Ngành chăn nuôi hiện chiếm 27% trong đóng góp của Ngành Nông nghiệp vào tổng thu nhập quốc nội (Cục chăn nuôi, 2011). Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng thu nhập ở các vùng nông thôn Việt Nam, chủ yếu là nguồn thu từ chăn nuôi lợn và gia cầm theo quy mô hộ gia đình. Sản phẩm của các hộ chăn nuôi chiếm tới 70% sản lượng thực phẩm ngành chăn nuôi cung cấp cho 84% triệu người dân Việt Nam. Sáu tháng đầu năm 2012, tổng đàn lợn nước ta khoảng 26,7 triệu con, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2011; đàn lợn nái khoảng 4,15 triệu con tăng 8,7% so với cùng kỳ. Tồng đàn gia cầm tại thời điểm ngày 014 trên cả nước là 311,0 triệu con, tăng 5,9% so với cùng thời điểm năm 2011. Tổng đàn trâu bò của cả nước là 7,97 triệu con. Trong đó, đàn bò 5,31 triệu con và đàn trâu là 2,66 triệu con, giảm tương ứng so với cùng kỳ năm 2011 là giảm 7,0% đối với đàn bò thịt và 5,0% đối với đàn trâu. (Cục chăn nuôi, 2012) Theo ước tính của Tổng cục Thống kê (2013), so với cùng kỳ năm 2012 đàn trâu bò, lợn và gia cầm cả nước đều giảm: Đàn trâu giảm khoảng 2.5%; đàn bò giảm 3%; đàn lợn giảm khoảng 1 – 1,5%; đàn gia cầm giảm khoảng 1,5 – 2%. Tuy nhiên, chăn nuôi lợn và gia cầm đã có nhiều dấu hiệu khởi sắc do giá thịt lợn và gia cầm đang theo xu hướng tăng. Trong các loại vật nuôi, trang trại chăn nuôi lợn chiếm tỷ lệ lớn nhất, tăng từ 3.534 trang trại năm 2003 lên 7.475 trang trại năm 2008 (chiếm 42,2% tổng số trang trại chăn nuôi). Trong đó, miền Bắc có 3.069 trang trại, chiếm 41,1%; miền Nam có 4.406 trang trại chiếm 58,9%. Quy mô chăn nuôi lợn nái phổ biến từ 20 – 50 contrang trại, chiếm 71,3% trang trại chăn nuôi lợn nái và quy mô lợn thịt phổ biến từ 100 – 200 contrang trại chiếm 75,5% trang trại chăn nuôi lợn thịt. (Cục chăn nuôi, 2008) Việc hình thành và phát triển các trang trại chăn nuôi ở nước ta đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, tăng năng suất lao động và thu nhập cho người nông dân. Tuy nhiên, việc quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi lại chưa được quan tâm đúng mức, ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường xung quanh bởi các loại chất thải rắn, lỏng và khí phát sinh ngày càng nhiều và không được xử lý triệt để. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá tình hình xử lý chất thải tại các trang trại chăn nuôi là nhiệm vụ cấp bách để đảm bảo phát triển ngành chăn nuôi một cách bền vững. Từ những lý do trên tôi lựa chọn thực hiện đề tài : “Đánh giá tình hình quản lý chất thải chăn nuôi tại các trang trại trên địa bàn huyện Sóc Sơn, TP.Hà Nội”.
Trang 1lTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
-( -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI TẠI CÁC TRANG TRẠI TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN SÓC SƠN, TP.HÀ NỘI
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ CÚC
Chuyên ngành : Kỹ thuật môi trường.
Giáo viên hướng dẫn : ThS.Cao Trường Sơn
Địa điểm thực tập : Huyện Sóc Sơn - Hà Nội
Hà Nội - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
-( -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI TẠI CÁC TRANG TRẠI TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN SÓC SƠN, TP.HÀ NỘI
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ CÚC
Chuyên ngành : Kỹ thuật môi trường.
Giáo viên hướng dẫn : ThS.Cao Trường Sơn
Địa điểm thực tập : Huyện Sóc Sơn - Hà Nội
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân ra, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và tạo điều kiện của ban chủ nhiệm khoa Môi Trường, các thầy cô giáo và bạn bè.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Môi Trường nói riêng và các thầy cô giáo Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội nói chung đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới ThS Cao Trường Sơn – người thầy mà trong suốt thời gian vừa qua không quản ngại khó khăn đã nhiệt tình chỉ dạy và tận tình giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Tài nguyên và Môi trường – UBND huyện Sóc Sơn – Hà Nội đã giúp tôi thực hiện đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình và bạn bè đã
ở bên cạnh động viên, khích lệ tôi hoàn thành luận văn thực tập tốt nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng
Sinh viên
Nguyễn Thị Cúc
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
PHẦN 1ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Khái quát chung về chất thải chăn nuôi 3
2.1.1 Sơ lược về chất thải chăn nuôi 3
2.1.2 Lợi ích và tác hại của chất thải chăn nuôi 4
2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi trên Thế giới và Việt Nam 6
2.2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi trên Thế giới 6
2.2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi tại Việt Nam 9
2.2.2.1 Xu hướng phát triển 10
2.2.2.2 Hình thức chăn nuôi 11
2.2.2.3 Tỷ lệ phân bố 11
2.3 Tổng quan các vấn đề môi trường trong chăn nuôi 12
2.2.1 Nguồn thải từ chăn nuôi 12
2.2.2 Hiện trạng ô nhiễm môi trường chăn nuôi 12
2.2.2.1 Hiện trạng ô nhiễm môi trường chăn nuôi trên thế giới 12
2.2.2.2 Hiện trạng ô nhiễm môi trường chăn nuôi ở Việt Nam 15
2.4 Tổng quan tình hình quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi 16
2.4.1 Tình hình quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi trên thế giới 16
2.4.2 Tình hình quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi ở Việt Nam 20
2.4.2.1 Các biện pháp quản lý và xử lý chất thải rắn 20
Trang 52.4.2.2 Các biện pháp quản lý và xử lý nước thải 22
2.4.2.3 Các biện pháp xử lý khí thải 25
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 26
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
3.2 Nội dung nghiên cứu 26
3.2.1.Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Sóc Sơn, Tp.Hà Nội 26
3.2.2 Tình hình phát triển trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Sóc Sơn, Tp.Hà Nội 26
3.2.3 Tình hình xử lý chất thải chăn nuôi của các trang trại trên địa bàn huyện Sóc Sơn 26
3.3 Phương pháp nghiên cứu 27
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 27
3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp 27
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 28
3.2.4 Phương pháp điều tra người dân quanh trang trại 28
Phần 4: DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 29
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Sóc Sơn 29
4.1.1 Phân tích các điều kiện tự nhiên 29
4.1.1.1.Vị trí địa lý 29
4.1.1.2.Các điều kiện tự nhiên 30
4.1.1.3 Các tài nguyên thiên nhiên 31
4.1.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội 33
4.1.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 33
4.1.2.2 Dân số và nguồn lao động 34
4.2 Tình hình phát triển trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Sóc Sơn 35
Trang 64.2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi 35
4.2.2 Đặc điểm của các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Sóc Sơn 36
4.3 Đánh giá tình hình quản lý chất thải tại các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Sóc Sơn 42
4.4 Những vấn đề tồn tại và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải chăn nuôi 48
4.4.1 Những vấn đề tồn tại 48
4.4.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường 51
Phần 5.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Lượng chất thải và nước thải thải ra mỗi ngày/đầu gia súc 3Bảng 2.2: Số lượng vật nuôi và tỷ trọng các loại thịt trên thế giới 7Bảng 2.3 Số lượng đầu gia súc gia cầm và sản lượng sản phẩm chăn
nuôi nước ta năm 2009 9Bảng 2.4: Tiêu chuẩn về N và P thải ra ngoài môi trường áp dụng cho
gia súc nhai lại tại Hà lan 17Bảng 4.1 Lao động trên địa bàn huyện Sóc Sơn (tính đến 31/12/2011) 35Bảng 4.2: Thời gian thành lập của các trang trại nuôi trên địa bàn huyện
