Trong năm 1883 phương pháp thực nghiệm của họ đã trở thành mục tiêu chỉ trích của các nhà kinh tế học trường phái Áo đầu tiên, những người mà cho rằng kiến thức kinh tế đến từ sự phân tí
Trang 1Giới Thiệu Về Kinh Tế Học Của Trường Phái Áo
Lời mở đầu
Cuốn sách này là một cuốn giới thiệu độc giả đến với kinh tế học của Trường Phái Kinh Tế Áo Khác với trường phái chính thống như Keynes hay Tiền Tề, Trường Phái Áo nhấn mạnh tự do cá nhân, thị trường tự do
và phản đối bất cứ sự can thiệp nào của chính phủ vào thị trường Vài lập trường khác của Trường Phái Áo là tiền tệ chuẩn vàng, giao thương
tự do tuyệt đối và một chính phủ giới hạn đến mức tối thiểu Hy vọng các bạn sẽ tìm thấy cảm hứng để tìm hiểu thêm về Kinh Tế Học của Trường Phái Áo, không phải vì các trường phái khác có vấn đề mà vì
Trường Phái Áo có nhiều thứ mà các bạn ít khi nào nghe đến — Ku Búa
Chương 1 – Giới Thiệu
Lịch sử của tư tưởng kinh tế học, như những ngành học khác, cho thấy một sự hỗn hợp của các hệ thống tư tưởng đã được phân chia thành nhiều trường phái lý tưởng khác nhau Phương pháp phân loại lý tưởng này của nhiều nhà tư tưởng khác nhau chủ yếu tập trung vào những điểm tương đồng trong khi lấn át những điểm khác biệt Các nhà kinh tế học Thuyết Trọng Nông của Pháp (Physiocrat), những người đã nổi lên trong phần cuối của thế kỷ mười tám đã đại diện cho trường phái tư tưởng kinh tế học đầu tiên Kinh tế cổ điển, chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa
xã hội đã theo sau Trong giai đoạn sau của thế kỷ mười chín đã nổi dậy trong Tây Âu hai trường phái kinh tế học: Trường Phái Lịch Sử Đức và Trường Phái Kinh Tế Áo Trường Phái Lịch Sử Đức muốn khám phá sự thật về kinh tế qua phương pháp nghiên cứu lịch sử kinh tế Trong năm
1883 phương pháp thực nghiệm của họ đã trở thành mục tiêu chỉ trích của các nhà kinh tế học trường phái Áo đầu tiên, những người mà cho rằng kiến thức kinh tế đến từ sự phân tích lý thuyết chứ không phải từ
việc nghiên cứu lịch sử Trong hơn hai thập niên, Methodenstreit, hoặc
sự tranh cải về phương pháp kinh tế học, là một chủ đề đã gây tranh cãi
Chuyên khảo này là một nỗ lực để giải thích những ý tưởng tất yếu của Trường Phái Áo, một trường phái được bắt đầu với Carl Menger, một giáo
sư của ngành kinh tế chính trị tại Đại Học Vienna từ năm 1873 đến
1903 Vào năm 1871 trong cuốn sách Nguyên Tắc Kinh Tế (Grundsatze
der Volkswirtschaftslehre, Menger đã sản xuất một lý thuyết về giá trị
để giải quyết một câu hỏi đã từ lâu làm các nhà kinh tế học cổ điển bối
Trang 2rối Lý thuyết này là Thuyết Tương Đối Giá Trị dựa trên nguyên tắc hữu dụng cận biên Nó bác bỏ quan niệm cổ điển rằng giá trị của một món hàng là một sự đo lường tương đối nằm trong món hàng đó Các hàng hóa kinh tế từ đó được coi là được định giá một cách chủ quan xét theo mức độ hài lòng mà người dùng kỳ vọng sẽ đến từ việc sử dụng món hàng đó Một phân tích kỹ lưỡng hơn của thuyết chủ quan của giá trị, một thứ sau này trở thành một nền tảng của hệ thống kinh tế Trường Phái Áo, sẽ được trình bày trong các phần sau Nó được tiếp tục với hai học trò vĩ đại của Menger, Friedrich von Wieser và Eugen von Böhm-Bawerk, để điều chỉnh thuyết chủ quan và làm rõ những tác động của nó trong những lĩnh vực của chi phí, vốn và thuyết lãi suất
