1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tự do di chuyển lao động trong cộng đồng kinh tế ASEAN cơ hội và thách thức đối với việt nam

132 1,3K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vấn đề này tạo nên một rào cản không hề nhỏ của lực lượng lao động Việt Nam trên con đường hội nhập và cạnh tranh với các quốc gia khác trong khu vực trong bối cảnh lao động có tay

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

NGUYỄN THỊ HỒNG THƯƠNG

TỰ DO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

ĐỐI VỚI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN ANH THU

Hà Nội - Năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN ANH THU

Hà Nội - Năm 2016

Trang 3

Học viên Nguyễn Thị Hồng Thương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Anh Thu cùng toàn thể các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý giá và tận tình hướng dẫn tác giả trong thời gian ho ̣c tâ ̣p và nghiên cứu ta ̣i trường

Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn Bộ phận sau đại học, Phòng đào tạo, các anh chị chuyên viên văn phòng Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tác giả xin g ửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, người thân, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn ủng h ộ và giúp đỡ tác giả trong quá trình họ c tâ ̣p và nghi ên cứu của mình

Học viên

Nguyễn Thị Hồng Thương

Trang 5

MỤC LỤC

Danh sách các từ viết tắt i

Danh sách bảng iii

Danh sách hình iv

Phần mở đầu 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và câu hỏi nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Tính mới của luận văn 3

5 Kết cấu luận văn 3

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tự do di chuyển lao động trong ASEAN 4

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

1.1.1 Các nghiên cứu chung về Cộng đồng kinh tế ASEAN với Việt Nam 4

1.1.2 Nghiên cứu về thị trường lao động ASEAN trong bối cảnh thành lập AEC 9

1.1.3 Các nghiên cứu về vấn đề tự do di chuyển lao động trong bối cảnh thành lập AEC 12

1.1.4 Khoảng trống nghiên cứu và định hướng đề tài 14

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề di chuyển lao động 15

1.2.1 Các khái niệm liên quan 15

1.2.2 Các lý thuyết về di chuyển lao động 16

1.2.3 Tác động của di chuyển lao động 20

1.2.4 Xu hướng di chuyển lao động 22

1.2.5 Vấn đề di chuyển lao động trong các liên kết kinh tế 23

Trang 6

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu 27

2.1 Quy trình nghiên cứu 27

2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu 28

2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 29

Chương 3: Thị trường lao động và vấn đề tự do di chuyển lao động trong ASEAN 31

3.1 Cộng đồng kinh tế ASEAN và vấn đề tự do di chuyển lao động 31

3.1.1 Khái quát về Cộng đồng kinh tế ASEAN 31

3.1.2 Các hiệp định liên quan đến tự do di chuyển lao động trong ASEAN 32

3.1.2.1 Hiệp định khung về dịch vụ trong ASEAN (AFAS) 32

3.1.2.2 Hiệp định di chuyển thể nhân trong ASEAN (MNP) 34

3.1.2.3 Thỏa thuận công nhận lẫn nhau giữa các quốc gia ASEAN (MRAs) 36

3.2 Thị trường lao động và sự chuẩn bị của Việt Nam cũng như các quốc gia thành viên khác về vấn đề tự do di chuyển lao động trong AEC 38

3.2.1 Vấn đề di chuyển lao động giữa các quốc gia 38

3.2.2 Thể chế chính sách liên quan đến di chuyển lao động 43

3.2.3 Cấu trúc lực lượng lao động 52

3.2.4 Năng suất, trình độ và kỹ năng của lực lượng lao động 57

3.2.5 Lương, thu nhập, mức sống 60

3.2.6 Các vấn đề khác liên quan đến dịch chuyển lao động 65

3.3 Dự báo tình hình thị trường lao động Việt Nam và các quốc gia thành viên khác trong AEC đến năm 2025 67

Chương 4: Cơ hội và thách thức của lao động Việt Nam trong bối cảnh AEC 72

4.1 Cơ hội và thách thức của lao động Việt Nam trên thị trường lao động trong nước dưới tác động của AEC 72

Trang 7

4.1.1 Đối với lao động trong ngành du lịch 72

4.1.2 Đối với lao động trong ngành kế toán, kiểm toán 78

4.1.3 Đối với lao động trong ngành kỹ sư, kiến trúc sư 82

4.1.4 Đối với lao động trong các ngành khác 84

4.2 Cơ hội và thách thức của lao động Việt Nam trên thị trường lao động các quốc gia ASEAN khác 90

4.2.1 Cơ hội và thách thức về vấn đề việc làm và chất lượng việc làm 90

4.2.2 Cơ hội và thách thức liên quan đến năng suất và chất lượng lao động 91

4.2.3 Cơ hội và thách thức về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội liên quan 92

Chương 5: Kết luận và một số đề xuất 97

5.1 Kết luận về kết quả nghiên cứu 97

5.2 Một số đề xuất hướng tới thị trường lao động và lực lượng lao động Việt Nam 100

5.3 Đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo 104

Phụ lục 105

Danh mục tài liệu tham khảo 112

Trang 8

Danh mục viết tắt

ACIA Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN

ACPA Chứng chỉ Kiểm toán viên ASEAN

ACPE Kỹ sư chuyên nghiệp đủ tư cách hành nghề ASEAN

ADBI Viện Ngân hàng phát triển châu Á

AFAS Hiệp định khung về dịch vụ trong ASEAN

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ASEAN+1 Bao gồm các quốc gia ASEAN và Trung Quốc

ATPMC Ủy ban Giám sát nghề du lịch ASEAN

BRIC Các nước có nền kinh tế mới nổi

CATS Uỷ ban thu hút nhân tài đến Singapo

CLMV Campuchia - Lào - Myanma - Việt Nam

CPA Chứng chỉ hành nghề kế toán, kiểm toán của Việt Nam

FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

Trang 9

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GATS Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ

IOM Tổ chức Di trú quốc tế

ISEAS Viện nghiên cứu Đông Nam Á Singapore

LĐTB&XH Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội

MERCOSUR Hiệp định Thương mại Tự do Nam Mỹ

MNP Hiệp định di chuyển thể nhân trong ASEAN

MOLISA Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội

MRAs Thỏa thuận công nhận lẫn nhau giữa các quốc gia ASEAN

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

PII Hiệp hội Người lao động Indonesia

PIPS

Uỷ ban thông tin và sắp xếp việc làm dịch vụ cho chuyên gia Singapo

POEA Cơ quan quản lý lao động ngoài nước Philippin

R&D Nghiên cứu và Phát triển

Trang 10

REP Chương trình thu hút nhân tài trở về Malaysia

RP-T Chương trình Residence Pass-Talent

TESDA Cơ quan giáo dục kỹ thuật và phát triển kỹ năng Philippin

VTOS Tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam

Trang 11

Danh sách bảng

Bảng 3.1: Lương trung bình hàng tháng của người trẻ theo giới tính và trình

độ bằng cấp (nghìn đồng) 64 Bảng 3.2: Một số ngành nghề ưu tiên ở các quốc gia ASEAN 66

Trang 12

Danh sách hình

Biểu đồ 2.1: Quy trình nghiên cứu luận văn 27

Biểu đồ 3.1: Thành phần người nhập cư ở Singapo, Malaysia và Thái Lan, 2013 39

Biểu đồ 3.2: Trình độ lao động nhập cư trong Malaysia và Thái Lan, 2007-12 39 Biểu đồ 3.3: Số lượng di cư trong nội khối ASEAN, 2013 41

Biểu đồ 3.4: Cơ cấu dân số của các quốc gia ASEAN năm 2014 52

Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ lực lượng lao động ở độ tuổi 15-64 năm 2014 53

Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ lao động trong các ngành kinh tế của các nước ASEAN 54

Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ thất nghiệp ở các quốc gia ASEAN năm 2015 55

Biểu đồ 3.8: Lao động thất nghiệp ở Việt Nam quý 1/2016 56

Biểu đồ 3.9: Năng suất lao động ở một số nước ASEAN (PPP 1990) 57

Biểu đồ 3.10: Lực lượng lao động theo trình độ giáo dục ở một số nước ASEAN 58

Biểu đồ 3.11: Cơ cấu lực lượng lao động Việt Nam theo trình độ quý 4/2014 59 Biểu đồ 3.12: Tăng trưởng lương thực tế trung bình ở khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương 2006-13 (%) 61

Biểu đồ 3.13: Lương trung bình và tối thiểu (tháng) ở một số nước ASEAN 62

Biểu đồ 3.14: Thay đổi cơ cấu việc làm theo trình độ của một số quốc gia ASEAN đến năm 2025 69

Biểu đồ 3.15 : Thay đổi tiền lương của một số quốc gia ASEAN dưới viễn cảnh tác động của AEC năm 2025 69

Trang 14

Phần mở đầu: Giới thiệu về luận văn

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam cũng như các quốc gia thành viên ASEAN đang đứng trước ngưỡng cửa của sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với sự hình thành cuả Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập vào tháng 12/2015, hứa hẹn mở ra nhiều triển vọng hợp tác và phát triển Lao động có kỹ năng là một trong năm yếu tố (gồm hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và nguồn vốn) có cơ hội được di chuyển tự do trong nội khối, mở ra một triển vọng hòa nhập thị trường lao động của mười quốc gia thành viên thành một thể thống nhất Hiệp định tự do di chuyển thể nhân (MNP) đã được hầu hết các quốc gia thành viên đồng thuận nhất trí, sẽ đảm bảo cho sự tự do đến và

