1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hoá và những vấn đề đặt ra đối với việt nam trong giai đoạn hiện nay

305 569 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 305
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về vấn đề này, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu rõ: "Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn thách thức lớn cho các

Trang 1

Học viện chính trị - hành chính quốc gia hồ chí minh

-

báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu khoa học

Đề tài khoa học cấp bộ năm 2008

Đề tài :

Chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa và những vấn đề đặt ra đối

với việt nam giai đoạn hiện nay

Cơ quan chủ trì : Học viện CT-HCQG Hồ CHí MINH

Chủ nhiệm đề tài : Phan Văn Rân

7245

26/3/2009

Hà Nội - 2008

Trang 2

Mục lục

Mở đầu 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 11

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 18

4 Phương pháp nghiên cứu 20

5 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 21

Quan niệm về chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa và vấn đề đặt ra đối với việt nam 23

I Quan niệm về chủ quyền quốc gia dân tộc và sự lựa chọn của các quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa 23

1 Quan niệm về chủ quyền quốc gia dân tộc trong lịch sử và hiện nay 23

2 Quan điểm về mối quan hệ giữa chủ quyền quốc gia dân tộc và toàn cầu hóa 34

3 Sự lựa chọn của các quốc gia với vấn đề bảo vệ chủ quyền trong xu thế toàn cầu hóa 37

II Bảo vệ chủ quyền quốc gia Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa 46

1 Những thuận lợi của Việt Nam trong quá trình hội nhập vào tiến trình toàn cầu hóa 47

2 Những khó khăn và thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập vào tiến trình toàn cầu hóa 50

3 Một số giải pháp tổng thể, mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể để vừa đảm bảo chủ quyền quốc gia vừa tham gia vào quá trình toàn cầu hóa 53

tài liệu tham khảo 59

Trang 3

quan niệm bảo vệ chủ quyền quốc gia - dân tộc trong thời

kỳ chiến tranh lạnh và hiện nay 61

1 Hoà bình, hợp tác và phát triển là cơ sở để xây dựng một trật tự quốc tế mới, giúp các quốc gia bảo vệ chủ quyền quốc gia - dân tộc tốt hơn 67

2 Hoà bình, hợp tác, phát triển là tư tưởng chủ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia - dân tộc, phát triển đất nước 70

Tài liệu tham khảo 76

Tác động của toàn cầu hoá đến chủ quyền quốc gia dân tộc trong giai đoạn hiện nay Tài liệu tham khảo XU THế Toàn cầu hoá và những vấn đề mới đặt ra đối với việc bảo vệ chủ quyền nhà nước dân tộc 92

I Toàn cầu hoá và bản chất của toàn cầu hoá trong giai đoạn hiện nay 92

1.1 Toàn cầu hoá là gì ? 921.2 Về bản chất của toàn cầu hoá, hay là về tính hai mặt của toàn cầu hóa trong giai đoạn hiện nay 96

II Tác động của xu thế toàn cầu hoá đến các nhà nước dân tộc (nation – state), hay những vấn đề mới đặt ra đối với việc bảo vệ chủ quyền nhà nước dân tộc, đặc biệt là các nước đang phát triển dưới tác động của xu thế toàn cầu hoá 101

2.1 Những tác động tích cực của toàn cầu hoá và những cơ hội mới, thuận lợi mới đối với việc bảo vệ chủ quyền nhà nước dân tộc của các nước đang phát triển 1012.2 Những tác động tiêu cực và những thách thức mới, những vấn đề mới mà toàn cầu hoá đặt ra đối với việc bảo vệ chủ quyền nhà nước dân tộc, nhất là với các nước đang phát triển 106

tài liệu tham khảo 114

Trang 4

Một số nội dung cơ bản về chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa Đối sách của các nước nhằm bảo

vệ chủ quyền quốc gia dân tộc dưới tác động của xu thế

toàn cầu hoá 126

1 Đối sách của các nước XHCN còn lại 127

2 Đối sách của các nước đang phát triển 140

3 Đối sách của một số nước tư bản phát triển 152

Tài liệu tham khảo 160

CHÍNH SáCH BảO vệ độc lập và chủ quyền quốc gia Dân tộc trong quan hệ quốc tế dưới tác động từ xu thế toàn cầu hoá của Trung quốc, ấn Độ, Xingapo và kinh nghiệm đối với việt nam 161

1 Chính sách bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia dân tộc của Trung Quốc trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay 162

2 Chính sách bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia dân tộc của ấn Độ trong bối cảnh toàn cầu hoá sau chiến tranh Lạnh 174

3 Chính sách bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia dân tộc của Xingapo trong bối cảnh toàn cầu hoá 183

4 Một số bài học đối với Việt Nam rút ra từ kinh nghiệm của Trung Quốc, ấn Độ, Xingapo trong thực thi chính sách bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia dưới tác động của xu thế toàn cầu hoá 187

Tài liệu tham khảo 189

chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc trên lĩnh vực chính trị x∙ hội dưới tác động của xu thế toàn cầu hoá của một số nước và kinh nghiệm đối với Việt Nam 191

1 Chính sách của Trung Quốc 191

2 Chính sách của một số nước Châu Mỹ Latinh theo phong trào cánh tả 204 3 Chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc trên lĩnh vực chính trị- xã hội dưới tác động của xu thế toàn cầu hoá của một số nước châu á 209

4 Bài học kinh nghiệm với Việt Nam 213

Trang 5

Tác động của toàn cấu hoà đối với con đường đi lên chủ

nghĩa x∙ hội ở Việt Nam 215

1 Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội: con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam 215

2 Toàn cầu hoá kinh tế - một trong những khả năng khách quan cho sự quá độ lên CNXH của cách mạng Việt Nam 218

3 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc khai thác có hiệu quả những mặt tích cực của TCH phục vụ sự nghiệp cách mạng XHCN 222

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế 231

1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về độc lập dân tộc hiện nay 231

2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay 236

Tài liệu tham khảo 256

Quá trình thực hiện chủ trương bảo vệ chủ quyền Quốc gia - dân tộc trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta 258

I Chủ trương bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng 258

1 Một số quan điểm về chủ quyền quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 258

2 Quan điểm của Đảng ta về chủ quyền quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 264

II Bảo vệ chủ quyền quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 268 1.Trong lĩnh vực kinh tế 268

2 Trong lĩnh vực an ninh chính trị 274

3 Trong lĩnh vực văn hóa 278

Tài liệu tham khảo 283

Trang 6

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ trước tới nay, chủ quyền quốc gia luôn bao hàm hai nội dung cơ bản, gắn bó chặt chẽ với nhau Đó là quyền tối cao của quốc gia trong phạm

vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế Quyền tối cao trong nước thể hiện ở quyền lực đầy đủ để giải quyết mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… mà không có sự can thiệp từ phía các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế Quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế thể hiện ở chỗ tất cả các quốc gia tham gia quan hệ quốc tế đều với tư cách là những chủ thể bình đẳng và hoàn toàn độc lập, tự quyết định các vấn đề đối nội và đối ngoại của mình

Tuy nhiên, trong thời đại toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, có nhiều

động thái cho thấy vai trò của các nhà nước - dân tộc có xu hướng suy giảm

so với trước đây và đang bị thách thức bởi xu thế toàn cầu hoá (TCH) và khu vực hoá Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia về kinh tế, xã hội…

đang ngày càng trở nên sâu sắc và sự giao lưu giữa các nước đang được mở rộng hơn lúc nào hết Địa vị và vai trò của mỗi quốc gia trong nền kinh tế thế giới đang thay đổi, hay ít nhất cũng đang đòi hỏi phải có sự phối hợp chính sách kinh tế với các quốc gia khác Quá trình TCH nền kinh tế thế giới đã đặt ra một loạt vấn đề liên quan đến việc các quốc gia có thể quyết

định chính sách kinh tế và buôn bán của họ một cách độc lập và phải chịu

sự chi phối của các định chế quốc tế ở mức độ nào để có thể đảm bảo được lợi ích quốc gia Lợi ích quốc gia - dân tộc lớn nhất của mỗi quốc gia ngày nay là khả năng quốc gia đó có bảo vệ được chủ quyền của mình trước những tác động ngày càng sâu rộng của xu thế TCH hay không

TCH kinh tế là một đòi hỏi khách quan của lịch sử, là xu thế tất yếu trong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại Nhưng nó cũng kèm theo một hệ quả khó tránh khỏi là làm phai mờ dần các đường biên giới quốc gia, phá vỡ hàng rào ngăn cách giữa các nước và thúc đẩy các

Trang 7

quốc gia thâm nhập, phụ thuộc lẫn nhau Đồng thời, nó buộc các nước phải tìm cách thích ứng với tình hình, áp dụng các thành tựu của sự phát triển nền kinh tế thế giới để hoà nhập trên cơ sở duy trì, củng cố, bảo vệ lợi ích

và bản sắc của dân tộc mình Trong một thế giới mà sự phát triển không đều

là một quy luật thì mặt tích cực và tiêu cực của TCH lẽ dĩ nhiên cũng tác

động không đều đến các nước với những hình thức và mức độ khác nhau Quá trình tự do hoá thương mại, đầu tư, sự mở rộng của thị trường tài chính

- tiền tệ thế giới và sự hoạt động ngày càng mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia đã dẫn đến những biến đổi lớn về địa vị, tính chất, vai trò và năng lực của các quốc gia trên trường quốc tế, tức là động chạm đến lợi ích và chủ quyền của các quốc gia - dân tộc Theo một số nhà nghiên cứu, trong tương lai gần, các thể chế toàn cầu, các khối kinh tế, các công ty xuyên quốc gia sẽ phát triển mạnh mẽ và trong tương lai xa chúng sẽ quyết định các quan hệ kinh tế quốc tế Đến lúc đó, các thể chế nhà nước quốc gia - dân tộc sẽ thực sự bị lu mờ Điều này có trở thành hiện thực hay không? Vấn đề đó chưa có câu trả lời chắc chắn Nhưng có thể khẳng định một điều

là dưới tác động của TCH, bản chất chủ quyền quốc gia dân tộc ít nhiều

đang có sự biến đổi, thể chế quốc tế lấy chủ nghĩa quốc gia làm bản vị đang

bị thách thức Điều đó được biểu hiện trên các lĩnh vực sau:

- Trong lĩnh vực thương mại, trước đây khi các hàng rào buôn bán còn cao, các chính phủ có thể phân biệt rõ ràng các chính sách quốc tế và chính sách trong nước Các chính sách quốc tế xử lý các hàng rào buôn bán ngoài biên giới, còn các chính phủ đều có chủ quyền hoàn toàn đối với các chính sách trong nước mà không ảnh hưởng đến các nước khác Ngày nay, với sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), chính sách trong nước và quốc tế của các quốc gia ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau, giới hạn giữa chúng ngày càng thu hẹp Thị trường trong nước của mỗi quốc gia gắn chặt với thị trường thế giới, thị trường thế giới có ảnh hưởng quyết định

đối với thị trường và kinh tế trong nước Các nước không thể khống chế hoàn toàn được cơ cấu sản xuất theo ý của mình, đồng thời còn phải giải

Trang 8

quyết một loạt các vấn đề chính sách cạnh tranh, các quy chế chống bán phá giá…

- Trong lĩnh vực tài chính, TCH đi liền với sự bành trướng xuyên quốc gia ngày càng tăng của các dòng tài chính và ảnh hưởng của chúng

đối với chính sách kinh tế, tiền tệ và ngoại tệ của mỗi quốc gia Điều đó hạn chế phần nào quyền tự chủ của chính phủ các nước trong chính sách tiền tệ

và tài chính Minh chứng rõ nét nhất là trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu á những năm cuối thập niên 90 thế kỷ XX Các tổ chức quốc

tế như IMF, WB và các cường quốc kinh tế đã dốc toàn lực kể cả sự áp đặt các biện pháp kinh tế vĩ mô và vi mô để mong ổn định thị trường tiền tệ châu á,, song hiệu quả rất hạn chế Sự hạn chế này thể hiện sự bất cập giữa quy mô phát triển của quá trình TCH và sự lạc hậu của các thể chế tài chính tiền tệ quốc tế

- TCH kinh tế phát triển thúc đẩy sự hoạt động mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia Các công ty này không bằng lòng với việc chỉ xuất khẩu hàng hoá đi khắp thế giới mà họ muốn sản xuất ngay tại chỗ, nơi có thị trường mới chưa được khai thác hoặc nơi có nguồn lao động rẻ Theo thống kê, 20 công ty xuyên quốc gia lớn nhất thế giới có doanh số nhiều hơn nền kinh tế của 80 nước nghèo nhất cộng lại ảnh hưởng của các công

ty này càng lớn, khiến cho chính phủ ở các nước nhận đầu tư không những không khống chế được các công ty xuyên quốc gia mà còn bị các công ty này lấn át Thậm chí các công ty xuyên quốc gia còn không phục tùng ngay cả các mẫu quốc "về thuế, di chuyển vốn, xuất khẩu kỹ thuật, tạo công ăn việc làm… làm cho bản thân chủ quyền của "mẫu quốc" cũng bị sứt mẻ

- Trong lĩnh vực đầu tư, một vấn đề nổi bật được nhiều nước (đặc biệt

là các nước đang phát triển) quan tâm Đó là các nước thành viên của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đang đi đến thoả thuận ký kết Hiệp định đa phương về đầu tư (AMI) Khi Hiệp định này có hiệu lực, các công ty xuyên quốc gia sẽ có nhiều quyền lực hơn.Thậm chí các chính phủ

Trang 9

phải nhường một phần chủ quyền quốc gia cho họ Hiệp định thừa nhận vốn của các tập đoàn xuyên quốc có giá trị hơn và tự do lưu thông hơn so với vốn của chính phủ và địa phương nhận đầu tư Nó sẽ mở ra một phạm vi rất rộng, bảo đảm cho các công ty xuyên quốc gia không bị sự can thiệp của các chính phủ trung ương và chính quyền địa phương các cấp ở nước sở tại trên các mặt như mua, bán và tự chuyển dịch tài sản Do vậy, có thể coi bản Hiệp định này như một bản "Hiến pháp kinh tế toàn cầu", tạo ra sự tự do lưu thông nguồn vốn mà không bị bất kỳ một sự ràng buộc nào

Như vậy, Hiệp định đầu tư đa phương sẽ tạo điều kiện cho các nước (đặc biệt là các nước đang phát triển) có khả năng thu hút được nhiều vốn

đầu tư nước ngoài hơn Nhưng rõ ràng Hiệp định cũng làm hạn chế một phần chủ quyền và mâu thuẫn với pháp luật, quy chế của nhiều quốc gia và khu vực Một nước khi tham gia ký kết AMI sẽ tự từ bỏ sự kiểm soát vốn

đầu tư được thực hiện trên lãnh thổ của mình Một nhóm các công ty xuyên quốc gia có thể xây dựng các nhà máy, mua đất đặt ở cái mà họ muốn, thu

về toàn bộ bất động sản mà họ quan tâm; khai thác các khoáng sản sinh lợi của công dân các nước nhận đầu tư Đến lúc đó các quốc gia bị hạn chế khả năng kiểm soát cũng như tự bảo vệ (điều này thể hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội…) Các công ty xuyên quốc gia dưới sự bảo trợ của WTO và OECD có khả năng sẽ đứng trên các chính phủ, trở thành "một chính phủ siêu cấp", ít chịu sự ràng buộc và dần dần làm lu mờ chủ quyền của các quốc gia

Một ảnh hưởng nữa của TCH kinh tế đối với chủ quyền quốc gia là

sự giống nhau ngày càng tăng của các quy định pháp chế và thể chế ở tất cả các nước Để cùng phát triển trong quá trình TCH, các nước phải vạch ra những nguyên tắc chung để không một nước nào có thể sử dụng các lợi thế giả tạo được Nhiều vấn đề trước kia được coi là thẩm quyền của nội bộ của mỗi nước thì nay đang là đối tượng của sự điều tiết đa phương Vì vậy, các nước khi theo đuổi lợi ích của mình, đồng thời phải chú ý tới lợi ích của các nước khác; phải biết thoả hiệp, vì lợi ích lớn hơn của cả hai bên mà hy sinh

Trang 10

một số lợi ích cục bộ của riêng mình Nói một cách khác, để thích ứng với TCH, các nước đều phải tiến hành các điều chỉnh và cải cách cần thiết từ cơ cấu kinh tế, đầu tư đến các chính sách kinh tế vĩ mô, hệ thống luật pháp tạo thuận lợi cho thu hút đầu tư và các hoạt động kinh tế trên cơ sở điều kiện của nước mình đồng thời phải phù hợp với "Luật chơi" chung của thế giới

Đây là một quá trình đầy khó khăn, sự sai lầm trong bước đi và phương thức tiến hành đều có thể dẫn đến những hậu quả tai hại, thậm chí cả những đổ

vỡ về kinh tế, xã hội và nguy cơ phương hại đến nền độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia

Bên cạnh đó, vấn đề văn hoá truyền thống và bản sắc dân tộc vốn là một trong những nội dung quan trọng của ĐLDT và an ninh quốc gia cũng trở thành những vấn đề nhức nhối của mỗi nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình TCH làm gia tăng giao lưu quốc tế và trong nhiều trường hợp một số giá trị vốn xuất phát từ một nước được thừa nhận và trở thành những giá trị gần như chung của các xã hội khác nhau Nhiều giá trị riêng của các dân tộc bị xói mòn và mất dần ảnh hưởng Nền văn hoá dân tộc của mỗi nước bị sự tấn công, gặm nhấm của các giá trị văn hoá bên ngoài Chưa bao giờ văn hoá nhân loại lại đứng trước một nghịch lý phức tạp như trong kỷ nguyên TCH hiện nay: vừa có khả năng giao lưu rộng mở, vừa có nguy cơ bị nghèo văn hoá rất nghiêm trọng Mưu đồ dùng văn hoá

Mỹ, văn hoá phương Tây thống trị toàn thế giới đã được nhiều chính khách quốc tế xác định là biểu hiện của CNĐQ về văn hoá Thế lực này, cũng như các loại CNĐQ về kinh tế và chính trị, đang là nguy cơ đe doạ sự sống còn

và phát triển của mọi cộng đồng, quốc gia, dân tộc trên thế giới

Xét dưới góc độ chủ quyền, an ninh quốc gia và nền ĐLDT, TCH trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI tiếp tục đặt ra hàng loạt các vấn đề cần nghiên cứu làm rõ Dưới tác động của TCH, quan niệm ĐLDT, chủ quyền

và quốc gia ngày càng gắn bó chặt chẽ với quan niệm tổng thể về an ninh quốc gia Theo đó, an ninh của mỗi quốc gia không chỉ là sự tồn tại của quốc gia với tư cách là một chủ thể chính trị độc lập, có chủ quyền trong hệ

Trang 11

thống quốc tế, mà còn được hiểu là quốc gia đó được bảo vệ khỏi những đe doạ, sự tiến công xâm lược, những hiểm hoạ cả từ bên ngoài lẫn từ bên trong mỗi quốc gia Các mối hiểm hoạ hay đe doạ rất đa dạng và mang bản chất khác nhau có thể thuộc loại chính trị, quân sự, kinh tế hay văn hoá, xã hội, môi trường An ninh quốc gia ngày càng được nhìn nhận như một tổng thể của các lĩnh vực chủ yếu gồm an ninh quân sự, an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hoá, an ninh môi trường, an ninh con người…

Trên phương diện chính trị, TCH đặt ra những vấn đề phải xử lý liên quan đến độc lập chủ quyền chính trị, đến hệ thống chính trị và các thiết chế xã hội của các nước Tính độc lập của quốc gia sẽ bị thách thức bởi sự gia tăng tuỳ thuộc lẫn nhau giữa họ, bởi sự hạn chế thẩm quyền và khả năng hành xử theo ý chí của riêng mỗi quốc gia Sự ổn định của hệ thống chính trị và các thiết chế xã hội sẽ luôn chịu áp lực của quá trình tự do hoá thương mại và mở cửa Các thế lực bên ngoài, nhất là các tập đoàn độc quyền xuyên quốc gia luôn triệt để lợi dụng để can thiệp, áp đặt đối với các nước

ĐPT Quá trình TCH và hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt các nước, đặc biệt là các nước ĐPT phải đối mặt trước nhiều hiểm hoạ đối với sự ổn định như: nguy cơ gia tăng thất nghiệp và sự suy yếu của văn hoá truyền thống, nguy cơ phổ biến dễ dàng hơn các tệ nạn như chủ nghĩa khủng bố, ma tuý, mại dâm, nguy cơ gia tăng khoảng cách giàu nghèo, bất công xã hội và các khuynh hướng chính trị cực đoan phản dân chủ, v.v…

Cùng với sự tiến triển của TCH kinh tế, các nước cũng nhận thức rõ hơn rằng mối đe doạ lớn nhất đối với nền ĐLDT, bên cạnh sự tiến công, xâm lược về quân sự còn có sự tụt hậu về phát triển, nghèo đói và kém khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Phát triển kinh tế và an ninh kinh tế

sẽ ngày càng trở thành nền tảng trụ cột đảm bảo ĐLDT trong xu thế TCH

Dĩ nhiên, đối với nhiều nước ĐPT bất cập lớn nhất là ở chỗ, cùng với sự phát triển kinh tế, cũng xuất hiện những áp lực đối với sự ổn định của trật tự xã hội Các nước ĐPT không có cách nào khác là phải hội nhập để có cơ may phát triển kinh tế hoặc chí ít là không bị đẩy ra ngoài rìa của sự phát

Trang 12

triển chung và như vậy, trên mức độ nhất định, họ phải chịu lệ thuộc về kinh tế và chính trị nếu như bản thân các nước ĐPT không thể chủ động kiểm soát được quá trình hội nhập quốc tế