Wieser đã mở rộng ”vấn đề đầu vào” của Menger, một thứ giải thích rằng giá cả của tài nguyên hoặc chi phí tài nguyên được đến từ những giá kỳ vọng của hàng hóa tiêu thụ mà các tài nguyên đã được sử dụng
để sản xuất Sự hình thành của giá trị theo đó được chứng minh là một quá trình xoay tròn, và khái niệm về giá cả, một lỗ hổng trong thuyết của Menger, đã được kết chung vào thuyết chủ quan về giá trị ”Luật chi phí” của Wieser hoặc giáo lý của chi phí thay thế cho rằng các chi phí sản xuất một sản phẩm phản ánh sự cạnh tranh của các nhà sản xuất khác trong việc đấu giá để lấy những tài nguyên cần thiết để sản xuất Chi phí theo Wieser chỉ là một khoản thanh toán cần thiết để thu hút tài nguyên từ người (từ việc) muốn sử dụng nó một cách tối ưu tiếp theo
Đóng góp lớn của Böhm-Bawerk’s là thuyết về vốn và lãi suất của ông
ta Ông ta nhấn mạnh tầm quan trọng của thời gian trong quá trình kinh
tế và định nghĩa vốn là yếu tố sản xuất trong quá trình sản xuất Ý tưởng quan trọng trong phân tích của ông ta là các phương tiện ”vòng xoay” của sản xuất cho phép con người tăng năng suất lao động của mình, xét
từ mặt (1) sự gia tăng trong số lượng hàng hóa có thể sản xuất mà không cần dụng cụ và (2) số lượng hàng hóa chỉ có thể sản xuất qua việc sử dụng ‘tư liệu sản xuất’ (như dụng cụ, máy móc) Lượng thời gian chờ đợi đến từ việc sử dụng các quá trình gián tiếp đã cho ông ta cơ sở
để giải thích hiện tượng lãi suất Ông ta cho rằng con người đánh giá hàng hóa hiện tại cao hơn rất nhiều so với hàng hóa trong tương lai, nếu
cả hai tương đồng với nhau Lập luận này xây dựng cơ sở để biện minh cho mức chênh lệch giữa giá bán và chi phí, sự chênh lệch mà thuộc về các nhà tư bản những người cung cấp vốn để làm ra những hàng hóa trung gian và tư liệu sản xuất Lợi tức của họ là lãi suất cho khoảng thời
Trang 3gian mà tiền bạc của họ đã được sử dụng để sản xuất chứ không phải là
để bốc lột công nhân, như Marx đã ngộ nhận Vì vậy, thuyết chủ quan của giá trị đã được nới rộng để bao gồm Nguyên Tắc Ưu Đãi Thời Gian Mặc dù thuyết Trường Phái Áo về vốn đã được sửa đổi chút ít, phần giải thích của Böhm-Bawerk về lãi suất và quá trình xoay vòng hoặc sản xuất gián tiếp đã được lưu lại thành một vị trí quan trọng trong thuyết Kinh Tế Áo trong thời hiện tại
Hai triết gia hiện đại quan trọng của Trường Phái Áo là Ludwig Von Mises
và Friedrich von Hayek Mises đã thu hút được sự chú ý rộng rãi từ các nhà kinh tế khác từ thập niên 1920 với sự thách thức rằng chủ nghĩa xã hội hoàn toàn bất khả thi trong một nền kinh tế hiện đại bởi vì nó thiếu giá cả thị trường, một thứ đối ông ta là không thể thiếu để phân phối tài nguyên một cách hợp lý và tối ưu Cả Mises và Hayek đã đóng góp rất nhiều trong việc xây dựng các thuyết của Kinh Tế Áo thành một hệ thống Sự giải thích của họ rằng sự biến