đi của các lao động có tay nghề trong nội khối Điều này sẽ khiến cho thị trường lao động và lực lượng lao động Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội và thách thức to lớn Bởi chúng ta có đến gần 50% lực lượng lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp, được xếp vào nhóm các quốc gia có chất lượng thấp và trình độ yếu kém nhất khu vực Việt Nam có hơn 80% lực lượng lao động ở trình độ bậc thấp, phần lớn trong số này mới chỉ tốt nghiệp trung học cơ sở Trong khi đó, với chưa đến 20% lao động đã qua đào tạo, thì hầu hết là đào tạo nghề ở bậc trung cấp, cao đẳng

Có một điều đáng lưu ý đối với lao động Việt Nam đó là sự không phù hợp giữa trình độ, kỹ năng của người lao động được đào tạo ở các trường với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, dẫn đến việc các doanh nghiệp phải có các khoá học đào tạo lại cho người lao động trước khi đưa vào sử dụng Những vấn đề này tạo nên một rào cản không hề nhỏ của lực lượng lao động Việt Nam trên con đường hội nhập và cạnh tranh với các quốc gia khác trong khu vực trong bối cảnh lao động có tay nghề được phép tự do di chuyển như hiện nay Vì vậy,tác giả luận văn quyết định chọn đề

tài về “Tự do di chuyển lao động trong Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách

thức đối với Việt Nam”nhằm mục đích phân tích những vấn đề mà thị trường lao

động và lực lượng lao động Việt Nam sẽ đối mặt khi AEC được thành lập, giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng

Trang 15

lực lượng lao động Việt Nam, đồng thời giúp thị trường lao động và người lao động Việt Nam có thể tận dụng triệt để lợi ích mang lại từ AEC

Sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN thể hiện sự hợp tác sâu rộng và nhiều mặt của các quốc gia thành viên Quá trình này đã khẳng định rằng, các quốc gia trong ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng đang thực sự hội nhập mạnh mẽ vào xu hướng tất yếu của nền kinh tế thế giới – quá trình toàn cầu hóa Nghiên cứu về AEC nói chung và sự tự do di chuyển lao động nói riêng đang là một đề tài nhận được sự quan tâm của nhiều chuyên gia và giới truyền thông nghiên cứu về kinh tế quốc tế

và toàn cầu hóa Vì vậy, đây là một đề tài thực sự phù hợp và đi sát với chương trình đào tạo thạc sỹ chuyên ngành kinh tế quốc tế

Luận văn sẽ lần lượt đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi nghiên cứu sau:

1- Sự tự do di chuyển lao động trong AEC là như thế nào?

2- Thực tiễn về thị trường lao động của Việt Nam và các nước ASEAN đang như thế nào?

3- Những cơ hội và thách thứcmang lại từ sự tự do di chuyển lao động cho Việt Nam là gì?

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm ra và phân tích những cơ hội và thách thức của thị trường lao động và lực lượng lao động Việt Nam phải đối mặt khi Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập Đồng thời, nêu ra một vài giải pháp để Việt Nam tận dụng những cơ hội cũng như hạn chế những tác động không tốt mang lại

từ sự tự do di chuyển lao động trong AEC

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn bao gồm:

- Nghiên cứu về thị trường lao động và chính sách của các quốc gia trong khu vực ASEAN liên quan đến vấn đề tự do di chuyển lao động khi cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập

- Phân tích, đánh giá những cơ hội và thách thức mà lao động Việt Nam sẽ gặp phải khi tự do di chuyển lao động trong khu vực được thực thi, bao gồm những cơ hội và

Trang 16

thách thức ở thị trường lao động Việt Nam và ở thị trường lao động các nước thành viên

- Đề xuất một vài giải pháp để Việt Nam tận dụng hiệu quả cơ hội và đối phó với các thách thức đã chỉ ra ở trên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thị trường lao động và lực lượng lao động của các quốc gia thành viên ASEAN, trong đó nhấn mạnh đến thị trường lao động và lực lượng lao động của Việt Nam

4 Tính mới của luận văn

Luận văn sẽ làm rõ những điểm mới sau:

Phân tích và làm rõ tác động cũng như xu hướng của sự di chuyển lao động quốc tế

Phân tích, đánh giá di chuyển lao động trong Cộng đồng kinh tế ASEAN Phân tích và làm rõ các cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam trong AEC

5 Kết cấu luận văn

Luận văn có kết cấu 5 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tự

do di chuyển lao động trong ASEAN

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thị trường lao động và vấn đề tự do di chuyển lao động trong ASEAN Chương 4: Cơ hội và thách thức của lao động Việt Nam trong bối cảnh AEC

Trang 17

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tự do di chuyển lao động trong ASEAN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu về chung Cộng đồng kinh tế ASEAN và Việt Nam (VN)

Cộng đồng kinh tế ASEAN là một chủ đề rất được các nhà nghiên cứu kinh tế quan tâm bởi tính cấp thiết cũng như vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển và hội nhập của các quốc gia thành viên nói riêng và của cả khu vực nói chung Do có rất nhiều các công trình nghiên cứu về AEC nên luận văn xem xét các nghiên cứu này dưới các mặt như sau:

Các nghiên cứu về tiến trình hình thành AEC

Cuốn sách về “Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế” (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2015) do Nguyễn Hồng Sơn và Nguyễn Anh Thu đồng chủ biên đã trình bày một cách chi tiết thực tiễn hội nhập của một số khu vực điển hình trên thế giới như Châu Âu, Châu Phi, NAFTA, MERCOSUR, từ đó chỉ ra những khác biệt của tiến trình hình thành AEC thông qua phân tích, đánh giá việc thực hiện các trụ cột của AEC cũng như các công việc cần được ưu tiên thực hiện Cuốn sách cũng trình bày bối cảnh kinh tế thế giới nhằm chỉ ra những thách thức cũng như cơ hội mà AEC sẽ phải đối mặt.Vì vậy, đây là một cuốn sách nghiên cứu khá toàn diện về tiến trình hội nhập của AEC, từ bối cảnh quốc tế đến nội dụng thực hiện cũng như các kinh nghiệm thực tiễn đều được các tác giả trình bày và

phân tích một cách chi tiết Bài viết của tác giả Nguyễn Hồng Sơn (2007) “Cộng

đồng kinh tế ASEAN: Nội dung, các biện pháp thực hiện và những vấn đề đặt ra”

đã nhận định rằng AEC là một mô hình liên kết kinh tế khu vực, dựa trên và nâng cao các cơ chế liên kết hiện có, có bổ sung thêm hai nội dung mới là tự do di chuyển lao động và vốn được lưu chuyển tự do hơn Có thể coi AEC như là một

“FTA+” (khu vực mậu dịch tự do có bổ sung thêm sự di chuyển tự do của các yếu

tố sản xuất) hay một “Thị trường chung-” (một thị trường chung nhưng không có

Trang 18

chính sách chung) Về những vấn đề mà AEC đang phải đối mặt, tác giả Hoàng Thị

Thanh Nhàn và cộng sự (2013) trong bài viết “Hiện thực cộng đồng ASEAN 2015:

Thuận lợi và trở ngại” cũng đồng tình với quan điểm của tác giả Nguyễn Hồng Sơn

như : (i) Chênh lệch phát triển lớn; (ii) thị trường bị chia cắt; (iii) chủ nghĩa bảo hộ hay quốc gia hóa còn cao; (iv) đàm phán về thương mại, dịch vụ chậm và thiếu sự hợp tác tiền tệ Các tác giả còn chỉ ra xu hướng ly tâm của các quốc gia thành viên khi thấy rằng tỷ trọng đầu tư nội khối khiêm tốn hơn đầu tư ngoại khối và một số bất cập trong nguyên tắc và cơ chế hoạt động của AEC.Tác giả Võ Trí Thành (2012) còn chỉ ra một vấn đề gây trở ngại lớn cho tiến trình hội nhập của AEC trong

bài viết “Hội nhập kinh tế ASEAN: AEC và Việt Nam” đó là việc xây dựng thể chế

khu vực còn chưa được hoàn thiện, mặc dù đã có những tiến triển nhưng vẫn chưa bắt kịp tốc độ hội nhập Bên cạnh đó, bối cảnh phức tạp của thế giới ở thời điểm hiện tại như sự lớn mạnh của Trung Quốc, các nước BRIC, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng người di cư, … cũng đặt ra một thách thức lớn đối với một khu vực kinh tế còn khá non yếu như AEC

Như vậy, chúng ta thấy rằng, những nghiên cứu này đã nghiên cứu một cách khát quát nhất, tổng thể nhất về Cộng đồng kinh tế ASEAN chỉ ra những ưu điểm cũng như những hạn chế về thể chế, cách thức hoạt động của AEC mà chưa đi sâu phân tích những khía cạnh vấn đề cụ thể, ngành nghề cụ thể trong AEC

Các nghiên cứu về thời cơ, thách thức của Việt Nam khi AEC thành lập

Bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Thiên (2014)“Hội nhập cộng đồng kinh tế

ASEAN: Cơ hội và thách thức với VN” đã chỉ ra rằng, mặc dù lợi thế so sánh mà

VN có được là những lợi thế cấp thấp, nhưng AEC cũng sẽ mang lại cho VN nhiều

cơ hội tốt như tăng quy mô xuất khẩu đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ thương mại, thu hút đầu tư, tạo nhiều việc làm, mức lương của người lao động sẽ gia tăng, … tạo điều kiện để thúc đẩy nền kinh tế phát triển Nền kinh tế VN cũng sẽ đối mặt với nhiều thách thức như sự cạnh tranh gay gắt và khốc liệt ở tất cả các ngành của nền kinh tế, khả năng bị mất thị trường ngay cả thị trường nội địa, khả năng bị mất các nguồn vốn đầu tư và thị trường lao động cũng sẽ phải đối mặt với thách thức lớn từ

Trang 19

việc tự do di chuyển lao động Cũng nghiên cứu về chủ đề này,ngoài những vấn đề

nêu trên, tác giả Nguyễn Quốc Toản (2014) trong bài viết “Khơi thông các động lực

nhằm tạo lập vị thế của VN trong sân chơi Cộng đồng kinh tế ASEAN 2015” lại

nhấn mạnh đến việc VN cần phải thực sự nỗ lực để không rơi vào tụt hậu và bẫy thu nhập trung bình, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang có nhiều biến

động như hiện nay Tác giả Huỳnh Tấn Hưng (2014) với bài viết “Các chính sách

thực hiện hiệu quả của VN khi tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN” cũng là một

nghiên cứu sâu về nền kinh tế VN trong bối cảnh thành lập AEC, tác giả nhấn mạnh đến những khó khăn mà VN nói riêng và các nước ASEAN nói chung gặp phải khi thực hiện hiệp định ASEAN+1 với Trung Quốc với những lo ngại về tình trạng bị bạn hàng làm khó về giá, hợp đồng, khối lượng hàng hóa … Ngoài ra, tác giả cũng nhấn mạnh đến những thuận lợi và khó khăn của VN về vấn đề cải cách trong nội

bộ để phù hợp với hoàn cảnh mới khi thành lập AEC như cải cách các chính sách, pháp luật, thể chế; tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước; tái cơ cấu lại ngành nông

nghiệp …Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tâm (2014) với “Cơ hội và thách thức của

VN khi gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN” đã đặc biệt nhấn mạnh ở những thuận

lợi từ việc giảm thuế và mở rộng cơ hội xuất khẩu Theo đó, việc xuất khẩu sang các nước ASEAN sẽ dễ dàng gần như bán hàng trong nước bởi hầu hết các dòng thuế đều về 0% Nhưng khó khăn do năng suất lao động thấp là một trở ngại lớn cho

VN bởi nó có thể làm xói mòn lợi thế lao động giá rẻ của chúng ta so với các nước trong khu vực

Như vậy, những nghiên cứu trên đã phân tích những cơ hội và thách thức mà Việt Nam sẽ phải đối mặt khi Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu phân tích các cơ hội và thách thức của Việt Nam trên phương diện tổng thể, hoặc thiên hơn về phương diện kinh tế và chưa có nghiên cứu nào đi vào phân tích trên phương diện lao động và tự do di chuyển lao động

Các nghiên cứu về AEC trong một số lĩnh vực cụ thể

Về lĩnh vực đầu tư, tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2014) có bài viết về “Tự do hóa đầu tư trong AEC và sự tham gia của VN” nghiên cứu về sự tham gia của VN

Trang 20

vào AEC trong lĩnh vực tự do hóa đầu tư thông qua phân tích (i) các cam kết và việc thực hiện cam kết của Việt Nam trong Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA); (ii) thực trạng quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài của ASEAN và Việt Nam; (iii) cơ hội và thách thức mà AEC mang lại cho Việt Nam từ góc độ tự do hóa đầu tư Theo tác giả, ASEAN là khu vực tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Với lợi thế về lao động giá rẻ, Việt Nam đang tận dụng tốt ưu thế của mình nên lượng FDI đổ vào VN đang tăng dần theo từng năm Việc tự do hóa đầu tư sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình biến ASEAN thành một cơ sở sản xuất thống nhất, khi đó VN không chỉ tham gia vào công đoạn thấp mà còn có cơ hội tham gia vào công đoạn cao hơn trong chuỗi giá trị sản xuất khu vực Tuy nhiên, tác giả lo ngại rằng, khi lợi thế này ngày càng mất

đi do sự cân bằng giá cả trong khu vực thì VN có thể cạnh tranh với các nước ASEAN phát triển trước trong thu hút FDI ở các công đoạn cao hơn, mà ở đó yếu tố công nghệ và lao động có chất lượng là yếu tố quyết định?

Về vấn đề thương mại quốc tế, tác giả Hà Văn Hội (2013) có bài viết “Tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN và những tác động đến thương mại quốc tế của VN” Bài

viết chú trọng vào phân tích những tác động của AEC đến thương mại quốc tế của

VN mà chủ yếu là trong thương mại hàng hóa Theo đó, AEC sẽ là một nhân tố tác động mạnh mẽ đến việc gia tăng khối lượng trao đổi hàng hóa, tăng trưởng và làm thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu theo hướng tích cực, gia tăng năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu và mở rộng thị trường cho hàng hóa VN ra nước ngoài Đồng thời giúp ồn định nguồn nhập khẩu và giảm giá đầu vào hàng nhập khẩu Tuy nhiên, VN phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt hơn không chỉ ở thị trường nước ngoài mà cả thị trường nội địa bởi những cơ hội và ưu tiên mà AEC mang lại cho các quốc gia thành viên là đồng đều nhau Đặc biệt là lĩnh vực thương mại dịch vụ như logistic, vận tải, ngân hàng, tài chính … là ngành mà VN yếu thế hơn hẳn các thành viên ASEAN-5 về thực lực tài chính, công nghệ, mạng lưới rộng lớn và tính

đa dạng về sản phẩm

Trang 21

Về vấn đề hợp tác tiền tệ, tác giả Nguyễn Tiến Dũng (2012) cũng có những đánh giá

và phân tích qua bài viết “Hợp tác tiền tệ ASEAN và các vấn đề chính sách đối với

VN” Tác giả nhận định rằng, ASEAN đang ở trong giai đoạn đầu tiên của quá trình

hợp tác tiền tệ và chính sách kinh tế vĩ mô, các nỗ lực hợp tác hướng tới việc tăng cường khả năng của khu vực trong việc ngăn ngừa và đối phó với các cuộc khủng hoảng Hợp tác tiền tệ ASEAN được thực hiện chủ yếu thông qua các cơ chế đối thoại chính sách và giám sát kinh tế vĩ mô cũng như các cơ chế hoán đổi tiền tệ được xác lập trong khuôn khổ ASEAN và ASEAN+3 VN có nhiều cơ hội để giảm thiểu các chi phí giao dịch cũng như các chi phí cho việc phối hợp các chính sách; giảm thiểu được tác động của những cú sốc về tổng cung, tổng cầu Tuy nhiên, việc thực thi hợp tác tiền tệ trong một hệ thống tài chính yếu kém và bị méo mó bởi sự can thiệp của chính phủ như một số nước ở ASEAN trong đó có VN có thể dẫn đến một số hậu quả lớn, thậm chí là khủng hoảng Bên cạnh đó, sự khác biệt về thể chế, chính sách và mục tiêu kinh tế cũng như trình độ phát triển của các quốc gia trong ASEAN cũng một trở ngại lớn cho tiến trình hợp tác tiền tệ của khu vực

Về lĩnh vực thương mại dịch vụ, tác giả Phạm Hùng Tiến (2014) thông qua bài viết

“Hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN: “Góc nhìn từ ngành dịch vụ Logistic Thái

Lan và vận dụng kinh nghiệm phát triển logistic tại VN” đã phân tích vai trò của

ngành dịch vụ Logistics tại Thái Lan trong quá trình xây dựng AEC 2015 và vận dụng kinh nghiệm phát triển ngành này tại Việt Nam Tại Thái Lan, ngoài việc hỗ trợ bằng hệ thống chính sách, Chính phủ Thái Lan còn chủ động đầu tư mạnh cho

hạ tầng Logistics và duy trì hệ thống giám sát, đánh giá liên tục hiệu quả Việt Nam

là quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi, nhất là đường biển, do vậy lĩnh vực Logistics

có nhiều tiềm năng phát triển Việc thực hiện có kết quả lộ trình hội nhập logistics với những biện pháp như cải thiện cơ sở hạ tầng, triển khai các thủ tục thông quan điện tử, hoàn thiện khung pháp lý… sẽ giúp Việt Nam phát triển ngành dịch vụ Logistics, góp phần xây dựng ASEAN thành một trung tâm dịch vụ logistics toàn cầu

Trang 22

Như vậy, những nghiên cứu trên đã phân tích những tác động của hội nhập AEC đến Việt Nam trên một số các phương diện như tiền tệ, logistic, thương mại quốc tế

… nhưng chưa có nghiên cứu nào đi vào phân tích trên phương diện lao động và tự

do di chuyển lao động cũng như những tác động của nó đến Việt Nam

1.1.2 Các nghiên cứu về thị trường lao động ASEAN trong bối cảnh thành lập AEC

Tác giả Nguyễn Thường Lạng và cộng sự (2015) về“Đánh giá mức độ sẵn sàng của

nguồn nhân lực Việt Nam khi tham gia AEC” đã đưa ra những phân tích đánh giá

chủ yếu về các yếu tố cản trở hoặc làm giảm khả năng sẵn sàng tham gia hội nhập của lao động VN như năng suất lao động thấp, trình độ chuyên môn không đồng và vấn đề chuẩn bị kỹ năng, tháiđộ cho việc di chuyển lao động chưa cao Tác giả nhấn mạnh rằng, hiện nay việc học những ngôn ngữ của các quốc gia ASEAN đang rất hạn chế đặc ở cả các thành phố lớn, vì vậy mà khả năng thích nghi với môi trường mới cũng khó khăn hơn rất nhiều Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra một số lợi ích cho thị trường lao động của các quốc gia ASEAN như tạo thêm cơ hội thu nhập cho lao động có kỹ năng, thúc đẩy các lao động không có kỹ năng tăng cường học tập để có

cơ hội nghề nghiệp tốt, thúc đẩy các quốc gia hoàn thiện các thể chế và chính sách

giáo dục đào tạo Tác giả Bùi Thị Minh Tiệp (2015)“Nguồn nhân lực của các nước

ASEAN và những tham chiếu đến Việt Nam trước thềm hội nhập AEC” đã phân tích

sâu về thực trạng nhân lực của các quốc gia thành viên ASEAN cả về mặt chất lượng và số lượng Theo nhận định của tác giả,mặc dù hầu hết các quốc gia khác ASEAN đã hoặc đang sắp sửa ở giai đoạn dân số vàng nhưng nếu chỉ có số lượng lao động lớn nhưng lại hạn chế về trình độ chuyên môn và kỹ năng thì chất lượng tăng trưởng sẽ không cao và không thể đảm bảo tăng trưởng trong dài hạn Bên cạnh đó, chất lượng lao động của các quốc gia trong ASEAN lại không đồng đều Như so sánh của tác giả, nếu coi năng lực lao động của VN là 1 thì của Thái Lan là 3.63 và của Singapo là 39.05, trong khi đó, năng suất lao động của VN vẫn được đánh giá cao hơn Lào, Campuchia hay Myanmar Bài viết cũng chỉ ra rằng, các

Trang 23

quốc gia đanghướng đến những chiến lượcnâng cao và phát triển nguồn nhân lực rất khác nhau, và thậm chí còn thiết lập những quy định riêng đối với lao động từ nước ngoài Chính vì vậy, việc hòa hợp thị trường lao động giữa các quốc gia không hề

dễ dàng Cũng nghiên cứu về thị trường lao động ASEAN, bài báo cáo “ASEAN

Cummunity 2015: Managing integration for better jobs and shared sprosperity”

(ADB/ILO, 2014) đã chỉ ra và phân tích tỉ mỉ các vấn đề của thị trường lao động các quốc gia ASEAN Theo đó, số lượng và tỷ lệ người dân sống trên mức nghèo đói đã tăng nhưng không ổn định Chỉ số bất bình đẳng về thu nhập của các quốc gia là khá cao và cao hơn ở các thành thị, đồng thời mức chênh lệch phát triển giữa các quốc gia ASEAN-6 và các nước CLMV là một khoảng trống khá lớn ASEAN cũng có sự bất bình đẳng giới tính khi người phụ nữ thường chịu thiệt thòi hơn về tỷ

lệ tham gia lực lượng lao động, tiền lương, điều kiện làm việc và cơ hội được đối xử tốt trong việc làm Tuy mức tăng trưởng của việc làm đã gia tăng và tỷ lệ thất nghiệp có giảm trong những năm gần đây, nhưng một điều đáng lưu ý là tỷ lệ thất nghiệp ở người trẻ lại gia tăng (khoảng 13.1%) Tỷ lệ lao động trong những công việc dễ bị tổn thương hoặc điều kiện làm việc nghèo nàn, thiếu các phúc lợi xã hội

cơ bản nhất và thiếu cả sự bảo vệ của pháp luật còn cao

Aniceto C Orbeta, Jr và Kathrina Gonzales (2013)“Managing international labor

migration in ASEAN: Themes from a six-country study” Bài viết nghiên cứu về

kinh nghiệm quản lý lao động nhập cư của 6 quốc gia trong cộng đồng ASEAN, bao gồm 3 nước có lượng lao động di cư lớn là Campuchia, Philippin, Indonesia; và 3 nước tiếp nhận lao động nhập cư là Singapo, Malaysia và Thái Lan Tác giả đã tập trung phân tích 7 vấn đề chính về kinh nghiệm quản lý lao động di cư trong các quốc gia ASEAN gồm (1) lao động di cư quốc tế trong nỗ lực phát triển của các quốc gia và cả khu vực; (2) các thỏa thuận song phương và đa phương liên quan đến vấn đề di cư; (3) sự khác biệt về thể chế và chính sách liên quan đến việc bảo vệ lao động di cư giữa các quốc gia; (4) sự cần thiết phải nỗ lực xây dựng một cơ chế hành chính chung về các quy định di cư; (5) vai trò của các ngành phụ trợ trong việc quản

lý di cư; (6) sự cần thiết phải mở rộng hơn nữa sự phối hợp để giải quyết vấn đề di

Trang 24

cư bất hợp pháp và (7) liên quan đến việc xây dựng chính sách bảo vệ quyền lợi cho người nhập cư Theo đó, nghiên cứu chỉ ra rằng, cần phải xem xét các lợi ích và tổn thất gây ra bởi vấn đề di cư lao động quốc tế trong một tổng thể không thể tách rời ở

cả nước nhận và nước gửi lao động bởi mỗi quốc gia, dù đó là nước nhận hay nước gửi hay là đồng thời vừa có quá trình di cư vừa có cả nhập cư thì đều có cả lợi ích

và tổn thất từ quá trình đó Đồng thời, giữa các quốc gia đang tồn tại sự khác biệt, thậm chí là mâu thuẫn nhau về thể chế thị trường lao động và năng lực hành chính nên cần thiết phải xây dựng một hệ thống quản lý di cư và chính sách bảo vệ người

di cư chung Và cuối cùng là nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ thể “người di cư”, theo đó, các nhà hoạch định chính sách cần phải thường xuyên tiếp cận và tìm hiểu nhu cầu của chủ thể chính để đưa ra các chính sách phù hợp Natenapha Wailerdsak

(2013)“Impact of the ASEAN economic community on labour market and human

resource management in Thailand” tập trung phân tích 4 vấn đề chính bao gồm: (1)

đặc điểm của thị trường lao động và năng suất lao động của các quốc gia ASEAN; (2) những tác động của AEC lên sự di chuyển qua biên giới của lao động có kỹ năng và không có kỹ năng; (3) sự quản lý nguồn nhân lực quốc tế của các công ty xuyên quốc gia đến từ Thái Lan và (4) chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với Thái Lan Theo đó, tác giả đồng ý rằng, ASEAN đang đứng trước một cơ hội lớn với nguồn nhân lực dồi dào, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động lớn Tuy nhiên, năng suất lao động khá thấp và không đồng đều, đặc biệt là so với Trung Quốc và Ấn Độ Tác giả chỉ ra Thái Lan có ưu thế là nước được đánh giá có chất lượng lao động cao hơn một số quốc gia trong khu vực, đồng thời cũng là nước có một số lượng lớn cả lao động di cư và nhập cư Tuy vậy, Thái Lan phải đối mặt với tình trạng già hóa dân số nhanh và sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp cần nhiều lao động nên đây là một điểm đến hấp dẫn với những người di cư chất lượng thấp mà chủ yếu là nhập cư trái phép Các công ty đa quốc gia của Thái Lan đang có xu hướng tăng cường gửi những quản lý người Thái đến tiếp quản các chi nhánh ở các quốc gia khác, đồng thời cũng tích cực tuyển dụng những nhân viên bản xứ để tiết kiệm chi phí cũng như thuận lợi hơn trong quá trình làm việc Tác giả Nguyễn Huy Hoàng

Trang 25

(2013) cũng nghiên cứu về thị trường lao động ASEAN thông qua bài viết:“Toward

and intergrated ASEAN labor market: Prospects and challenges for CLMV countries” Trong bài nghiên cứu này, tác giả tập trung giải quyết hai vấn đề chính,

bao gồm: (1) Nội dung chủ yếu của cam kết ASEAN về vấn đề hội nhập thị trường lao động ASEAN và (2) Những triển vọng và thách thức mà các nước CLMV sẽ phải đối mặt Tác giả nhấn mạnh sự chênh lệch về trình độ phát triển trong các nước ASEAN vẫn đang rất lớn vì vậy việc ASEAN chỉ đề cập đến sự tự do di chuyển của lao động có kỹ năng và các chuyên gia là cần thiết và đúng đắn Tuy nhiên, hiện tại tình trạng nhập cư trái phép vẫn diễn ra mạnh mẽ và gây ra nhiều quan ngại cho các quốc gia

Như vậy, các nghiên cứu trên đã đi sâu vào phân tích lao động và thị trường lao động của Việt Nam cũng như các quốc gia ASEAN trong những năm gần đây Tuy nhiên, những nghiên cứu này chưa thực sự phân tích trên nền tảng sự di chuyển tự

do lao động trong bối cảnh AEC

1.1.3 Các nghiên cứu về vấn đề tự do di chuyển lao động trong bối cảnh thành lập AEC

Vấn đề tự do di chuyển lao động trong Cộng đồng kinh tế ASEAN là một vấn đề nóng hổi và nhận được nhiều sự quan tâm của các chuyên gia kinh tế Do sự tự do

di chuyển lao động chưa thực sự có hiệu lực nên ở thời điểm này, các nghiên cứu chủ yếu dựa trên cơ sở phân tích các điều khoản trong các hiệp định liên quan, cũng như phân tích các thể chế, chính sách của các quốc gia để chuẩn bị cho sự hội nhập

về lao động này Một nghiên cứu khá kỹ lưỡng và đầy đủ nhất về sự tự do di chuyển lao động trong ASEAN theo tinh thần trên là bài viết của tác giả Siow Yue Chia

(2014) “Charter 4: Free flow of skilled labor in the AEC” Đây là một bài nghiên

cứu và phân tích kỹ càng về các điều khoản quy định về việc tự do di chuyển lao động trong các hiệp định thương mại song phương, đa phương giữa các quốc gia ASEAN trong nội bộ hoặc với các đối tác bên ngoài; cũng như về công nhận bằng cấp, chất lượng của các chuyên gia Bài viết cũng phân tích về một khía cạnh nổi

