Để đáp ứng được nhu cầu phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội của tỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, vấn đề cải cách hành chính, nâng cao năng lực và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THỊ THANH HUYỀN
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân - qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THỊ THANH HUYỀN
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân - qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa
Chuyờn ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Phỏp luật
Mó số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ DUYấN THẢO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và
đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phan Thị Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 9
1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật 9
1.2 Đặc điểm VBQPPL do HĐND ban hành 12
1.2.1 Văn bản QPPL của HĐND là sự cụ thể hóa các qui định của pháp luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên 12
1.2.2 Văn bản QPPL của HĐND điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh ở địa phương 13
1.3 Nguyên tắc xây dựng, ban hành VBQPPL của HĐND 14
1.4 Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản QPPL của hội đồng nhân dân 15
1.5 Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của hội đồng nhân dân 16
1.6 Hiệu lực văn bản QPPL của hội đồng nhân dân 21
1.6.1 Hiệu lực theo thời gian 21
1.6.2 Hiệu lực theo không gian 23
1.6.3 Hiệu lực theo đối tượng áp dụng 24
1.7 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng văn bản quy phạm pháp luật do hội đồng nhân dân ban hành 25
1.8 Giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân ban hành 31
1.8.1 Giám sát VBQPPL do HĐND ban hành 31
1.8.2 Kiểm tra, xử lý VBQPPL do HĐND ban hành 34
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VÀ KIỂM
TRA, XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA 47 2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa 47 2.2 Thực tiễn hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của Hội đồng nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá 48
2.2.1 Thực hiện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa 48 2.2.2 Những thành tựu đạt được 54 2.2.3 Những hạn chế còn tồn tại 56 2.2.4 Nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động ban hành văn
bản QPPL của hội đồng nhân dân các cấp tỉnh Thanh Hóa 59
2.3 Thực trạng hoạt động kiểm tra và xử lý VBQPPL của HĐND
các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 65
2.3.1 Những thành tựu đạt được 65 2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại 66 2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động kiểm tra và xử lý
văn bản QPPL của hội đồng nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 69
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP TỈNH THANH HÓA 71 3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật một cách đồng bộ và thống nhất 71 3.2 Hoàn thiện hoạt động ban hành VBQPPL của HĐND các cấp 73 3.3 Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý đối với văn bản QPPL
và hoạt động ban hành văn bản QPPL 81 KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HĐND: Hội đồng nhân dân QPPL: Quy phạm pháp luật UBND: Ủy ban nhân dân VBQP: Văn bản quy phạm
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân Trong bối cảnh chính quyền trung ương đang tiến hành cải cách hành chính mạnh mẽ nhằm phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương để mỗi địa phương có thể phát huy quyền chủ động, sáng tạo của mình trong quản lý nhà nước thì pháp luật chính là một công cụ quan trọng để chính quyền địa phương quản lý và phát triển, thậm chí quản lý tốt và phát triển bền vững
Để đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật để phục vụ yêu cầu quản
lý của địa phương mình Tuy nhiên việc ban hành VBQPPL của địa phương trong suốt một thời gian dài chưa có một văn bản luật nào điều chỉnh cụ thể, mỗi địa phương phải dựa vào kinh nghiệm mà xây dựng cách thức, quy trình ban hành VBQPPL của riêng mình, do vậy công tác ban hành văn bản trong thời gian qua đã chưa thật sự đi vào nề nếp Ngày 03 tháng 12 năm 2004, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 4 năm
2005 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác ban hành VBQPPL của địa phương Đây là đạo luật quan trọng trong việc quy định về trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành VBQPPL ở địa phương các cấp và có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động quản lý điều hành ở địa phương
Sau khi Luật có hiệu lực, hàng năm có hàng ngàn VBQPPL của địa
Trang 8phương nhất là cấp tỉnh đã được xây dựng và ban hành.Các văn bản đó góp phần rất lớn trong việc cùng với Trung ương giải quyết các vấn đề bức xúc hiện nay của xã hội, nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội cũng như xây dựng thành công công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được thì chất lượng văn bản QPPL của các cấp chính quyền địa phương nói chung, văn bản QPPL của HĐND nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới và hội nhập trong giai đoạn hiện nay
Thanh Hóa là tỉnh có nền kinh tế đang phát triển năng động, có nhiều tiềm năng trong tương lai Để đáp ứng được nhu cầu phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội của tỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, vấn đề cải cách hành chính, nâng cao năng lực và hiệu quả quản
lý của các cấp chính quyền địa phương đang đặt ra cấp bách, trong đó, vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước thông qua các văn bản QPPL nói chung
và văn bản QPPL của HĐND nói riêng có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt Văn bản QPPL của HĐND các cấp ở tỉnh Thanh Hóa ngoài những điểm chung với cả nước cũng mang những đặc trưng riêng gắn với điều kiện kinh
tế, xã hội của địa phương Với những cơ sở pháp lý đã có, hoạt động quản lý nhà nước bằng văn bản QPPL của HĐND các cấp tỉnh Thanh Hóa trong những năm gần đây đã được tiến hành tương đối hiệu quả, thể hiện vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước tại địa phương Tuy nhiên bên cạnh đó, hoạt động này vẫn bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập, chất lượng nhiều văn bản còn thấp, gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện trên thực
tế Bởi vậy, rất cần có những công trình nghiên cứu toàn diện và trọng tâm về văn bản QPPL của HĐND các cấp trên cơ sở thực tiễn của Tỉnh, làm cơ sở tham khảo thiết thực, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước thông qua văn bản QPPL ở Thanh Hóa nói riêng và các địa phương trên cả nước nói chung
Trang 9Với những ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn cấp bách nêu trên, tác
giả đã quyết định chọn đề tài “Văn bản quy phạm pháp luật của HĐND - qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa”là nội dung nghiên cứu của Luận văn thạc
sỹ luật học
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống các quy định về ban hành và kiểm tra, xử
lý VBQPPL của HĐND, đánh giá thực trạng chất lượng VBQPPL của HĐND của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa mà trọng tâm là cấp tỉnh, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượn VBQPPL của HĐND trong giai đoạn hiện nay
3 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Về văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản QPPL của chính quyền địa phương nói riêng đã có một số đề tài nghiên cứu như: luận văn thạc
sỹ “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay” của Đoàn Thị Tố Uyên, luận văn thạc sỹ luật học “
Trang 10Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay” của Hoàng Minh Hà… Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống
về văn bản QPPL của HĐND các cấp trong phạm vi địa phương cụ thể là tỉnh Thanh Hóa, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn bản QPPL của HĐND các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng và ở nước ta nói chung
Những kết quả nghiên cứu trong luận văn có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hoạt động ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản QPPL của HĐND.Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy và học tập trong các trường có đào tạo chuyên ngành luật học.Luận văn còn có giá trị tham khảo đối với hoạt động ban hành và kiểm tra văn bản QPPL của các HĐND các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng và các địa phương khác trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn về văn bản QPPL, hoạt động ban hành, kiểm tra, xử lý văn bản QPPL của HĐND nói chung và văn bản QPPL của HĐND các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng trong giai đoạn hiện nay mà trọng tâm là cấp tỉnh
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Nghiên cứu các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản QPPL của HĐND ở Việt Nam
- Nghiên cứu hoạt động ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản QPPL của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong khoảng thời gian từ khi Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND
có hiệu lực (năm 2004) cho đến nay, trong đó trọng tâm là cấp tỉnh
Trang 115 Tổng quan tài liệu
Về hoạt động ban hành văn bản QPPL nói chung và của chính quyền địa phương đã có nhiều nghiên cứu dưới dạng các tham luận hội thảo, bài viết nghiên cứu đăng trên các tạp chí, một số sách tham khảo, chuyên khảo và các luận văn đề cập trên nhiều góc độ khác nhau Có thể liệt kê một số nghiên cứu tiêu biểu như:
- Vụ pháp luật hình sự - Bộ Tư pháp với hội thảo về chuyên đề “Dự án luật sửa đổi, bổ sung luật ban hành văn bản QPPL năm 1996”, Hà Nội, 2002;
- Chuyên đề “Xây dựng và kiểm tra văn bản QPPL của bộ, ngành và địa phương”, Hà Nội, 2003;
- GS.TS Lê Minh Tâm, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003;
- Đoàn Thị Tố Uyên, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về văn bản QPPL của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội, 2003;
- Hoàng Minh Hà, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về văn bản QPPL của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội, 2004;
- Trần Thị Vượng, Vấn đề chuẩn hóa thể thức văn bản QPPL, Tạp chí luật học số 10, 2008;
- Hoàng Thị Ngân, trách nhiệm về việc ban hành văn bản QPPL sai trái, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5, 2008;
- Thạc sỹ Nguyễn Thị Phượng, Về xây dựng và ban hành văn bản QPPL bảo đảm quyền công dân của chính quyền địa phương hiện nay, Tạp chí quản lý nhà nước số 3, 2007, Học viện Hành chính Quốc gia;
- Một số tiêu chí cơ bản để ban hành văn bản QPPL có chất lượng tốt, Tạp chí dân chủ và pháp luật số 5, 2008
Trang 12- GS.TS Phạm Hồng Thái, “Văn bản quy phạm pháp luật và pháp luật
về văn bản quy phạm pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 7, 2011
Các tác giả trong các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra và phân tích sâu sắc những cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung và của chính quyền địa phương nói riêng, trong đó
có hoạt động ban hành văn bản QPPL của HĐND các cấp, chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động ban hành văn bản QPPL hiện nay Tuy nhiên, những vấn đề thực tiễn của hoạt động ban hành văn bản QPPL của HĐND các cấp, đặc biệt là trên một địa bàn cụ thể như tỉnh Thanh Hóa là một mảng nghiên cứu vẫn còn để ngỏ
Đề tài là công trình nghiên cứu đầu tiên của tác giả về văn bản QPPL của HĐND các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Đề tài hướng đến cung cấp những tư liệu mang tính thực tiễn, phân tích và chỉ ra những vấn đề còn tồn tại, vướng mắc của HĐND các cấp tại địa phương trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý nhà nước bằng văn bản QPPL, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng văn bản QPPL của HĐND ở Thanh Hóa nói riêng, cả nước nói chung
6 Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích các vấn đề lý luận về văn bản quy phạm pháp luật nói chung
và văn bản QPPL của HĐND nói riêng
- Nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành về ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản QPPL của HĐND
- Phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản QPPL của HĐND các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn bản QPPL của HĐND ở Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay
Trang 136.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác _ Lê nin
- Các phương pháp khác: Phương pháp phân tích, phương pháp logic,
phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp đối chiếu,
phương pháp so sánh, phương pháp chứng minh,…
6.3 Địa điểm nghiên cứu
Thanh Hóa là tỉnh cực Bắc miền Trung Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 150 km về phía Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km về hướng Bắc Đây là một tỉnh lớn của Việt Nam, đứng thứ 5 về diện tích và thứ 3 về dân số trong số các đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, là một tỉnh “đất rộng, người đông”, có bề dày lịch sử phát triển kinh tế, xã hội Về hành chính, Thanh Hóa là tỉnh cực bắc Trung Bộ, tiếp giáp với Tây Bắc Bộ
và đồng bằng Bắc Bộ Thanh Hóa có 27 đơn vị hành chính trực thuộc, chỉ đứng sau thành phố Hà Nội Thanh Hóa có 1 thành phố, 2 thị xã và 24 huyện Có 639 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 22 phường, 30 thị trấn và
587 xã Thanh Hóa là tỉnh có nền kinh tế đang phát triển năng động, có nhiều tiềm năng trong tương lai Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Thanh Hóa xếp ở vị trí thứ 24/63 tỉnh thành và trong tương lai, chỉ số này sẽ còn tăng cao hơn nữa với
sự phát triển của Khu kinh tế trọng điểm Nghi Sơn Để đáp ứng được nhu cầu phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội của tỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, vấn đề cải cách hành chính, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của các cấp chính quyền địa phương đang đặt ra cấp bách, trong đó, hoạt động quản lý nhà nước thông qua văn bản QPPL của các cấp chính quyền nói chung và của HĐND nói riêng có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt
Trang 147 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng
nhân dân
Chương 2: Thực trạng hoạt động ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản
QPPL của Hội đồng nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng văn bản QPPL của
Hội đồng nhân dân các cấp tỉnh Thanh Hóa
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
Trong bối cảnh chính quyền trung ương đang tiến hành những cải cách mạnh mẽ nhằm phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương các cấp, phát huy quyền chủ động, sáng tạo của mỗi địa phương, các cơ quan Nhà nước ở địa phương sử dụng pháp luật như một công cụ quan trọng để quản lí
và phát triển Một hoạt động quan trọng trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình là cơ quan Nhà nước ở địa phương có thẩm quyền ban hành VBQPPL Theo quy định của Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức HĐND
và UBND, Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, VBQPPL do HĐND và UBND ban hành để thi hành VBQPPL của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên
Điều 1 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 đưa ra định nghĩa về VBQPPL:“Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này
Văn bản có chứa quy phạm, pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.”
Theo định nghĩa trên, văn bản quy phạm pháp luật phải đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng sau:
- Một là, văn bản QPPL do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 Dấu hiệu này đặt ra
Trang 16yêu cầu chỉ có các cơ quan nhà nước được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 mới có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật và dưới các hình thức nhất định, như Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đòi hỏi phải tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục do Luật này quy định
Hai là,VBQPPLlà văn bản có chứa quy phạm pháp luật Đây được coi
là đặc tính nổi trội của văn bản QPPL, là dấu hiệu cơ bản, mang tính quyết định để phân biệt văn bản QPPL với văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính thông dụng Vì việc dự kiến ban hành một văn bản có chứa đựng ''quy phạm pháp luật'' là yếu tố đầu tiên được xác định trong toàn bộ quá trình ban hành văn bản Chính yếu tố này đặt ra yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản tuân phải theo trình tự, thủ tục của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật Nói cách khác, nếu không có quy phạm pháp luật thì việc soạn thảo và ban hành văn bản cũng không phải tuân theo trình tự, thủ tục soạn thảo của văn bản quy phạm pháp luật và cũng không đòi hỏi phải được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền được pháp luật quy định
Ba là, văn bản QPPL có tính bắt buộc chung Tính bắt buộc chung của văn bản QPPL được hiểu là văn bản có hiệu lực bắt buộc đối với mọi chủ thể khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh mà văn bản QPPL quy định Văn bản QPPL không đặt ra quy định cho đối tượng chủ thể xác định mà nhằm tới các đối tượng khái quát, trừu tượng (mọi đối tượng hoặc một, vài nhóm đối tượng) như công dân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội… Đây là điểm khác biệt so với văn bản áp dụng pháp luật, vì đối tượng thi hành của văn bản này luôn được xác định cụ thể.Xuất phát từ tính bắt buộc chung mà văn bản QPPL luôn được thực hiện nhiều lần trên thực tế Dấu hiệu áp dụng nhiều lần có nghĩa QPPL luôn được các chủ thể áp dụng pháp luật lựa chọn làm cơ sở pháp lý để triển
Trang 17khai thực hiện hoặc giải quyết những công việc cụ thể xảy ra trên thực tế, nên được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần.Còn văn bản áp dụng pháp luật chỉ được thực hiện duy nhất một lần.Bởi vậy, văn bản QPPL có khả năng tác động trong khoảng thời gian lâu dài
Tính bắt buộc chung đã ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lý của văn bản QPPL Văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý trong phạm vi cả nước hoặc từng địa phương tùy thuộc vào thẩm quyền của cơ quan ban hành cũng như nội dung của mỗi văn bản QPPL Thông thường, văn bản QPPL do cơ quan nhà nước trung ương ban hành có hiệu lực pháp lý trên phạm vi cả nước, văn bản QPPL do cơ quan nhà nước địa phương ban hành có hiệu lực pháp lý trên phạm vi địa phương đó Ngoài ra có trường hợp văn bản QPPL do cơ quan nhà nước trung ương ban hành nhưng có hiệu lực pháp lý trên phạm vilãnh thổ địa phương xuất phát từ tính đặc thù của địa phương Dấu hiệu này là cơ
sở để phân biệt với những văn bản có nội dung đặt ra quy tắc xử sự nội bộ trong cơ quan nhà nước Hiện nay, khá nhiều văn bản như quy chế, điều lệ, quy định, nội quy… có nội dung là quy tắc xử sự nội bộ được ban hành theo hình thức văn bản quyết định, nghị quyết Những quy tắc xử sự đặt ra để điều chỉnh hoạt động trong nội bộ một cơ quan nhà nước không phải là quy phạm pháp luật vì các quy tắc xử sự đó không có tính bắt buộc chung
Bốn là, văn bản QPPL được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội: văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý điều hành, được tuân thủ và bảo đảm thực hiện bởi sự cưỡng chế nhà nước Nhà nước có thể dùng lực lượng công quyền để bảo đảm cho việc áp dụng quy phạm pháp luật bằng việc áp dụng các chế tài Các chế tài có thể rất đa dạng: chế tài hình
sự như hình phạt tù hoặc phạt tiền, chế tài dân sự như huỷ bỏ hợp đồng dân
sự, bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng… Như vậy, bất luận là văn
Trang 18bản quy phạm pháp luật do cơ quan nào có thẩm quyền ban hành hay bất luận
là hình thức văn bản nào (luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định…
do cơ quan nhà nước trung ương hay các cấp chính quyền địa phương ban hành) thì chúng đều phải được tuân thủ và thực hiện
1.2 Đặc điểm VBQPPL do HĐND ban hành
Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 định nghĩa về VBQPPL của HĐND và UBND tại khoản 1 Điều 1 như sau: “Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân là văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tụ
do Luật quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ
xã hội ở địa phương theo định hướng XHCN”
Luật ban hành văn bản QPPL 2015 đã thống nhất định nghĩa VBQPPL của HĐND và UBND vào định nghĩa VBQPPL nói chung Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm của văn bản QPPL nói chung, văn bản QPPL của HĐND còn có những đặc điểm riêng như sau:
1.2.1 Văn bản QPPL của HĐND là sự cụ thể hóa các qui định của pháp luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên
Về phương diện lý luận và thực tiễn, các cơ quan Nhà nước ở trung ương không thể ban hành được một hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu của mọi địa phương trong toàn quốc.Vì mỗi địa phương có những đặc điểm riêng về điều kiện địa lý, dân cư, kinh tế xã hội Chính vì vậy, để phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương, trên cơ sở các quy định của cơ quan Nhà nước
ở trung ương, HĐND ban hành văn bản QPPL để cụ thể hóa cho phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của địa phương Hơn nữa, quan hệ xã hội với tư cách là đối tượng điều chỉnh của pháp luật, vốn đã phức tạp lại đang trong quá trình chuyển đổi đầy biến động Trong điều kiện như vậy, yêu cầu đặt ra đối với hệ
Trang 19thống pháp luật nước ta là cần có nhiều loại văn bản với giá trị pháp lý khác nhau (được các cấp khác nhau ban hành) thì mới đáp ứng được yêu cầu của đời sống xã hội hiện nay
Trước những đòi hỏi từ thực tiễn, nhiệm vụ hướng dẫn, thi hành Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên là một nhiệm vụ tất yếu của HĐND các cấp khi ban hành văn bản QPPL để cụ thể hóa các quy định của pháp luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên vào từng hoàn cảnh, từng điều kiện cụ thể của địa phương
Vì vậy, trong rất nhiều trường hợp, HĐND các cấp ban hành các văn bản trên cơ sở thi hành trực tiếp các quy định của luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và cụ thể hóa các quy định này để thi hành ở địa phương
1.2.2 Văn bản QPPL của HĐND điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh ở địa phương
Hoạt động ban hành văn bản QPPL của HĐND gắn liền với chức năng trực tiếp tổ chức và quản lý các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội,
an ninh – quốc phòng, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, đảm bảo nguyên tắc hiến định của quản lý nhà nước là bằng pháp luật Mặt khác, với tư cách là các chủ thể quản lý Nhà nước ở địa phương, các cơ quan chính quyền địa phương có trách nhiệm chính trong việc áp dụng các biện pháp và tạo mọi điều kiện cần thiết để các cơ quan, tổ chức và các cá nhân ở địa phương thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật Không có một lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nào do chính quyền địa phương tiến hành quản lý
mà lại không đòi hỏi trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật Vì vậy, hoạt động ban hành văn bản QPPL của HĐND luôn gắn liền với hoạt động quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương và trên cơ sở đó điều chỉnh các quan hệ xã hội đầy năng động, phức tạp luôn diễn ra hàng ngày ở địa phương Ngoài ra, hoạt
Trang 20động ban hành văn bản QPPL của HĐND không chỉ giới hạn trong việc bảo
vệ các quyền, các lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc công dân cụ thể nào đó, mà trách nhiệm chủ yếu, quan trọng hơn cả là quyết định mọi biện pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để các cơ quan, tổ chức và công dân ở địa phương thực hiện được trên thực tế các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời thi hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ pháp lý được Hiến pháp
và pháp luật quy định Chính vì vậy đối với những quan hệ mới phát sinh mà chưa được điều chỉnh bởi văn bản QPPL của cơ quan Nhà nước cấp trên, thì HĐND căn cứ vào chức năng, quyền hạn của mình theo luật định chủ động ban hành các văn bản QPPL phù hợp với các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên để điều chỉnh các quan hệ này
1.3 Nguyên tắc xây dựng, ban hành VBQPPL của HĐND
Theo Điều 5 Luật ban hành VBQPPL 2015, việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc sau:
+ Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật
+ Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
+ Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật
+ Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính
+ Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Trang 21+ Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Các nguyên tắc trên về cơ bản kế thừa các nguyên tắc xây dựng, ban hành VBQPPL của Luật 2008, tuy nhiên được làm rõ hơn, cụ thể hơn những yêu cầu đặt ra đối với hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL Đây là những
tư tưởng chỉ đạo, là cơ sở quan trọng của toàn bộ quá trình xây dựng pháp luật, đòi hỏi tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình ban hành, sửa đổi hay bãi bỏ các qui phạm pháp luật phải nghiêm chỉnh tuân theo
1.4 Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản QPPL của hội đồng nhân dân
Thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của HĐND được giới hạn bởi mức độ thực hiện thẩm quyền, nghĩa là HĐND chỉ được ban hành trong giới hạn luật định, không được ban hành văn bản vượt thẩm quyền Quy định này nhằm bảo đảm việc thực thi pháp luật ở địa phương, tránh việc các chủ thể lạm quyền, tùy tiện đưa ra các quyết định gây ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản QPPL và bảo đảm tính thống nhất của văn bản QPPL
Theo quy định của Luật ban hành VBQPPL 2015, văn bản QPPL của HĐND các cấp được ban hành dưới hình thức nghị quyết Thẩm quyền ban hành được quy định cụ thể tại các điều 27, 29, 30 của Luật Theo đó:
+ Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định:
- Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
- Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
- Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương;
Trang 22- Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương
+ Hội đồng nhân dân ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành quyết định theo quy định của Luật này và các luật khác có liên quan
+ Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyếtđể quy định những vấn đề được luật giao
Việc quy định rõ hình thức văn bản QPPL nói chung và của HĐND nói riêng còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, đặc biệt là trong quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân Bằng hình thức văn bản, đối tượng thi hành có thể nhận biết ngay ai đã ban hành văn bản đó (ví dụ với hình thức văn bản là nghị quyết người dân có thể nhận biết ngay đó là văn bản của HĐND).Sự phân biệt này góp phần thể hiện tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật.Đồng thời, việc tuân thủ hình thức của văn bản cũng là một yếu tố chứng minh tính hợp pháp của văn bản
1.5 Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của hội đồng nhân dân
Văn bản QPPL của HĐND và UBND có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhiều tầng lớp nhân dân, do đó cần phải được ban hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ Xét trên hai phương diện lý luận và thực tiễn, trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL có ý nghĩa rất quan trọng, nó bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý của văn bản và nâng cao hiệu quả của văn bản
Ở các địa phương hiện nay, số lượng quy phạm có trong một nghị quyết không nhiều và hầu hết chỉ có ở nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có rất ít nghị quyết quy phạm, còn cấp xã thì hầu như không có Phần lớn các nghị quyết của HĐND tập trung quy định các biện pháp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, nghị quyết của HĐND cấp huyện, cấp xã thì
Trang 23quy định chi tiết hơn và trong phạm vị hẹp Do HĐND làm việc tại hai kỳ họp trong một năm nên trình tự thủ tục ban hành nghị quyết cơ bản ổn định
* Việc ban hành VBQPPL của HĐND cấp tỉnh được thực hiện theo trình tự sau:
- Đề nghị xây dựng nghị quyết
- Lấy ý kiến về đề nghị xây dựng nghị quyết
- Thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình
- Thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết
- Trình đề nghị xây dựng nghị quyết
- Phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo nghị quyết
- Lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết
- Thẩm định dự thảo nghị quyết do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình
- Thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
- Xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Chương trình xây dựng nghị quyết hàng năm của HĐND cấp tỉnh được xây dựng căn cứ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, yêu cầu quản lý Nhà nước ở địa phương, bảo đảm thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân ở địa phương Việc lập dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND do Thường trực HĐND chủ trì, phối hợp với UBND và trình HĐND quyết định tại kỳ họp cuối năm Trong trường hợp cần điều chỉnh chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND thì Thường trực HĐND phối hợp với UBND điều chỉnh và báo cáo HĐND tại kỳ họp gần nhất
Việc dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do UBND trình hoặc do
cơ quan, tổ chức khác trình theo sự phân công của Thường trực HĐND
Việc lấy ý kiến về dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh như sau: Căn
Trang 24cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, cơ quan soạn thảo tổ chức lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức hữu quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết Cơ quan, tổ chức hữu quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo nghị quyết Trong trường hợp lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy
ý kiến, địa chỉ nhận ý kiến và dành ít nhất bảy ngày, kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo nghị quyết
Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh phải được cơ quan tư pháp cùng cấp thẩm định Cơ quan tư pháp sau khi nhận được yêu cầu thẩm định phải làm báo cáo thẩm định và gửi đến cơ quan soạn thảo chậm nhất bảy ngày trước ngày UBND họp Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý dự thảo nghị quyết
Sau khi có kết quả thẩm định của cơ quan tư pháp, UBND có trách nhiệm xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số để quyết định việc trình dự thảo nghị quyết ra HĐND cùng cấp (đối với dự thảo nghị quyết do UBND trình); Đối với dự thảo nghị quyết do cơ quan, tổ chức khác trình thì UBND có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản
Dự thảo nghị quyết sau khi có ý kiến của UBND phải được Ban của HĐND cùng cấp thẩm tra trước khi trình HĐND
Dự thảo nghị quyết tại kỳ họp HĐND được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu HĐND biểu quyết tán thành.Chủ tịch HĐND ký chứng thực nghị quyết
* Việc ban hành VBQPPL của HĐND cấp huyện:
Trình tự, thủ tục ban hành Nghị quyết của HĐND cấp huyện không có bước lập, thông qua và điều chỉnh chương trình xây dựng Các bước khác giống với trình tự ban hành nghị quyết của HĐND cấp tỉnh nhưng đơn giản hơn, bao gồm các bước sau:
Trang 25- Soạn thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện
- Thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện
- Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp
- Thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện
- Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện
* Việc ban hành VBQPPL của HĐND cấp xã:
+ Soạn thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã
- Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã do Ủy ban nhân dân cùng cấp tổ chức soạn thảo và trình Hội đồng nhân dân
- Căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tổ chức việc lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan, của Nhân dân tại các thôn, làng, buôn, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố về dự thảo nghị quyết bằng các hình thức thích hợp
+ Xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã
- Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã phải được Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp thẩm tra trước khi trình Hội đồng nhân dân cấp
xã Chậm nhất là 03 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân gửi tờ trình, dự thảo nghị quyết và các tài liệu có liên quan đến các đại biểu Hội đồng nhân dân
- Việc xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp Hội đồng nhân dân được tiến hành theo trình tự sau đây:
Đại diện Ủy ban nhân dân thuyết trình dự thảo nghị quyết;
Đại diện Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;
Hội đồng nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo nghị quyết
Trang 26Dự thảo nghị quyết được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành
Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực nghị quyết
* Xây dựng, ban hành văn bản QPPL của HĐND theo trình tự rút gọn + Trong một số trường hợp đặc biệt, việc xây dựng, ban hành VBQPPL của HĐND có thể được thực hiệntheo trình tự, thủ tục rút gọn, gồm các trường hợp sau:
- Trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp; trường hợp đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ; trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn theo quyết định của Quốc hội
- Trường hợp để ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật trong một thời hạn nhất định
- Trường hợp cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành
+ Thẩm quyền quyết định việc xây dựng, ban hành VBQPPL của
HĐND theo trình tự, thủ tục rút gọn thuộc về Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Theo đó Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
+ Trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn:
Việc xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo trình tự, thủ tục rút gọn được thực hiện như sau:
- Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức việc soạn thảo;
- Cơ quan chủ trì soạn thảo có thể tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan về dự thảo văn bản Trong trường hợp lấy ý kiến thì thời hạn lấy ý kiến không quá 20 ngày;
Trang 27- Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo văn bản, cơ quan thẩm định có trách nhiệm thẩm định, cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm thẩm tra dự thảo văn bản Hồ sơ thẩm định gồm tờ trình và dự thảo; hồ
sơ thẩm tra gồm tờ trình, dự thảo, báo cáo thẩm định và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định
- Xem xét, thông qua VBQPPL của HĐND cấp tỉnh theo trình tự rút gọn:
Hồ sơ trình xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh theo trình tự, thủ tục rút gọn bao gồm tờ trình, dự thảo, báo cáo thẩm tra Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại
kỳ họp gần nhất
1.6 Hiệu lực văn bản QPPL của hội đồng nhân dân
Hiệu lực là một vấn đề quan trọng của văn bản QPPL Là những văn bản thuộc hệ thống pháp luật, văn bản QPPL của HĐND cũng bị chi phối bởi những nguyên tắc chung về cách xác định hiệu lực văn bản QPPL Bên cạnh đó, cùng với việc tuân thủ những nguyên tắc chung về hiệu lực của văn bản QPPL, hiệu lực văn bản QPPL của HĐND còn phải căn cứ vào các yếu tố: Tính chất, vị trí, thẩm quyền của HĐND, loại và tính chất, đặc điểm, nội dung của văn bản quy phạm do các cơ quan chính quyền Nhà nước địa phương ban hành
1.6.1 Hiệu lực theo thời gian
Hiệu lực về thời gian là khoảng thời gian văn bản QPPL có giá trị bắt buộc thi hành được xác định từ thời điểm có hiệu lực đến thời điểm chấm dứt hiệu lực của văn bản QPPL Văn bản QPPL được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tiên lượng quá trình biến đổi và định hướng các quan hệ xã hội theo quy luật phát triển của đời sống xã hội Với tư cách là một chức năng quản lý, hoạt động ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân cũng mang tính dự báo và hướng tới hiệu quả của văn bản không
Trang 28chỉ ở hiện tại mà trong cả tương lai Hiệu lực văn bản QPPL của HĐND theo thời gian được chia thành:
+ Thời điểm có hiệu lực của văn bản QPPL:
Có hai cách xác định thời điểm có hiệu lực của văn bản QPPL: Một là, thời điểm có hiệu lực của văn bản được qui định trong luật Trường hợp này, trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực, hiệu lực của văn bản tất yếu phát sinh khi đến thời điểm được luật qui định; Hai là, thời điểm có hiệu lực được xác định ngay trong văn bản, phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể
để đến thời điểm đó văn bản có thể được thực hiện thuận lợi nhất Thời điểm này không được sớm hơn thời điểm có hiệu lực được Luật ban hành văn bản QPPL qui định đối với từng loại văn bản cụ thể, trừ trường hợp văn bản qui định về những vấn đề đột xuất
Trường hợp văn bản có hiệu lực theo qui định của pháp luật, thời điểm
có hiệu lực của văn bản được quy định như sau:
- Đối với các văn bản QPPL của HĐND cấp tỉnh có hiệu lực sau mười ngày và phải được đăng trên báo cấp tỉnh chậm nhất là năm ngày, kể từ ngày HĐND thông qua;
- Đối với các văn bản QPPL của HĐND cấp huyện có hiệu lực sau bảy ngày và phải được niêm yết chậm nhất là ba ngày, kể từ ngày HĐND thông qua;
- Đối với các văn bản QPPL của HĐND cấp xã có hiệu lực sau năm ngày
và phải được niêm yết chậm nhất là hai ngày, kể từ ngày HĐND thông qua
VBQPPL của HĐND không được qui định hiệu lực trở về trước
+ Thời điểm hết hiệu lực của văn bản QPPL:
Là hình thức văn bản có vị trí, vai trò cụ thể hóa, chi tiết hóa nội dung các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, vì vậy, khi văn bản gốc đóng vai trò là cơ sở ban hành văn bản hết hiệu lực thì nghị quyết, quyết
Trang 29định, chỉ thị của các cơ quan chính quyền địa phương cũng hết hiệu lực theo, điều này không phụ thuộc vào việc thời điểm hết hiệu lực có được nêu trong văn bản hay không
Ngoài ra, thời điểm hết hiệu lực của văn bản QPPL của HĐND còn được quy định như sau:
- Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản;
- Được thay thế bằng một văn bản mới của chính cơ quan đã ban hành văn bản đó;
- Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan Nhà nước, cá nhân có thẩm quyền;
- Không còn đối tượng điều chỉnh
1.6.2 Hiệu lực theo không gian
Theo nguyên tắc chung, văn bản QPPL do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc, văn bản QPPL do
cơ quan địa phương cấp nào ban hành sẽ có hiệu lực trên phạm vi địa phương đó
Trong trường hợp văn bản QPPL của HĐND có hiệu lực trong phạm vi nhất định của địa phương thì phải được xác định ngay trong văn bản đó
Văn bản QPPL của HĐND có hiệu lực áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia các quan hệ xã hội được văn bản QPPL đó điều chỉnh
Đối với trường hợp địa giới hành chỉnh được điều chỉnh thì hiệu lực văn bản QPPL của HĐND theo không gian được quy định như sau:
Trong trường hợp một đơn vị hành chính được chia thành các đơn vị hành chính mới thì văn bản QPPL của HĐND của đơn vị hành chính được chia có hiệu lực đối với các đơn vị hành chính mới cho đến khi HĐND của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản QPPL thay thế;
Trang 30Trong trường hợp nhiều đơn vị hành chính được sáp nhập thành một đơn
vị hành chính mới thì văn bản QPPL của HĐND của đơn vị hành chính được sáp nhập có hiệu lực đối với đơn vị hành chính đó cho đến khi HĐND của đơn
vị hành chính mới ban hành văn bản QPPL thay thế;
Trong trường hợp một phần địa phận và dân cư của đơn vị hành chính này được sáp nhập về một đơn vị hành chính khác thì văn bản QPPL của HĐND của đơn vị hành chính được mở rộng có hiệu lực đối với phần địa phận và bộ phận dân cư được sáp nhập
1.6.3 Hiệu lực theo đối tượng áp dụng
Hiệu lực về đối tượng áp dụng liên quan mật thiết đến hiệu lực theo lãnh thổ của văn bản QPPL Trên thực tế, HĐND nước ta được hình thành nhằm quản lý địa phương trên các phương diện của đời sống xã hội mà một trong các nội dung đó là quản lý dân cư và tổ chức đời sống của dân cư theo lãnh thổ Như vậy, tương ứng với mỗi chủ thể quản lý sẽ có một nhóm đối tượng chịu sự quản lý HĐND là cơ quan nhà nước hoạt động trong phạm vi một lãnh thổ xác định Do vậy, về nguyên tắc, những đối tượng đang ở tại địa bàn thuộc quyền quản lý của cơ quan đó
Nhìn chung, đối tượng áp dụng văn bản QPPL của HĐND là những cá nhân, tổ chức cư trú tại địa phương
Bên cạnh các cá nhân, tổ chức nêu trên, cá biệt còn có những đối tượng chịu sự quản lý của một địa phương, song lại đang ở một địa bàn thuộc quyền quản lý của một địa phương khác Kết hợp giữa nguyên tắc xác định hiệu lực theo không gian và theo đối tượng áp dụng, có thể đi đến kết luận rằng: Những đối tượng nêu trên phải tuân thủ văn bản của hai loại cơ quan: HĐND nơi họ đang ở và HĐND có quyền quản lý trực tiếp, thường xuyên đối với họ Hay nói cách khác, văn bản QPPL của HĐND có thể có hiệu lực đối với đối tượng thuộc quyền quản lý của mình đang ở một địa phương khác Ví dụ: cá
Trang 31nhân, mặc dù không cư trú, song khi đang ở một địa bàn lãnh thổ nào thì phải chấp hành các quy định về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ hay những quy định về phí, lệ phí của HĐND quản lý địa bàn đó Trên cơ sở này, quản lý Nhà nước được bảo đảm một cách toàn diện, triệt để và đồng bộ
1.7 Tiêu chuẩn đánh giá chất lƣợng văn bản quy phạm pháp luật
do hội đồng nhân dân ban hành
Văn bản QPPL với tính cách là phương tiện cơ bản trong quản lý Nhà nước, quản lý xã hội chỉ phát huy giá trị tích cực khi các văn bản đó có chất lượng cao Văn bản QPPL có chất lượng cao thì nội dung các quy định phù hợp với điều kiện khách quan của đời sống xã hội, do đó sẽ có khả năng rất lớn tác động vào các quan hệ xã hội; ngược lại, nếu có chất lượng thấp thì văn bản QPPL sẽ khó có khả năng đi vào đời sống xã hội, không được áp dụng triệt để, do đó sẽ bị thay thế bởi những văn bản khác Hay nói cách khác, văn bản QPPL có chất lượng cao thì sẽ có tính khả thi cao.Chất lượng văn bản có mối quan hệ mật thiết với tính khả thi của văn bản Chất lượng văn bản QPPL cũng trực tiếp chi phối tới hiệu lực pháp lý của nó, trước hết thể hiện trong việc Nhà nước thường nâng hiệu lực pháp lý của văn bản lên ở mức cao hơn, khi nhận thấy một văn bản nào đó có chất lượng cao, để có thể triển khai thực hiện trong phạm vi rộng hơn, với nhiều đối tượng hơn và do đó khả năng tác động của văn bản QPPL sẽ lớn hơn Theo từ điển tiếng Việt, chất lượng là
“cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật” Từ đó có thể hiểu chất lượng của văn bản QPPL là cái tạo nên giá trị của văn bản QPPL trong đời sống xã hội, thể hiện trình độ pháp luật, trình độ quản lý, trình độ kỹ thuật pháp lý… của người soạn thảo
Chất lượng của văn bản QPPL biểu hiện tập trung ở trong sự phù hợp của nội dung văn bản với đường lối của Đảng và với pháp luật hiện hành; sự phản ánh nguyện vọng chính đáng của nhân dân lao động; sự phù hợp với các
Trang 32điều kiện khách quan của đời sống xã hội; sự tương thích với pháp luật trong khu vực và trên thế giới; sự hoàn thiện về trình độ kỹ thuật soạn thảo văn bản
Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng văn bản là chuẩn mực, là thước đo để xác định giá trị của một văn bản QPPL nào đó đối với việc tác động vào các quan hệ
xã hội Các tiêu chuẩn này được xây dựng trên cơ sở pháp lý, lý luận và thực tiễn, đảm bảo nguyên tắc khách quan, toàn diện Theo đó, văn bản QPPL nói chung và văn bản QPPL do HĐND ban hành nói riêng được coi là bảo đảm chất lượng khi đáp ứng được các tiêu chuẩn sau:
Đảm bảo tính chính trị
Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp, các tầng lớp, các Đảng phái chính trị luôn mong muốn khẳng định vai trò và mở rộng sự ảnh hưởng của mình đối với xã hội Một trong những con đường có khả năng nhất để đạt được mục đích
đó là thể hiện quan điểm, lý tưởng, ý chí của mình dưới hình thức pháp luật Nếu như chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, theo cách nói của Lênin, thì cũng theo sự khẳng định của Lênin, Pháp luật là sự biểu hiện tập trung của chính trị, luật là “thước đo chính trị, là chính trị” Do đó, không có văn bản pháp luật nào phi chính trị, phi giai cấp
Để đáp ứng tiêu chuẩn chính trị, văn bản QPPL do HĐND ban hành vừa phải phù hợp, vừa phải thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, vừa phải thể hiện ý chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân
Hoạt động ban hành văn bản QPPL là hoạt động có ý thức và ý chí của Nhà nước Ý chí của Nhà nước, nhất lại là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân, cần phải phản ánh một cách đầy đủ ý chí của nhân dân Điều này đòi hỏi khi tiến hành soạn thảo bất kỳ một văn bản QPPL nào, cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền đều phải đáp đứng ở vị thế là người đại diện cho nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm yêu cầu phản ánh và làm mục tiêu phục vụ Đặc biệt ở cấp chính quyền địa phương nơi có một quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, có
Trang 33thẩm quyền ban hành văn bản QPPL nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước và là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân
Để văn bản QPPL có chất lượng cao thì văn bản đó phải có khả năng thực hiện trên thực tế, tức là phải có tính khả thi “Các quy định của văn bản không chỉ có tính cưỡng chế với người dân mà cũng phải thấy rằng sự cưỡng chế đó là hợp lý, hợp lòng dân và vì lợi ích chung mà pháp luật cần có để tạo ra các chuẩn mực chung áp dụng cho mọi người Các quy định hợp lòng dân là các quy định
mà đa số người dân thấy hợp lý, không phải là chỉ phục vụ cho một nhóm lợi ích nhất định” Vì thế, văn bản QPPL do HĐND ban hành phải phản ánh được ý chí của người dân, nhằm bảo đảm sự kết hợp hài hòa lợi ích của các giai tầng trong
xã hội, vì khi phù hợp với lợi ích của họ thì họ sẽ tự giác cao độ trong việc thực hiện văn bản Ngược lại, nếu xây dựng văn bản chỉ căn cứ vào các yêu cầu của nhà quản lý mà không tính đến nguyện vọng của đối tượng bị quản lý (phần lớn
là nhân dân lao động) thì dù văn bản có được soạn thảo kỹ lưỡng hay được chuẩn bị đầy đủ, văn bản đó vẫn luôn thiếu căn cứ thực tiễn, thiếu tính khả thi hoặc không có hiệu quả cao trên thực tế Để góp phần tạo ra sự phù hợp này, pháp luật quy định cho các tổ chức xã hội và công dân có quyền tham gia đóng góp ý kiến cho các dự thảo văn bản QPPL của HĐND các cấp.Đây chính là sự bảo đảm cho nhân dân thực sự phát huy quyền làm chủ của mình Thông qua đó,
cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiếp nhận được nhiều ý kiến từ nhân dân để
bổ sung, chỉnh lý dự thảo văn bản QPPL, làm cho hệ thống QPPL ngày càng sát thực tế và có hiệu quả cao trong đời sống xã hội
Đảm bảo tính hợp pháp
Một trong những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của văn bản là sự phù hợp với pháp luật.Tính hợp pháp là yêu cầu mà pháp luật quy định bắt buộc đối với một văn bản QPPL Sự vi phạm tiêu chuẩn này sẽ ảnh hưởng tới giá trị pháp
lý của văn bản Tiêu chuẩn này được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Trang 34Khía cạnh thứ nhất là văn bản QPPL của HĐND phải được ban hành đúng thẩm quyền Thẩm quyền của mỗi cơ quan được pháp luật quy định dựa trên sự phân công, phân cấp hoạt động trong toàn bộ bộ máy nhà nước và khả năng giải quyết thực tế của từng cơ quan Khi cơ quan nhà nước ban hành văn bản QPPL là cơ quan đó thực hiện quyền lực mà Nhà nước trao cho họ để tác động vào đối tượng khác trong xã hội bằng việc quy định cho các đối tượng những quyền và nghĩa vụ cụ thể, vì vậy nội dung văn bản không đúng hoặc vượt quá giới hạn thẩm quyền của cơ quan ban hành thì đó là văn bản trái thẩm quyền Các văn bản được ban hành trái thẩm quyền có thể ảnh hưởng tới sự hài hòa, thống nhất trong hoạt động của bộ máy nhà nước, vi phạm tiêu chuẩn pháp
lý và sẽ không có hiệu lực trên thực tế
Để văn bản QPPL được ban hành đúng thẩm quyền, cần chú ý bảo đảm cả hai phương diện về thẩm quyền là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung Thẩm quyền về hình thức là thẩm quyền của các chủ thể trong việc ban hành những hình thức văn bản QPPL do pháp luật quy định Việc tuân thủ thẩm quyền hình thức của văn bản QPPL là yếu tố đảm bảo để văn bản phát huy hiệu lực Dưới góc độ tổ chức nhà nước, việc tuân thủ thẩm quyền hình thức của văn bản QPPL là minh chứng cho kỷ luật và kỷ cương hành chính, thể hiện tính pháp chế trong hoạt động quản lý nhà nước Thẩm quyền nội dung là giới hạn quyền lực của các chủ thể trong quá trình giải quyết công việc do pháp luật quy định Về thực chất đó là “giới hạn của việc sử dụng quyền lực nhà nước mà pháp luật thực định đã đặt ra đối với từng cơ quan trong bộ máy nhà nước về mỗi loại công việc nhất định” Đây chính là việc chủ thể có thẩm quyền chỉ được ban hành văn bản QPPL giải quyết công việc trong những lĩnh vực, phạm vi nào đó
mà pháp luật quy định và không được ban hành ngoài phạm vi đó Ban hành văn bản QPPL đúng thẩm quyền về nội dung phản ánh việc các chủ thể có thẩm quyền phải có trách nhiệm giải quyết công việc phát sinh trong phạm vi thẩm
Trang 35quyền, phạm vi không gian và phạm vi thời gian do pháp luật quy định, mà không giải quyết công việc thuộc phạm vi thẩm quyền của cơ quan khác Việc tuân thủ thẩm quyền nội dung của văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành sẽ đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hộ phù hợp với đặc điểm riêng của địa phương, với yêu cầu tác động đến đối tượng bị quản lý mà nhiều trường hợp văn bản QPPL của trung ương do chưa dự trù được hết mọi tình huống nên chưa quy định;
Khía cạnh thứ hai của tiêu chuẩn này là văn bản QPPL phải có nội dung hợp pháp Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay bao gồm nhiều văn bản QPPL
có hiệu lực cao thấp khác nhau Tính thống nhất của hệ thống pháp luật đòi hỏi nội dung của văn bản có hiệu lực pháp lý thấp phải phù hợp với nội dung của văn có hiệu lực pháp lý cao hơn Trong hoạt động ban hành văn bản QPPL của chính quyền HĐND đây là yêu cầu đầu tiên bảo đảm cho văn bản ban hành hợp pháp Nếu văn bản có nội dung trái với nội dung của văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn thì đó được coi là văn bản có nội dung trái với pháp luật
Như vậy, trong công tác ban hành văn bản QPPL của HĐND một đòi hỏi đặt ra là phải bảo đảm tính hợp pháp trong sự phù hợp với các văn bản khác do
cơ quan trung ương ban hành;
Khía cạnh thứ ba của tiêu chuẩn này là văn bản QPPL của HĐND phải được ban hành đúng thủ tục Trong hoạt động ban hành văn bản QPPL, những quy định về thủ tục, trình tự đóng vai trò quan trọng Mục đích của các thủ tục này là phối hợp nhịp nhàng hoạt động của các cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật, đưa ra quy trình hợp lý cho hoạt động xây dựng văn bản và cuối cùng là tạo ra các văn bản QPPL có chất lượng cao
Ngoài ra, văn bản QPPL do HĐND ban hành phải có nội dung tương thích với điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, kí kết Yêu cầu này đòi hỏi các văn bản QPPL phải đảm bảo sự bình đẳng cùng có lợi, phù hợp với các
Trang 36nguyên tắc cơ bản của pháp luật khu vực và quốc tế Sự tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã kí kết hoặc tham gia không chỉ đặt ra đối với các văn bản QPPL do cơ quan trung ương ban hành, mà còn đặt ra đối với các văn bản QPPL do HĐND ban hành
Đảm bảo hiệu lực thực thi của văn bản
Thực tế cho thấy rằng, có nhiều văn bản QPPL không đi vào đời sống xã hội hay hiệu quả rất thấp Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó là do văn bản thiếu sự phù hợp với lĩnh vực mà nó điều chỉnh Để đảm bảo tính khả thi, văn bản QPPL của HĐND cần:
Một là: phải phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội Trong mọi trường hợp và ở mọi thời điểm, pháp luật luôn phản ánh trình độ phát triển kinh tế.Sự phù hợp của văn bản QPPL với thực trạng và quy luật vận động của đời sống xã hội là một điều kiện đảm bảo tính khả thi của văn bản QPPL Do đó, để đảm bảo chất lượng văn bản QPPL của HĐND, khi xác định nội dung của văn bản phải xuất phát từ điều kiện kinh tế, đời sống xã hội, tránh chủ quan, duy ý chí, xa rời thực tiễn; cần cân nhắc lựa chọn phương án có hiệu quả kinh tế cao;
Hai là: phải phù hợp với văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Văn hóa, truyền thống là cốt cách của dân tộc Vì vậy, các văn bản QPPL do HĐND ban hành phải phù hợp với văn hóa, truyền thống của dân tộc, phong tục tập quán tốt đẹp của địa phương
Sự phù hợp của văn bản QPPL với văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc vừa nâng cao giá trị thực tế của văn bản QPPL, vừa đảm bảo kết quả điều chỉnh bền vững của văn bản QPPL, dễ dàng thiết lập và duy trì trật
tự xã hội với sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của nhân dân;
Ba là: phải phù hợp với đối tượng tác động của văn bản QPPL Với nội dung là các quy tắc xử sự chung, văn bản QPPL có đối tượng tác động được xác định một cách chung chung, trừu tượng Do vậy, để văn bản QPPL của HĐND
Trang 37có tính khả thi cao thì việc xác định đúng đối tượng tác động của văn bản là rất quan trọng Bởi lẽ, pháp luật được thực hiện bằng chính hành vi của từng con người cụ thể thông qua nhận thức của các chủ thể đó Văn bản QPPL có được tự giác thực hiện hay không phụ thuộc vào việc văn bản có phù hợp với mong muốn, nguyện vọng, có đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của họ hay không
Vì vậy, nội dung của bản QPPL cần phù hợp với điều kiện vật chất, tinh thần, độ tuổi, tâm sinh lý, trình độ nhận thức của người thi hành;
Bốn là: phải phù hợp với cách thức trình bày Để đảm bảo chất lượng của văn bản QPPL, HĐND khi ban hành văn bản QPPL cần phải chú ý đến cách thức trình bày theo quy định của pháp luật Yêu cầu này được hình thành trên cơ
sở xem xét văn bản QPPL từ góc độ kỹ thuật soạn thảo, coi văn bản QPPL là phương tiện quan trọng và chủ yếu để thể hiện ý chí nhà nước trong quản lý nên cần được soạn thảo với cách thức, kỹ thuật pháp lý phù hợp với trình độ chung của xã hội;
Bên cạnh đó, việc sử dụng ngôn ngữ phải đảm bảo các yêu cầu là sử dụng tiếng Việt chuẩn, từ ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, không
sử dụng khẩu ngữ địa phương, từ lóng, từ cổ…, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu; đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung thì phải được giải thích trong văn bản Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng văn bản QPPL của HĐND
1.8 Giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân ban hành
1.8.1 Giám sát VBQPPL do HĐND ban hành
Việc giám sát VBQPPL được tiến hành nhằm phát hiện những nội dung trái với Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc không còn phù hợp để kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản, đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến
Trang 38nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản trái pháp luật
* Nội dung giám sát văn bản quy phạm pháp luật bao gồm việc xem xét các vấn đề sau:
- Sự phù hợp của văn bản với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên
- Sự phù hợp của hình thức văn bản với nội dung của văn bản đó
- Sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản
- Sự thống nhất giữa văn bản quy phạm pháp luật hiện hành với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành của cùng một cơ quan
* Thẩm quyền giám sát VBQPPL của HĐND thuộc các cơ quan sau:
- Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
- Hội đồng nhân dân xem xét văn bản QPPL của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội, văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp
* Trình tự, thủ tục giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân như sau:
- Giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Uỷ ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Thủ tướng
Trang 39Chính phủ, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội hoặc của đại biểu Quốc hội quyết định xem xét nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao cho Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của Quốc hội chuẩn bị ý kiến về nghị quyết đó để báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét nghị quyết của HĐND cấp tỉnhtheo trình tự sau đây:
+ Chủ tịch Hội đồng dân tộc hoặc Chủ nhiệm Uỷ ban của Quốc hội trình bày ý kiến;
+ Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận;
+ Chủ tịch Hội đồng nhân dân nơi đã ra nghị quyết được mời tham dự phiên họp và trình bày ý kiến;
+Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết về việc nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; hoặc quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
- Giám sát của HĐND:
Đây là hình thức HĐND các cấp giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản QPPL của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp
Trang 40Việc xem xét văn bản QPPL của HĐND phải đảm bảo trình tự sau:
- Đại diện Thường trực HĐND trình văn bản QPPL có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên;
- HĐND thảo luận Trong quá trình thảo luận, người đứng đầu cơ quan đã ban hành văn bản QPPL có thể trình bày bổ sung những vấn đề có liên quan;
- HĐND ra nghị quyết về việc văn bản QPPL trái với Hiến pháp, luật
và văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên; quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó
Trường hợp Thường trực HĐND, các Ban của HĐND phát hiện văn bản QPPL trái với Hiến pháp, luật và văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn
bộ văn bản đó Nếu không giải quyết hoặc giải quyết không đáp ứng yêu cầu thì Thường trực HĐND, các Ban (qua Thường trực HĐND) trình HĐND xem xét quyết định
1.8.2 Kiểm tra, xử lý VBQPPL do HĐND ban hành
Kiểm tra VBQPPL nói chung và kiểm tra VBQPPL của HĐND nói riêng được coi là một trong các hoạt động "hậu kiểm", là động tách khỏi hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản Việc kiểm tra chỉ tiến hành sau khi văn bản đã được ban hành, ngay cả khi văn bản đã phát sinh hiệu lực Hoạt động kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên nhằm phát hiện kịp thời những sai trái của các VBQPPL để sửa chữa, khắc phục sai trái đó
Có thể hiểu, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của HĐND các cấp
ban hành là hoạt động được tiến hành thường xuyên của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đối với các văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của