Sóc Sơn 37Bảng 4.3: Sử dụng đất trong các hệ thống trang trại (đơn vị: m2) 38Bảng 4.4: Vị trí và đặc điểm điểm chuồng trại của các hệ thống trang
trại lợn 39Bảng 4.5: Tình hình xử lý chất thải tại các trang trại chăn nuôi trên địa
bàn huyện Sóc Sơn 43Bảng 4.6: Tình hình hoạt động và các vấn đề nảy sinh của bể biogas
trong các trang trại huyện Sóc Sơn 44Bảng 4.7: Thông tin về hình thức thu gom phân để bán tại các trang trại
huyện Sóc Sơn 46
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Hồ yếm khí để xử lý chất thải chăn nuôi 19
Hình 2.2 Mô hình VAC 24
Hình 4.1.Bản đồ Huyện Sóc Sơn (màu hồng đậm) 29
Hình 4.2: Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Sóc Sơn năm 2013 34
Hình 4.3: Tỷ lệ các kiểu hệ thống trang trại nuôi trên địa bàn huyện Sóc Sơn 36
Hình 4.4: Quy mô vật nuôi trong các hệ thống trang trại huyện Sóc Sơn .40
Hình 4.5: Hình ảnh chăn nuôi gà tại trang trại ông Nguyễn Xuân Hòa 41
Hình 4.6: Hình ảnh chăn nuôi lợn trang trại bà Nguyễn Thị Hồng 41
Hình 4.7: Đánh giá của người lao động tại trang trại về chất lượng môi trường 49
Hình 4.8: Đánh giá của người dân sống xung quanh trang trại về hiện trạng môi trường ở khu vực nghiên cứu 50
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 VAC: Vườn – Ao – Chuồng
2 AC: Ao – Chuồng
3 C: Chuồng
4 BOD: Nhu cầu ô xy sinh học
5 COD: Nhu cầu ô xy hóa học
6.DO: Hàm lượng ô xy hòa tan
7 FAO: Tổ chức lương thực thế giới
8 SS: Hàm lượng các chất lơ lửng
Trang 10PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Ngành chăn nuôi hiện chiếm 27% trong đóng góp của Ngành Nôngnghiệp vào tổng thu nhập quốc nội (Cục chăn nuôi, 2011) Chăn nuôi đóngvai trò quan trọng trong việc gia tăng thu nhập ở các vùng nông thôn ViệtNam, chủ yếu là nguồn thu từ chăn nuôi lợn và gia cầm theo quy mô hộ giađình Sản phẩm của các hộ chăn nuôi chiếm tới 70% sản lượng thực phẩmngành chăn nuôi cung cấp cho 84% triệu người dân Việt Nam
Sáu tháng đầu năm 2012, tổng đàn lợn nước ta khoảng 26,7 triệu con,tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2011; đàn lợn nái khoảng 4,15 triệu con tăng8,7% so với cùng kỳ Tồng đàn gia cầm tại thời điểm ngày 01/4 trên cả nước
là 311,0 triệu con, tăng 5,9% so với cùng thời điểm năm 2011 Tổng đàn trâu
bò của cả nước là 7,97 triệu con Trong đó, đàn bò 5,31 triệu con và đàn trâu
là 2,66 triệu con, giảm tương ứng so với cùng kỳ năm 2011 là giảm 7,0% đốivới đàn bò thịt và 5,0% đối với đàn trâu (Cục chăn nuôi, 2012)
Theo ước tính của Tổng cục Thống kê (2013), so với cùng kỳ năm
2012 đàn trâu bò, lợn và gia cầm cả nước đều giảm: Đàn trâu giảm khoảng2.5%; đàn bò giảm 3%; đàn lợn giảm khoảng 1 – 1,5%; đàn gia cầm giảmkhoảng 1,5 – 2% Tuy nhiên, chăn nuôi lợn và gia cầm đã có nhiều dấu hiệukhởi sắc do giá thịt lợn và gia cầm đang theo xu hướng tăng
Trong các loại vật nuôi, trang trại chăn nuôi lợn chiếm tỷ lệ lớn nhất,tăng từ 3.534 trang trại năm 2003 lên 7.475 trang trại năm 2008 (chiếm 42,2%tổng số trang trại chăn nuôi) Trong đó, miền Bắc có 3.069 trang trại, chiếm41,1%; miền Nam có 4.406 trang trại chiếm 58,9% Quy mô chăn nuôi lợn náiphổ biến từ 20 – 50 con/trang trại, chiếm 71,3% trang trại chăn nuôi lợn nái
và quy mô lợn thịt phổ biến từ 100 – 200 con/trang trại chiếm 75,5% trangtrại chăn nuôi lợn thịt (Cục chăn nuôi, 2008)
Trang 11Việc hình thành và phát triển các trang trại chăn nuôi ở nước ta đã đemlại hiệu quả kinh tế cao, tăng năng suất lao động và thu nhập cho người nôngdân Tuy nhiên, việc quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi lại chưa được quantâm đúng mức, ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường xung quanh bởi cácloại chất thải rắn, lỏng và khí phát sinh ngày càng nhiều và không được xử lýtriệt để Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá tình hình xử lý chất thải tại cáctrang trại chăn nuôi là nhiệm vụ cấp bách để đảm bảo phát triển ngành chănnuôi một cách bền vững.
Từ những lý do trên tôi lựa chọn thực hiện đề tài : “Đánh giá tình hình quản lý chất thải chăn nuôi tại các trang trại trên địa bàn huyện Sóc Sơn, TP.Hà Nội”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Chỉ rõ đặc trưng các nguồn chất thải chăn nuôi trên địa bàn huyệnSóc Sơn, thành phố Hà Nội
Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải của các trang trại chăn nuôitrên địa bàn huyện Sóc Sơn
Đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường tại các trang trại chănnuôi trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN
2.1 Khái quát chung về chất thải chăn nuôi
2.1.1 Sơ lược về chất thải chăn nuôi.
Chăn nuôi được xác định là một trong những ngành sản xuất tạo ra mộtlượng chất thải nhiểu nhất ra môi trường Chất thải chăn nuôi được chia làm
ba loại: Chất thải rắn, chất thải lỏng và chất thải khí
Chất thải rắn
Chất thải rắn là hỗn hợp các chất hữu cơ, vô cơ, vi sinh vật và trứng kýsinh trùng có thể gây bệnh cho người và gia súc khác Chất thải rắn gồmphân, thức ăn thừa của gia súc, gia cầm vật liệu lót chuồng, xác súc vật chết Chất thải rắn có độ ẩm từ 56-83% tùy theo phân của các loài gia súc gia cầmkhác nhau và có tỉ lệ NPK cao
Bảng 2.1: Lượng chất thải và nước thải thải ra mỗi ngày/đầu gia súc
Gia súc Lượng nước thải, chất thải phát sinh (kg/ngày/con)
(Nguồn: Cục Chăn nuôi – Bộ NN & PTNT)
Trong thành phần phân gia súc còn chứa các loại virus, vi trùng, đa trùng,trứng giun sán và nó có thể tồn tại vài ngày tới vài tháng trong phân Nước thảichăn nuôi có thể gây ô nhiễm cho đất đồng thời gây hại cho sức khỏe con người
và vật nuôi Theo kết quả quan trắc và kiểm soát môi trường nước đã cho thấy córất nhiều loại vi trùng gây bệnh trong phân gia súc gia cầm
Thức ăn dư thừa và vật liệu lót chuồng và các chất thải khác trong chấtthải rắn có chứa thành phần đa dạng gồm cám, bột ngũ cốc, bột cá, bột tôm,khoáng, chất bổ sung, các loại kháng sinh, rau xanh, cỏ, rơm rạ, bao bố, vải vụn,gỗ… Chính vì vậy việc quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi tốt sẽ hạn chế được
Trang 13ô nhiễm môi trường Do đó để hạn chế khả năng gây ô nhiễm của chất thải cầnphải quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi ngay từ lúc mới thải ra môi trường
Chất thải lỏng
Nước thải chăn nuôi là một tập hợp chất của nhiều thành phần ở cảtrạng thái rắn và lỏng, chúng có thể bao gồm phân, lông, vảy da, chất độnchuồng, nước tiểu gia súc, nước vệ sinh chuồng trại, nước tắm rửa gia súc,thức ăn rơi vãi và các bệnh phẩm thú y, xác gia súc, gia cầm chết…Thànhphần của nước thải chăn nuôi có thể thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưlọai gia súc, gia cầm, quy mô chăn nuôi, chế độ dinh dưỡng cho gia súc vàcác phương thức thu gom chất thải
Nước thải chăn nuôi có hàm lượng các chất ô nhiễm cao, cần phải được
xử lý trước khi thải ra ngoài môi trường Việc xử lý nước thải chăn nuôi đạttiêu chuẩn môi trường là yêu cầu quy định của luật pháp đối với tất cả các cơ
sở chăn nuôi
Chất thải khí
Khí thải chăn nuôi phát sinh từ 3 nguồn chính:
- Khí thải từ hệ thống chuồng trại chăn nuôi
- Khí ô nhiễm phát thải từ hệ thống lưu trữ chất thải chăn nuôi
- Khí ô nhiễm phát thải từ đồng ruộng, vườn cây… được bón phân giasúc hay từ ao cá sử dụng phân gia súc làm thức ăn
2.1.2 Lợi ích và tác hại của chất thải chăn nuôi
Lợi ích của chất thải chăn nuôi
Chất thải chăn nuôi là nguyên liệu sản xuất phân bón hữu cơ, sử dụngtrong trồng trọt, là thức ăn chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, đồng thời còn lànguyên liệu sản xuất khí sinh học phục vụ cho cuộc sống thiết thực hàng ngàycủa con người
Trang 14Phân gia súc được sử dụng rộng rãi để bón trong trồng trọt vì chúng cầnthiết cho mùa vụ Tác dụng của phân gia súc là cải thiện điều kiện vật lý đất,tăng độ phì nhiêu của đất, ổn đinh và tăng năng suất cây trồng.
Chất thải chăn nuôi còn phục vụ trong việc nuôi trồng thủy sản rất tốt, vừatận dụng được nguồn thải, vừa tiết kiệm được chi phí đầu tư thức ăn cho cá
Phân chuồng được xử lý bằng bể biogas còn đem lại hiệu quả kinh tếkhá lớn, cung cấp nguyên liệu sản xuất khí sinh học phục vụ cho cuộc sốngsinh hoạt hằng ngày của con người như đun nấu, phát điện,
Tác hại của chất thải chăn nuôi
Chất thải chăn nuôi là nguyên nhân gây ô nhiễm lớn cho môi trường tựnhiên do lượng lớn các khí thải và chất thải từ vật nuôi Các khí thải từ vậtnuôi cũng chiểm tỷ trọng lớn trong các khí thải gây hiệu ứng nhà kính
Hiện nay, còn nhiều trang trại chăn nuôi lợn, bò hàng ngày thải ra mộtlượng lớn chất thải không được xử lý và đổ trực tiếp vào hệ thống thoát nước,kênh mương trong vùng làm nhiều hộ dân không có nước sinh hoạt (nướcgiếng trong vùng có váng, mùi hôi tanh), tỷ lệ người dân bị mắc bệnh tiêuchảy, mẩn ngứa và ghẻ lở cao Ô nhiễm do chất thải chăn nuôi không chỉ ảnhhưởng nặng tới môi trường sống dân cư mà còn gây ô nhiễm nguồn nước, tàinguyên đất và ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất chăn nuôi Các hoạt độnggây ô nhiễm do chăn nuôi vẫn đang tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi trên cả nước.Tình trạng chăn nuôi thả rông, chăn thả trên đất dốc, đầu nguồn nước v.v còn khá phổ biến đã làm tăng diện tích đất xói mòn, suy giảm chất lượngnước, giảm thiểu khả năng sản xuất nông nghiệp trên vùng rộng lớn Ô nhiễmmôi trường còn làm phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chănnuôi Trong mười năm qua, từ 1997 đến nay, dịch lở mồm, long móng trêngia súc đã diễn ra thường xuyên và đến nay chưa được khống chế triệt để Từcuối năm 2003, dịch cúm gia cầm đã bùng phát Từ năm 2003 đến nay, dịch
đã tái phát 5 đợt, đã phải tiêu huỷ trên 51 triệu gia cầm các loại, thiệt hại ước
Trang 15tính lên đến hàng ngàn tỷ đồng Từ đầu năm 2007 đã bùng phát hội chứng rốiloạn hô hấp và sinh sản (bệnh tai xanh - PSSR) trên lợn, gây tổn thất lớn chongành chăn nuôi, gây mất an toàn thực phẩm và còn có nguy cơ lây nhiễmsang người nguy hiểm không kém bệnh cúm gia cầm, bệnh lở mồm, longmóng ( Cục Thú Y, 2007).
Môi trường bị ô nhiễm lại tác động trực tiếp vào sức khoẻ vật nuôi,phát sinh dịch bệnh, gây khó khăn trong công tác quản lý dịch bệnh, giảmnăng suất không thể phát triển bền vững
2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi trên Thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi trên Thế giới
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi trên thế giới đã có nhiềubiến động cả về tốc độ phát triển, phân bố lại địa bàn và phương thức sảnxuất, đồng thời xuất hiện nhiều nhân tố bất ổn như gây ô nhiễm môi trườngtrầm trọng, vệ sinh an toàn thực phẩm và nhiều dịch bệnh mới…
- Tại một số nước cụ thể, tình hình tiêu thụ là (mức hiện nay/40 nămtrước): Mỹ 124/89; EU: 89/56; TQ: 54/4; Nhật: 42/8; Brazin 79/28 kg Sảnlượng sữa toàn cầu năm 1999/2002 là 580 triệu tấn, dự kiến đến năm 2050 là
1043 triệu tấn
Thịt được cung cấp chủ yếu là từ chăn nuôi các động vật nông nghiệp:
bò, lợn, gia cầm; một ít trâu, dê và cừu.Trong đó, thịt lợn là phổ biến nhất,chiếm trên 36%, tiếp theo là gia cầm, 33% và thịt bò, 24% Một số khu vựckhác còn có thêm thịt lạc đà, bò tây tạng, ngựa, đà điểu,bồ câu, chim cút…ngoài ra còn thịt cá sấu, rắn, thằn lằn…
Trang 16Bảng 2.2: Số lượng vật nuôi và tỷ trọng các loại thịt trên thế giới
(ĐVT: triệu con)
Loại vật nuôi 1987 1997 2007 Tăng từ 1987 –
2007 (%)
Tỷ trọngthịt (thịt)
(Nguồn: FAO World Food Outlook, 2008)
Hoa Kỳ là nước sản xuất các sản phẩm gia cầm lớn nhất thế giới, tiếptheo là các nước Argentina, Brazil, Trung Quốc, Philippin, và Thái Lan Ấn
Độ có mức tăng chậm hơn vì sự lây lan mạnh của vi rút H5N1, dịch cúm giacầm đã giết hàng triệu gia cầm
Năm 2007, sản lượng thịt lợn đã tăng gần 2%, đạt 101 triệu tấn Cũngnăm này, dịch bệnh về đường hô hấp đã làm giảm ít nhất 1 triệu con ở TrungQuốc Tuy vậy, nước này vẫn tiếp tục dẫn đầu thế giới về sản xuất thịt lợn,cho dù ngành chăn nuôi lợn đang được mở rộng ở Nam Mỹ: Argentina, Brazil
và Chile… nhờ vào lợi thế có thức ăn dồi dào, giá rẻ
Trong năm 2007, sản lượng thịt bò tăng 2.3 %, đạt gần 67 triệu tấn.Hoa Kỳ vẫn là nước lớn nhất thế giới sản xuất các sản phẩm thịt bò Mặc dùvậy, 56% sản lượng thịt bò vẫn do các nước đang phát triển cung cấp
- Con giống: trong những năm qua, các nhà chăn nuôi đã rất nỗ lựcnghiên cứu để cải tiến chất lượng thịt và sản phẩm chăn nuôi, đặc biệt là kếthợp các đặc điểm tốt của vật nuôi bằng biện pháp lai giống, họ đã tạo ra nhiều
tổ hợp vật nuôi có chất lượng thịt và thân thịt cao, có khả năng kháng bệnh
Giống bò: bò gốc châu Á như bò Brahman, Gyr cùng cùng con lai củachúng đang được phổ biến tại hầu hết các nước nhiệt đới Các giống Angus,Charolais, Hereford, Limousin và Simmental phổ biến ở châu Âu Bên cạnh
Trang 17đó, giống bò Wagyu của Nhật Bản và con lai của chúng với bò châu Âu cũngngày càng phổ biến
Giống gà: hầu hết các giống gà nhà hiện nay trên thế giới đều có nguồngốc từ giống gà lông màu của châu Á, chúng to hơn, có năng suất cao hơn tổtiên, được chia làm 4 nhóm: chuyên trứng, chuyên thịt (hoặc kiêm dụng), làmcảnh và gà chọi, bao gồm 1233 giống đã được công nhận Hầu hết gà thươngphẩm đều là con lai
Giống lợn: trên khắp thế giới, có rất nhiều giống lợn bản địa đang tồntại, chúng thích nghi tốt với các điều kiện địa phương Lợn thương phẩm baogồm các giống chủ yếu: Landraces (Đan Mạch, Đức, Hà Lan,Ý…), các giốngĐại bạch ở châu Âu, được lai với giống Pietrain của Bỉ Ở châu Á, có cácgiống lợn đen Bắc Kinh, Meissan, của Trung Quốc và Móng Cái của ViệtNam rất phổ biến
Cũng như ở gà, hầu hết lợn thương phẩm đều là con lai
Tổ chức FAO (Sere và Steinfeld, 1996) đã xác định có 3 hệ thống chănnuôi chính: Hệ thống công nghiệp, hệ thống hỗn hợp và các hệ thống chăn thả
Hệ thống chăn nuôi công nghiệp là những hệ thống cácvật nuôi được táchkhỏi môi trường chăn nuôi tự nhiên, toàn bộ thức ăn, nước uống…do con ngườicung cấp và có hệ thống thu gom chất thải Các hệ thống này cung cấp trên 50%thịt lợn và thịt gia cầm toàn cầu, 10% thịt bò và cừu Các hệ thống này thải ramột lượng chất thải độc hại gây nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất
Hệ thống hỗn hợp, là hệ thống trang trại trong đó có cả sản xuất trồngtrọt và chăn nuôi Đây là hệ thống cung cấp 54% lượng thịt, 90% lượng sữacho toàn thế giới Đây cũng là hệ thống chủ yếu chăn nuôi nhỏ lẻ ở các nướcđang phát triển
Hệ thống chăn thả là hệ thống chăn nuôi mà trên 90% thức ăn cho vậtnuôi được cung cấp từ đồng cỏ, bãi chăn thả…dưới 10% còn lại được cungcấp từ các cơ sở khác Các hệ thống này chỉ cung cấp được cho thế giới 9%
Trang 18tổng sản phẩm thịt toàn cầu, nhưng là nguồn thu nhập chính của trên 20 triệugia đình trên thế giới.
2.2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi tại Việt Nam
Chăn nuôi là một ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nókhông những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của mọingười dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập quan trọng của hàng triệungười dân hiện nay Với các loại gia súc hiện có ở nước ta theo số liệu năm 2006
đã sản xuất dược 2.369 ngàn tấn thịt xẻ các loại Tuy có đàn gia súc, gia cầm đadạng, song với trên 80 triệu dân, chưa kể đến tăng dân số hàng năm, nguồn thựcphẩm từ đàn gia súc gia cầm này cũng chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu người tiêudùng hiện nay (24,5kg/người/năm) Đây là mức tiêu thụ thấp so với nhiều nướctrên thế giới, mà chưa đề cập đến chất lượng của chúng
Theo Tổng cục thống kê tổng đàn gia súc gia cầm ở thời điểm 2006 trong
cả nước có: 32,8 triệu con lợn; 2,9 triệu con trâu; 5,87 triệu con bò (bò sữa: 127ngàn con); 170 triệu con gà, 69,4 triệu con vịt ngan và 1,02 triệu dê cừu
Bảng 2.3 Số lượng đầu gia súc gia cầm và sản lượng sản phẩm chăn nuôi
6 Gia cầm Triệu con 280,2 518,3 ngàn tấn 5419,4 triệuquả
(Nguồn: Tổng Cục Thống Kê, 2011)
Duy trì mức tăng trưởng giá trị ngành chăn nuôi đạt trung bình/năm quacác giai đoạn như sau: 2006 - 2010: 8,5%; 2010 - 2015 tăng 6,5 - 7%: 2015 -2020: 5,5 - 6% Sản lượng thịt xẻ các loại năm 2006 là: 2.369 ngàn tấn và dựkiến tiến độ qua các giai đoạn phát triền: Năm 2010 đạt 3.210 ngàn tấn; Năm
Trang 192015 là: 4.309 ngàn tấn (trong đó thịt lợn 2.797 ngàn tấn (65%); thịt gia cầm1.326 ngàn tấn (32%); thịt trâu bò: 144 ngàn tấn (3%); Năm 2020 là: 5.521ngàn tấn (trong đó thịt lợn 3.493 ngàn tấn (chiếm 63%); thịt gia cầm 1.779ngàn tấn (32%); thịt trâu bò 200 ngàn tấn (4%) Theo xu hướng tiêu dùnghiện nay, nhu cầu các loại thịt vẫn tăng cao trong thời gian tới, đặc biệt thịtlợn vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất 63 - 65% trong tổng số các loại thịt Vì vậyngành chăn nuôi lợn vẫn đóng một vai trò rất quan trọng cung cấp thực phẩmtrong tiêu dùng của chúng ta ( Theo Tổng cục thống kê, 2011)
2.2.2.1 Xu hướng phát triển
Trong những năm gần đây với các chính sách của Đảng và Chính phủ
về phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hóa nông nghiệpnông thôn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi đã đi vào thực tiễn cuộcsống, góp phần thúc đầy quá trình phát triển ngành chăn nuôi theo hướnghàng hoá
Phát triển chăn nuôi theo hướng tập chung và chuyên môn hóa cao làmột trong những nội dung quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa sảnxuất nông nghiệp của nước ta trong thời kỳ phát triển mới Theo kết quả điềutra dân số, đến 1 tháng 4 năm 2009, Việt Nam có tổng số dân là 85.789.773người, là một trong 10 quốc gia có mật độ dân số cao nhất trên thế giới(khoảng 260 người/km) Nhu cầu thực phẩm trong điều kiện dân số tăng vàđời sống ngày càng được nâng cao đã và đang đặt ra cho các nhà quản lýnông nghiệp phải nhanh chóng hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp.Trong khidiện tích dành cho sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm do phát triển đô thị,công nghiệp, giao thông và các công trình dịch vụ khác, phát triển chăn nuôitheo hướng tập trung, nâng cao quy mô là xu thế tất yếu nhằm nâng cao năngsuất và chất lượng thịt, trứng, sữa cung cấp cho nhân dân và cho xuất khẩu
2.2.2.2 Hình thức chăn nuôi
Trang 20Ngành chăn nuôi phát triển nhanh cùng sự áp dụng khoa học kỹ thuậttiên tiến đã chuyển đổi dần từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại.Nhiều trang trại chăn nuôi từ 600 con lợn hoặc hơn 2.000 con gà trở lên Tuynhiên, đối với những người chăn nuôi nhỏ lẻ do ít vốn, thiếu quỹ đất xâychuồng trại nên đa số dễ lệ thuộc vào các doanh nghiệp, công ty chăn nuôiquy mô lớn về con giống, thức ăn chăn nuôi dẫn đến giá thành sản phẩm cao,
rủi ro nhiều (theo Tổng cục thống kê, 2011)
Có 3 hình thức chăn nuôi cơ bản:
Chăn nuôi tận dụng, truyền thống (chăn nuôi nông hộ, chăn nuôiquy mô nhỏ khép kín)
Chăn nuôi công nghiệp (trang trại thâm canh, cơ giới hoá hay còngọi là “trang trại nhà máy”)
Chăn nuôi bán công nghiệp (chăn nuôi gia trại, trang trại với quy môlớn)
Trang 21gây ô nhiễm môi trường, nguy cơ dịch bệnh cho vật nuôi, con người và ảnhhưởng lớn đến sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi.
Đến nay cả nước có hơn 23.500 trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm.Trong đó, khu vực Đông Nam Bộ chiếm 17,35% (gần 4.100 trang trại) Riêngtỉnh Đồng Nai có số lượng trang trại chăn nuôi lớn nhất, khoảng 2.000 trang
trại, trong đó các trang trại chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm khoảng 50% ( Theo Tổng
cục thống kê, 2011).
2.3 Tổng quan các vấn đề môi trường trong chăn nuôi
2.2.1 Nguồn thải từ chăn nuôi
Các chất thải chăn nuôi được phát sinh chủ yếu từ:
Chất thải của bản thân gia súc, gia cầm như phân, nước tiểu, lông,vảy da và các phủ tạng loại thải của gia súc, gia cầm
Nước thải từ quá trình tắm gia súc, rửa chuồng hay rửa dụng cụ vàthiết bị chăn nuôi, nước làm mát hay từ các hệ thống dịch vụ chăn nuôi…
Thức ăn thừa, các vật dụng chăn nuôi, thú y bị loại ra trong quátrình chăn nuôi
Bệnh phẩm thú y, xác gia súc, gia cầm chết
2.2.2 Hiện trạng ô nhiễm môi trường chăn nuôi
2.2.2.1 Hiện trạng ô nhiễm môi trường chăn nuôi trên thế giới.
Ngày nay ô nhiễm môi trường là một trong những mối quan tâm hàngđầu của nhân loại Ô nhiễm môi trường không còn là vấn đề của một quốc giahay một khu vực mà đã trở thành vấn đề toàn cầu
Chăn nuôi chiếm 70% diện tích đất nông nghiệp và 30% diện tíchkhông có băng giá của hành tinh, tạo ra 40% GDP của nông nghiệp toàn cầu,đóng góp đáng kể đến biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường (Watson, 2008).Nhu cầu toàn hành tinh về các sản phẩm chăn nuôi sẽ tăng gấp đôi trong nửađầu thế kỷ 21 do tăng dân số (Watson, 2008) Trong thời gian này khí hậu tráiđất cũng sẽ có thay đổi lớn
Trang 22Vai trò của chăn nuôi đến đến thay đổi khí hậu liên hệ chặt chẽ đến ảnhhưởng của chăn nuôi đến sử dụng đất như đất chăn thả (đồng cỏ) đất trồngcây thức ăn gia súc (thức ăn xanh và tinh) (Steinfeld and Hoffmann, 2008).Khi xem xem xét cả chu kỳ sản xuất hàng hóa khí thải nhà kính từ chăn nuôiđóng góp làm trái đất nóng lên là 18%, hay gần một phần năm khí thải nhàkính (FAO, 2006a; Steinfeld et al 2006) khí thải nhà kính từ chăn nuôi lớnhơn khí thải từ xe hơi và các phương tiện giao thông khác (FAO, 2006a), chănnuôi đóng góp 9% (CO2), 37 % CH4 và 65 % N2O tổng khí thải nhà kính(Steinfeld and Hoffmann, 2008)
Vì số lượng gia súc tăng, khí thải nhà kính cũng sẽ tăng theo Tăng sốlượng gia súc, tăng số trang trại nuôi gia súc tập trung đã làm tăng khí thảinhà kính từ chăn nuôi và từ chất thải (phân) của gia súc (Paustian et al 2006).Công nghệ chăn nuôi phát triển, nhiều trang trại chăn nuôi công nghiệp tậptrung xuất hiện, phân thải ra từ các trang trại này nhiều hơn lượng phân cầnthiết cho trồng trọt (FAO 2005b), dẫn đến tích tụ phốt pho, nitơ và các chấtgây ô nhiễm khác trong đất, nước ngầm, sông hồ, biển (Thorne 2007)
Nhốt một số lượng lớn gia súc gia cầm trong chuồng làm tăng các vấn
đề về môi trường và là một trong 2 hoặc 3 yếu tố quan trọng nhất của chănnuôi đóng góp vào những vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất (Steinfeld et
al 2006)
CO2 từ chăn nuôi chủ yếu từ sử dụng phân bón cho trồng cỏ và câythức ăn, đốt nhiên liệu chạy các máy móc dùng cho chăn nuôi (Steinfeld et
al 2006) Methan từ chăn nuôi chủ yếu đến từ quá trình lên men thức ăn ở dạ
cỏ - enteric fermentations và phân gia súc và chịu ảnh hưởng của một số yếu
tố như: tuổi gia súc, khối lượng, chất lượng thức ăn, hiệu quả tiêu hóa thứcăn (Paustian et al 2006; Steinfeld et al 2006) Hàng năm chăn nuôi, chủyếu là chăn nuôi gia súc nhai lại tạo ra khoảng 86 triệu tấn methan/năm(Steinfeld et al 2006) Bò vỗ béo trong feedlot, ăn các khẩu phần tiêu
Trang 23chuẩn tạo ra phân với tiềm năng tạo khí methan rất cao, trong khi đó bòchăn thả ăn các khẩu phần tự nhiên (cỏ và phụ phẩm), năng lượng thấp tạo
ra phân có tiềm năng sinh methane bằng một nửa khẩu phần tiêu chuẩn(U.S EPA, 1998)
Theo Pew Center on Global Climate Change, phân gia súc sinh ra 25
% khí methan và 6 % nitrous oxide trong nông nghiệp tại Hoa kỳ (Paustian
et al 2006) Trên bình diện toàn cầu, khí nhà kính từ phân lợn chiếm gầnmột nửa khí nhà kính từ chăn nuôi (Steinfeld et al 2006) Phân gia súc tạo
ra gần 18 triệu tấn methan/năm (Steinfeld et al.2006) Từ năm 1990 đến
2005 ở Hoa kỳ, khí methan từ chăn nuôi bò sữa và lợn đã tăng tương ứng
50 và 37 % (U.S EPA, 2007a) Chăn nuôi tạo ra 65 % khí nitrous oxide(Steinfeld et al 2006)
Chăn nuôi ảnh hưởng đến nhiều mặt của môi trường: ô nhiễm đất vàkhông khí, nước ngầm, chất lượng đất, giảm đa dang sinh học, đóng góp vàothay đổi khí hậu (Jean-Yves et al., 2008) Tuy nhiên đóng góp làm tăng khí thảinhà kính rất khác nhau từ ngành chăn nuôi này sang ngành chăn nuôi khác
Trong điều kiện chăn thả số lượng methan tạo ra phụ thuộc vào sốlượng gia súc trên một đơn vị diện tích Lượng CH4 thải ra/đơn vị khối lượngthay đổi tùy thuộc vào loại gia súc chăn thả và vào khoảng: 0,33 và 0,45gCH4 /kg khối lượng với bò cái tơ và bò đực và đến 0,68-0,97g CH4 kg/kgkhối lượng ở bò sữa (Pinares- Patino et al., 2007)
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với chăn nuôi rất lớn và trên nhiềukhía cạnh Chăn nuôi, xét về khía cạnh môi trường, cũng là một tác nhân lớnđóng góp vào biến đổi khí hậu và môi trường Như vậy với chăn nuôi gia súcnhai lại cần phải quan tâm cả CH4 và N2O, CO2, trong khi chăn nuôi gia súc
dạ dầy đơn phải quan tâm chủ yếu đến CO2, N2O và NH3 (Wall et al., 2008)
2.2.2.2 Hiện trạng ô nhiễm môi trường chăn nuôi ở Việt Nam.
Trang 24Trong những thập kỷ gần đây, người ta đã chú trọng nhiều đến việcphát triển hệ thống chăn nuôi bền vững Để tăng lợi nhuận nông dân đã vàđang chuyển sang sản xuất trang trại chuyên môn hóa cao Các hệ thống chănnuôi này đã phát sinh một vấn đề thu hút sự quan tâm sâu sắc của xã hội đó là
sự ô nhiễm môi trường
Theo Cục chăn nuôi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn(NN&PTNT), mỗi năm, ngành chăn nuôi gia súc gia cầm thải ra khoảng 75-
85 triệu tấn chất thải, với phương thức sử dụng phân chuồng không qua xử lý
ổn định và nước thải không qua xử lý xả trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễmnghiêm trọng
Cả nước có khoảng 8,5 triệu hộ chăn nuôi quy mô hộ gia đình và18.000 trang trại chăn nuôi tập trung Với tổng đàn 300 triệu con gia cầm vàhơn 37 triệu con gia súc, nguồn chất thải từ chăn nuôi ra môi trường lên tới84,45 triệu tấn Trong đó, nhiều nhất là chất thải từ lợn (24,96 triệu tấn), tiếp
đến gia cầm (21,96 triệu tấn) và bò (21,61 triệu tấn)_ (Thống kê cục chăn
nuôi, 2010).
Hiện mới có khoảng 70% hộ chăn nuôi có chuồng trại, tỷ lệ hộ gia đình
có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh cũng chỉ chiếm khoảng 10%; hộ có côngtrình khí sinh học (hầm biogas) chỉ đạt 8,7%; khoảng 23% số hộ chăn nuôikhông xử lý chất thải vật nuôi Tuy nhiên, tỷ lệ hộ có cam kết bảo vệ môi
trường chỉ chiếm 0,6% (Cục chăn nuôi, 2010).
Về phía các trang trại chăn nuôi tập trung, mặc dù phần lớn đã có hệthống xử lý chất thải nhưng hiệu quả xử lý chưa triệt để, để số trang trại chănnuôi có hệ thống xử lý chất thải bằng biogas khoảng 67%; số trang trại cóđánh giá tác động môi trường chiếm chưa đầy 14%; 37,2% hộ chăn nuôi thâm
canh và 36,2% chăn nuôi thời vụ không có biện pháp xử lý chất thải (Cục
chăn nuôi, 2010)
Trang 25Chất thải chăn nuôi tác động đến môi trường và sức khỏe con ngườitrên nhiều khía cạnh: Gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, môi trườngkhí, môi trường đất và các sản phẩm nông nghiệp Đây chính là nguyên nhângây ra nhiều căn bệnh về hô hấp, tiêu hóa, do trong chất thải chứa nhiều visinh vật gây bệnh
Các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long lànhững địa phương có ngành chăn nuôi phát triển Tại tỉnh Bến Tre, tính đếnthời điểm tháng 6/2013 đã có đàn lợn trên 424.000 con, đàn bò gần 148.000con, là địa phương có đàn gia súc đứng đầu khu vực đồng bằng sông CửuLong Tuy nhiên, việc đảm bảo vệ sinh môi trường ở đây mới chỉ chú trọng ởcác doanh nghiệp chăn nuôi, còn các hộ chăn nuôi nhỏ chưa được quan tâm.Trong khi, các hộ chăn nuôi nhỏ chiếm tỷ lệ khá lớn, nhưng việc chăn nuôicủa các hộ dân phần lớn theo tập quán, thói quen xả chất thải xuống kênh,rạch dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, tăng nguy cơ dịch bệnh cho vậtnuôi, con người và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững của ngành Chăn
nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2013)
2.4 Tổng quan tình hình quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi
2.4.1 Tình hình quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi trên thế giới
Ở các nước chăn nuôi công nghiệp, chăn nuôi là một trong nhữngnguồn gây ô nhiễm lớn nhất Chăn nuôi sử dụng tới 70% diện tích đất giànhcho nông nghiệp hoặc 30% diện tích bề mặt của hành tinh, thêm vào đó là33% diện tích đất trồng được dành để sản xuất thức ăn chăn nuôi Việc mởrộng chăn nuôi dẫn đến mất rừng làm cho đất bị xói mòn vào mùa mưa vàkhô hạn vào mùa khô Ngoài ra, Chăn nuôi đóng góp đáng kể đến việc làmtăng nhiệt độ trái đất do sản sinh các khí gây hiệu ứng nhà kính như CH4,CO2, NH3…, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sản xuất, sinh hoạt và biếnđổi khí hậu toàn cầu Chính vì vậy, cần phải có chiến lược về quản lý và xử lýchất thải trong chăn nuôi
Trang 26- Ở nhiều nước đang phát triển, các hoạt động chăn nuôi gia súc quy
mô công nghiệp lớn với hàng nghìn động vật đã thay thế việc chăn nuôi ở cácnông trại có quy mô nhỏ, vừa phát triển chăn nuôi, trồng trọt, đồng thời quayvòng các chất dinh dưỡng dưới dạng thức ăn gia súc và phân bón Phươngpháp chăn nuôi mới này đã chuyển nhanh từ gia súc chăn thả trên đồng cỏ ởcác vùng nông thôn sang hình thức chế biến và chăn nuôi gia súc, gia cầm ởvùng ngoại ô của các thành phố lớn Ở châu Á, chăn nuôi công nghiệp quy
mô lớn chiếm 80% tổng sản phẩm vật nuôi tăng kể từ năm 1990
- Trong các hệ thống chăn nuôi công nghiệp, một lượng lớn chất thải là nguồn ô nhiễm rất lớn vì từ quá trình dự trữ, xử lý và bón phân cho đồng ruộng, một lượng lớn các GHG như CO2, CH4, N2O sẽ được phát tán vào khí quyển Chúng là các chất khí gây hiệu ứng nhà kính rất lớn Ngoài ra chất thải chăn nuôi: phân và nước tiểu còn là nguồn ô nhiễm đất, nước và không khí rất lớn vì còn rất nhiều N và P trong đó Để chống ô nhiễm nhiều quốc giatrên thế giới đã đưa ra các tiêu chuẩn và ô nhiễm Dưới đây là ví dụ về tiêu chuẩn N và P ở Hà lan (bảng 2.4)
Bảng 2.4: Tiêu chuẩn về N và P thải ra ngoài môi trường áp dụng cho gia
súc nhai lại tại Hà lan
Tuổi (tháng) Khối lượng
(kg)
N thải ra (kg/
năm)
P thải ra (kg/năm)
Trang 27thu thập và mua nhiên liệu cho nấu nướng, tạo môi trường trong sạch tại trại.Nghiên cứu này cũng cho thấy khí sinh học là nguồn nhiên liệu tái sinh rẻnhất ở vùng nông thôn Khí sinh học bảo vệ môi trường vì đã thay được củi,giảm phá rừng, giảm khí nhà kính vào môi trường
An (1996) cho thấy hố ủ biogas rất có lợi cho các hệ thống chăn trồng trọt hỗn hợp vì chúng chuyển chất thải chăn nuôi thành phân có giá trịcho cây trồng, thức ăn tốt cho cá và cho cây trồng dưới nước Hố ủ biogascũng giảm được mùi hôi trong chất thải chăn nuôi lợn khoảng 70-74% (Pain
nuôi-et al., 1990, trích dẫn bởi An, Preston and Dolberg 1997), hay thậm chí 97 %(Wilkie, 1998)
Angeles và Agbisit (2001) ở Philipin cho thấy khí biogas là lựa chọntốt nhất để giảm ảnh hưởng tiêu cực của chất thải chăn nuôi lợn TheoThanh (2002) khí sinh học sản xuất ra từ phân và chất thải của 1 lợn 50 kg
là 0,27 m3/ngày Lượng gas cần thiết/ngày/người để nấu 3 bữa ăn vàokhoảng 0,3 m3 Như vậy một gia đình 6 người nuôi 6-7 lợn có thể đủ nhiênliệu hàng ngày
ra các sản phẩm cuối cùng khá an toàn Tuy nhiên chất lượng nước thải chỉ đủ
để dùng tưới cho cây trồng Trước đây hệ thống này là hệ thống mở nênkhông thu lại được các khí sinh học, khí sinh học bay vào khí quyển Hiệnnay hồ yếm khí thường được phủ bằng nilon, hoặc các vật liệu khác và mùncưa nên khí sinh học được thu lại và được dùng để sản xuất năng lượng (hình2.1) Hỉệu suất sinh khí của các hệ thống kiểu này phụ thuộc vào vật liệu che
Trang 28phủ và loại chất thải từ loại gia súc gia cầm nào Đây là mô hình nhiều nướcnhiệt đới đang làm
Hình 2.1: Hồ yếm khí để xử lý chất thải chăn nuôi.
+ Các hệ thống hiếu khí
Trong các hệ thống hiếu khí chất thải chăn nuôi sẽ bị phân giải trực tiếpthành CO2 và không có các khí khác Để có đủ ô xy, các hồ chứa chất thảicần có hệ thống bơm ô xy tự động Dùng các hồ xử lý chất thải hiếu khí sẽgiảm được các khí nhà kính có tiềm năng làm nóng trái đất cao như CH4 vàN2S vì ưu điểm của hệ thống này là chỉ tạo ra CO2 có tiềm năng làm nóngtrái đất thấp Tuy nhiên hệ thống này khá tốn kém và không kinh tế
+ Làm phân hữu cơ (Composting)
Làm phân hữu cơ là quá trình hiếu khí giúp giảm khí thải nhà kính,nhưng vẫn tạo ra CO2 Tuy nhiên ủ thành công phụ thuộc nhiều vào độ ẩmcủa chất thải (< 80%) và yêu cầu phải đảo phân liên tục, cần nhiều lao động,máy móc nên hiệu quả kinh tế cũng không cao
- Cỏ Vetiver (tên khoa học là Vetiveria zizanioides thuộc họ
Andropogoneae) đã được Ngân hàng thế giới triển khai trồng từ những năm
1980 tại Ấn Độ nhằm mục đích giữ đất và nước Cỏ Vetiver được nhiều nước khuyến cáo sử dụng như biện pháp kỹ thuật sinh học nhằm ổn định đất ở sườn
Trang 29dốc, mái dốc, xử lý nước thải, vùng đất ô nhiễm, cải thiện môi trường, ép lấy tinh dầu dùng làm mỹ phẩm, dược phẩm, làm thức ăn chăn nuôi.
Ứng dụng cỏ Vetiver để xử lý nước thải là công nghệ được đánh giácao và có triển vọng Do hiệu quả cao, đơn giản, nên hệ thống cỏ Vetiver(Vetiver System - VS) đã được ứng dụng tại hơn 100 nước trên thế giới VSgóp phần cải thiện chất lượng nước thải và xử lý nước bị ô nhiễm bằng cáchgiữ lại bùn đất; hấp thụ kim loại nặng và các chất gây ô nhiễm; khử độc cáchóa chất nông - công nghiệp và tiêu thụ lượng lớn nước thải (6,861 lítnước/kg sinh khối khô cỏ Vetiver/ngày) Australia và Trung Quốc đã công bốkết quả thực nghiệm trồng 3,5ha cỏ Vetiver có thể xử lý 4 triệu lít nướcthải/tháng trong mùa hè và 2 triệu lít/tháng trong mùa đông
2.4.2 Tình hình quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi ở Việt Nam
2.4.2.1 Các biện pháp quản lý và xử lý chất thải rắn
Việc quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi tốt sẽ hạn chế được ô nhiễmmôi trường Chất thải chăn nuôi đặc biệt là phân và nước tiểu, ngay khi thải rathì khả năng gây ô nhiễm thấp, khả năng này chỉ tăng khi phân và nước tiểu bị
để lâu trong môi trường bên ngoài Do đó để hạn chế khả năng gây ô nhiễmcủa chất thải cần phải quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi ngay từ lúc mớithải ra môi trường
- Xử lý vật lý
Các phương pháp vật lý thường được dùng để tách chất thải rắn ra khỏichất thải lỏng để xử lý theo các cách khác nhau Chất thải rắn sau khi tách cóthể được xử lý bằng phương pháp ủ hay đốt trước khi làm phân bón Đốt chấtthải rắn, phương pháp này có độ an toàn vệ sinh dịch bệnh cao nhất, đảm bảodiệt được cả bào tử của vi khuẩn Phương pháp này khá đơn giản chỉ cần đàomột hố, lót rơm hay mùn cưa ở dưới đáy Sau đó để xác động vật, phân haychất thải rắn khác lên, tiếp theo đậy lại bằng gỗ rồi đổ nhiên liệu lên và đốt
- Xử lý bằng phương pháp ủ (VSV)
Trang 30Một trong những phương pháp xử lý phân gia súc để bón ruộng làphương pháp ủ phân Phương pháp này vừa đơn giản vừa hiệu quả lại ít tốnkém Phân sau khi xử lý sẽ bị hoai mục bón cho cây sẽ nhanh tốt và đặc biệt
là phân gần như không còn mùi hội nhất là sau khi đã được ủ lâu Cả chất rắn
và chất thải rắn sau khi tách khỏi chất thải lỏng đều có thể ủ Phương phápnày dựa trên quá trình phân hủy các chất hữu cơ có trong phân dưới tác dụngcủa vi sinh vật có trong phân Tính chất và giá trị của phân bón phụ thuộc vàoquá trình ủ phân, phương pháp ủ và kiểu ủ Xử lý chất thải hữu cơ bằngphương pháp ủ nhằm cung cấp phân bón cho cây trồng, đảm bảo vệ sinh antoàn thực phẩm cho con người và hạn chế sự lây lan của một số
- Xử lý chất thải bằng hệ thống biogas
Năm 1990 trên toàn quốc đã có những công trình biogas được xâydựng, song phát triển mạnh nhất là ở các tỉnh phía nam Đứng đầu là TP HồChí Minh trên 700 công trình, tỉnh Đồng Nai 468 công trình, tỉnh Hậu Giang
240 công trình, tỉnh Hà Bắc 50 công trình, tỉnh Lai Châu 40 công trình, tỉnhQuảng Ngãi 43 công trình tính chung trên toàn quốc thời kỳ này có trên
2000 công trình biogas Đa số các công trình này hoạt động tốt, các công trình
có thể phân huỷ từ 2 – 200m3, nhưng phần lớn là công trình cỡ gia đình vớithể tích bể phân huỷ từ 2 – 10 m3 Lĩnh vực nghiên cứu phát triển biogascũng thu hút được nhiều tổ chức nước ngoài giúp đỡ và hợp tác như Viện sinh
lý Sinh hoá vi sinh vật của Liên xô cũ, tổ chức OXFAM của Anh, UNICEFcủa liên hợp quốc, ACCT của các nước sử dụng tiếng pháp, tổ chức SIDA củaThuỵ Điển, Từ 2003 đến nay công trình biogas phát triển mạnh ước tính cótrên 90.000 công trình Dự án khí sinh học (biogas) toàn cầu giai đoạn 2007-
2010, mục tiêu triển khai trên 50 tỉnh, thành phố với quy mô 140.000 công
trình (PGS.TS Bùi Hữu Đoàn, Bài giảng Quản lý chất thải chăn nuôi,
Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội, 2011 )
2.4.2.2 Các biện pháp quản lý và xử lý nước thải.
Trang 31Xử lý nước thải chăn nuôi là qúa trình loại bỏ hoặc chuyển dạng cácchất ô nhiễm trong nước thải sao cho nước sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn chấtlượng xả thải ở mức cho phép theo các chỉ tiêu quy định Các tiêu chuẩn đóphụ thuộc vào mục đích và cách thức sử dụng nước của nguồn tiếp nhận như
là xử lý để tái sử dụng trong trại, xử lý để quay vòng sử dụng lại hay xử lý để
xả ra ngoài môi trường, cho các nguồn tiếp nhận Mục tiêu của xử lý nướcthải là loại bỏ các chất hữu cơ trong nước thải chăn nuôi (BOD), các chất lơlửng (SS), các chất nổi bề mặt, các yếu tố gây bệnh sinh học ở mức độ caohơn việc xử lý nhằm vào mục đích giảm các yếu tố dinh dưỡng như N, P hayloại bỏ các kim loại nặng…
- Các phương pháp vật lý xử lý nước thải chăn nuôi
Các phương pháp áp dụng các quá trình vật lý như sàng lọc, tách cơhọc, trộn, khuấy, tủa nổi, tủa lắng, lọc hay hóa lỏng khí…nhằm loại bớt mộtphần cặn ra khỏi nước thải chăn nuôi, tạo điều kiện cho quá trình xử lý hóahọc và sinh học ở phía sau được thực hiện tốt hơn Phương pháp vật lý thườngđược kết hợp với các phương pháp sinh học hay hóa học để tăng hiệu quả củacác quá trình chuyển hóa và tách các chất cặn, chất kết tủa hay sau tuyểnnổi…
- Các phương pháp hóa học xử lý nước thải chăn nuôi
Là phương pháp dùng các tác nhân hóa học để loại bỏ hoặc chuyển hóalàm thay đổi bản chất chất ô nhiễm trong nước thải chăn nuôi Các quá trình hóahọc có thể áp dung là: trung hòa, sử dụng các chất oxy hóa khử, kết tủa hay tuyểnnổi hóa học, hấp phụ hóa học, tách bằng màng và khử trùng hóa học… Xử lý hóahọc thường gắn với phương pháp xử lý vật lý hay xử lý sinh học Phương pháp xử
lý hóa thường hạn chế sử dụng trong thực tế do có một số bất lợi:
+ Việc sử dụng hóa chất trong quá trình xử lý có thể tạo ra các ô nhiễmthứ cấp, đặc biệt là trong thành phần bùn thải sau xử lý, gây nên tốn kém phátsinh của hậu xử lý nước thải
Trang 32+ Giá thành xử lý cao do chi phí về hóa chất, năng lượng, thiết bị của
hệ thống phức tạp hay bị hỏng hóc, khó vận hành, bảo trì hệ thống và tiêu tốnnhiều năng lượng
- Các phương pháp sinh học xử lý nước thải chăn nuôi
Đây là nhóm phương pháp thường được sử dụng rộng rãi hơn so vớicác phương pháp khác trong xứ lý nước thải chăn nuôi do nước thải chăn nuôigiàu thành phần hữu cơ, cho nên dễ áp dụng phương pháp xử lý sinh học.Phương pháp sinh học xử lý nước thải chăn nuôi là các phương pháp dùng cáctác nhân sinh học như tảo, vi khuẩn, nấm, nguyên sinh động vật, thực vậtnước hay các động vật như cá, nhuyễn thể…hay thực vật nước để phân hủy,chuyển hóa và chuyển dạng các chất ô nhiễm trong nước thải chăn nuôi
+ Ở Việt Nam Cỏ Vetiver thực ra đã được nhập từ rất lâu nhưng chủyếu được trồng để lấy tinh dầu Từ năm 1999, mạng lưới Vetiver Việt Nam doông Ken Crismier (chuyên gia của Mạng lưới Vetiver quốc tế - TVNI) làmđiều phối viên được chính thức thành lập Đến năm 2001 – 2003, sau nhiềuthí nghiệm thành công thì Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ giao thông vận tảimới cho phép sử dụng cỏ Vetiver vào các mục đích giảm nhẹ thiên tai, chốngsạt lở các công trình giao thông
Tuy nhiên, gần đây, một số thử nghiệm tại nhà máy thủy sản cho thấykhả năng xử lý nước thải của Vetiver rất cao Theo đó, hàm lượng ôxy hòa tan(DO) sau xử lý bằng cỏ Vetiver tăng từ 2,95 - 4,93 mg/lít trong 12 ngày, hiệusuất đạt tới 67,12% Nhu cầu ôxy hóa học (COD) giảm đáng kể, từ 420mg/lítxuống còn 120mg/lít sau 12 ngày xử lý và giảm 1,92 lần so với trước khi xử
lý Hàm lượng nitơ cũng giảm 1,94 lần, hàm lượng P giảm 2,503 lần Nguồnnước sau khi xử lý có các thông số kỹ thuật đạt TCVN: 5945 - 2005 loạiB Điều đó chứng tỏ cỏ Hương bài có khả năng xử lý chất thải chăn nuôi rấthữu hiệu, rẻ tiền và dễ nhân rộng
- Xử lý nước thải trong điều kiện tự nhiên
Trang 33Dựa trên cơ sở khả năng tự làm sạch của nước và đất, người ta có thể
sử dụng các hệ thống tự nhiên như cánh đồng, hồ sinh vật, ao nuôi cá… để kếthợp việc xử lý nước thải chăn nuôi cùng với các mục đích kinh tế khác nhưtrồng trọt hay nuôi cá… Tuy nhiên phương pháp này chỉ hạn chế cho những
cơ sở chăn nuôi gần các cánh đồng, ao hồ hay cơ sở có diện tích đủ để xâycác hồ sinh học Hồ sinh học còn có thể đóng vai trò như một công đọan bổsung cuối cùng của quá trình xử lý, còn gọi là hồ hoàn thiện hay như mộtnguồn tiếp nhận nước thải chăn nuôi sau xử lý
- Kết hợp xử lý và tái sử dụng chất thải chăn nuôi trong hệ thống kinh tếtrang trại VAC VAC là từ viết tắt của Vườn – Ao – Chuồng Đó là hệ thốngkinh tế trang trại bao gồm 3 thành phần sản xuất kết hợp VAC là tập hợp 3 yếu
tố sản xuất: vườn, ao, chuồng trong một hệ thống canh tác thống nhất Trong quátrình vận hành của hệ thống, các yếu tố vườn, ao, chuồng gắn bó với nhau rấtchặt chẽ, không tách rời nhau, không biệt lập với nhau mà có mối quan hệ hỗ trợlẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau phát triển Đó là điểm khác nhau cơ bản giữa hệthống VAC với cách làm vườn của nông dân ta trước đây VAC là những hệsinh thái đồng bộ và bền vững xét trên cả ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môitrường
Hình 2.2 Mô hình VAC
Trang 342.4.2.3 Các biện pháp xử lý khí thải
- Các phương pháp xử lý mùi trong chăn nuôi
Biện pháp đầu tiên nhằm làm giảm mùi hôi trong chuồng vẫn là duy trì
hệ thông thoáng tốt và vệ sinh chuồng trại thường xuyên
Ngoài ra, có thể áp dụng các biện pháp sau đây để giảm mùi hôi từchuồng nuôi
+ Vệ sinh chuồng trại thường xuyên, tránh ứ đọng chất thải
+ Sử dụng một số chế phẩm vi sinh trộn vào phân để làm thay đổi kiểuphân hủy chất thải của vi sinh vật, không tạo ra các sản phẩm khí có mùi hôi
+ Để giảm mùi hôi trong chuồng trại chăn nuôi thì chuồng nên đượcthiết kế thông thoáng (mái cao, hay dạng mái hai lớp) tạo điều kiện thôngthoáng tự nhiên để giảm quá trình tạo khí gây mùi
Trang 35Phần 3 ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào các trang trại chăn nuôi có số vật nuôi xácđịnh theo Thông tứ số 27/2011/BNNPTNT – Quy định về Quy chế và thủ tụccấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại
Các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi của các trang trại chăn nuôi
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại các trang trạichăn nuôi trên địa bàn huyện Sóc Sơn, Hà Nội
Thời gian thời gian: 9/1/2014 – 9/5/2014
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1.Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Sóc Sơn, Tp.Hà Nội
Điều kiện tự nhiên của huyện ( vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, cáctài nguyên thiên nhiên, )
Điều kiện kinh tế xã hội của huyện ( tình hình phát triển kinh tế
-xã hội, dân số và lao động, tình hình phát triển chăn nuôi)
3.2.2 Tình hình phát triển trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Sóc Sơn, Tp.Hà Nội
Tình hình phát triển
Các kiểu hệ thống trang trại nuôi
Lịch sử hình thành
Quy mô nuôi
Đặc điểm của các trang trại
3.2.3 Tình hình xử lý chất thải chăn nuôi của các trang trại trên địa
Trang 36bàn huyện Sóc Sơn
Các hình thức xử lý
Biogas
Thu gom phân để bán
Bón phân và nước thải cho cây
Sử dụng làm thức ăn cho cá
Thải bỏ ra ngoài môi trường
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu, các báo cáo, bàibáo khoa học và các số liệu thống kê sẵn có liên quan tới đề tài nhằm:
Viết tổng quan vấn đề nghiên cứu
Tìm hiểu các điều điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa điểm nghiên cứu
Nắm rõ tình hình phát triển của các trang trại chăn nuôi trên địa bàn nghiên cứu trong những năm qua
3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
* Phương pháp điều tra bảng hỏi
Tiến hành lập và phỏng vấn cán bộ khuyến nông, các chủ trang trạitheo bảng hỏi nhằm thu nhập các thông tin có liên quan tới tình hình sản xuất,đặc điểm và các hình thức quản lý, xử lý chất thải của các trang trại chănnuôi Số lượng trang trại phỏng vấn là 30 trên tổng số 137 trang trại chăn nuôitại huyện Sóc Sơn
* Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Tiến hành điều tra khảo sát các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyệnSóc Sơn nhằm quan sát, chụp ảnh và thu thập các thông tin liên quan tới đềtài
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Trang 37Các số liệu thu thập được của đề tài được tổng hợp và xử lý thống kêtrên phầm mềm Excel 2007.
3.2.4 Phương pháp điều tra người dân quanh trang trại
Phỏng vấn điều tra trực tiếp 40 người ở khu vực có 10 trang trại baogồm 12 người là lao động trực tiếp tại các trang trại và 27 người là người dânsống xung quanh trang trại
Trang 38Phần 4: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Sóc Sơn.
4.1.1.Phân tích các điều kiện tự nhiên.
4.1.1.1.Vị trí địa lý
Sóc Sơn giáp huyện Phổ Yên thuộc tỉnh Thái Nguyên về phía Bắc,huyện Yên Phong thuộc tỉnh Bắc Ninh và huyện Hiệp Hòa thuộc tỉnh BắcGiang về phía đông và đông bắc, về phía tây bắc giáp thị xã Phúc Yên tỉnhVĩnh Phúc và phía nam giáp các huyện Mê Linh và Đông Anh của Hà Nội.Sóc Sơn có tọa độ địa lý là từ 21o15’27” đến 21o25’75” độ vĩ Bắc và từ
105o50’55” đến 105o84’85” độ kinh Đông Huyện có tổng diện tích tự nhiên
là 306,5 km2 , bao gồm 25 xã và một thị trấn trung tâm
Hình 4.1.Bản đồ Huyện Sóc Sơn (màu hồng đậm)
Trang 39Huyện có vị trí cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội: cửa ngõ phía Bắc theoQuốc lộ 3, cửa ngõ phía Tây theo Quốc lộ 2, cửa ngõ phía Đông theo quốc lộ
18 Đây là địa bàn có vị trí thuận lợi với hệ thống giao thông đối ngoại pháttriển, đặc biệt là cảng hàng không quốc tế Nội Bài, các trục quốc lộ Hà Nội –Thái Nguyên, Bắc Ninh – Hà Nội – Việt Trì Vì vậy, có nhiều điều kiện thuậnlợi để phát triển nhanh nền kinh tế - xã hội
4.1.1.2.Các điều kiện tự nhiên
* Địa hình, địa mạo
Địa hình nguồn gốc bóc mòn - xâm thực
Địa hình núi thấp: Đó là phần cuối phía Đông Nam của dãy núi Tam
Đảo, nơi địa hình hạ thấp xuống chỉ còn khoảng 300 - 400 m Dãy núi TamĐảo (có thể gọi là các khối núi bậc I) có đường phân thuỷ chạy theo hướngTây Bắc - Đông Nam Đồi và đồng bằng đồi: Phân bố thành mảng lớn liên tục
ở khu vực cực Bắc Hà Nội thuộc các xã Bắc Sơn và Nam Sơn (huyện SócSơn), ngoài ra là các đồi sót phân bố ở một số nơi cũng trong huyện Sóc Sơn.Hình thái chung phổ biến của kiểu địa hình này là sự chuyển tiếp rất mềm mại
từ các bề mặt đồng bằng bóc mòn (pediment) thấp (10 - 15 m) và khá bằngtiếp đến là các bề mặt lượn sóng thoải (15- 20m), sau đó là dạng đồi thấpthoải (20 - 25m) và sau cùng là các đồi sót dạng bát úp hoặc chóp thoải (>25m) Địa hình nguồn gốc tích tụ rìa đới nâng có qui mô khá hạn chế cả về diệntích và bề dày trầm tích, phân bố trong vùng đồng bằng đồi hoặc ven theo hệthống sông chảy theo rìa vùng nâng
* Đặc điểm thủy văn.
Nước ngầm: Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Holocen (qh) Tầngchứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen (qp) Tầng chứa nước khe nứt cáctrầm tích Trias (t) phân bố lộ ra ở vùng núi phía bắc thành phố thuộc vùng tâybắc của huyện, Các trầm tích Trias có chất lượng tốt hơn nước trong các trầm
Trang 40tích Đệ tứ nên rất có ý nghĩa để cung cấp sử dụng cho ăn uống, sản xuất côngnghiệp đòi hỏi nước có chất lượng cao
* Đặc điểm thời tiết, khí hậu
Khí hậu của Sóc Sơn mang đầy đủ những nét đặc trưng của đồng bằng
sông Hồng là nóng ẩm hòa trộn và chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng trung duBắc Bộ
Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24,460C Tổng nhiệt độhàng năm đạt 8.500 - 9.000C
Chế độ Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình của huyện là 1.645
giờ/năm
Bức xạ tổng cộng hàng năm của khu vực là 125,7 kcal/cm2, bức xạquang hợp chỉ đạt 61,4 kcal/cm2
Lượng mưa: chế độ mưa gắn liền với sự thay đổi theo mùa và lượng
mưa trung bình năm 1.600 - 1.700 mm (1.670 mm), mùa mưa tập trung từtháng 4 đến tháng 10
Gió: bao gồm hai hướng gió chính là: gió Đông Bắc thổi vào mùa đông
và gió Đông Nam thổi vào mùa hè
Độ ẩm không khí: nhìn chung độ ẩm không khí của huyện là tương đối cao
dao động từ 79% (tháng 3) đến 92% Độ ẩm trung bình năm là khoảng 85%
Nhìn chung, huyện Sóc Sơn có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi
để phát triển kinh tế đa dạng, phong phú trên tất cả các ngành kinh tế và cáclĩnh vực khác nhau, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp và phát triển chăn nuôi
4.1.1.3 Các tài nguyên thiên nhiên
*Tài nguyên đất
Tài nguyên đất của huyện có 03 nhóm đất chính, trong đó:
- Đất phù sa có diện tích phân bố ở hầu khắp trên địa bàn huyện,
nhưng tập trung nhiều ở các xã phía nam huyện