Trang 26

bật nhất nảy sinh từ vấn đề tự do di chuyển lao động đó là chảy máu chất xám, những lợi ích cũng như tổn thất mà cả nước tiếp nhận lao động và nước gửi lao động phải đối mặt Bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn đi sâu phân tích những chính sách của các quốc gia nhằm khuyến khích hoặc hạn chế dòng chảy của lao động vào hoặc ra khỏi nước mình Theo đó, có nhiều nguyên nhân gây hạn chế hoặc cản trở vấn đề tự do di chuyển lao động giữa các quốc gia ASEAN do việc bảo hộ lao động trong nước, bao gồm: các yêu cầu về visa, hộ chiếu; quy định về dự trữ việc làm cho công dân bản địa; giới hạn về số lượng lao động, lĩnh lực hoạt động và nghề nghiệp được phép nhập cư vào nước tiếp nhận lao động; các bài kiểm tra về kinh tế

và thị trường lao động; yêu cầu có giấy phép của hội đồng chuyên gia quốc gia; yêu cầu về ngôn ngữ …Trong báo cáo của ILO và ADB đã đề cập ở trên cũng có đề cập đến vấn đề tự do di chuyển lao động Báo cáo khẳng định rằng, vấn đề tự do di chuyển lao động trong ASEAN chỉ giới hạn ở những lao động có kỹ năng, nhưng vấn đề di chuyển của lao động không có kỹ năng trong nội bộ ASEAN vẫn sẽ tiếp tục gia tăng trong ngắn hạn và trung hạn bởi yếu tố nhân khẩu học (tình trạng già hóa dân số ở một số nước) và những khác biệt về sự phát triển kinh tế Theo bài viết, công cụ hỗ trợ chính cho sự tự do di chuyển này là Thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRAs), tuy nhiên, việc thực hiện MRAs sẽ phải đối mặt với một số khó khăn như sự khác biệt về hệ thống giáo dục, bằng cấp, các quy định của mỗi quốc gia cũng như khác biệt về yếu tố văn hóa, xã hội … Cũng đồng tình với quan điểm trên,

tác giả Aniceto C Orbeta, Jr và cộng sự (2013) có bài phân tích “Enhancing labor

mobility in ASEAN: Focus on lower-skilled workers”đã tập trung nghiên cứu về

một góc độ khác của sự tự do di chuyển lao động trong ASEAN, đó là sự di chuyển của lao động không có kỹ năng hoặc kỹ năng thấp hay lao động phổ thông Theo đánh giá của tác giả, lao động có kỹ năng của khu vực chủ yếu di cư sang các nước OECD, trong khi đó, sự di cư trong nội bộ lại chủ yếu là lao động phổ thông Dòng

di cư này đã và đang rất mạnh mẽ và có một tác động lớn, thậm chí lớn hơn rất nhiều đối với tác động của dòng di cư lao động có kỹ năng trong nội bộ khu vực đến cả nước nhận và gửi lao động Chính vì vậy, bài viết tập trung phân tích hai vấn

Trang 27

đề chính đó là (i) mô tả các chính sách và thể chế của các nước thành viên ASEAN

ở cả mức độ quốc gia và khu vực mà hiện đang chi phối sự di chuyển lao động (cả

có kỹ năng và không có kỹ năng) và (ii) phân tích các khuôn khổ hỗ trợ để hướng tới việc xây dựng hiệp định về sự tự do di chuyển của lao động phổ thông Nhóm

tác giả Wolfgang Form và các cộng sự (2014) có bài viết “Challenges for

Vietnam’s participation in AEC when it comes to one of the intergration pillars: Free flow of skilled labor and lessions learned from European Union” Bài viết còn

phân tích những thực trạng yếu kém của lao động Việt Nam khi phải đối mặt với sự

tự do di chuyển lao động này như sự thiếu hụt của lao động có tay nghề cao trong khi lao động phổ thông lại chiếm đa số; chất lượng đào tạo của các trường đại học chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động; ngoại ngữ kém và năng suất lao động thấp … Để dòng chảy tự do của lao động có kỹ năng thực sự có hiệu quả, và góp phần giúp Việt Nam chấn chỉnh lại đội ngũ lao động của mình, các tác giả của bài viết đã đi phân tích về vấn đề tự do di chuyển lao động ở Cộng đồng Châu Âu như là một bài học kinh nghiệm về sự thành công của vấn đề này

Như vậy, các nghiên cứu này đã dựa trên nền tảng của sự tự do di chuyển lao động trong AEC để phân tích Nhưng các nghiên cứu này chưa có một nghiên cứu nào đi sâu vào phân tích lao động và thị trường lao động của Việt Nam

1.1.4 Khoảng trống nghiên cứu và định hướng đề tài

Như vậy, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về các vấn đề xung quanh việc thành lập AEC, các tác động của AEC đến các phương diện khác nhau như thương mại quốc

tế, logistic, tiền tệ , cũng như rất nhiều nghiên cứu về một số khía cạnh của lao động Việt Nam và vấn đề tự do di chuyển lao động trong các quốc gia thành viên ASEAN, nhưng vẫn chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách trọn vẹn, tổng thể nhất về tác động của vấn đề tự do di chuyển lao động trong AEC đến Việt Nam, trong đó có những cơ hội và thách thức mà nó mang lại Vì vậy, tác giả luận văn đã quyết định lựa chọn khía cạnh này làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp

Trang 28

thạc sỹ của mình Đề tài mang tên: “Tự do di chuyển lao động trong cộng đồng kinh

tế ASEAN: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề di chuyển lao động

1.2.1 Các khái niệm liên quan

Lao động, trong kinh tế học, được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra

và là một dịch vụ hay hàng hóa Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất Còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động Cũng như mọi hàng hóa

và dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường laođộng Giá cả của laođộng là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động Mức tiền công chính là mức giá của lao động

Theo Mac-Lenin, Lao động là nguồn của mọi của cải và mọi văn hoá, và vì lao động có ích thì chỉ có thể có được trong xã hội và do xã hội, cho nên thu nhập do lao động đem lại là thuộc về tất cả mọi thành viên trong xã hội một cách không bị cắt xén, theo những quyền ngang nhau Người lao động là một yếu tố của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất là toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ thuật của quá trình sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra sức sản xuất làm cải biến các đối tượng trong quá trình sản xuất, tức là tạo ra năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội.Lực lượng sản xuất bao gồm: Người laođộng và các tư liệu sản xuất (gồm đối tượng laođộng và tư liệu lao động) trong đó nhân tố người lao động giữ vai trò quyết định

Trong luận văn này, các nghiên cứu của các tác đều đi theo thiên hướng về khái niệm lao động của Kinh tế học, tức, lao động là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa Lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động

Trang 29

Di chuyển lao động quốc tế là sự di cư của người lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác hoặc trong phạm vi quốc gia cư trú, kèm theo sự thay đổi về chỗ ở (IOM, 2011)

Lao động di cư là một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân (UN, 1990)

Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sau đây gọi là người lao động đi làm việc ở nước ngoài) là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này Xuất khẩu lao động là hoạt động mua bán hàng hoá sức lao động nội địa cho người sử dụng lao động nước ngoài (Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, 2006)

1.2.2 Các lý thuyết về di chuyển lao động

Vấn đề di chuyển lao động được nghiên cứu chủ yếu thông qua các lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giữa các khu vực Lao động là một yếu tố đầu vào biến đổi của quá trình sản xuất, vì vậy nó cũng chịu sự điều tiết của các quy luật cung-cầu, giá cả, quy luật lợi ích cận biên giảm dần theo quy mô… Theo đó, sự di chuyển của lao động giữa các ngành kinh tế luôn xảy ra, chịu sự điều tiết của thị trường và hướng tới sự cân bằng nền kinh tế

1.2.2.1.Lý thuyết về di chuyển các nguồn lực sản xuất

Lý thuyết về sự di chuyển của các nguồn lực sản xuất được nêu trong cuốn sách

Kinh tế quốc tế: Các lý thuyết và chính sách của Paul K Krugman, Maurice

Obstfeld với sự di chuyển của ba yếu tố sản xuất cơ bản là lao động di cư, dịch chuyển vốn thông qua vay-mượn quốc tế và sự liên kết quốc tế cùng với sự hình thành của các tập đoàn xuyên quốc gia Tuy nhiên, ở đây, tác giả chỉ xin trình bày

rõ về sự di chuyển của yếu tố lao động

Trang 30

Bắt đầu bằng mô hình với 2 quốc gia (nước Nhà và nước Ngoài), có 2 yếu tố sản xuất là lao động và đất đai, cùng sản xuất một hàng hoá duy nhất gọi chung là sản lượng và không có sự giao thương giữa 2 quốc gia này Theo quy luật năng suất cận biên giảm dần, khi cả 2 quốc gia đều gia tăng đầu vào là lao động và đất đai, thì sản lượng càng gia tăng, như mức tăng giảm dần Giả sử, nước Nhà là nước có tỷ lệ lao động lớn hơn đất đai còn nước Ngoài thì ngược lại, có tỷ lệ đất đai lớn hơn lao động, khi đó, ở nước Nhà, yếu tố đất ngày càng khan hiếm khiến cho lao động dư thừa và giá nhân công ngày càng giảm, bên cạnh đó, giá nhân công ở nước Ngoài ngày càng tăng do sự khan hiếm lao động và dư thừa đất đai

Trong bối cảnh đó, giả sử có sự di chuyển nguồn lực giữa 2 quốc gia, thì lao động ở nước Nhà sẽ di chuyển sang nước Ngoài, khiến cho năng suất lao động của nước Nhà tăng lên, kéo theo giá nhân công cũng tăng lên và giá nhân công ở nước Ngoài giảm xuống do sức ép về sự thiếu hụt lao động giảm Sự di chuyển này sẽ tiếp tục diễn ra cho đến khi giá lao động ở 2 quốc gia đồng đều nhau

1.2.2.2 Lý thuyết về tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa hai khu vực của nền kinh tế - Mô hình hai khu vực cổ điển của Arthur Lewis

Arthur Lewis đã phân chia nền kinh tế làm hai khu vực là nông nghiệp và công nghiệp và giải thích mối quan hệ giữa chúng thông qua sự di chuyển của lao động Lao động ban đầu tập trung chủ yếu trong nông nghiệp và chịu tác động của quy luật lợi ích cận biên giảm dần theo quy mô Tức là càng bổ sung nhiều lao động cho nông nghiệp thì năng suất thu được trên mỗi lao động sẽ giảm dần cho đến lúc bằng

0 Đến lúc đó, sẽ có sự dư thừa lao động trong nông nghiệp Ngành công nghiệp cần trả công cao hơn để lôi kéo được lao động từ nông nghiệp sang Như vậy, sự di chuyển của lao động là do sựdư thừa việc làm trong ngành nông nghiệp và do sự gia tăng của tiền công trong ngành công nghiệp Theo A.Lewis, đến một thời điểm nào

đó nông nghiệp không bị dư thừa lao động nữa, và công nghiệp muốn tiếp tục bổ sung thêm lao động thì phải gia tăng tiền công Như vậy, theo lý thuyết này, vấn đề

di chuyển lao động là một vấn đề cốt lõi trong mối quan hệ giữa hai khu vực của

Trang 31

nền kinh tế Động lực của di chuyển lao động là sự dư thừa việc làm ở khu vực có nhiều lao động và sự gia tăng tiền công ở khu vực thiếu hụt lao động

1.2.2.3 Mô hình hai khu vực của trường phái tân cổ điển

Trường phái tân cổ điển cũng xem xét nền kinh tế với hai khu vực chủ đạo là nông nghiệp và công nghiệp và nghiên cứu mối liên hệ giữa hai khu vực này thông qua vấn đề di chuyển lao động Quan điểm của trường phái này có chút khác biệt với quan điểm của A.Lewis, đó là, khu vực nông nghiệp, mặc dù vẫn chiếm một số lượng lao động lớn và lao động vẫn chịu tác động của quy luật năng suất cận biên giảm dần theo quy mô, nhưng năng suất cận biên của lao động luôn luôn lớn hơn 0

Có nghĩa là, cho dù bổ sung một số lượng lao động ngày càng lớn thì năng suất nông nghiệp sẽ ngày càng tăng, mặc dù mức tăng sẽ ngày càng giảm đi, nhưng luôn luôn lớn hơn 0 Điều đó có nghĩa là sẽ không bao giờ có sự dư thừa lao động trong nông nghiệp Và do đó, công nghiệp muốn lôi kéo được lao động thì phải trả công cao hơn, và tiền công này sẽ ngày càng tăng khi công nghiệp càng sử dụng nhiều lao động do các nguyên nhân sau: (i) sản phẩm biên của lao động khu vực nông nghiệp luôn lớn hơn 0, khi chuyển dịch lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp sẽ làm tăng liên tục sản phẩm cận biên của lao động còn lại trong nông nghiệp, cho nên khu vực công nghiệp phải trả mức tiền công ngày càng tăng và (ii) khi lao động chuyển khỏi nông nghiệp làm cho đầu ra của nông nghiệp giảm xuống và kết quả là giá cả nông sản ngày càng cao, tạo ra áp lực phải tăng lương cho người lao động Như vậy, theo quan điểm của trường phái tân cổ điển, di chuyển lao động vẫn là vấn

đề cốt lõi trong mối quan hệ giữa các khu vực của nền kinh tế Tuy nhiên, động lực của sự di chuyển này là do sự gia tăng tiền công trong ngành công nghiệp

1.2.2.4 Lý thuyết của Harry T.Oshima

Oshima nghiên cứu mối quan hệ giữa hai khu vực của nền kinh tế dựa trên nhữngđặcđiểm khác biệt của các nước châuÁ, đó là một nền nông nghiệp lúa nước

có tính thời vụ cao, thời gian cao điểm của vụ mùa vẫn xảy ra tình trạng thiếu hụt lao động, nhưng lại dư thừa lao động vào mùa nhàn rỗi Ông cho rằng, việc lao

Trang 32

độngnông nghiệp có thể chuyển sang ngành công nghiệp vào mùa nhàn rỗi là khó xảy ra và không phù hợp vớiđặcđiểm kinh tế của các nước châu Á Quan điểm củaông về sự tăng trưởng của nền kinh tếđược phân tích quan ba giai đoạn sau: Giai đoạn 1: Tạo việc làm cho lao động vào mùa nhàn rỗi theo hướngđầu tư phát triển cho nông nghiệp bằng cách đa dạng hóa cây trồng, xen canh, tăng vụ, đầu tư phát triển chăn nuôi, đánh bắt… vì vậy việc làm sẽ tăng lên và thu nhập của người dân cũng tăng lên Theo đó, nhu cầu về các loại phân bón, giống, các công cụ hỗ trợ nông nghiệp, vận chuyển hàng hóa, buôn bán giao thương cũng tăng cao, tạo tiềnđềđể ngành công nghiệp và dịch phát triển.Như vậy, ở giai đoạn này, không có

sự di chuyển laođông giữa các khu vực của nền kinh tế bởi công nghiệp vừa mới ra đời

Giai đoạn 2: Tạo việc làmđầy đủ cho tất cả các khu vực của nền kinh tế bởi công nghiệp và các dịch vụ phụ trợđã phát triển nhằm chế biến nông sản, vận chuyển, buôn bán, xuất khẩu nông sản …Vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thịđể phát triển công nghiệp cũng tăng cao Mứcđộ tăng trưởng việc làm tăng cao hơn mứcđộ tăng trưởnglaođộng, thị trường lao động thu hẹp, tiền lương thực tếđược gia tăng Như vậy, di chuyển laođộng diễn ra trong giai đoạn này do nhu cầu bức thiết của nền kinh tế và xảy ra như một vấn đề tất yếu của xã hội chứ không hẳn là do sự thiếu hụt việc làm hay do động lực từ tiền công

Giai đoạn 3: Phát triển kinh tếtheo chiều sâu để giảm cầulaođộng khi các khu vực tăng trưởng mạnh mẽ, nhu cầu lao động tăng cao và thiếu hụt lao động trầm trọng

Vì thế, phải đầu tư phát triển theo chiều sâu khu vực nông nghiệp, để rút bớt lao động từ nông nghiệp để chuyển sang công nghiệp và dịch vụ Như vậy, ở giai đoạn này, sự di chuyển lao động chủ yếu là do sự dư thừa lao động trong nông nghiệp và thiếu hụt lao động trong công nghiệp, dịch vụ cho dù không có sự chênh lệch nhiều

về tiền công giữa các khu vực của nền kinh tế

1.2.2.5 Lý thuyết về tạo việc làm bằng di chuyển lao động của Harris-Todaro

Trang 33

Mô hình di chuyển lao động của Harris-Todaro giả thuyết rằng, việc di cư là quyết định tự phát của chínhbản thân người lao động và động lực của sự di cư là sự chênh lệch về tiền lương giữa vùng nông thôn và thành thị Theo đó, vì một vài lý do mà mức tiền công ở thành thị luôn cao hơn ở vùng nông thôn, nên sẽ có một số lượng người lao động di cư từ nông thôn ra thành thị Tuy nhiên, không phải người di cư nào cũng tìm được công việc mong muốn và mức lương mong muốn ở thành thị, do

đó, sẽ luôn có một số lượng người thất nghiệp ở thành thị, và một số lượng khác, họ phải tự tạo ra công việc cho mình ở thành thị và hình thành nên bộ phận lao động không chính thức Như vậy, theo mô hình này, một khi vẫn còn sự chênh lệchtiền lương giữa 2 khu vực kinh tế thì vẫn sẽ còn sự di chuyển lao động cho dù ở thành thị luôn duy trì một tỷ lệ người thất nghiệp Harris-Todaro cho rằng, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức lương củabộ phận lao động chính thức ở thành thị, mức lương của bộ phậ lao động không chính thức, mức

độ lo sợ rủi ro của người lao động khi quyết định di cư, tỷ lệ lạm phát của nền kinh

tế …

1.2.3 Tác động của di chuyển lao động quốc tế

Di cư quốc tế là sự di chuyển của những người rời nước gốc hoặc nước cư trú thường xuyên để tạo lập một cuộc sống mới tại nước khác, kể cả tạm thời hoặc lâu dài, vì thế họ phải vượt qua biên giới quốc tế Di chuyển lao động quốc tế là sự di chuyển người từ quốc gia này sang quốc gia khác với mục đích làm việc Vì vậy, vấn đề di chuyển lao động quốc tế liên quan mật thiết đến việc đảm bảo quyền con người, đảm bảo phúc lợi xã hội cho người lao động và còn ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế, văn hóa, xã hội của nước tiếp nhận và nước gốc

1.2.3.1 Tác động tích cực

Phân phối lại thu nhập: Tìm kiếm một thu nhập cao hơn luôn là một trong những mục tiêu trước nhất của lao động khi di chuyển đến nước khác, do vậy mà di chuyển lao động quốc tế sẽ góp phần phân phối lạithu

Trang 34

nhập giữa các tầng lớp lao động trong một đất nước và giữa các quốc gia với nhau

Sử dụng hiệu quả và gia tăng cạnh tranh trong lực lượng lao động sẽ làm tăng năng suất lao động: Khi thị trường lao động được mở rộng sang nhiều quốc gia, người lao động có cơ hội tìm kiếm cho mình một việc làm phù hợp nhất và sử dụng tốt nhất năng lực của bản thân Đồng thời, khi đó, sẽ tạo nên một sự cạnh tranh giữa lao động bản địa và người nhập

cư khiến họ đều phải cố gắng để làm việc hết khả năng của mình Chính những điều này sẽ làm gia tăng năng suất lao động, gia tăng tính hiệu quả của lao động

Góp phần làm phẳng thế giới: Người di cư, họ không chỉ mang theo ngôn ngữ, khoa học - kỹ thuật, văn hóa … của đất nước họ đến nơi nhập

cư mà họ còn sẽ tiếp thu những giá trị đó từ nước nhận lao động Đồng thời, những giá trị mang tính phổ biến quốc tế như tiếng Anh,… sẽ được

sử dụng rộng rãi và thuần thục Bên cạnh đó, di chuyển lao động quốc tế còn làm gia tăng kết nối trong giáo dục đào tạo, hướng đến mộtphương thức giáo dục toàn cầu và bằng cấp của các quốc gia được chập nhận rộng rãi

Gia tăng tiết kiệm và tiêu dùng: Đây là một hệ quả tất yếu khi thu nhập gia tăng Người lao động có cơ hội được tiêu dùng nhiều hơn và tiết kiệm nhiều hơn Điều đó đồng nghĩa với việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển

và tăng sự đầu tư cho tương lai

1.2.3.2 Tác động tiêu cực

Chảy máu chất xám: Đây là một hệ quả không mong muốn nhất nhưng lại dễ gặp phải nhất của các nước xuất lao động mà đặc biệt là các nước đang phát triển và kém phát triển, khi mà người lao động mang theo tri thức của họ đến một đất nước khác để cống hiến và thậm chí là định cư lâu dài Bộ phận lao động dễ xảy ra tình trạng chảy máu chất xám chủ

Trang 35

yếu là lao động có tri thức cao, họ ra nước ngoài để học tập nhằm nâng cao tri thức và quyết định định cư lâu dài do những điều kiện vượt trội

mà họ được nhận so với việc quay trở lại nước nhà

Phân biệt đối xử: Bất cứ đất nước nào cũng có những chính sách để bảo

vệ công dân của họ, vì vậy, người lao động nhập cư có thể sẽ gặp phải những sự phân biệt đối xử từ những chính sách của nước tiếp nhận lao động Đồng thời, sự hạn chế về hiểu biết ngôn ngữ và pháp luật cũng khiến cho người nhập cư vô tìnhvi phạm pháp luật hoặc gặp rắc rối trong cuộc sống và cả trong công việc Những vấn đề này khiến cho lao động nhập cư dễ bị tổn thương cả về vật chất lẫn tinh thần và gây tổn hại cho người nhập cư

Xáo trộn văn hóa bản địa: Việc tiếp nhận lao động nhập cư cùng văn hóa của họ sẽ gây nên tình trạng du nhập những văn hóa không phù hợp, gây xáo trộn văn hóa của nước nhận lao động Đông thời, một số nước còn bị gia tăng các tệ nạn xã hội như trộm cắp, mất trất tự …gây ra bởi một bộ phận người lao động nhập cư

Tóm lại, chúng ta thấy rằng, dù là bản thân người lao động, nước xuất lao động hay nước tiếp nhận lao động cũng đều chịu những tác động tiêu cực và tích cực từ vấn

đề di chuyển lao động quốc tế Vì thế, bên cạnh việc mở rộng cửa đối với vấn đề di chuyển lao động quốc tế thì các quốc gia luôn tìm cách đểthắt chặt quản lý đối với vấn đề nhạy cảm này

1.2.4 Xu hướng di chuyển lao động quốc tế

1.2.4.1 Xu hướng di chuyển từ các nước đang phát triển sang các nước đang phát triển khác

Xu hướng này đang diễn ra khá mạnh mẽ trong khoảng một thập kỷ gần đây, đặc biệt là giai đoạn toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng hiện nay Xu hướng di chuyển này được thúc đẩy và hỗ trợ chủ yếu nhờ các hiệp định thương mại tự do giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới Các nước gửi đi chủ yếu là những nước đang phát

Trang 36

triển có dân số đông và đang bắt đầu có những sự hội nhập quốc tế sâu rộng và mạnh mẽ như Việt Nam, Philipin, Thái Lan… Các nước tiếp nhận chủ yếu là các quốc gia mới phát triển ở khu vực châu Á như HànQuốc, Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia…là những nước có nhu cầu lao động cao để phục vụ cho ngành công nghiệp đang trên đà phát triển mạnh của họ.Bên cạnh đó còn cómột số nước tiếp nhận ở khu vực Đông Âu do tình trạng di cư sang các nước Tây Âu đã diễn ra mạnh

mẽ ở những năm đầu thế kỷ 20 dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động ở những quốc gia này

1.2.4.2 Xu hướng di chuyển từ nước đang hoặc kém phát triển sang các nước phát triển

Đây là xu hướng di chuyển lao động lâu đời nhất và vẫn còn diễn ra mạnh mẽ trong thời gian gần đây Trước đây, những lao động di cư theo xu hướng này chủ yếu là những lao động trình độ thấp, muốn tìm cơ hội đổi đời từ các quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Úc … Bên cạnh đó, cũng có một số lượng nhỏ là những tri thức cao, di chuyển đến các nước phát triển bằng con đường du học và quyết định ở lại để tìm kiếm việc làm Ngày nay, khi một số quốc gia có chiến sự bất ổn như Syria, Irac, … làn sóng di chuyển này lại diễn ra ồ ạt và tạo nên một cuộc khủng hoảng người di cư trầm trọng nhất từ trước đến nay

1.2.4.3 Xu hướng di chuyển từ nước phát triển sang các nước phát triển khác

Xu hướng này chủ yếu diễn ra đối với những lao động có tri thức cao ở các nước phát triển Do mức sống cao và khá đồng đều nhau giữa cả nước gửi và nước nhận nên động lực chủ yếu cho xu hướng di chuyển này không nằm ở sự chênh lệch thu nhập mà chủ yếu ở môi trường làm việc và mức độ phù hợp với khả năng của người lao động Xu hướng này diễn ra mạnh mẽ nhất ở các nước châu Âu bởi sự đồng nhất về các chính sách, bảo hiểm, và sự thuận lợitrong việc xuất nhập cảnh ở cộng đồng chung Châu Âu

1.2.5 Vấn đề di chuyển lao động trong các liên kết kinh tế

Trang 37

1.2.5.1 Vấn đề di chuyển lao động trong Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA)

Hiệp đinh tự do thương mại Bắc Mỹ được ký kết năm 1994 giữa Mỹ, Canada và Mexico Chương 16 trong hiệp định này quy định một số vấn đề liên quan đến tự do

di chuyển đối với người làm kinh doanh trong khu vực Các đối tượng liên quan gồm: khách kinh doanh, người làm thương mại - đầu tư, di chuyển nội bộ trong công ty và các lao động có trình độ tối thiểu là bằng tú tài Tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh của hiệp định không chỉ trong vấn đề kinh doanh dịch vụ mà mở rộng cả nông nghiệp và sản xuất Hiệp định cũng quy định số lượng giới hạn các chuyên gia củaMexico được phép tự do di chuyển vào Mỹ là 5000 người mỗi năm và cho đến năm 2004 thì quy định hạn ngạch này mới được dỡ bỏ Bên cạnh đó, chính sách nhập cư không cần visa vào Mỹ của chuyên gia đến từ Mexico và Canada cũng được thực thi, theo đó, các chuyên gia này chỉ cần có chứng nhận của người sử dụng lao động là có thể nhập cư vào Mỹtrong thời hạn 1 năm và có thể gia hạn tùy theo hợp đồng lao động Những chuyên gia nhập cư theo chính sách này cũng được mang theo vợ/chồng và con cái dưới 21 tuổi

Tuy nhiên, NAFTA là một hiệp định thương mại tự do trong khu vực nên không có tác động đến một bên thứ ba trong vấn đề di chuyển lao động Bên cạnh đó, NAFTA được hình thành với mục đích giúp Mỹ và Canada dễ dàng đưa hàng hóa

và công nghệ vào Mexico và giúp lao động Mexico dễ dàng nhập cư vào 2 nước kia nên sau một thời gian có hiệu lực, hiệp định đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập do sự bất đồng giữa các bên và do sự căng thẳng trong vấn đề người di cư khiến cho hiệp định này có nguy cơđổ vỡ

1.2.5.2 Vấn đề di chuyển lao động trong Hiệp định thương mại tự do giữa các nước Nam Mỹ (MERCOSUR)

MERCOSUR là một hiệp định thương mại tự do được ký kết năm 1991 giữa 4 nước

có diện tích lớn nhất Nam Mỹ và sau này liên kết với Cộng đồng Andean để hình thành nên Liên minh các quốc gia Nam Mỹ, vì vậy cho đến nay, có thể coi hiệp

Trang 38

định này đã bao trùm lên toàn bộ khu vực Nam Mỹ Ban đầu, đối với vấn đề tự do

di chuyển lao động, MERCOSUR hướng đến sự tự do di chuyển của các yếu tố sản xuất mà trong đó có người lao động MERCOSUR hình thành một Nhóm làm việc (Working Group) nhằm giải quyết các vấn đề về lao động nhập cư và nhân công Nhóm này tập trung vào vấn đề tự do di chuyển của lao động, phúc lợixã hội và công nhận trình độ bằng cấp của các quốc gia thành viên Đến năm 2002, khi Thỏa thuận Cư trú (Residence Agreement) có hiệu lực, đã hợp pháp hóa quyền cư trú cho một lượng rất lớn các lao động nhập cư trái phép trước đó Thỏa thuận này cũng cho phép lao động có quyền tự do di chuyển đến cư trú và làm việc ở các nước thành viên trong thời hạn ban đầu là 2 năm, sau đó có thể được phép định cư lâu dài Nó còn đảm bảo rằng, lao động nhập cư sẽ được đối xử về quyền công dân, các quyền lợivề kinh tế, văn hóa, xã hội khác giống như người bản địa MERCOSUR còn mở rộng đối tượng điều chỉnh về tự do di chuyển sang người thực tập, học việc và thời gian cư trú cho các đối tượngđược kéo dài hơn GAT