Như vậy, trong chiều hướng vận động của nó hai thập niên đầu thế kỷ XXI, xu thế TCH khiến cho lợi thế kinh tế, chính trị, an ninh và môi trường, sinh thái của các nước sẽ ngày càng gắn bó chặt chẽ Các lĩnh vực dựa vào nhau ngày càng lớn, mức độ càng sâu, sẽ ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển lành mạnh của mối quan hệ quốc tế và tình hình an ninh quốc tế trong tương lai Tuy vậy, trong khi TCH thúc đẩy khả năng ổn định tương đối, thì môi trường an ninh quốc gia trong tương lai gần vẫn tiếp tục phải đối mặt với ít nhất bốn mối đe doạ và thách thức không ít nan giải

Thứ nhất, chủ nghĩa thực dân kinh tế mới trỗi dậy, an ninh kinh tế

quốc gia ngày càng nổi bật TCH kinh tế có thể thúc đẩy sự phân phối lý các yếu tố sản xuất, tạo ra những điều kiện có lợi cho nền kinh tế các nước

bổ trợ nhau và phát triển không ngừng, nhưng ảnh hưởng tiêu cực cũng khó tránh khỏi và không thể xem nhẹ Trong quá trình TCH, do các nước phát triển chiếm vị trí chủ đạo, các nước ĐPT thường phải chấp nhận một số

điều kiện không bình đẳng, không công bằng, biểu hiện nổi bật nhất là "chủ nghĩa thực dân kinh tế mới" trỗi dậy Các nước phát triển phương Tây thực hiện chính sách "chính trị hoá kinh tế", lợi dụng các tổ chức quốc tế như WTO, IMF và WB để giành lợi ích kinh tế cao hoặc can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, thậm chí dùng những biện pháp rút viện trợ và vốn đầu tư, gây khủng hoảng, kiềm chế kinh tế các nước ĐPT Trong hệ thống phân công quốc tế, các nước ĐPT ở vành đai ngoại vi dễ tiếp nhận những ngành nghề cấp thấp từ các nước phát triển, dẫn đến tính đơn nhất và tính phụ thuộc của kết cấu ngành nghề, thị trường, các nước ĐPT dễ bị các nước phát triển lấn át Trong tình hình hệ thống tiền tệ thiếu hoàn thiện và khả năng

đối phó tương đối kém, các nước ĐPT có thể tạo ra điều kiện đầu cơ cho những hành động vụ lợi của tư bản tài chính quốc tế trên phạm vi thế giới

Trang 13

Thứ hai, cạnh tranh khoa học kỹ thuật (KHKT) ngày càng gay gắt,

khiến cho an ninh KHKT của quốc gia ngày càng quan trọng nổi bật Mặc

dù, chiến tranh lạnh kết thúc, giữa các nước lớn đã tăng cường hợp tác và giao lưu, nhưng cuộc chạy đua nội lực tổng hợp lấy KHKT làm tiên phong, kinh tế làm nền tảng ngày càng diễn ra dữ dội, TCH trở thành "chất xúc tác" của cuộc cạnh tranh gay gắt ấy, ảnh hưởng kép của KHKT đối với an ninh quốc gia càng bộc lộ rõ, Một mặt, KHKT là lực lượng sản xuất (LLSX) hàng đầu, đã trở thành huyết mạch của sự phát triển kinh tế quốc gia, cũng là nhân tố quan trọng để giành ưu thế quân sự quốc gia Mặt khác, một số thế lực có thể lợi dụng ưu thế KHKT về "chuyển nhượng" hoặc đe doạ về KHKT để tìm kiếm lợi ích kinh tế cao hoặc lợi ích chính trị lớn thông qua độc quyền kỹ thuật, bao vây kỹ thuật, đánh cắp bí mật công nghệ

kỹ thuật nhằm kiềm chế sự phát triển của đối thủ Cùng với tiến trình TCH tăng nhanh, các nước phát triển và các xí nghiệp lớn đã lấy điều kiện làm việc tốt và mức thù lao cao để thu hút nhân tài, dẫn đến tình trạng "chảy máu chất xám" có nguy cơ gia tăng nghiêm trọng, phương hại đến sức mạnh tổng hợp quốc gia

Thứ ba, ý thức hệ phương Tây du nhập ngày càng nhiều, thách thức

an ninh chính trị quốc gia ảnh hưởng của TCH trên các mặt văn hoá chính trị cũng rất lớn Các nước phương Tây sử dụng TCH làm công cụ ra sức truyền bá, áp đặt quan niệm giá trị, văn hoá tư tưởng của mình cho các nước khác, thực hiện chính sách "thực dân văn hoá", gây ảnh hưởng đối với nhân dân các nước đối địch và can thiệp vào công việc chính trị, ngoại giao của các nước này, làm suy yếu ý chí dân tộc, phá hoại khối đoàn kết dân tộc và nền tảng văn hoá chính trị truyền thống của nước đó, thúc đẩy họ "Tây hoá"

và "phân hoá" biến họ thành các nước lệ thuộc Điều đó có thể giúp các thế lực cường quyền giành được thắng lợi triệt để và lâu dài hơn so với việc dùng sức mạnh quân sự và khống chế kinh tế Du nhập ý thức hệ và làm nhạt phai ý thức hệ tiếp tục trở thành những biện pháp cơ bản để CNĐQ thực hiện "Diễn biến hoà bình" đối với các nước XHCN TCH tạo điều kiện

Trang 14

thuận lợi cho việc du nhập tư tưởng văn hoá, ý thức hệ thông qua sử dụng

hệ thống truyền thông hiện đại, văn hoá thương phẩm, văn hoá, điện ảnh hoặc mạng Internet Bên cạnh đó, thông qua TCH, các thế lực thù địch bên ngoài có điều kiện thuận lợi tuyên truyền, kích động, chia rẽ dân tộc làm suy yếu nhân tố hội tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc, phá hoại sự ổn định chính trị xã hội của các nước khác

Thứ tư, sự suy thoái môi trường đi đôi với tiến trình TCH khiến cho

an ninh sinh thái của các nước, nhất là các nước ĐPT trở nên nóng bỏng và nhức nhối hơn TCH kinh tế có nghĩa là một sự chuyển dịch lớn trong phân công lao động quốc tế Các nước phát triển tập trung vào các ngành kinh tế tri thức không ô nhiễm có lợi nhuận cao, còn các nước ĐPT trở thành khu vực chủ yếu sản xuất các chế phẩm công nghiệp và sản phẩm vật chất từ tài nguyên, nên trở thành nạn nhân chủ yếu phải trả giá cho môi trường toàn cầu Trong tiến trình TCH hai thập niên tới, sự phát triển của các nước phát triển vẫn phụ thuộc vào tài nguyên, thị trường, hàng hoá và sức lao động với giá rẻ của các nước ĐPT, cho nên sự phát triển ấy tạo ra sự xuống cấp của môi trường sinh thái loài người, thể hiện chủ yếu ở tình trạng các nguồn tài nguyên sinh tồn của con người thiếu thốn về số lượng (nước, dầu mỏ, than

và các kim loại quý hiếm ngày càng cạn kiệt), giảm sút về chất lượng (đất

đai thoái hoá, cây cối bị phá hoại và ảnh hưởng của nó đối với khí hậu)

Nguy cơ bị xâm lược sinh thái đối với các nước ĐPT tiếp tục hiện hữu do việc các nước phát triển chuyển những nhà máy sản xuất gây ô nhiễm, có hại cho môi trường và sức khoẻ con người sang, hoặc trực tiếp xuất khẩu hay bán tháo rác thải công nghiệp có hại sang các nước ĐPT An ninh môi trường những thập nhiên đầu thế kỷ XXI sẽ trở thành một nội dung quan trọng cấu thành an ninh quốc gia và tác động mạnh đến an ninh chính trị, kinh tế, thương mại, tài chính, KHKT v.v

Những phân tích nêu trên cho thấy, TCH bên cạnh những mặt tích cực, rõ ràng chứa đựng không ít nguy cơ, thách thức đối với chủ quyền quốc gia - dân tộc, đặc biệt là đối với các nước ĐPT Những tác động tích

Trang 15

cực và tiêu cực do quá trình TCH tạo đối với từng quốc gia dân tộc đều tồn tại dưới dạng tiềm năng Chúng chỉ trở thành hiện thực trong những điều kiện cụ thể, mà ở đó vai trò của nhân tố chủ quan có tính quyết định Thực tiễn cho thấy nhiều nước ĐPT đã tận dụng những mặt tích cực của TCH để phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra những điều kiện vật chất vững chắc để bảo

vệ chủ quyền quốc gia dân tộc Mặt khác, với tư cách là một quá trình khách quan, TCH tiếp tục hiện diện là một xu thế chủ đạo của đời sống nhân loại trong thế kỷ XXI Do đó, quan niệm về ĐLDT, về chủ quyền quốc gia cũng ngày càng được bổ sung thêm nhiều nội dung mới

Xuất phát từ nhận thức đúng đắn xu thế khách quan của TCH, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn đề ra chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nhằm thu hút nguồn lực của bên ngoài phục vụ mục tiêu phát triển đất nước Chủ trương hội nhập kinh tế của Đảng

và Nhà nước ta còn xuất phát từ kinh nghiệm phát triển của đất nước trong những năm đổi mới: đổi mới phải luôn kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Nhờ có chủ trương đúng đắn, với những bước đi chủ động, tích cực và phù hợp trong hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta đã phá vỡ thế

bị bao vây cấm vận, đồng thời tham gia ngày càng đầy đủ hơn vào đời sống của cộng đồng thế giới, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, nước ta (cũng như các nước ĐPT khác) đang đứng trước không ít khó khăn thách thức từ quá trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế Về vấn đề này, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu rõ: "Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển"… Hơn nữa các thế lực thù địch lợi dụng TCH để đẩy mạnh âm mưu "diễn biến hoà bình" gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng làm thay

đổi chế độ chính trị ở nước ta, đe doạ chủ quyền quốc gia" trong đó có quyền lựa chọn định hướng phát triển

Trang 16

Vậy làm thế nào để tăng cường biện pháp bảo vệ chủ quyền quốc gia trong điều kiện TCH, tích cực về chủ động hội nhập quốc tế nhằm khai thác

có hiệu quả những tác động tích cực của xu thế TCH hiện nay phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Đây là những vấn đề thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra cần phải được phân tích, đánh giá khách quan, từ các nhà nghiên cứu, trên cơ sở đó mà đề xuất những kiến nghị, giải pháp góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương tích cực và chủ

động hội nhập kinh tế quốc tế mà đại hội X của Đảng đề ra

Với những lý do trên, đề tài không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn mang tính thực tiễn sâu sắc, góp phần giải quyết một trong những vấn

đề trong quan hệ quốc tế mà xã hội đang đặt ra

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Những thập niên gần đây, vấn đề chủ quyền quốc gia dân tộc, TCH nói chung, vấn đề chủ quyền quốc gia - dân tộc trong xu thế TCH nói riêng

là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu của tập thể và cá nhân liên quan

