đề cương chi tiết 1. Anhchị hiểu như thế nào về khái niệm viên chức theo quy định của pháp luật: 2. Anhchị hãy phân tích và cho ví dụ minh hoạ các đặc điểm của hoạt động quản lý hành chính nhà nước CHXHCN Việt Nam. 3. Anh (chị) hãy nêu những thành tựu và nguyên nhân những thành tựu của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. (6 điểm) 4. Anh (chị) hãy nêu những hạn chế và nguyên nhân những hạn chế của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. (5 điểm)
Trang 1CÂU HỎI LÝ THUYẾT QLHC NN
1 Anh/chị hiểu như thế nào về khái niệm viên chức theo quy định của pháp luật:
- Viên chức là:
+ Công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế
độ hợp đồng;
+ Hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Đ2.LVC2010)
- Phân biệt khái niệm công chức và viên chức:
2 Hình thức tuyển dụng: Thi tuyển là chủ yếu (vẫn có xét
3 Nơi làm việc: CQ Đảng; CQNN; TCCTXH từ cấp Huyện
trở lên; quân đội, CA; trong ban lãnh đạo, QL các ĐV sự
nghiệp của NN, tổ chức CT, CT-XH
Đơn vị sự nghiệp công lập
4 Thời gian, loại hình làm việc: Làm việc thường xuyên
5 Lương NSNN hoặc từ nguồn thu của đơn vị sự nghiệp
- Trong các chức danh sau đây, chức danh:
Chủ tịch UBND tỉnh (cán bộ);
Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh B (cán bộ);
Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh B (công chức);
Hiệu trưởng trường THCS, THPT (công chức);
Phó hiệu trưởng trường THCS, THPT (viên chức);
giáo viên trường THCS, THPT (viên chức)
2 Anh/chị hãy phân tích và cho ví dụ minh hoạ các đặc điểm của hoạt động quản lý hành chính nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Quản lí HCNN là hoạt động quản lí NN, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp thực hiện để quản lí,
điều hành các lĩnh vực của đời sống XH thông qua hệ thống PL NN nhằm duy trì & thúc đẩy sự phát triển của XH
+ Tính lệ thuộc vào chính trị: Nhiều quốc gia quan niệm, hành chính nhà nước phải trung lập Tuy nhiên, xét
đến cùng, hành chính nhà nước vẫn phải lệ thuộc vào chính trị
(NN là yếu tố cấu thành HT CT, là trụ cột của HTCT dưới sự lãnh đạo của Đảng mà Đảng lãnh đạo bằng các đường lối, chủ trương, chính sách; NN (Quốc hội) cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành các văn bản luật; Chính phủ là cơ quan thực thi hành pháp (HP) đv toàn XH & công dân Nền HC NN
lệ thuộc vào CT & HTCT.
NN ta là NN của dân, do dân & vì dân nên nền HC VN là nền HC mang bản chất g/c công nhân, tính ND & tính
DT, phục vụ ND, vì lợi ích ND.
thể hiện trong mục tiêu chung của công vụ (định hướng thông qua qui hoạch, kế hoạch, điều chỉnh các QHXH qua các văn bản lập quy, HD tổ chức thực hiện HP, C/S, ktra và xử lí vi phạm.)
các chính sách được thực thi và đội ngũ CBCC đều do đảng lãnh đạo
VD: ĐCSVN là trung tâm lãnh đạo, các đoàn thể ND, các tổ chức CT XH trong MTTQVN có vai trò tham gia
& giám sát quản lí NN, tập thể LĐ & CD tham gia đóng góp ý kiến
Trang 2+ Tính pháp quyền: Pháp quyền là một phương thức tổ chức xã hội mà trong đó pháp luật giữ vai trò
thống trị Pháp luật đứng trên Nhà nước, trên tất cả các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội, các công dân và điều chỉnh tất cả các chủ thể này Tất cả các chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật
Trang 3Mang tính cưỡng chế, y/c phải tuân thủ các mệnh lệnh hành chính.