động của chu kỳ kinh tế là một kết quả đến từ sự nới rộng tín dụng bất kiểm soát dưới bàn tay của chính phủ đã đóng góp thêm một phần quan trọng cho Trường Phái Áo Chuyên môn của Hayek về vấn đề ‘kiến thức trong xã hội’ và nhu cầu quan trọng trong việc phối hợp các hành động những thành viên trong thị trường linh động đã cung cấp những hiểu biết vô cùng quan trọng trong kinh tế học Cuốn sách này sẽ lấy rất nhiều ý tưởng từ Hayek và Mises, cùng với hai học trò của Mises, Israel Kirzner và Murray Rothbard,
cả hai đều đã đóng góp rất nhiều đến sự minh bạch và xây dựng của góc nhìn Kinh Tế Trường Phái Áo
Mặc dù Trường Phái Áo không còn khác biệt từ các trường phái khác trong việc chấp nhận thuyết chủ quan của giá trị, nhưng Trường Phái Áo vẫn còn nhiều cái nhìn đặc trưng không thể thiếu trong cách Trường Phái Áo tiếp cận kinh tế học, những thứ làm nó khác biệt so với các trường phái khác
Một trong những đặc trưng đó là lập trường phương pháp trong cách
phân tích kinh tế học Ở trên đã đề cập đến cuốn Methodenstreit mà
Menger đã bắt đầu trong năm 1883 Cách phân tích kinh tế của Trường Phái Áo được thực hiện chủ yếu trên cơ sở lý thuyết, lý luận diễn dịch; kinh nghiệm (thí nghiệm) luận chiếm rất ít trong lý thuyết Kinh Tế Áo –
vì vậy nên họ luôn đối lập với Trường Phái Lịch Sử Đức Hiện tượng kinh
Trang 4tế, có nguồn gốc từ môi trường xã hội, được cho là quá phức tạp và bất định bởi các nhà Kinh Tế Áo để cho phép thực hiện những cuộc phân tích dựa trên thí nghiệm mà các nhà khoa học vật lý sử dụng Dựa theo
đó, thuyết Kinh Tế Áo phản đối trên cơ sở phương pháp việc sử dụng toán học như một dụng cụ để phân tích kinh tế Sự hiểu biết về khái niệm, chứ không phải các mối quan hệ định lượng, được xem là cơ sở có
ý nghĩa duy nhất cho ngành khoa học kinh tế Menger, cha đẻ của Trường Phái Áo, luôn nhấn mạnh phương pháp phân tích tính chất trong các bài viết của ông, cũng như những người nối nghiệp ông
Điểm đặc trưng thứ hai về thuyết Trường Phái Áo là phương pháp chủ nghĩa cá nhân Các nhà Kinh Tế Áo tin rằng hiện tượng kinh tế không phải là sự biểu hiện của bất cứ lực lượng xã hội nào hay một tổ chức đại diện nào như “xã hội.” Thay vào đó, các hiện tượng kinh tế là kết quả của những hành động cá nhân tham gia vào các hoạt động kinh tế Tổng quá trình hoạt động kinh tế không thể nào có thể hiểu được, trừ việc phân tích những yếu tố căn bản, đó chính là các hành động của các cá nhân trong nền kinh tế
Các phân tích của Trường Phái Áo sử dụng hành động con người như dữ liệu tự nhiên và các thực trạng khó khăn của con người Các giá trị cá nhân của con người và các hành động của con người, đứng giữa các phương tiện có giới hạn bao gồm kiến thức từ nhận thức, được đặt làm trung tâm của khoa học kinh tế Các yếu tố như sai lầm của con người,
sự không chắc chắn về tương lai, và sự trôi qua của thời gian phải được
đề cập đến đầy đủ Cách phân tích này cắt bỏ những thứ phức tạp của một nền kinh tế thị trường đã phát triển và cung cấp một nền tảng hiểu biết về quá trình kinh tế bằng cách phân tích những yếu tố cần thiết của thị trường Bất cứ chính sách gì để can thiệp vào nền kinh tế, giá cả thị trường, lợi nhuận kinh doanh và lỗ, lãi suất, lạm phát và suy trầm kinh
tế cũng như suy thoái đều bị Trường Phái Áo bác bỏ Những hiện tượng
đó không phải không thể giải thích được cũng như không phải không có nguyên nhân, sẽ được trình bày trong các phần tiếp theo
Cuốn sách này, như tựa đề của nó, trình bày một cái nhìn tổng quát về Kinh Tế Trường Phái Áo Nó tập trung vào thị trường tự do hoặc nền kinh
tế chủ nghĩa tư bản Các tác phẩm của các nhà kinh tế Trường Phái Áo
Trang 5không thể nào được bỏ qua để thật sự hiểu về các chủ đề được đề cập đến Các tác phẩm gốc phải được đọc lại, nhất là để có được một sự phê bình rõ ràng về những tác động nghiêm trọng của những hành động can thiệp của chính phủ trong quá trình của thị trường, một điều rất thịnh hành hiện nay Các tác phẩm đáng đọc được cung cấp sau mỗi chương
Hy vọng rằng cuốn sách này sẽ được xem là một lời giới thiệu đến Kinh
Tế Học Trường Phái Áo Một người có thể trở nên áy náy khi sử dụng cụm từ ‘Kinh Tế Học Trường Phái Áo” vì nó hay làm người ta nghĩ đến một cái gì đó khác, chứ không phải là kinh tế học thật sự Sự rối loạn của kinh tế học Keynes, các mô hình kinh tế lượng giả tạo, những kỷ lục đáng buồn về các dự đoán của các nhà kinh tế chuyên gia, những mô hình sách vở không thực tế như cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền, lạm phát liên tục và nạn thất nghiệp, và sự chính trị hóa của kinh tế học đã tạo nên sự không tin tưởng về kinh tế học nói chung Tuy nghiên, sự phân tích của Trường Phái Áo không thể bị bỏ qua nếu một ai đó muốn hiểu biết nhiều hơn về quá trình thị trường và những tác động của sự can thiệp của chính phủ Cuốn sách này sẽ trở nên hữu dụng như một bài bổ sung trong thuyết kinh tế học hoặc một khóa học trong lịch sử tư tưởng kinh tế ở cấp đại học hoặc sau đại học
Giới Thiệu Về Kinh Tế Học Của Trường Phái Áo – Chương 2
Phần 1
2
Phần 2
3
Trang 6Phần 3
4
Phần 4
‹›
Chương 2 – Hợp Tác Xã Hội và Phân Phối Tài Nguyên
Sự Tính Toán Bằng Hiện Vật Trong Một Nền Kinh Tế Nguyên Thủy
Việc tiết kiệm là một hành động được áp dụng đối với một người cô lập, sống tự lập như ông Robinson Crusoe cũng như với bất cứ một ai đang sống trong một xã hội có sự phân công lao động và trao đổi phức tạp Công việc của Robinson Crusoe là sử dụng những phương tiện có sẵn để tạo ra giá trị mà ông ta cảm thấy hài lòng nhất Một quá trình để quyết định và lựa chọn là một điều cần thiết đối với phúc lợi của chính ông ta Cũng tương tự, trong một xã hội hiện đại, có vô số cá nhân đang sử dụng mọi phương tiện sản xuất có sẵn để tối ưu hóa phúc lợi của mình Vấn đề kinh tế này tồn tại cho dù các sự lựa chọn và quyết định thường nằm trong tay một tập thể cai trị tập trung nào đó, như được đề cập trong thuyết chủ nghĩa xã hội, hoặc cho dù những sự lựa chọn đó được thực hiện bởi các cá nhân (với một mức độ tự do ít hoặc hơn thể chế tập trung) trong một nền kinh tế thị trường
Ông Robinson Crusoe chỉ có thể quản lý một số lượng tài nguyên cố định một cách hiệu quả và phải đưa ra những kế hoạch tương đối về việc sử
Trang 7dụng lượng tài nguyên đó Bởi vì anh ta chỉ có vài sự lựa chọn, anh ta có thể thực hiện những quyết định một cách hiệu quả mà không cần phải tính toán đến những kết quả khác có thể xảy ra nếu anh ta thực hiện khác Khả năng của anh ta để đánh giá và dự đoán kết quả sẽ dựa trên
sự quan sát và nắm bắt cơ hội của những phương thức sản xuất khác đang hiện diện trước mặt anh ta Sự tính toán về số lượng đầu ra sẽ đủ bởi vì lượng tài nguyên của anh ta không bị quá đa dạng hóa, và mỗi loại tài nguyên, trong trường hợp này, sẽ thiếu một mức độ linh hoạt sản xuất nào đó
Anh ta sẽ truy cập đến vài yếu tố sản xuất gốc như – đất, tài nguyên thiên nhiên và lao động Tuy nhiên, bởi vì khả năng để sản xuất hàng hóa của anh ta có giới hạn trong tình huống cô lập, những yếu tố gốc đó không thể nào được chuyển đổi thành những hàng hóa trung gian như máy móc và dụng cụ Anh ta bắt buộc phải sử dụng những dụng cụ thô
sơ nhất bởi vì anh ta không thể kiếm được hoặc cần những dụng cụ phức tạp hơn như trong nền kinh tế hiện đại
Kết quả là những quyết định của anh ta về việc anh ta nên sử dụng lượng tài nguyên có sẵn như thế nào để có được những hàng hóa tiêu thụ sẽ không trở nên quá phức tạp như việc bắt buộc phải thực hiện một
sự tính toán lời lỗ Cho dù anh ta có sẵn những phương tiện dùng để tính toán như tiền tệ đi nữa, việc sử dụng nguồn tài nguyên nào để sản xuất
sẽ trở nên dễ hoặc khó xác định hơn Yếu tố linh hoạt nhất của anh ta sẽ
là sức lao động và sự khéo léo của chính mình, nhữug thứ mà anh ta sẽ
sử dụng cùng với tài nguyên thiên nhiên để sản xuất những sản phẩm
mà anh ta ưu ái và những việc sản xuất có tính chất khả thi
Thời gian và công sức của anh ta sẽ được sử dụng để làm những dụng
cụ căn bản, săn thú để kiếm ăn, xây dựng một chỗ ở, và sản xuất quần
áo cũng như để nghỉ ngơi Với tình hình hiện tại và nhu cầu của anh ta, anh ta sẽ không cần phải biên soạn và tính toán dữ liệu về quá khứ hoặc những thành công kỳ vọng trong việc sử dụng thời gian, công sức và những yếu tố khác trong sản xuất Sự giới hạn của thời gian và công sức của anh ta sẽ được ngăn chặn việc anh ta bốc lột hoàn toàn nguồn tài nguyên thiên nhiên của hòn đảo anh ta đang sinh sống Những quyết
Trang 8định của anh ta được dựa trên một sự tính toán chủ quan của mức lợi nhuận cho từng hành động Những lựa chọn khác sẽ bị giới hạn đến độ anh ta sẽ không có khả năng để quan sát hoặc dự đoán những kết quả của những hành động của mình trong thực tế theo sự đánh giá của chính mình Và vì anh ta sẽ tự sản xuất để làm hài lòng chính mình, anh
ta sẽ không gặp vấn đề gì trong việc lựa chọn hàng hóa nào nên được sản xuất Thước đo giá trị của anh ta sẽ là phương tiện quyết định duy nhất trong sự tính toán của mình
Một hộ gia đình tự túc cũng có thể quản lý tài nguyên kinh tế riêng của
họ mà không cần phải tính toán bất cứ gì, nhất là nếu nó có một truyền thống sử dụng tài nguyên đã được phát triển qua thời gian Bất cứ sự tính toán về đầu ra nào cần thiết trong giai đoạn nguyên thủy này cũng
có thể được miêu tả qua các số lượng đầu ra khác nhau, đôi lúc được đề cập đến như những sự tính toán bằng hiện vật Vì thiếu đi sự hiện diện của các mối quan hệ trong trao đổi, sẽ không có phương tiện trao đổi nào và vì vậy không có tiêu chuẩn chung nào để tính toán (như loại tiền, hàng hóa)
Sự Tính Toán Bằng Hiện Vật Trong Một Nền Kinh Tế Nâng Cao (Phát Triển)
Qua hàng thế kỷ một sự thay thế khác với nền kinh tế tự túc đã phát triển để giải quyết vấn đề khan hiếm tài nguyên Phương án thay thế này là sự hợp tác xã hội, nền tảng của cái mà chúng ta ngày nay gọi là
xã hội Hầu hết tất cả con người đã chọn mô hình xã hội thay vì mô hình
tự túc Sự gia tăng đáng kể trong năng suất lao động đến từ việc chuyên môn hóa và phân công lao động đã dần dần làm suy yếu quá trình phân công lao động tự túc (mỗi người tự làm để tự lo cho bản thân như thời nguyên thủy) Mặc dù lợi thế so sánh của các sản phẩm và dịch vụ đến
từ quá trình hợp tác xã hội, vấn đề kinh tế vẫn tồn tại: Nhu cầu tiếp tục vượt quá mức sản xuất của các phương tiện sử dụng tài nguyên Sự tồn tại của vấn đề khan hiếm này có nghĩa là dù trong một xã hội hiện đại, phát triển và năng suất cao, các quyết định phải được thực hiện liên quan đến những cách các tài nguyên khan hiếm được điều hành để thỏa mãn nhu cầu vô tận của các thành viên trong xã hội như thế nào
Trang 9Những quyết định này không đơn giản để thực hiện trong một xã hội tiên tến như trong một nền kinh tế tự túc của thời nguyên thủy Những tài nguyên không thể phân tích dễ dàng để sử dụng được Sự gia tăng vĩ đại của năng suất đến từ việc chuyên môn hóa và phân công lao động
đã làm tăng mức linh hoạt của việc sử dụng tài nguyên một cách đáng
kể Những thành quả của sự hợp tác xã hội cho phép một phần lớn của tài nguyên gốc như đất và lao động vào việc sản xuất những thứ có thể gọi là hàng hóa sản xuất, hoặc hàng hóa trung gian, những thứ đã dẫn đến hàng hóa tiêu dùng khi được kết hợp với đất và lao động Đây là một sự khác biệt rất quan trọng giữa kinh tế tự túc và hợp tác xã hội: sự phức tạp và lộn xộn của việc sử dụng tài nguyên trong nền kinh tế hiện đại yêu cầu nhiều điều hơn là các quyết định khó khăn so với những quyết định mà Robinson Cruson (con người thời nguyên thủy) phải làm
Sự gia tăng trong mức độ phức tạp của các quyết định kinh tế đến một phần từ sự đa dạng của lượng hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ mà một nền kinh tế phát triển cao cấp có thể tạo ra được Các sự lựa chọn phải được thực hiện rằng hàng hóa nào nên được sản xuất và với số lượng bao nhiêu, số lượng của các mặt hàng thay thế càng nhiều, mức phức tạp để quyết định càng cao Tuy nhiên, những quyết định liên quan đến kết quả không chỉ là những quyết định quan trọng duy nhất để làm Cũng như ông Robinson Crusoe, con người trong xã hội phải đưa ra những sự lựa chọn liên kết tài nguyên với kết quả Các tài nguyên nên được sử dụng như thế nào? Những thứ làm cho câu hỏi này khó trả lời là tài nguyên kinh tế trong một nền kinh tế phát triển rất linh hoạt và đa dạng Sự linh hoạt của họ có thể bắt nguồn từ sự đa dạng trong mục đích sử dụng với sự phát triển của công nghệ và kỹ năng sản xuất, các kết quả bao gồm tác động tích cực đến từ sự phân công lao động và chuyên môn hóa Và những sự thích nghi này đã kéo theo sự chuyển đổi của các yếu tố sản xuất gốc thành một sự đa dạng trong các tài nguyên sản xuất, và từ đó tạo nên vô số loại nguyên liệu riêng cho mỗi ngành
và hàng hóa
Một điều rõ ràng là với vô số bước để sản xuất hàng hóa và dịch vụ, những sự lựa chọn hiệu quả nhất hoặc hợp lý nhất không thể được quyết định bằng cách xem xét những bài toán Chính sự dư thừa của tài nguyên đã khiến việc phân phối và điều hành thành một việc bất khả thi
mà không cần phải so sánh kết quả Để ví dụ, sắt có thể được sử dụng
Trang 10trong việc sản xuất đầu máy xe lửa, máy kéo nông nghiệp, máy móc may, khung xây dựng, dụng dụ khoan dầu và hàng ngàn thứ khác Và vấn đề được nhân lên khi một ai đó nhớ rằng họ có thể sử dụng tài nguyên để làm những công cụ khác thay thế Vì vậy, đồng, thiếc và nhôm có thể được dùng ở những nơi sắt và thép đã từng được sử dụng Vấn đề được nới rộng ra khi tất cả các lựa chọn thay thế đều được trình bày để quyết định Các quyết định liên quan đến việc sử dụng tài nguyên sẽ trở thành một sự nhầm lẫn nếu các sự tính toán bằng hiện vật là công cụ để tính toán duy nhất Sự phân phối của các tài nguyên khan hiếm sẽ trở nên rối loạn và trở nên không chính xác
Một khi kiềm xích của sự tự túc được tháo bỏ và sự sản xuất để trao đổi được tái lập, thì sẽ hiện lên một xã hội dựa trên kinh tế thị trường, lúc đó một nhu cầu tất yếu là sự tính toán chính xác hơn cách tính toán của nền kinh tế tự túc của quá khứ và điều đó lập nên một thứ để cho phép
sự trao đổi trên quy mô rộng rãi: tiền, phương tiện trao đổi của nền kinh
tế Sự tính toán tiền tệ cung cấp một phương tiện không thể thiếu mà một nền kinh tế hiện đại có thể chuyển đổi những tài nguyên thô và đầu
ra khác nhau thành một con số chung Chính mẫu số tiền tệ này đã cung cấp nền tảng cho một sự tính toán về đầu vào-đầu ra, một sự tính toán vốn-thu nhập mà vô cùng quan trọng để phân phối các tài nguyên khan hiếm Sự tính toán này là cần thiết bởi vì sợ khan hiếm của phương tiện yêu cầu một sự so sánh cẩn thận giữa chi phí và lợi ích, giữa nguồn vào
và nguồn ra trong quá tình sản xuất
Trong một nền kinh tế hiện đại, sự tính toán bằng hiện vật không phải là
cơ sở tốt để phân phối tài nguyên Một cái nhìn ngắn ngọn về những nhà vận động cho chủ nghĩa xã hội đã nhận ra rằng sự thiếu thốn trong phương pháp tính toán đã cho thấy những người phản đối kinh tế thị trường mãnh liệt nhất cũng phải công nhận rằng phải có một mẫu số (hoặc phương tiện giao dịch) chung để phân phối tài nguyên một cách hiệu quả
Vào năm 1920 Ludwig von Mises đã thách thức lý thuyết chủ nghĩa xã hội khi ông ta nhận ra rằng chủ nghĩa xã hội thật sự không thể hoạt động được trong nền kinh tế phát triển bởi vì nó thiếu sự tính toán bằng