đến các vấn đề này đã được xuất bản, trong đó có nhiều công trình phân tích khá đa dạng và trên nhiều phương diện về xu thế TCH và tác động của

nó đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội của từng quốc gia cũng như trong đời sống quan hệ quốc tế, cụ thể như sau:

* Ngoài nước

ở ngoài nước, các công trình nghiên cứu về TCH và tác động của nó

đến chủ quyền quốc gia - dân tộc, đặc biệt là đối với các nước ĐPT là tương

đối đa dạng về hình thức bao gồm từ các bài viết riêng lẻ, các sách chuyên khảo đến các kỷ yếu hội thảo… trong đó nổi lên những nội dung chủ yếu sau đây:

- Quan niệm về tính hai mặt của TCH:

Tuy nội dung trong các công trình có thể chứa đựng nhiều quan điểm không thật phù hợp với tất cả mọi người nhưng điểm chung của các công

Trang 17

trình này đều chỉ rõ những mặt tích cực và tiêu cực của TCH "TCH (một mặt) thúc đẩy rất mạnh, rất nhanh sự phát triển và xã hội hoá của LLSX,

đưa lại sự tăng trưởng kinh tế cao TCH tạo thêm những tiền đề rất quý cho xã hội mới - hiện đại của con người" Mặt khác, "TCH làm trầm trọng thêm

sự bất công xã hội, đào sâu hố ngăn cách giàu - nghèo trong từng nước và giữa các nước… TCH làm cho mọi mặt hoạt động và đời sống con người thêm kém an toàn, từ an toàn kinh tế, tài chính, văn hoá, xã hội, môi trường,

đến an toàn chính trị; từ an toàn của từng con người, từng gia đình đến an toàn quốc gia và an toàn của hệ thống kinh tế, tài chính tiền tệ toàn cầu… TCH có phần thu hẹp quyền lực, phạm vi và hiệu quả tác động của các nhà nước - dân tộc, làm rung chuyển một nền tảng cực kỳ quan trọng của đời sống các quốc gia…"

Các giáo sư Vô-lô-đin và Si-rô-cốp (Nga) trong công trình "Toàn cầu hoá: nguồn gốc, xu thế, triển vọng" cho rằng "nghịch lý của TCH là sự thường xuyên xuất hiện và tái hiện mâu thuẫn giữa hai cơ sở nền tảng của kết cấu thế giới: một mặt là nguyên tắc chủ quyền chính trị được thể hiện trong nhà nước - dân tộc và mặt khác là các giá trị chung của nhân loại hoặc các điểm chủ yếu trong sự tồn tại của nhân loại làm nảy sinh một cách logic

từ quốc tế hoá các quá trình kinh tế, chính trị và văn hoá - tư tưởng… và ý

định giải quyết mâu thuẫn đó về mặt lý luận biến thành quan niệm "chủ nghĩa can thiệp mới" nghĩa là đe doạ đến chủ quyền quốc gia - dân tộc của các nước

Cũng liên quan đến vấn đề này, nhiều công trình nghiên cứu của nước ngoài như "Toàn cầu hoá - nghịch lý của thế giới tư bản chủ nghĩa" của Tôn Ngũ Viên, "Những mảng tối của toàn cầu hoá" (nhiều tác giả),

"Toàn cầu hoá các cuộc phản kháng" của Samir Amin và Francois Houtart… tuy với các cách tiếp cận khác nhau nhưng đều có chung quan

điểm: "Toàn cầu hoá đang trở thành xu hướng tất yếu của thời đại Các quốc gia dân tộc qua đó có thể giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu Tuy nhiên, ngày càng bộc lộ rõ hơn mặt trái của TCH khi một thế giới bao

Trang 18

gồm đa dạng các quốc gia dân tộc, với sự phức tạp, muôn màu của các nền kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội đang cùng tham gia vào quá trình này

- Cơ hội và thách thức cho các nước đang phát triển trong xu thế TCH Có thể nói, có khá nhiều công trình của các học giả nước ngoài đề

cập đến vấn đề này như "Toàn cầu hoá với các nước đang phát triển" của H

R Hemmer (CHLB Đức), "Toàn cầu hoá và cơ hội nào cho các nước đang phát triển" của Tôn Ngũ Viên (Trung Quốc), "Con đường toàn cầu hoá của các nước đang phát triển" (Bản dịch đăng trên tạp chí công tác tư tưởng số 9/2000… Các công trình này đã tập trung phân tích những hình thức biểu hiện của TCH cùng với những hệ quả về phát triển kinh tế của TCH như việc tự do hoá thương mại, vai trò của các công ty xuyên quốc gia, vai trò của các nước phát triển trong hoạt động kinh tế - thương mại toàn cầu thể hiện qua các nguyên tắc của các hiệp định kinh tế - thương mại đa phương… Trên cơ sở đó, các tác giả đã chỉ ra rằng "con đường TCH của các nước đang phát triển thật gian khó và lâu dài, đứng trước hiện thực "tiến thoái lưỡng nan" yêu cầu các nước đang phát triển phải tích cực hội nhập TCH" Tuy quan điểm và cách tiếp cận có khác nhau nhưng các tác giả đều

có điểm chung khi cho rằng đối với các nước ĐPT, để hội nhập kinh tế quốc

tế thành công vì sự phát triển của đất nước mình thì nhân tố chủ quan đóng vai trò quyết định "Các nước ĐPT hội nhập kinh tế thế giới trước tiên phải

tự hoàn thiện, vừa đẩy tới công cuộc mở cửa, vừa không quá mạo hiểm, bảo

đảm hài hoà giữa cải cách trong nước và mở cửa hội nhập" Cũng liên quan

đến vấn đề này, nhiều công trình đã chứng minh những mô hình thành công của một số nước ĐPT trong quá trình tham gia TCH kinh tế, qua đó đã nêu

ra những căn cứ lý luận sâu sắc và những kinh nghiệm phong phú, những giải pháp thực tiễn mà các nước ĐPT khác có thể tham khảo vận dụng cho

sự hội nhập kinh tế thế giới của nước mình

Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước cho thấy:

- TCH là một xu thế khách quan lôi cuốn sự tham gia ngày càng

đông đảo các quốc gia dân tộc

Trang 19

- TCH là một quá trình thống nhất bao gồm hai mặt, vừa tích cực vừa tiêu cực Các tác động tích cực và tiêu cực của TCH đều ở dạng tiềm năng

Để khai thác có hiệu quả tác động tích cực, hạn chế tối đa tác động tiêu cực của TCH, vai trò đầu tiên thuộc về chính sách của từng quốc gia dân tộc

- Đối với các nước ĐPT do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là trình độ kinh tế phát triển thấp, trình độ khoa học kỹ thuật còn lạc hậu cho nên quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu gặp rất nhiều khó khăn thách thức Tuy nhiên TCH là xu thế khách quan cho nên xét đến cùng vì mục tiêu phát triển, các nước ĐPT không thể đứng ngoài xu thế này

- Tuy không thể tách thành những vấn đề riêng biệt song các nhà nghiên cứu nước ngoài khi nghiên cứu về vấn đề TCH cũng dành một phần nhất định đề cập đến những tác động tiêu cực của TCH đến các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có việc làm thu hẹp quyền lực, phạm vi và hiệu quả tác động của nhà nước dân tộc, đe doạ đến chủ quyền quốc gia dân tộc…

* Trong nước

Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài là tương đối phong phú với nhiều nôi dung và cách tiếp cận khác nhau Tuy có khác nhau về quy mô công trình, phạm vi nghiên cứu song các nhà khoa học đã thống nhất ở những điểm sau:

- Quan niệm về chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế TCH

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chủ quyền, an ninh quốc gia và nền

ĐLDT trong xu thế TCH tiếp tục đặt ra hàng loạt vấn đề cần phải tiếp cận

và cần được bổ sung thêm nhiều nội dung mới Quan niệm truyền thống khẳng định nội dung cốt lõi của chủ quyền an ninh quốc gia và nền ĐLDT bao gồm quyền bất khả xâm phạm về mọi lĩnh vực trong phạm vi quốc gia (trong đó quan trọng nhất là chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và quyền lựa chọn

định hướng phát triển) và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị Tuy nhiên, trong nền kinh tế TCH, quốc gia dân tộc có chủ quyền không còn là nhân tố duy nhất có vai trò chế định chính

Trang 20

sách kinh tế mà là sự tồn tại đồng thời của 4 nhân tố đảm nhận vai trò này

Đó là quốc gia dân tộc có chủ quyền; các khối kinh tế khu vực (ví dụ ASEAN, EU…); các thể chế kinh tế quốc tế (IMF, WB, WTO…); các công

ty xuyên quốc gia Các lực lượng này có ảnh hưởng với nhau, ràng buộc, hợp tác và xung đột với nhau, tác động đến an ninh, chủ quyền quốc gia và nền ĐLDT Dưới góc độ chính trị, quá trình TCH đặt ra những vấn đề phải

xử lý liên quan chủ quyền quốc gia, nền ĐLDT, đến hệ thống chính trị và các thiết chế xã hội Tính độc lập của mỗi quốc gia sẽ bị thách thức bởi sự gia tăng tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, sự hạn chế thẩm quyền và khả năng hành xử theo ý chí riêng của mỗi quốc gia

- Về xu thế TCH:

Xét về nguồn gốc, bản chất của TCH, các nhà nghiên cứu Việt Nam

đều khẳng định: TCH là xu thế khách quan Nguyên nhân bắt nguồn từ sự phát triển của LLSX, từ tính xã hội hoá của LLSX trên phạm vi quốc gia

và quốc tế, từ nền kinh tế thị trường thế giới, từ sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, từ sự phát triển và tác động mạnh

mẽ của các công ty xuyên quốc gia TCH là xu thế khách quan gắn liền với xu thế phát triển của nền sản xuất xã hội, của sự phát triển LLSX và phân công lao động quốc tế Bản chất khách quan của TCH được quy định bởi tính tất yếu khách quan từ quá trình quốc tế hoá Tuy nhiên, TCH trong giai đoạn hiện nay gắn liền với CNTB và hiện đang bị CNTB, nhất là các nước tư bản phát triển và các tập đoàn xuyên quốc gia chi phối, lợi dung để phục vụ cho mục đích của họ

- Tác động của TCH đối với các quốc gia - dân tộc:

Các nhà nghiên cứu đều cho rằng TCH là xu thế khách quan, hội nhập kinh tế quốc tế là con đường tất yếu đối với mọi quốc gia Ngày nay, nếu không mở cửa hội nhập thì không một quốc gia nào có thể phát triển

được Xét về tác động tích cực, TCH tạo điều kiện để truyền bá và chuyển giao trên quy mô ngày càng lớn những thành quả mới mẻ, những đột phá

Trang 21

sáng tạo về khoa học và công nghệ, về tổ chức và quản lý, về sản xuất và kinh doanh, đưa kiến thức và kinh nghiệm, tạo điều kiện cao cho các nước

ĐPT tiến hành CNH, HĐT, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển Xét trong mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị,TCH tạo điều kiện cho các nước ĐPT phát triển kinh tế - xã hội và đây chính là điều kiện để giữ vững