Tuy nhiên, vấn đề tự do di chuyển lao động trong MERCOSUR chưa thực sự được thực hiện triệt để, bởi vẫn còn một số quốc gia được phép áp dụng quy định riêng của mình lên các lao động của các quốc gia thành viên khác nhằm hạn chếsự tự do

di chuyển, ví dụ như Brazi yêu cầu những nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải vượt qua các kiểm tra kinh tế; hay một số quốc gia chưa thực sự công nhận bằng cấp trình độ của các quốc gia thành viên mà yêu cầu người lao động nước ngoài phải đáp ứng được các yêu cầu củacác tổ chức chuyên gia trong nước

Như vậy, chúng ta thấy rằng, mặc dù về mặt hình thức, MERCOSUR là một khu vực mà ở đó, sự tự do di chuyển lao động được đề cao và có xu hướng theo mô hình của Cộng đồng Châu Âu, tuy nhiên, sự thực hiện vẫn chưa được triệt để và có phần chắp vá

1.2.5.3 Vấn đề di chuyển lao động trong Cộng đồng Châu Âu (EU)

Liên minh Châu Âu (EU) là một trong nhữngkhu vực mà sự tự do di chuyển được thực hiện mạnh mẽ nhất Sự tự do di chuyển của người lao động, và sau này là toàn

Trang 39

thể công dân, cùng với sự tự do di chuyển của vốn, hàng hóa và dịch vụ là bốn sự tự

do di chuyển cơ bản nhất trong thị trường chung Châu Âu Hiệp ước Roma năm

1958 về việc hình thànhCộng đồng Châu Âu đã quy định ba loại hoạt động kinh tếđược tự do di chuyển bao gồm người làm thuê, người tự kinh doanh và người hoạt động dịch vụ Những chính sách này đã phá vỡ sựkhác biệt về tiền công, điều kiện làm việc… đối với các lao động đến từ các quốc gia thành viên Tất cả cơ hội nghề nghiệp được mở rộng đối vớitất cảngười lao động của các quốc gia thành viên ngoại trừ các dịch vụ công cộng Sự tự do di chuyển ngày càng mở rộng hơn từ các đối tượng hoạt động kinh tế, đến các đối tượng không hoạt động kinh tế và nay là toàn thể công dân của các nước thành viên Ngày nay, người lao động nhậpcưđến từ các nước thành viên và gia đình của họ được hưởng các chế độ về thuế, phúc lợi xã hội…tương đương như nước chủ nhà bởi các quốc gia thành viên đã phối hợp và thực thi mộthệ thống an sinh xã hội chung và xây dựngmột hiệp định khung công nhậnvề trình độ và bằng cấp Một dấu mốc quan trọng trong vấn đề tự do di chuyển

ở EU đó chính là Hiệp ước Schengen 1990, trong đó, xóa bỏ sự kiểm soát biên giới đối với công dân các nước thành viên, và đối với công dân một nước ngoài khu vực, thì chỉ cần có visa của một trong các nước thành viên là được quyền đi lại tự do trong khu vực

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, Cộng đồng Châu Âu là đỉnh cao của sự tự do di chuyển Nó không chỉ được áp dụng cho người lao động mà còn mở rộng cho toàn

bộ công dân Nó không chỉ dừng lại ở vấn đề làm việc mà còn mở rộng ra cả các vấn đề phúc lợi xã hội khác Còn đối với các liên kết kinh tế khu vực khác thì vấn

đề tự do di chuyển của lao động đều có những hạn chế nhất định, thậm chí có nguy

cơ tan rã Vì vậy, để thống nhất được một thỏa thuận về tự do di chuyển lao động trong khu vực đã rất khó khăn và mất nhiều thời gian, nhưng để duy trì thỏa thuận

đó và xây dựng nó để ngày càng phát triển và hoàn thiện thì không hề dễ dàng và thật sự cần sự phối hợp và đồng thuận của tất cả các thành viên

Trang 40

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

2.1 Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu của luận văn này được thực hiện qua các bước theo sơ đồ 2.1 dưới đây

Bước 1: Thu thập dữ liệu nghiên cứu

Ở bước này, tác giả đồng thời thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua phương pháp phỏng vấn chuyên gia và dữ liệu thứ cấp thông qua mạng internet cũng như các sách, báo, tạp chí liên quan Sau quá trình thu thập, dữ liệu sẽ được sàng lọc, phân loại theo từng nhóm, từng vấn đề nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu từng khía cạnh khác nhau liên quan đến đề tài nghiên cứu

Bước 2: Phân tích dữ liệu

Các dữ liệu sau khi được xử lý sơ bộ ở bước 1, sẽ được tác giả chắt lọc và nghiên cứu kỹ lưỡng từng vấn đề, sử dụng phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh các số liệu để rút ra các kết luận

Ngày đăng: 19/11/2016, 15:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Hồng Cường, 2014. Hướng tới Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) 2015: Động thái của các quốc gia ASEAN, hàm ý đối với Việt Nam. Hội thảo quốc tế AEC lần 3. Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, tháng 10/2014. Available [http://dl.ueb.vnu.edu.vn/handle/1247/8907], truy cập ngày 26/06/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) 2015: "Động thái của các quốc gia ASEAN, hàm ý đối với Việt Nam
3. Cục lãnh sự-Bộ ngoại giao, 2011. Báo cáo tổng quan về tình hình di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài. Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan về tình hình di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài
4. Hà Văn Hội, 2013. Tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN và những tác động đến thương mại quốc tế của Việt Nam. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, Số 4, 44-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN và những tác động đến thương mại quốc tế của Việt Nam
5. Hoàng Thị Thanh Nhàn, Võ Xuân Vinh, 2013. Hiện thực hoá cộng đồng ASEAN 2015: Thuận lợi và trở ngại. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, Số 4, 12-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện thực hoá cộng đồng ASEAN 2015: Thuận lợi và trở ngại
6. Huỳnh Tấn Hưng, 2014. Các chính sách thực hiện hiệu quả của Việt Nam khi tham gia vào Cộng đồng kinh tế ASEAN - AEC. Hội thảo quốc tế AEC lần 3. Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, tháng10/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chính sách thực hiện hiệu quả của Việt Nam khi tham gia vào Cộng đồng kinh tế ASEAN - AEC
7. ILO, 2014. Báo cáo tiền lương toàn cầu 2014/2015, khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Available[http://www.ilo.org/asia/whatwedo/publications/WCMS_337661/lang--en/index.htm]. Ngày truy cập 26/02/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tiền lương toàn cầu 2014/2015, khu vực Châu Á-Thái Bình Dương
8. ILO/ADB, 2014. Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới việc làm tốt hơn và thịnh vượng chung, Báo cáo tóm lược về Việt Nam.Bangkok Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới việc làm tốt hơn và thịnh vượng chung
9. IOM, 2011. Giải thích thuật ngữ về di cư. Tái bản lần 2. Luật di cư quốc tế, số 27. Geneva, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thích thuật ngữ về di cư
10. Nguyễn Hồng Sơn, 2007. Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Nội dung, các biện pháp thực hiện và những vấn đề đặt ra. Viện Kinh tế và Chính trị thế giới - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, tháng 8-2007, số 8(136), 36-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Nội dung, các biện pháp thực hiện và những vấn đề đặt ra
11. Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Anh Thu, 2016. Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế. Hà Nội: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
12. Nguyễn Quốc Toản, 2014. Khơi thông các động lực nhằm tạo lập vị thế của Việt Nam trong sân chơi Cộng đồng kinh tế ASEAN năm 2015. Hội thảo quốc tế AEC lần 3. Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, tháng 10/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khơi thông các động lực nhằm tạo lập vị thế của Việt Nam trong sân chơi Cộng đồng kinh tế ASEAN năm 2015
13. Nguyễn Tiến Dũng, 2012. Hợp tác tiền tệ ASEAN và các vấn đề chính sách đối với Việt Nam. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 28, 1-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác tiền tệ ASEAN và các vấn đề chính sách đối với Việt Nam
14. Nguyễn Thị Minh Phương, 2014. Tự do hoá đầu tư trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và sự tham gia của Việt Nam. Hội thảo quốc tế AEC lần 3.Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, tháng 10/2014.Available [http://dl.ueb.vnu.edu.vn/handle/1247/8894], truy cập ngày 26/06/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do hoá đầu tư trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và sự tham gia của Việt Nam
15. Nguyễn Thị Tâm, 2014. Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN. Hội thảo quốc tế AEC lần 3. Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, tháng 10/2014. Available[http://dl.ueb.vnu.edu.vn/handle/1247/8898], truy cập ngày 26/06/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN
2. Bùi Thị Minh Tiệp, 2015. Nguồn nhân lực của các nước ASEAN và những tham chiếu cho Việt Nam trước thềm hội nhập AEC. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 212, tháng 2/2015, 25-34 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  3.1:  Lương  trung  bình  hàng  tháng  của  người  trẻ  theo  giới  tính  và  trình  độ  bằng cấp (nghìn đồng) (Nguồn: Tổng cục thống kê, 2013) - Tự do di chuyển lao động trong cộng đồng kinh tế ASEAN cơ hội và thách thức đối với việt nam
ng 3.1: Lương trung bình hàng tháng của người trẻ theo giới tính và trình độ bằng cấp (nghìn đồng) (Nguồn: Tổng cục thống kê, 2013) (Trang 77)
Bảng 3.2: Một số ngành nghề ưu tiên ở các quốc gia ASEAN - Tự do di chuyển lao động trong cộng đồng kinh tế ASEAN cơ hội và thách thức đối với việt nam
Bảng 3.2 Một số ngành nghề ưu tiên ở các quốc gia ASEAN (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm