thỏa mãn thì quyết định cho hưởng án treo
Trang 30Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ thì khi quyết định tòa án chỉ cần xemxét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, rồi quyết định trựctiếp luôn hình phạt cải tạo không giam giữ.
án treo rộng hơn hình phạt cải tạo không giam giữ và có mức độ nghiêm khắc hơncải tạo không giam giữ
+ Về hậu quả pháp lý:
Trong thời gian thử thách nếu người bị kết án treo phạm tội mới thì hậu quảpháp lý của họ rất nặng nề Họ phải chịu hình phạt tổng hợp của cả hai bản án –hình phạt của tội trước tổng hợp với hình phạt của tội mới
Đối với người bị hình phạt cải tạo không giam giữ nếu phạm tội mới trong thờigian chấp hành hình phạt, thì họ chỉ phải chịu phần còn lại của hình phạt cải tạokhông giam giữ (chuyển thành hình phạt tù, cứ 03 ngày cải tạo không giam giữthành 01 ngày tù) rồi tổng hợp theo nguyên tắc tổng hợp hình phạt chung (Điều 51BLHS 1999)
Người phạm tội bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ thì có thể bị khấutrừ một phần thu nhập để sung quỹ nhà nước cụ thể của mức khấu trừ này là từ 5%đến 20% thu nhập của người đó Quy định này không áp dụng đối với án treo màvới án treo thì người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạttiền Như vậy, giữa án treo và cải tạo không giam giữ có sự khác biệt rất rõ nét và
án treo có hậu quả pháp lý nghiêm khắc hơn hình phạt cải tạo không giam giữ
Trang 31Câu 14 Phân tích nguyên tắc cung cấp chứng cứ để chứng minh trong TTHS, TTDS.
- Chủ thể có nghĩa vụ:
+ Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và
chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
+ Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợpphác của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh nhưđương sự
+ Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp
do BLTTHS và BLTTDS quy định
- Nội Dung
+ Đương sự có nghĩa vụ chứng minh nên khi không đưa ra được chứng cứhoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minhđược hoặc chứng minh không đầy đủ đó (khoản 4 Điều 79) Hậu quả đó có thể làyêu cầu hoặc phản đối yêu cầu mà đương sự đưa ra không được Toà án chấp nhậnhoặc chỉ được Toà án chấp nhận một phần…;
+ Vai trò của Toà án trong việc xác minh, thu thập chứng cứ được đổi mớitheo hướng Toà án chỉ áp dụng một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ trongnhững trường hợp luật định và việc tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ củaTòa án phải tuân theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do Bộ luật này quy định (từ khoản 2Điều 85 - Điều 94); trường hợp xét thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc chưa đủ
cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán không được tự mình xác minh, thu thập mà phảiyêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ (khoản 1 Điều 85)
Trang 32Về nguyên tắc tòa án chỉ tiến hành xác minh thu thập chứng cứ trong trườnghợp đương sự đã áp dụng mọi biện pháp để thu thập chứng cứ nhưng không có kếtquả thì đương sự có thể yêu cầu Toà án tiến hành thu thập chứng cứ (Điểm d khoản
2 Điều 58 BLTTDS)
Trong trường hợp này, đương sự phải làm đơn yêu cầu toà án, trong đơn ghi
rõ vấn đề cần chứng minh, chứng cứ thu thập Lý do mà đương sự không thu thậpđược, tên cơ quan, tổ chức lưu giữ chứng cứ đó (Khoản 1 Điều 94 BLTTDS)
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc dân sự, căn cứ vào đơn yêucầu của đương sự có thể tiến hành một số biện pháp sau đây để thu thập chứng cứđược quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS gồm:
- Lấy lời khai của của đương sự, của người làm chứng;
- Trưng cầu giám định;
- Quyết định đánh giá tài sản;