ổn định chính trị, củng cố chủ quyền quốc gia Chính vì vậy mà nhiều báo cáo tham luận tại Hội thảo khoa học "Thách thức và nguy cơ trong qua trình hội nhập kinh tế quốc tế" do Viện Chiến lược và Khoa học Công an tổ chức tại Hà Nội (6 - 2001) và tại thành phố Hồ Chí Minh (7-2001) đều khẳng

định hội nhập kinh tế quốc tế là con đường "độc đạo" để các nước ĐPT, trong đó có Việt Nam thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển

Tuy nhiên, TCH có những tác động tiêu cực đối với mọi quốc gia,

đặc biệt là đối với các nước ĐPT Do tiềm lực tài chính nhỏ yếu và công nghệ lạc hậu cho nên các nước ĐPT trong đó có Việt Nam đứng trước không ít khó khăn, thách thức và nguy cơ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, theo các nhà khoa học tác động tích cực và tiêu cực, thời cơ và thách thức của TCH phải được xem xét theo quan điểm biện chứng Nghĩa là, tiêu cực có thể chuyển thành tích cực và ngược lại…

Đồng thời mức độ và hiệu lực tác động của tích cực và tiêu cực trong quá trình TCH đến đâu còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan, nhất là chính sách của các quốc gia, các chính đảng cầm quyền, các nhà nước (xu thế toàn cầu hoá trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI Nxb Chính trị quốc gia, H

Trang 22

Về cơ hội, nhiều nhà phân tích nêu lên rằng, quá trình TCH làm ra

đời và củng cố mạng lưới dày đặc các thiết chế quốc tế, nhất là các tổ chức quốc tế trong mọi lĩnh vực Vai trò ngày càng tăng của các tổ chức quốc tế trong quan hệ quốc tế góp phần hạn chế và giúp giải quyết xung đột giữa các nước, duy trì và củng cố hoà bình, an ninh quốc tế Thông qua các thiết chế và tổ chức này, các nước, đặc biệt là các nước vừa và nhỏ, có khả năng bảo vệ tốt hơn lợi ích quốc gia cũng như an ninh của mình và có vị thế ít bất lợi hơn trong quan hệ với các nước lớn Bên cạnh đó, xu thế TCH cũng tạo

ra những cơ hội quan trọng (thị trường, vốn, công nghệ, cạnh tranh nâng cao hiệu quả kinh tế…) mà các nước có thể tận dụng để phát triển kinh tế - xã hội, tạo cơ sở để bảo đảm an ninh quốc gia

Tuy nhiên, quá trình TCH cũng đặt các nước trước rất nhiều thách thức, đe doạ an ninh quốc gia của họ, nếu bản thân họ không kiểm soát và

xử lý tốt các vấn đề nảy sinh Những thách thức này rất đa dạng, liên quan

đến nhiều lĩnh vực Về kinh tế, thách thức lớn nhất là vấn đề cạnh tranh quốc tế Làm thế nào để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và các doanh nghiệp trong nước trước các đối thủ nước ngoài trong

điều kiện TCH và mở cửa là một bài toán khó đối với các nước, nhất là các nước ĐPT Để thích ứng với xu thế TCH, các nước đều phải tiến hành các

điều chỉnh và cải cách cần thiết từ cơ cấu kinh tế, đầu tư đến các chính sách kinh tế vĩ mô, hệ thống luật lệ và việc thực hiện các chính sách và luật lệ để tạo môi trường kinh doanh và đầu tư thông thoáng, thuận lợi cho việc thu hút đầu tư và các hoạt động kinh tế, đồng thời phù hợp với "luật chơi" chung của thế giới Đây là một quá trình đầy khó khăn mà mỗi nước phải

đối mặt Sự sai lầm trong bước đi và phương thức tiến hành có thể dẫn đến những hậu quả tai hại, thậm chí cả những đổ vỡ về kinh tế, xã hội (Toàn cầu hoá kinh tế: Bản chất, thời cơ và thách thức đối với các nước và Việt Nam

H 2003, tr 420)

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước cho thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến TCH kinh tế: từ nguồn gốc, bản chất của

Trang 23

TCH đến tính hai mặt tích cực và tiêu cực của quá trình này Đặc biệt, các công trình đã tập trung làm rõ những tác động tích cực lẫn tiêu cực của TCH đối với mọi mặt của đời sống xã hội nói chung, đến chủ quyền an ninh quốc gia và nền ĐLDT của các nước ĐPT nói riêng Tuy nhiên, các công trình đều lấy chủ thể là TCH và tác động của nó đến chủ quyền quốc gia dân tộc nhưng cho đến nay chưa có công trình nào tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện chủ quyền quốc gia - dân tộc với tư cách là chủ thể trong xu thế TCH

Với tư cách là một xu thế khách quan, TCH đang lôi cuốn sự tham gia của hầu hết các quốc gia Đây được xem như là một điều kiện để phát triển đất nước Song tham gia vào quá trình này lại đặt các nước, trước hết

là các nước ĐPT trước thách thức lớn về chủ quyền quốc gia và nền ĐLDT Vậy làm thế nào để vừa tham gia hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, vữa giữ vững chủ quyền quốc gia và nền ĐLDT Một trong những nội dung quan trọng của chủ quyền và ĐLDT là an ninh quốc gia Trong xu thế TCH, quan niệm an ninh quốc gia có những nội dung gì mới… Đây là những vấn

đề mà thực tiễn đang đặt ra, cần có một công trình nghiên cứu toàn diện từ cơ sở lý luận đến những phân tích thực tiễn Trên cơ sở giải quyết đúng đắn các vấn đề này, đề tài sẽ đề xuất một số kiến nghị, giải pháp để vừa thực hiện có hiệu quả chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, khai thác tối đa nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, đồng thời "kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc

và lợi dụng các vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", "dân tộc", "tôn giáo" hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam" như Văn kiện Đại hội

X của Đảng đã xác định

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu bao gồm nhiều nội dung với những vấn đề ở các cấp độ phức tạp khác nhau Do đó, việc xác định mục tiêu nghiên cứu của

đề tài phải đảm bảo những yêu cầu sau:

Trang 24

- Phù hợp với tên đề tài

- Đảm bảo đúng thời gian cho phép (1 năm), nguồn kinh phí (100 triệu đồng), lực lượng nghiên cứu (ở mục a của hồ sơ) và giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Đảm bảo tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu (được trình bày ở mục 2 phần luận chứng)

- Tính tổng hợp, kế thừa các công trình nghiên cứu có liên quan

- Điểm mới, tính sáng tạo của đề tài

Trên cơ sở những yêu cầu nêu trên và bằng kinh nghiệm trong nghiên cứu, chúng tôi xác định mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:

Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn

về chủ quyền quốc gia - dân tộc, về toàn cầu hoá, đề tài sẽ đi sâu phân tích những vấn đề đặt ra đối với chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế TCH hiện nay bao gồm những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức Từ thực tiễn đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia - dân tộc của các nước trên thế giới và căn cứ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề tài sẽ đề xuất định hướng các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc đồng thời thực hiện thắng lợi chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu

đã đặt ra đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:

1 Nghiên cứu quan niệm truyền thống về chủ quyền quốc gia dân tộc nói chung, quan niệm của một số nước về vấn đề này nói riêng (trong thời

kỳ chiến tranh lạnh)

2 Nghiên cứu quá trình TCH và những tác động của TCH đối với chủ quyền quốc gia dân tộc (cả tác động tích cực và tác động tiêu cực), từ đó làm rõ những nội dung mới cần bổ sung nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia - dân tộc, vừa tích cực tham gia sâu rộng vào quá trình TCH

Trang 25

3 Nghiên cứu đối sách của một số nước trên thế giới trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc trước thời cơ, thách thức từ quá trình TCH, từ đó rút ra một số kinh nghiệm mang tính phổ biến

4 Nghiên cứu quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia - dân tộc trong thời kỳ đổi mới, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, những thành tựu đã đạt được cũng như những khó khăn, hạn chế và những vấn đề đang đặt ra trong quá trình thực hiện

5 Từ thực tiễn thực hiện chủ trường, đường lối bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc

tế và từ kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc giải quyết mối quan hệ này, đề tài sẽ đề xuất định hướng, các giải pháp và kiến nghị với

Đảng, Chính phủ và các cơ quan có liên quan nhằm tăng cường bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc (trong đó có quyền được lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Việt Nam) trong điều kiện thăm gia ngày càng sâu rộng vào quá trình TCH với tư cách là nước thành viên WTO

4 Phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương

pháp luận Mác – Lênin về hoà bình và cùng tồn tại hoà bình giữa các nước

có chế độ chính trị khác nhau trong xu thế TCH, về mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX, giữa kinh tế và chính trị để xem nguồn gốc, bản chất

và tính hai mặt của TCH Đề tài cũng dựa trên nền tảng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa các dân tộc và quốc tế, quan điểm đánh giá về tình hình thế giới và xu thế TCH của Đảng Cộng sản Việt Nam tại các Văn kiện Đại hội VII, VIII, IX, X và các Nghị quyết Hội nghị TW3 khoá VII, TW4 khoá

X, Nghị quyết số 01 và 07 của Bộ Chính trị khoá VIII, xem đây là nguồn cung cấp những căn cứ lý luận, những định hướng tư tưởng và khoa học để thực hiện đề tài

Trang 26

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp lịch sử:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề vừa có tính lịch sử, vừa có tính thời sự Để có thể làm rõ đối tượng nghiên cứu đang diễn ra hiện nay

và dự báo trong tương lai gần (khoảng hai thập niên), vấn đề đặt ra là phải

sử dụng phương pháp lịch sử để từ đó có cơ sở khoa học làm rõ xu hướng vận động của đối tượng

+ Nghiên cứu định tính (nghiên cứu lý thuyết): Dựa trên cơ sở quan niệm về chủ quyền quốc gia – dân tộc trong xu thế TCH, đề tài sẽ phân tích,

đánh giá và đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm tăng cường bảo vệ chủ quyền quốc gia Việt Nam trong xu thế TCH hiện nay

+ Phương pháp lô gíc:

Trên cơ sở những số liệu, những công trình nghiên cứu có liên quan thu thập được, đề tài thông qua phương pháp lô gíc để trên cơ sở đó rút ra những nhận xét, đánh giá một cách khách quan, khoa học đồng thời đề xuất những kiến nghị, giải pháp có tính khả thi

+ Phương pháp thống kê - so sánh:

Trên cơ sở các số liệu về kinh tế – xã hội, về lợi thế địa chính trị của mỗi nước, đề tài thông qua phương pháp thống kê - so sánh đề tài sẽ rút ra những kết luận khách quan

+ Phương pháp dự báo định tính:

Từ những tài liệu thu thập được, trong quá trình thực hiện đề tài đã

đưa ra dự báo xu hướng vận động của chủ thể là chủ quyền quốc gia – dân tộc trong xu thế TCH hiện nay

5 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau đây:

- Góp phần làm rõ thêm những nội dung mới về chủ quyền, an ninh quốc gia trong điều kiện TCH

Trang 27

- Góp phần bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiên cứu về quan hệ quốc

tế nói chung, vấn đề chủ quyền quốc gia dân tộc nói riêng trong điều kiện TCH nói riêng

- Đối với các ngành khoa học có liên quan, đề tài sẽ cung cấp những nhận thức mới về chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế TCH, mối quan

hệ giữa bảo vệ chủ quyền quốc gia với hội nhập quốc tế

- Góp phần giúp Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra chính sách phù hợp để thực hiện thắng lợi chủ trường chủ động và tích cực hội nhập kinh

tế quốc tế, đồng thời giữ vững được chủ quyền quốc gia dân tộc, giữ vững

định hướng XHCN

- Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích đối với những cán bộ hoạt

động trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, hoạt động đối ngoại Với ý nghĩa trên, sau khi được nghiệm thu, đề tài sẽ là nguồn tư liệu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu bộ môn Quan hệ quốc tế tại hệ thống Học viện CTQG Hồ Chí Minh Nếu được sự đồng ý của Hội đồng nghiệm thu, cơ quan chủ trì đề tài sẽ tiến hành xã hội hoá các kết quả nghiên cứu để làm sách tham khảo

Trang 28

Quan niệm về chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa và vấn đề đặt ra

đối với việt nam

TS Nguyễn Thị Quế

Chủ quyền quốc gia dân tộc là thuật ngữ dùng để chỉ quyền làm chủ thiêng liêng, bất khả xâm phạm của một quốc gia độc lập nhất định, được thể hiện trên mọi phương diện chính trị, an ninh, quốc phòng, ngoại giao; kinh tế; văn hóa, xã hội; và được đảm bảo toàn vẹn, đầy đủ về mọi mặt, cả lập pháp, hiến pháp lẫn tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó Hiểu một cách chung nhất Chủ quyền quốc gia dân tộc là quyền làm chủ của một quốc gia

Ngày nay có nhiều nước tham gia vào quá trình toàn cầu hóa (TCH) nghĩa là các quốc gia dân tộc phải biết chấp nhận giới hạn quyền lực riêng của mình trên một số lĩnh vực Vậy chủ quyền quốc gia dân tộc sẽ bị ảnh hưởng như thế nào? Và làm thế nào để quốc gia dân tộc có thể tham gia vào quá trình TCH mà vẫn đảm bảo chủ quyền quốc gia? Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin nêu

"Quan niệm về chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa và

vấn đề đặt ra đối với việt nam”

I Quan niệm về chủ quyền quốc gia dân tộc và sự lựa chọn của các quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa

1 Quan niệm về chủ quyền quốc gia dân tộc trong lịch sử và hiện nay

Chủ quyền quốc gia là đặc trưng chính trị pháp lý thiết yếu của một quốc gia độc lập, được thể hiện trong các hoạt động của các cơ quan nhà nước và trong hệ thống pháp luật quốc gia Tôn trọng chủ quyền quốc gia là một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế Một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định là tôn trọng và bảo

Trang 29

đảm sự bình đẳng về chủ quyền quốc gia, không có một quốc gia nào được can thiệp khống chế, xâm phạm chủ quyền của một quốc gia độc lập khác

Quốc gia dân tộc là chủ thể duy nhất có chủ quyền, được coi là một thực thể chính trị - pháp lý bao gồm các yếu tố cơ bản: lãnh thổ, dân cư, bộ máy nhà nước và quyền năng chủ thể Chủ quyền quốc gia dân tộc được coi

là thuộc tính cơ bản của quốc gia dân tộc, là phạm trù chính trị - pháp lý có liên hệ mật thiết với vấn đề độc lập, chính trị, an ninh, kinh tế của quốc gia dân tộc

Chủ quyền là một học thuyết gây nên sự tranh luận giữa các nhà triết học, chính trị học, luật học, các nhà chính trị, các nhà ngoại giao, các nhà kinh tế, và là một khái niệm được giải thích khác nhau dưới nhiều góc độ Người ta thường quan tâm tới các thuộc tính liên quan đến một quốc gia

độc lập, có chủ quyền trong cộng đồng quốc tế; nguồn gốc của quyền lực chính trị trong một quốc gia dân tộc

1.1 Quan niệm chủ quyền quốc gia dân tộc trong lịch sử

Thuật ngữ "chủ quyền" có nghĩa là quyền lực tối cao của nhà nước trong lãnh thổ mà nhà nước quản lý Nói cách khác, trong khuôn khổ quốc gia dân tộc không có quyền lực nào cao hơn quyền lực nhà nước Còn trong quan hệ quốc tế, tính tối cao của quyền lực nhà nước đã tạo nên các "hòn

đảo chủ quyền” và do vậy, môi trường quan hệ quốc tế mang bản tính vô chính phủ Đây chính là quan điểm truyền thống được những người theo chủ nghĩa hiện thực chính trị ủng hộ

Xét từ giác độ lịch sử, chủ quyền là một khái niệm có riêng của nền văn minh phương Tây Nó chỉ được chia sẻ với các dân tộc khác trên thế giới vào thế kỷ XX, khi được gắn với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước đang phát triển

Tuy vậy, có rất nhiều định nghĩa và quan điểm khác nhau về chủ quyền quốc gia dân tộc Tiêu biểu là một số quan niệm: chủ quyền quốc gia dân tộc tuyệt đối, chủ quyền quốc gia dân tộc độc lập

Trang 30

* Quan niệm chủ quyền tuyệt đối của quốc gia dân tộc

Quan niệm chủ quyền tuyệt đối của quốc gia dân tộc đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ XV - XVI ở châu Âu nhằm chống lại quyền lực của Hoàng đế và Đức Giáo Hoàng và sự gia tăng niềm tin vào tính tối cao của lãnh thổ quốc gia, theo nghĩa đó, chủ quyền quốc gia là khái niệm “trần tục”, đối lập với thần quyền của tôn giáo Đại diện của quan niệm này là Niccolo Machiavelli Trong cuốn "Le Prince" (Bậc Quân vương) xuất bản

năm 1532, Niccolo Machiavelli đã cho rằng: chủ quyền quốc gia dân tộc

phải tuyệt đối trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, phải được đặt trên tất cả mọi quyền lực khác Điều đó có nghĩa trong phạm vi lãnh thổ của mình,

quốc gia dân tộc có thể làm mọi điều bất chấp các quốc gia khác Để bành trướng quyền lực của mình, quốc gia có thể tận dụng tất cả các phương kế, chính sách kể cả các thủ đoạn

Tiếp theo quan niệm về chủ quyền được nêu trong tác phẩm nổi tiếng

“ sáu tuyển tập về Nền cộng hòa” (1606) của Bodin (nhà triết học phục Hưng Pháp), trong tác phẩm này Bodin phân tích mối quan hệ giữa nhà nước với xã hội công dân (khía cạnh đối nội của chủ quyền quốc gia) và

đưa ra các phương tiện nhằm duy trì những yêu sách của nhà nước trong việc chống lại đường lối đối nghịch của chế độ phong kiến Thực tiễn đã chứng minh cho quan điểm về chủ quyền dân tộc của Bodin: cùng với sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản, nhà nước dân tộc đã trở thành thực thể có chủ quyền so với các thể chế phong kiến, giáo hội

Hobbes đã triển khai các khía cạnh đối nội của chủ quyền do Bodin

khởi xướng trong tác phẩm Leviathan (1651) Hobbes cho rằng chủ quyền

như một trạng thaí pháp lý riêng của nhà nước, đó là đặc quyền tuyệt đối bắt tất cả các chủ thể phi nhà nước phải tuân theo ý chí của nó thông qua

hệ thống pháp luật

Trong thực tế, Chủ nghĩa phát xít Đức, ý đã lợi dụng vào quan niệm chủ quyền tuyệt đối của quốc gia dân tộc và kết hợp với triết học của Hegel

Trang 31

để giải thích, biện minh cho chế độ độc tài phát xít của mình Quan niệm này trong xu thế toàn cầu hóa lại có tính nguy hiểm lớn khi nó đặt ra nền móng cho việc không thừa nhận giá trị ràng buộc các cam kết quốc tế, cho phép các quốc gia dân tộc tự ý đặt ra các qui tắc pháp luật, bất chấp cả sự tồn tại của cam kết quốc tế, tạo cơ sở cho các quốc gia dân tộc có tiềm lực chính trị - quân sự, kinh tế mạnh lấn áp các nước nhỏ, có tiềm lực chính trị - quân sự, kinh tế, yếu hơn

* Quan niệm chủ quyền độc lập của quốc gia dân tộc

Để tránh quan niệm chủ quyền tuyệt đối của quốc gia dân tộc, một số

nhà lý luận chính trị đã đưa ra quan niệm chủ quyền độc lập của quốc gia dân tộc Đại diện tiêu biểu cho quan niệm này là J J Rousseau Theo ông,

chủ quyền quốc gia dân tộc đồng nghĩa với sự độc lập của quốc gia đó

Ông cho rằng có nhiều điểm tương đồng giữa hai khái niệm độc lập và chủ

quyền quốc gia dân tộc, ở ba đặc tính sau: quyền lực toàn vẹn, quyền lực

chuyên biệt và quyền lực tự chủ của quốc gia Theo quan niệm này, chủ quyền quốc gia dân tộc phải toàn vẹn, chủ quyền được phép can thiệp vào mọi lĩnh vực xét thấy có lợi ích cho sự tồn tại và phát triển bền vững của quốc gia dân tộc Chủ quyền quốc gia dân tộc phải độc quyền trên toàn bộ lãnh thổ của mình, trừ trường hợp quốc gia dân tộc muốn tự mình hạn chế

độc quyền này bởi những cam kết quốc tế với nước ngoài và các tổ chức quốc tế Chủ quyền của quốc gia dân tộc phải tự chủ, không lệ thuộc vào một quốc gia nào trong quan hệ đối nội và đối ngoại

Quả thực, quan niệm chủ quyền độc lập của quốc gia dân tộc có nhiều điểm tiến bộ hơn quan điểm chủ quyền tuyệt đối của quốc gia dân tộc Tuy vậy, quan niệm chủ quyền độc lập của quốc gia dân tộc như đã trình bày ở trên chưa thật rõ ràng về nhiều phương diện, nhất là phương diện

đối ngoại của quốc gia Quan niệm này mới chỉ tập trung vào một khía cạnh của chủ quyền quốc gia dân tộc ở lĩnh vực đối nội mà chưa đề cập đến khía cạnh đối ngoại của quốc gia dân tộc Nó sẽ trở thành thứ lý luận nguy hiểm

Trang 32

khi phát triển quan niệm quyền lực tự chủ lên thành quyền lực vô hạn, làm quốc gia và chủ quyền trong nước bất chấp mọi nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế, không chịu phục tùng bất cứ mọi quyền lực quốc tế nào cả

* Một số quan niệm khác về chủ quyền quốc gia dân tộc

Trong lịch sử còn tồn tại nhiều quan niệm khác về chủ quyền quốc gia dân tộc Những quan niệm được nêu dưới đây xuất hiện từ thế kỷ thứ XVIII, sau khi giai cấp tư sản đã nắm giữ được chủ quyền ở hàng loạt nước Tây Âu, nhằm phục vụ cho việc cầm quyền, bảo vệ lợi ích và che chắn cho

sự cai trị của mình trong xã hội mới Sau đây xin nêu một số quan niệm thường hay được nhắc đến là:

Quan niệm chủ quyền tối đa của quốc gia dân tộc mà Giáo sư G.Scelles đưa ra, theo ông: Trong quan hệ quốc tế các quốc gia dân tộc có

chủ quyền tuy là không tuyệt đối nhưng cũng đủ rộng lớn hơn chủ quyền của các thực thể khác trong thế giới này Do có chủ quyền tối đa đó nên các quốc gia dân tộc giữ vị trí ưu thế trong xã hội quốc tế

Quan niệm chủ quyền đối ngoại của những nước tham gia Công

ước Montevideo ngày 16/12/1933 về quyền và nghĩa vụ của quốc gia dân

tộc, đó là: quốc gia dân tộc phải có một quyền uy chính trị khả dĩ đủ năng

lực đối ngoại Chủ quyền quốc gia dân tộc có nghĩa là quyền lực đối ngoại của quốc gia dân tộc để giao tiếp với các thực thể chính trị khác trong quan

hệ quốc tế, để bảo vệ và duy trì hòa bình và an ninh quốc tế

Trên thực tế, không thể duy trì được tình trạng quyền lực quốc gia dân tộc bị hạn chế trong quan hệ đối ngoại theo những thỏa thuận hoặc

"Luật chơi" quốc tế mà vẫn đảm bảo được quyền lực tối cao của quốc gia dân tộc trên toàn lãnh thổ của quốc gia dân tộc đó Tuy vậy cũng cần lưu ý rằng mọi quyền lực của quốc gia dân tộc cũng có thể bị hạn chế bởi ý chí tự quyết của chính quốc gia dân tộc đó Nhưng không phải vì hành động tự quyết đó mà quốc gia dân tộc mất hoặc bị hạn chế nền độc lập của mình Một quốc gia dân tộc có chủ quyền khi ký kết và thực hịên một cam kết

Trang 33

quốc tế nào đó, cho dù trong đó có cam kết về việc hạn chế một phần quyền

và nghĩa vụ quốc gia dân tộc đó trong quan hệ quốc tế, thì việc ký kết và thực hiện cam kết quốc tế đó không làm mất hoặc hạn chế chủ quyền của quốc gia dân tộc này

Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, để tăng cường hợp tác giữa các quốc gia dân tộc vì lợi ích chung, vì hoà bình và an ninh chính trị quốc tế, quốc gia dân tộc có thể tự nguyện hạn chế những quyền và nghĩa vụ quốc tế cơ bản của mình thông qua các cam kết quốc tế trong lĩnh vực và phạm vi nhất

định, theo những điều kiện nhất định không trái với các qui ước quốc tế Ví

dụ, quốc gia dân tộc theo đuổi chế độ nhà nước trung lập, chính sách không liên kết, cũng có thể gánh vác thêm những quyền và nghĩa vụ quốc tế bổ sung nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế

1.2 Quan niệm chủ quyền quốc gia dân tộc hiện nay

Trong thời đại ngày nay, khái niệm chủ quyền quốc gia dân tộc được

cấu thành từ ba khái niệm quan trọng, đó là: chủ quyền dân tộc (quyền của mỗi dân tộc được thành lập một quốc gia dân tộc độc lập của mình), chủ

quyền quốc gia và chủ quyền nhân dân (quyền của nhân dân làm chủ trong

việc hoạch định một hệ thống kinh tế - xã hội và hình thái tổ chức nhà nước theo sự lựa chọn phù hợp với mình, quyền xác định trong một qui chế chính trị, kinh tế, xã hội và pháp lý cho mình)

Chủ quyền quốc gia dân tộc được biểu hiện bởi hai nội dung cơ bản

là: quyền tối cao của quốc gia dân tộc trong phạm vị l∙nh thổ và quyền

độc lập của quốc gia dân tộc trong quan hệ quốc tế.

(1)* Quyền tối cao của quốc gia dân tộc trong phạm vi lãnh thổ:

L∙nh thổ quốc gia là ranh giới tuyệt đối để phân biệt môi trường

dân tộc trong phạm vi lãnh thổ được thể hiện ở hai phương diện là: quyền sở

hữu và quyền lực

Trang 34

- Quyền sở hữu của mỗi quốc gia dân tộc là môi trường tự nhiên của quốc gia dân tộc (bao gồm: đất đai, không gian, mặt nước, rừng, tài nguyên

khoáng sản vùng lòng đất trong phạm vi được giới hạn bởi biên giới quốc gia là nội dung vật chất của lãnh thổ quốc gia thuộc về quốc gia dân tộc đó)

và quốc gia dân tộc có quyền sở hữu đầy đủ và trọn vẹn trên cơ sở phù hợp

với lợi ích của cộng đồng dân cư sống trên vùng lãnh thổ đó, phù hợp với

các quyền dân tộc cơ bản Mọi sự thay đổi hoặc quyết định liên quan đến số phận của một vùng nào đó thuộc lãnh thổ quốc gia dân tộc phải dựa trên cơ

sở quyền tự quyết của quốc gia dân tộc

Mặt khác, quốc gia dân tộc được quyền sở hữu đối với mọi quyền lợi thu

được từ việc cho các quốc gia dân tộc khác, các chủ thể khác sử dụng, khai thác

lãnh thổ của mình như cho thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên, thuỷ lợi, thuỷ điện, cho thuê lãnh thổ, cho quá cảnh qua lãnh thổ Quốc gia dân tộc có nghĩa vụ bảo vệ môi trường, giữ gìn và sử dụng hợp lý có hiệu quả các nguồn tài nguyên, đảm bảo quyền lợi cho các thế hệ mai sau

- Quyền lực của quốc gia dân tộc : Đó là quyền lực hoàn toàn, riêng

biệt và không thể chia sẻ của quốc gia dân tộc trong phạm vi lãnh thổ Mỗi nhà nước là một người chủ tối cao và tuyệt đối tại vùng lãnh thổ của mình

mà không phải chịu trách nhiệm gì với bên ngoài Điều nay có nghĩa là

"mỗi quốc gia có quyền lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, xã hội, kinh

tế, văn hóa riêng của mình"1 Đó là quyền tự lựa chọn cho mình một chế độ chính trị, cách thức tổ chức, thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước và

đường lối phát triển đất nước Đây là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia dân tộc, không một quốc gia dân tộc nào, một chủ thể nào

được quyền can thiệp hoặc làm tổn hại đến quyền năng của quốc gia dân tộc, chỉ có nhân dân mới là người duy nhất tự định đoạt số phận chính trị của mình thông qua người đại diện là nhà nước

1 Nghị quyết 2625 (XXV) ngày 24/10/1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc tuyên bố và thiết lập mối

quan hệ thân thiện, hữu nghị giữa các quốc gia

Trang 35

Trong giai đoạn hình thành quốc gia dân tộc, chính quyền trung ương

đã phải đương đầu với các trung tâm tự trị (các phe phái quý tộc hoặc giáo hội) - khi các trung tâm này cố bảo vệ đặc quyền của chúng Tuy nhiên cho

đến thế kỷ XIX, hầu hết các nhà nước ở châu Âu đã thành công trong việc

đã trở thành một trung tâm duy nhất có toàn quyền ra quyết định trong phạm vi lãnh thổ của nó

Quyền lực tối cao đó của quốc gia dân tộc cho phép loại trừ mọi quyền lực khác của nước ngoài trên lãnh thổ của mình và là căn cứ để quốc gia dân tộc giải quyết mọi vấn đề chính trị- an ninh- quốc phòng, kinh tế, và văn hóa, xã hội, trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia dân tộc đó, không một thế lực nào từ bên ngoài được dùng sức ép về chính trị - quân sự, kinh tế để can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia dân tộc dưới mọi hình thức Quốc gia dân tộc có toàn quyền trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình, bảo vệ đường biên giới quốc gia mình, chống lại mọi hành vi xâm phạm chủ quyền quốc gia dân tộc

Tuy nhiên, quốc gia dân tộc không được phép sử dụng chủ quyền lãnh thổ mang lại thiệt hại cho chủ quyền của quốc gia dân tộc khác, tôn trọng quyền bất khả xâm phạm của quốc gia dân tộc khác, cụ thể: không

được đe doạ hoặc sử dụng vũ lực để chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia dân tộc khác, cấm xâm hại tới sự ổn định và bất khả xâm phạm của biên giới quốc gia dân tộc khác, không được phép sử dụng lãnh thổ quốc gia dân tộc khác khi không có sự đồng ý của quốc gia dân tộc đó, không cho phép quốc gia dân tộc khác sử dụng lãnh thổ quốc gia dân tộc của mình chống lại quốc gia thứ ba

(2)* Quyền độc lập của quốc gia dân tộc trong quan hệ quốc tế

Trong quan hệ quốc tế, mọi quốc gia dân tộc đều độc lập và bình

đẳng, không một quyền lực nào được đứng trên chủ quyền quốc gia dân tộc,

được đưa ra các mệnh lệnh buộc quốc gia dân tộc khác phải phục tùng Có thể xác định một số đặc tính cơ bản của chủ quyền quốc gia như sau:

Trang 36

- Thứ nhất, chủ quyền quốc gia là không thể phân chia và duy nhất :Quốc gia là một thực thể bao gồm đầy đủ các yếu tố: lãnh thổ, dân cư, nhà

nước và quyền năng chủ thể Các yếu tố này gắn bó chặt chẽ và tạo nên một tổng thể thống nhất Nói đến chủ quyền người ta thường nghĩ đến quyền lực, hai khái niệm này có nhiều điểm tương đồng và có mối quan hệ hữu cơ với nhau nhưng không thể đồng nhất chúng Chủ quyền và quyền lực đều có

điểm chung là được biểu hiện bởi các quyền, chúng đều được xác định là sức mạnh và được nói đến như là khả năng buộc các chủ thể khác phải phục tùng sức mạnh của mình Tuy nhiên điểm khác biệt cơ bản giữa chủ quyền và quyền lực là quyền lực được xác định như một sức mạnh vật chất, có khả năng trực tiếp tác động tới chủ thể, còn chủ quyền lại được coi là thuộc tính của một chủ thể nhất định, từ thuộc tính đó có thể lý giải tại sao chủ thể lại có quyền lực Như vậy, bản chất của chủ quyền quốc gia dân tộc là quyền lực nhưng nó không phải là bản thân quyền lực mà nó được hiểu là cội nguồn của quyền lực, năng lực nắm giữ và thực thi quyền lực Quyền lực có thể phân chia, nhưng chủ quyền thì luôn luôn là không thể phân chia và duy nhất

Học thuyết nhà nước pháp quyền chỉ ra rằng: quyền lực nhà nước nảy sinh từ khế ước xã hội, dựa trên sự đóng góp chủ quyền của các công dân,

và do đó, bản thân nhà nước không phải là quyền lực, mà chỉ là vật mang quyền lực Tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân Bởi vậy người có chủ quyền thực sự chính là xã hội công dân chứ không phải nhà nước Xét từ góc độ này thì các quyền nhà nước (chủ quyền quốc gia dân tộc) cũng chính là những quy định nhằm khống chế nó từ phía xã hội công dân

Trong tác phẩm của mình, Rousseau và các nhà tư tưởng chủ trương quan điểm "chủ quyền thuộc về nhân dân" đều thống nhất ở một điểm: quyền lực nhà nước là do nhân dân trao cho người cầm quyền, nó có nguồn gốc từ nhân dân, được thực thi dưới sự giám sát của nhân dân và có thể bị nhân dân thu hồi

Qua đó có thể khẳng định chủ quyền quốc gia dân tộc có nguồn gốc

từ nhân dân, vốn thuộc về nhân dân, nhà nước chỉ là người đại diện cho

Trang 37

nhân dân để nắm giữ và thực hiện có hiệu quả chủ quyền quốc gia dân tộc

Sự phân công, phân nhiệm của bộ máy nhà nước theo chức năng, theo lãnh thổ chỉ nhằm phân công, phối hợp trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện

có hiệu quả các quyền xuất phát từ chủ quyền Còn nhân dân là thực thể duy nhất, không chia rẽ, quyền lực của nhân dân là thống nhất nên không thể chia sẻ chủ quyền quốc gia

Trong thời kỳ bùng nổ các cuộc cách mạng tư sản, chủ quyền thuộc

về nhân dân đã trở thành động lực tinh thần cho giai cấp tư sản và giúp cho giai cấp này tập hợp được lực lượng xã hội xung quanh mình trong cuộc chiến thần quyền và vương quyền

Trong quan hệ quốc tế còn tồn tại những hiện tượng như chuyển nhượng lãnh thổ, phân tách, sáp nhập quốc gia là những hiện tượng đặc biệt

có liên quan đến chủ quyền quốc gia dân tộc Đây không phải là sự chia sẻ chủ quyền mà chỉ là sự biến động của quốc gia về yếu tố lãnh thổ, dân cư, không thể khái quát những hiện tượng đặc biệt này để phủ nhận tính duy nhất và không thể phân chia của chủ quyền quốc gia Bên cạnh đó, mọi sự biến động này đều phải tuân theo những thủ tục ràng buộc chặt chẽ, đặc biệt phải đảm bảo nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết

- Thứ hai, chủ quyền quốc gia có tính tối cao: nghĩa là không có

quyền lực nào bao trùm lên quyền lực của quốc gia dân tộc, buộc quốc gia dân tộc phải tuân theo mệnh lệnh của mình Nội dung chủ quyền quốc gia dân tộc là quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ và độc lập trong quan hệ quốc tế Tuy nhiên cần phân biệt "tính tối cao" với "tính tuyệt đối" Quan nịêm về chủ quyền tuyệt đối của quốc gia dân tộc là sai lầm ở chỗ khẳng

định quốc gia được phép nhân danh chủ quyền, sử dụng mọi công cụ, thủ

đoạn để bành trướng quyền lực, dẫn tới chỉ một quốc gia dân tộc có chủ quyền tối cao nhờ vào quyền lực của mình Còn ở đây khi thừa nhận tính tối cao là dành cho mọi quốc gia dân tộc và không một quốc gia dân tộc nào

được chà đạp lên chủ quyền quốc gia khác

Trang 38

Giai đoạn khởi đầu phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa mà khởi điểm là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Mỹ( 1775- 1783), khuynh hướng coi chủ quyền quốc gia có tính tối cao và vì vậy mà quan điểm mỗi dân tộc đều có quyền tự quyết, mỗi quốc gia đều là một thực thể độc lập và bình đẳng với các quốc gia khác đã nổi lên hàng đầu trong quan niệm về chủ quyền)

Bởi vậy, Hiến chương của Liên Hợp quốc chấp nhận cả nhân quyền (đề cao chủ quyền của cá nhân và xã hội công dân), lẫn nguyên tắc chủ quyền truyền thống, tức là nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác ( đề cao tính tối cao của chủ quyền nhà nước)

- Thứ ba, chủ quyền quốc gia dân tộc là bình đẳng: Tính bình đẳng

của chủ quyền quốc gia dân tộc được nhìn nhận trong mối tương quan giữa chủ quyền của các quốc gia dân tộc với nhau Chủ quyền mọi quốc gia dân tộc đều là tối cao và đều không thể xâm phạm, chà đạp lên nhau Điều đó chỉ có thể dẫn đến một hệ quả là các quốc gia dân tộc trên thế giới bình

đẳng với nhau Điều này được khẳng định trong Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945, tại điều 2 đã nêu: "Liên hợp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng, chủ quyền của tất cả các nước thành viên"2 Nguyên tắc này một lần nữa được ghi nhận trong tuyên bố 1970 của Đại hội đồng Liên hiệp quốc về hệ thống các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia

Bước sang thế kỷ XXI, dù vẫn còn những bất đồng nhưng chưa bao giờ các đường biên giới quốc gia lại được đảm bảo ổn định như hiện nay, xuất phát từ lợi ích chung của phần lớn các quốc gia dân tộc có chủ quyền trong việc tôn trọng tình trạng lãnh thổ hiện tại Trong bối cảnh như vậy, chủ quyền quốc gia dân tộc đã có nhiều thay đổi về nội dung, ý nghĩa: chủ quyền quốc gia, hiểu theo nghĩa cơ bản nhất, đang trong quá trình được

định nghĩa lại Điều này diễn ra không chỉ do tác động của quá trình toàn

2 Nguyễn Văn Linh, “ Một số vấn đề cơ bản về luật Quốc tế “, Nxb thành phỗ Hồ Chí Minh, năm 1995, Tr

169

Trang 39

cầu hóa và hợp tác quốc tế Ngày nay, nhà nước được coi là công cụ để phục vụ dân tộc mình, chứ không phải theo chiều ngược lại Đồng thời chủ quyền cá nhân cũng được củng cố thông qua một nhận thức mới đang rất phổ biến về quyền cá nhân Đến thế kỷ XXI, khái niệm lợi ích quốc gia dân tộc phải được xác định lại với ý nghĩa rộng hơn để thúc đẩy các quốc gia dân tộc thống nhất với nhau hơn trong việc theo đuổi những mục tiêu chung và những giá trị cùng chia sẻ

Chủ quyền quốc gia dân tộc suy cho cùng chính là lợi ích tối cao của quốc gia Đảm bảo chủ quyền quốc gia dân tộc chính là đảm bảo lợi ích đó Và một mô hình mà bất kỳ quốc gia nào cũng muốn hướng tới: đó

là một xã hội phát triển bền vững và cân bằng

Nội dung nói trên của chủ quyền quốc gia dân tộc dẫn đến tình trạng là: người ta có thể lý giải chủ quyền quốc gia như thẩm quyền cai trị tuyệt đối của nhà nước trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia dân tộc, nhưng cũng có thể - như tập hợp các quy định hạn chế của xã hội công dân đối với nhà nước

Hiện nay, các nước phương Tây thường nhấn mạnh tính chất công dân của chủ quyền (Nhân quyền hoặc quyền con ngươì), coi đây là cơ sở

đảm bảo quyền tự do cá thể và chủ quyền cá nhân Trong khi đó các nước

đang phát triển, lại nhấn mạnh khía cạnh tối cao của chủ quyền, vì đặc tính này cho phép thiết lập một trật tự chính trị pháp lý ổn định xoay qunh một quyền lực trung ương Quan niệm như vậy về chủ quyền quốc gia dân

tộc, một mặt, xuất phát từ nhu cầu ổn định chính trị để phát triển của các nước này, mặt khác, với tư cách là hệ quả, việc thừa nhận tính tối cao của chủ quyền cũng đảm bảo cho các quốc gia này có được một vị thế pháp lý bình đẳng với các quốc gia khác trên trường quốc tế

2 Quan điểm về mối quan hệ giữa chủ quyền quốc gia dân tộc và toàn cầu hóa

Chủ quyền quốc gia dân tộc và toàn cầu hóa có mối quan hệ hữu cơ với nhau Một mặt, TCH tạo ra những tiền đề cho tăng trưởng kinh tế của

Trang 40

mỗi quốc gia dân tộc, mỗi vùng, thậm chí mỗi đơn vị kinh tế và cá nhân, mặt khác TCH cũng đưa đến những thách thức trong việc thực hiện và đảm bảo chủ quyền quốc gia dân tộc và thậm chí nó có khả năng "gặm nhấm",

"bào mòn", chủ quyền quốc gia dân tộc Theo chiều ngược lại, nhà nước với

vị trí trung tâm trong mọi mối quan hệ cả ở phạm vi trong nước lẫn trong quan hệ quốc tế, với việc nắm giữ và thực hiện chủ quyền quốc gia dân tộc cũng có tác động tới tiến trình TCH Có thể lý giải sự tồn tại của mối quan

hệ giữa chủ quyền quốc gia và TCH ở một số điểm sau:

Những tác động của quá trình toàn cầu hóa tới việc thực hiện và đảm bảo chủ quyền quốc gia dân tộc đặt ra vấn đề xem xét lại quan niệm về chủ

quyền quốc gia dân tộc TCH là xu thế khách quan bởi sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất kéo theo sự vận động của quan hệ sản xuất, thúc

đẩy phân công lao động quốc tế và sự phổ biến của kinh tế thị trường trên qui mô toàn cầu Như vậy thì hạ tầng kinh tế xã hội sẽ có tác động đến quá trình vận động và phát triển của nhà nước (thuộc thượng tầng kiến trúc) trong đó có vấn đề chủ quyền quốc gia dân tộc Bên cạnh đó, các thiết chế kinh tế quốc tế, các công ty đa quốc gia, có tác động trực tiếp tới sự thúc

đẩy xu thế TCH và các chủ thể này cũng đang thách thức tới chủ quyền của quốc gia dân tộc Cụ thể là quá trình tự do hóa thương mại, sự mở rộng của thị trường tài chính, tiền tệ thế giới, đầu tư, và sự hoạt động mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia đã dẫn đến những biến đổi về vị trí, tính chất, vai trò và năng lực của quốc gia dân tộc trên trường quốc tế, tức là ảnh hưởng đến lợi ích và chủ quyền của quốc gia dân tộc, có nghĩa là làm hạn chế khả năng can thiệp một cách có hiệu quả của nhà nước vào các lĩnh vực

to lớn của đời sống kinh tế : “Sau vài thập kỷ quyền lực chi phối kinh tế và xã hội tập trung vào tay các thể chế nhà nước, thì nay quyền lực ấy đang

bước vào một giai đọan mới - giai đoạn phân quyền”3

Toàn cầu hóa tạo ra cơ hội cho tăng trưởng kinh tế, mang lại kinh nghiệm quản lý cho các nhà nước và giải quyết những vấn đề của xã hội

3 S.Strange, The restreat of the state : The Diffúion of Powerin the world Economy, 1996 - tr 86

Ngày đăng: 19/11/2016, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w