Như vậy, các chủ thể hành chính nhà nước (cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ công chức) phải nghiêm túc tuân thủ pháp luật, tuân thủ các quy trình chuẩn và thượng tôn pháp luật - tinh thần pháp luật
VD: Các cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ công chức phải nghiêm túc tuân thủ pháp luật, nếu làm trái thì cũng phải bị xử phạt theo quy định PL.
+ Tính liên tục, ổn định và thích ứng:
Liên tục: Yêu cầu nền hành chính không bị gián đoạn trong bất kỳ tình huống nào VD: Vào ngày lễ, tính phục vụ càng nâng cao, trường học được nghỉ nhưng lực lượng bảo vệ luôn hoạt động, đài truyền hình, xe lửa, máy bay phải được tăng cường,
Ổn định: Ít thay đổi nhân sự, thể chế, thủ tục, địa điểm, thời gian làm việc để đảm bảo HĐ HC không bị
gián đoạn
Thích ứng: Nhanh chóng phù hợp với các thay đổi của xã hội.
+ Tính chuyên nghiệp: CBCC phải có văn bằng, chứng chỉ đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp Được tuyển dụng, bố trí công việc lâu dài, được trả lương, khen thưởng kỷ luật, có thể mất việc, có chế độ hưu trí… + Tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ: Hệ thống theo hình tháp, từ trung ướng đến địa phương Cấp trên có quyền lực cao nhất Cấp dưới nhận chỉ thị, thi hành và chịu sự kiểm soát của cấp trên trực tiếp
+ Tính không vụ lợi: Nhà nước không có chức năng kinh doanh nên hoạt động HCNN không vì lợi nhuận cho bản thân cơ quan HCNN hay đội ngũ CBCC mà phải nhắm đến lợi ích của toàn xã hội
+ Tính nhân đạo: Từ khâu ban hành quy định cho đến khâu triển khai thực hiện đều phải vì mục tiêu phục
vụ con người và tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân làm xuất phát điểm
Trang 43 Anh (chị) hãy nêu những thành tựu và nguyên nhân những thành tựu của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (6 điểm)
a) Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân
Hầu hết các xã trong cả nước, kể cả vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã có trường, lớp tiểu học
ở các xã ĐB đều có THCS, các huyện có THPT, tỉnh huyện đồng bào DT có trường dân tộc nội trú.
Quy mô các cơ sở giáo dục không ngừng được mở rộng Tính đến năm học 2015-2016, bậc giáo dục mầm non
có hơn 14 000 trường với tổng số hơn 4,6 triệu trẻ em; bậc giáo dục tiểu học có hơn 15 000 trường với hơn 7,7 triệu học sinh; bậc giáo dục phổ thông (trung học cơ sở và trung học phổ thông) có gần 13 000 trường với hơn 7,5 triệu học sinh; bậc cao đẳng, đại học có 442 trường với 2,24 triệu sinh viên.
b) Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ
Từ năm 2004 đến 2016, Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công nhiều kỳ thi quốc tế: Olympic Vật lý châu Á (2004), Olympic Toán học quốc tế (2007), Olympic Vật lý quốc tế (2008), Olympic Hóa học quốc tế (2014) Và
đã gặt hái nhiều thành công, đứng đầu Cuộc thi Olympic Toán học châu Á-Thái Bình Dương,…
c) Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục đã được cải thiện, đặc biệt người dân tộc thiểu số, con em các gia đình nghèo, trẻ em gái và các đối tượng bị thiệt thòi ngày càng được quan tâm
Thực hiện các chính sách hỗ trợ cho những em có hoàn cảnh khó khăn được đến lớp như cấp tiền, sách vở, đồ dùng học tập, quần áo,
d) Công tác quản lý giáo dục có bước chuyển biến tích cực
Nhà nước và ngành giáo dục đã có các đợt cải cách, đổi mới về chương trình, sách giáo khoa, nâng cấp cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đội ngũ, cải tiến thi cử Sự thay đổi cả về triết lý, về mục tiêu giáo dục và nguyên
lý hoạt động giáo dục, cơ cấu hệ thống và mô hình nhà trường, nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, cách thức đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ giáo viên, tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục.
Trang 5đ) Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tăng nhanh về số lượng, nâng dần về chất lượng, từng bước khắc phục một phần bất hợp lý về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục và phát triển các cấp học và trình độ đào tạo
Năm học 2015-2016, cán bộ, công chức, viên chức toàn ngành GD&ĐT là hơn 10 000 người đảm nhận quản lý
và giảng dạy cho hơn 100 000 học sinh thuộc 324 cơ sở giáo dục Trong đó, GV cấp Mầm non 1.760 người, có trình độ đạt chuẩn theo quy định là 99,3%, trên chuẩn 62,1%; Tiểu học 3.075 người, đạt chuẩn 99,3%, trên chuẩn 92,5%; THCS 2.106 người, đạt chuẩn 99,8%, trên chuẩn 73,3%; THPT 994 người, đạt chuẩn 100%, trên chuẩn 11,0%.
GV dạy giỏi, đào tạo, đáp ứng cho nhu cầu GD, đào tạo, bồi dưỡng, có ý thức tự học mọi lúc, mọi nơi, qua thực tiễn công tác để đúc rút những bài học cho bản thân.
e) Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng nhanh
Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục trong thời kỳ đổi mới đã được nâng dần qua các năm Năm 1986 chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục là 6,9%, so với GDP là 1,4%; Năm 2007 chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục là 19%, so với GDP là 6,3%, năm 2008 là 20%, so với GDP là 6,5% Tổng nguồn NSNN dành cho lĩnh vực giáo dục đào tạo năm 2015 chiếm khoảng 20% tổng chi NSNN.
g) Giáo dục ngoài công lập phát triển, đặc biệt trong giáo dục nghề nghiệp và đại học
Năm 1997, cả nước mới chỉ có 15 cơ sở GDĐH NCL, đến hết 9/2009 con số này là 78 trường, tăng 5,2 lần, góp phần tăng quy mô đào tạo của khối trường NCL lên 218.189 sinh viên vào năm học 2008 – 2009, chiếm 12,7%
so với tổng quy mô đào tạo của cả nước Đến hết năm 2012 cả nước có 54 trường đại học và 30 trường cao đẳng NCL, với quy mô sinh viên đại học, cao đẳng lên đến 336.998 sinh viên ( trong đó số sinh viên cao đẳng : 144.014; sinh viên đại học là 336.998).
h) Cơ sở vật chất nhà trường được cải thiện
Trường lớp được xây lại hoàn chỉnh, có đầy đủ bàn ghế cũng như đồ dùng DH, máy chiếu, tivi, được trang bị ngày càng đầy đủ hơn,
Nguyên nhân của những thành tựu (2 điểm)
- Sự lãnh đạo của Đảng, quan tâm của Nhà nước; sự quan tâm, tham gia đóng góp của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong và ngoài nước, của toàn dân
Thể hiện trong chính sách đổi mới GD – ĐT, tập trung trong Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa VII).
- Sự ổn định chính trị (Hòa bình), những thành quả phát triển kinh tế (Hội nhập, KHKT) - xã hội qua 10 năm đổi mới tạo ĐK thuận lợi cho GD phát triển.
- Sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, HS, SV có những cố gắng rất lớn, đại bộ phận thầy
cô có tâm huyết, gắn bó với nghề, các GV ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ.
- Truyền thống hiếu học của dân tộc được phát huy, nhu cầu học tập không ngừng được tăng cao, ND đóng góp nhiều trong việc XD trường lớp & chăm lo sự nghiệp GD.
4 Anh (chị) hãy nêu những hạn chế và nguyên nhân những hạn chế của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (5 điểm)
a) Hệ thống giáo dục quốc dân thiếu tính thống nhất, thiếu liên thông giữa một số cấp học và một số trình độ đào tạo, chưa có khung trình độ quốc gia về giáo dục
Trang 6Hiện nay nước ta còn khoảng 7% dân số mù chữ: chưa phổ cập được GD THCS; tỉ lệ SV trên DS còn thấp; tỉ
lệ Lđ qua đào tạo mới đào tạo mới đạt hơn 22%; nền KT quốc dân còn thiếu nhiều LĐ & cán bộ có tay nghề & trình độ kĩ thuật, nghiệp vụ cao
Quy mô đào tạo nghề hiện nay còn nhỏ; cán bộ khoa học kỹ thuật trình độ cao, cán bộ là người dân tộc thiếu số còn thiếu nhiều, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp; trình độ, thiết bị đào tạo lạc hậu, không đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH.
b) Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới và so với trình độ của các nước có nền giáo dục tiên tiến trong khu vực, trên thế giới
Chất lượng giáo dục - đào tạo của ngành giáo dục tỉnh miền núi so với toàn quốc nhìn chung còn thấp, chưa đồng đều giữa các vùng Tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng chưa cao Quy mô đào tạo nghề còn nhỏ; Cơ sở vật chất trường học vẫn còn thiếu thốn, số lượng phòng học tạm chiếm tỷ lệ cao Trình độ kiến thức, kĩ năng thực hành, phương pháp tư duy KH, trình độ ngoại ngữ & thể lực của đa số SV còn yếu SV ra trường, khả năng vận dụng kiến thức vào SX & ĐS còn hạn chế Một bộ phận HS – SV bị suy thoái đạo đức, mờ nhạt lí tưởng, theo lối sống thực dụng,…
c) Quản lý giáo dục vẫn còn nhiều bất cập
Chưa có giải pháp giải quyết thoả đáng chế độ chính sách đối với những nhà giáo được điều động sang làm công tác quản lý; đời sống của phần đông cán bộ quản lý giáo dục gặp khó khăn, điều kiện làm việc còn hạn chế nên nhiều người.
d) Một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới
Nhận thức và trách nhiệm của một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa đầy đủ, còn né tránh, nể nang; việc đánh giá CBGV chưa thật chính xác, khách quan, chưa phản ánh đúng thực chất về đội ngũ.
Năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhiều nhà giáo còn hạn chế, chưa thực sự đổi mới phương pháp giảng dạy, đặc biệt là nhà giáo công tác ở vùng sâu, vùng xa, biên giới ít có điều kiện nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức Còn một bộ phận không nhỏ chưa đạt yêu cầu về năng lực sư phạm, trình độ tin học và ngoại ngữ.
đ) Nội dung chương trình, phương pháp dạy và học, công tác thi, kiểm tra, đánh giá chậm được đổi mới
Nội dung chương trình còn cũ chưa được đổi mới.
Phương pháp dạy và học còn theo lối cũ còn đề cập nặng vai trò của GV, HS chưa tích cực phát huy khả năng Phương pháp KTĐG nghèo nàn, thiếu tính thực tiễn và sáng tạo, còn mang tính áp đặt không linh hoạt, giảm khả năng sáng tạo của HS.
e) Cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường còn thiếu và lạc hậu
Các phòng học bộ môn, phòng, chức năng, nhà hiệu bộ hầu như chưa có Công tác xã hội hoá giáo dục chuyến biến chưa mạnh mẽ, quá trình đa dạng hoá các loại hình giáo dục ngoài công lập còn chậm.
g) Nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục còn hạn chế, chưa đáp ứng kịp các yêu cầu phát triển giáo dục
Số lượng ấn phẩm khoa học Việt Nam còn rất khiêm tốn trong 15 năm từ 1996-2011, Việt Nam mới có 13.172
ấn phẩm khoa học, các công trình nghiên cứu khoa học của Việt Nam cũng thấp nhất so với những nước trong khu vực.
Trang 7Nguyên nhân của những bất cập, yếu kém:
- Quan điểm “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”, "đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển" chưa thực
sự được thấm nhuần và thể hiện trên thực tế
Trang 8- Tư duy về giáo dục chậm đổi mới.
Chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất cập.
- Những tác động khách quan làm tăng thêm những yếu kém bất cập của giáo dục
Về phía người dạy
Mặc dù chất lượng và số lượng của lực lượng đội ngũ giảng viên ngày một nâng cao nhưng phương pháp giảng dạy vẫn chủ yếu mang tính thuyết giảng, làm người học tiếp thu một cách thụ động, nội dung giảng dạy mang năng lý thuyết, thiếu cập nhật thực tiễn dẫn tới xơ cứng, giáo điều, tính ứng dụng thấp Mặt khác, việc sử dụng các phương tiện phục vụ cho giảng dạy chưa nhiều do vậy mà không thể truyền tải hết lượng thông tin cần cung cấp cho người học, số thời gian của giảng viên dành cho lên lớp tại các trường quá lớn, cho nên hạn chế thời gian nghiên cứu khoa học và nghiên cứu thực tế Đời sống của ngưới Thầy còn nhiều khó khăn : Hiện nay giáo viên đang được hưởng mức lương thuộc nhóm cao, nhưng thực tế xã hội ta hiện nay không sống bằng lương , các ngành khác lương thấp nhưng cuộc sống thoải mái hơn nhiều Đây là vấn đề cần phải xem lại chính sách lương bổng của chúng ta đối với thầy cô giáo Nếu chúng ta thử tính một gia đình nhà giáo , hai người dạy học,
có hai con đúng tiêu chuẩn, nếu họ là nhà giáo chân chính, chuyên tâm dạy học thì với đồng lương của họ nuôi con đi học tới lớp mấy ?
(2) Về phía người học
Chất lượng đầu vào của nhiều cơ sở đào tạo đại học quá thấp, thấp đến mức không thể thấp hơn được nữa, chủ yếu tập trung vào các trường xét tuyển, tính chủ động sáng tạo trong học tập và nghiên cứu của sinh viên nhìn chung chưa cao, thiếu tư duy khoa học, đại đa số học thụ động, học theo phong trào, học cho qua “học theo hội chứng bằng cấp” , do vậy khi tốt nghiệp chưa đủ kiến thức để đáp ứng được yêu cầu bức xúc của thực tế và bị thực tiễn chối bỏ Chỉ số chất lượng đào tạo so với các nước trong khu vực đứng hạng 10 trên 12 nước.
Trang 9(3) Về chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo chậm cải tiến đổi mới,̀ thiếu tính cập nhật, lý thuyết chưa gắn với thực tiễn, các môn học quá nhiều và cơ cấu thời lượng chưa hợp lý, dẫn tới sinh viên Việt Nam học quá nhiều nhưng kiến thức lại chưa phù hợp với thực tiễn.
(4) Giáo dục còn quá yếu kém và lạc hậu, thiếu đồng bộ, thiếu đầu tư nâng cấp
Những tồn tại trên đã làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục đào tạo đại học mà nguyên nhân chính vẫn
là tư duy của người dạy, người học và cơ chế quản lý chưa phù hợp đã tạo những “Sản phẩm” chất lượng kém vừa thiếu kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, phương pháp làm việc vừa kém về năng lực nhận thức, tư duy và phương pháp nghiên cứu khoa học, xã hội không thừa nhận và rồi “Sản phẩm” của giáo dục đào tạo đại học không có chỗ đứng trên thị trường, người học xong đại học khó hoặc không tìm được việc làm.
-Nội dung chương trình và sách giáo khoa chưa phù hợp: Hiện nay đang từng bước thực hiện thay sách giáo khoa, đổi mới chương trình, có định hướng giáo dục toàn diện cho học sinh, khắc phục những thiếu sót trước đây chủ yếu dạy kiến thức, nặng về lý thuyết, chưa quan tâm đến giáo dục tình cảm và hành động cho học sinh Ngành giáo dục chậm đổi mới để theo kịp nhu cầu đất nước : Sự phát triển kinh tế của đất nước tạo điều kiện cho truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam phát triển , hiện nay chúng ta có một xã hội học tập, người người đi học, gần 30 triệu học sinh các cấp là một con số khổng lồ, qua các kỳ thi đại học ta thấy có sự chen chúc nhau quá mức, các trung tâm luyện thi, các thầy giáo dạy thêm, học thêm, học sinh cố học để tìm kiếm một trường học thích ứng Khi một đất nước có tốc độ phát triển khá cao và đều đặn như hiện nay, các nhà quản lý giáo dục phải có biện pháp đón đường , dự kiến những nhu cầu của ngành, của nhân dân, của học sinh để có những biện pháp thích hợp.
– Cơ chế quản lý đối với ngành giáo dục chưa phù hợp : Hiện nay ngành giáo dục các địa phương chịu sự tác động hàng ngang của địa phương nhiều hơn là chịu tác động hàng dọc của Bộ giáo dục – đào tạo Các trường phổ thông dạy học, thi cử đúng như quy chế của Bộ giáo dục – đào tạo, nhưng nếu học sinh thi rớt nhiều, lưu ban nhiều thì địa phương sẽ có ý kiến , thậm chí có những ý kiến chỉ đạo, “bệnh thành tích”có cơ hội để phát triển trong cơ chế quản lý giáo dục hiện nay
5 Anh/chị hãy phân tích thời cơ và thách thức của nền giáo dục Việt Nam được đề cập trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012) Liên hệ thực tiễn.
a) Thời cơ:
- Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu
tư cho phát triển; giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển kinh tế - xã hội Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm vừa qua và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với Chiến lược và Quy hoạch phát triển nhân lực trong thời kỳ dân số vàng là tiền đề cơ bản để ngành giáo dục cùng các bộ, ngành, địa phương phát triển giáo dục
- Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi để đổi mới cơ bản nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục, tiến tới một nền giáo dục điện tử đáp ứng nhu cầu của từng cá nhân người học
- Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu tạo cơ hội thuận lợi để tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tạo thời cơ để phát triển giáo dục
b) Thách thức:
- Ở trong nước, sự phân hóa trong xã hội có chiều hướng gia tăng Khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền ngày càng rõ rệt, gây nguy cơ dẫn đến sự thiếu bình
Trang 10đẳng trong tiếp cận giáo dục, gia tăng khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền và cho các đối tượng người học
- Nhu cầu phát triển nhanh giáo dục đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế theo chiều sâu tri thức với công nghệ tiên tiến và hội nhập quốc tế, trong khi đó nguồn lực đầu tư cho giáo dục là có hạn, sẽ tạo sức ép đối với phát triển giáo dục
- Nguy cơ tụt hậu có thể làm cho khoảng cách kinh tế, tri thức, giáo dục giữa Việt Nam và các nước ngày càng gia tăng Hội nhập quốc tế và phát triển KTTT làm nảy sinh những vấn đề mới, như nguy cơ xâm nhập của văn hóa và lối sống không lành mạnh làm xói mòn bản sắc dân tộc, dịch vụ giáo dục kém chất lượng có thể gây nhiều rủi ro lớn đối với giáo dục đặt ra yêu cầu phải đổi mới cả về lý luận cũng như những giải pháp thực tiễn phù hợp để phát triển giáo dục
c) Liên hệ thực tiễn: Sự áp đặt lối sống VH của các siêu cường.
CH: Tiếp thu các VH tinh hoa của nhân loại.
TT: Giá trị đạo đức bị biến đổi theo hướng suy giảm, ô nhiễm XH đánh mất bản sắc DT.
CH: Làn sống Hàn Quốc là 1 VD điển hình trong khoảng 1 thập kỉ truyền lại đây Đầu tóc, quần áo, ăn mặc,… đều có “phong tục HQ” Hoặc phong cách truyện tranh NB.
TT: Chúng ta k phủ nhận mặt tốt đẹp của quá trình này Tuy nhiên, những mặt hạn chế của nó thì thực sự đáng
lo ngại Thanh, thiếu niên biết nhiều mà k hiểu bản chất của sự việc mình biết, a dua học đòi về thời trang, lối
ăn nói cộc lốc, ngôn ngữ bị bóp méo.
Sự tôn trọng về các giá trị truyền thống bị coi nhẹ (điều này làm cho VN kém so với HQ nhiều) Bản lĩnh, đạo đức của thế hệ ở các nước đang phát triển … đang báo động VD: tự tự, bỏ nhà đi đêm, sống chung,…
6 Anh (chị) hãy trình bày và cho ví dụ quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục trong chiến lược giáo dục 2011-2020 (6 điểm)
1- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội