1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUYỀN NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG LUẬT XLVPHC

71 332 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 452 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người chưa thành niên là một khái niệm được sử dụng phổ biến đặc biệt là trong các văn bản pháp luật. Bên cạnh khái niệm này chúng ta còn bắt gặp khái niệm “vị thành niên”, “trẻ em”. Như vậy, nội hàm của những khái niệm này có gì giống và khác nhau, những người ở độ tuổi nào được gọi là “người chưa thành niên”.

Trang 1

QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CON

NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG LUẬT XỬ LÝ VI

PHẠM HÀNH CHÍNH 1

1.1 Khái quát về người chưa thành niên 4

1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên 4

1.1.2 Đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên 6

1.2 Khái quát về quyền con người của người chưa thành niên 7

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung quyền con người 7

1.2.2 Quyền con người của người chưa thành niên 13

1.3 Lịch sử phát triển của Luật xử lý vi phạm hành chính và vấn đề quyền con người của người chưa thành niên 17

1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển các quy định về quyền con người của người chưa thành niên trong pháp luật xử lý vi phạm hành chính Việt Nam 17

1.3.2 Vai trò của Luật Xử lý vi phạm hành chính trong việc bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 25

2.1 Thực trạng các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính với việc bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên 25

2.1.1 Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm 25

2.1.2 Các quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên phạm tội 34

2.1.3 Các quy định về áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính 39

2.1.4 Các quy định khác của Luật Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm với việc bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên 48

2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện 55

Trang 3

2.2.1 Quy định về các biện pháp xử phạt hành chính đối với người chưa thành niên 552.2.2 Các quy định về biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành

niên 602.2.3 Quy định về các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với

người chưa thành niên 66

KẾT LUẬN.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Trang 4

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG LUẬT XỬ LÝ VI

PHẠM HÀNH CHÍNH 1.1 Khái quát về người chưa thành niên

1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên

Người chưa thành niên là một khái niệm được sử dụng phổ biến đặc biệt làtrong các văn bản pháp luật Bên cạnh khái niệm này chúng ta còn bắt gặp khái

niệm “vị thành niên”, “trẻ em” Như vậy, nội hàm của những khái niệm này có gì giống và khác nhau, những người ở độ tuổi nào được gọi là “người chưa thành

niên”.

Dưới góc độ pháp luật quốc tế

Theo Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hiệp

quốc thông qua ngày 20/11/1989 quy định: “Trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ

trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.

Bên cạnh đó, Khoản a, Điều 11, Chương 2 Quy tắc phổ biến của Liên hiệpquốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do được thông qua ngày

14/12/1990 có quy định: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Giới hạn

tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật mỗi quốc gia xác định và hạn chế tước quyền tự do của người chưa thành niên”.

Tham khảo thêm các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến người chưathành niên như: Hướng dẫn của Liên hiệp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở ngườichưa thành niên ngày 14/12/1990, Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hiệp quốc

về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên ngày 29/11/1985 thì trẻ em (Child)

là người dưới 18 tuổi, người chưa thành niên (Juvenile) là người từ 15 đến 18 tuổi,thanh niên (Youth) là người 15 đến 24 tuổi, người trẻ tuổi (Young person) bao gồmtrẻ em, người chưa thành niên và thanh niên

Như vậy, theo pháp luật quốc tế, khi đưa ra khái niệm “trẻ em” hay “người

chưa thành niên” không dựa vào các đặc điểm tâm - sinh lý hay sự phát triển sự

phát triển về thể chất mà trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xác định độ tuổi

Khái niệm “người chưa thành niên” và khái niệm “trẻ em” là đồng nhất với nhau

đều dùng để chỉ người dưới 18 tuổi đồng thời mở ra khả năng cho các quốc gia tùythuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, truyền thống của mình có thể quy định

độ tuổi đó sớm hơn

Trang 5

Dưới góc độ pháp luật Việt Nam.

Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trongHiến pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm

2003, Bộ luật Lao động 2012, Bộ luật Dân sự năm 2005 theo đó:

Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: “Người chưa thành niên từ đủ

12 tuổi đến 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của chương này đồng thời theo những quy định khác của phần chung Bộ luật không trái với những quy định của chương này” Hay tại Điều 12 quy định “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiệm trọng

do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng do vô ý” Như vậy, theo quan điểm được ghi

nhận trong Bộ luật Hình sự thì khái niệm người chưa thành niên được hiểu là ngườidưới 18 tuổi

Điều 18 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là

người thành niên Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” Cũng theo quy

định của Bộ luật này, người chưa thành niên vẫn được tham gia vào các quan hệ dân

sự và phải được pháp luật công nhận là có khả năng “sử dụng quyền, làm nghĩa vụ

và chịu trách nhiệm”.

Điều 161 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Người lao động chưa

thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” Bên cạnh đó, Bộ luật cũng quy định các

quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động chưa thành niên

Tuy nhiên, khác với quan điểm của pháp luật quốc tế, khái niệm “người

chưa thành niên” và “trẻ em” ở Việt Nam là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.

Theo đó, quy định tại Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định:

“Trẻ em được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Như vậy, nếu như “người chưa thành niên” theo quy định tại các ngành luật trên là người dưới 18 tuổi thì “trẻ em” là người dưới 16 tuổi Khái niệm “người chưa

thành niên” là một khái niệm rộng hơn, bao quát hơn khái niệm “trẻ em”, mọi “trẻ em” đều là “người chưa thành niên”, nhưng “người chưa thành niên” từ đủ 16 tuổi

đến dưới 18 tuổi thì không được xem là “trẻ em”.

Luật Xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC ) tại Điều 134 quy định:

“Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì không áp

dụng hình thức phạt tiền Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên”, người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi có thể bị áp dụng biện pháp

xử lý hành chính là giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo

Trang 6

dưỡng quy định tại Điều 89, Điều 92 nếu rơi vào trường hợp Luật quy định Nhưvậy, Luật XLVPHC không có một khái niệm nào định nghĩa cụ thể như thế nào làngười chưa thành niên nhưng có thể thấy đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý

vi phạm hành chính là người từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “thành niên” là đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, “vị thành niên” là chưa đến tuổi

được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ1

Trong khi đó, Từ điển Luật học không đưa ra khái niệm “thành niên” trước

mà chỉ đưa ra khái niệm “vị thành niên” (chưa thành niên) là người chưa đến tuổi

được pháp luật coi là có đủ khả năng để sử dụng quyền, làm nghĩa vụ và chịu tráchnhiệm2

Tóm lại, khái niệm người “chưa thành niên” được xác định căn cứ vào sự

phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người Việc xác định độ tuổi ngườichưa thành niên là rất khó, còn tùy thuộc vào quan điểm của nhà làm luật mỗi quốcgia khi nhìn nhận về sự phát triển tâm, sinh lý của con người cũng như tình trạng viphạm pháp luật ở quốc gia mình Theo quan điểm của cá nhân tác giả, việc tồn tạimột khái niệm cụ thể như thế nào là người chưa thành niên không quan trọng màcần thiết hơn cả là xác định xem người chưa thành niên là những người ở độ tuổinào để áp dụng pháp luật cho phù hợp Nghiên cứu pháp luật của một số quốc gianói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng thì độ tuổi hợp lý nhất để được xem làngười chưa thành niên là từ đủ 12 đến dưới 18 vì đây là giai đoạn mà thể chất cũngnhư tinh thần của con người có những thay đổi rõ ràng nhất

1.1.2 Đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên

Từ lúc sinh ra đến lúc chết đi con người trải qua nhiều giai đoạn, ở mỗi giaiđoạn tâm, sinh lý của con người là khác nhau Nhiều nghiên cứu cho thấy, ở giaiđoạn từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi tức giai đoạn chưa thành niên con người có nhữngthay đổi to lớn nhất về thể chất cũng như tâm lý Chính vì vậy, nó có vai trò đặc biệtquan trọng trong quá hình hoàn thiện và phát triển của con người, có vai trò bản lềđối với cuộc sống sau này Thực tế cho thấy, lối sống, đạo đức, nhân cách của mỗingười được hình thành từ tuổi ấu thơ và định hình rõ nét nhất vào giai đoạn chưathành niên Tuổi vị thành niên hàm chứa trong nó nhiều yếu tố vừa ghi nhận, vừaloại bỏ, vừa định dạng, vừa biến đổi trong nhận thức, tâm lý, tình cảm, suy nghĩ củacon người trong giai đoạn này rồi trở thành khuôn mẫu nhân cách cho chính con

1 Viện ngôn ngữ học (2004), Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội.

2 Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXBTừ điển Bách Khoa và NXB Tư pháp,

Hà Nội.

Trang 7

người đó trong cuộc đời sau này Nghiên cứu đặc điểm tâm lý của con người tronggiai đoạn này sẽ giải thích cho cơ sở khoa học của những quy định pháp luật nóichung và Luật XLVPHC nói riêng đối với đối tượng này Tâm lý của con ngườitrong giai đoạn này có những đặc điểm đặc trưng sau:

Một là, dễ rơi vào trạng thái mất cân bằng trong cảm xúc.

Do ảnh hưởng của sự phát triển không đều của hệ tim mạch sự mất cân bằngtrong hệ thần kinh cùng với quá trình hưng phấn của vỏ não mạnh, chiếm ưu thế đãlàm cho quá trình ức chế có điều kiện bị suy giảm Do vậy, nhiều trường hợp các

em đã không kiềm chế được cảm xúc mạnh, không làm chủ được bản thân, dễ bị lôikéo, kích động, dễ nổi nóng, gây gỗ dẫn tới việc thực hiện những hành vi vi phạmpháp luật

Trên thực tế, trạng thái thần kinh, trạng thái cảm xúc không cân bằng lànguyên nhân gây nên các hành vi lệch chuẩn của các em, dẫn tới các hành vi phạmpháp

Hai là, thiếu sự trưởng thành và sự chín chắn trong các quyết định.

Ở giai đoạn này, nhận thức của người chưa thành niên còn đang trong quátrình hình thành, phát triển và chưa hoàn thiện Trong một bài báo cáo của tác giảElizabeth Cauffman khi nghiên cứu về mức độ trưởng thành thể hiện qua độ tuổi vàgiới tính được tiến hành với hơn 1000 người từ độ tuổi 12 đến 48 tại khu vựcPhiladelphia đã rút ra kết luận người chưa thành niên có sự chín chắn trong quyếtđịnh thấp hơn đáng kể so với người lớn về các phương diện kiểm soát sự bốc đồng

và nhìn xa trong tương lai Cụ thể hơn, giai đoạn từ 13 đến 21 tuổi là lứa tuổi hìnhthành nhân cách, quá trình phát triển của sự trưởng thành tăng dần theo độ tuổi vàtrong nhận thức có những chuyển biến rõ rệt Trong đó nữ trưởng thành hơn nam vềkhả năng nhìn trước tương lai và kiềm chế tức giận tốt hơn3

Bên cạnh đó, khả năng nhận thức và đánh giá rủi ro của người chưa thànhniên hạn chế hơn so với người trưởng thành Nếu như khi thực hiện hành vi phạmtội người thành niên từ 10 đến 18 tuổi sẽ quan tâm đến những lợi ích có được từmột quyết định mạo hiểm hơn những gì họ mất thì người từ 18 đến 30 tuổi sẽ quantâm đến yếu tố mất hơn yếu tố họ nhận được4 Việc không nhìn thấy trước đượcnhững rủi ro và hậu quả của người chưa thành niên một phần do các em ít kinhnghiệm sống hơn so với người đã thành niên Tuy nhiên, việc thực hiện hành viphạm tội của người chưa thành niên không xuất phát từ bản chất xấu cố hữu của các

3 http://www.ncbi.nlm.nih.gov/.

4 Bài nghiên cứu về “Sự khác biệt về tuổi trong việc ra quyết định” của nhóm các nhà tâm lý học Hiệp hội

tâm lý Hoa Kỳ được tiến hành trên hơn 900 người có độ tuổi từ 19 đến 30 tại 5 bang của Hoa Kỳ về hành vi đánh bạc, nguồn http://www.youthadvocacydepartment.org/ , tr 11.

Trang 8

em mà do sự lệch lạc trong suy nghĩ, ham muốn những lợi ích trước mắt Chính vìvậy, khả năng cải tạo, giáo dục các em là rất cao Do đó, đối với hầu hết người chưathành niên hành vi chống đối xã hội chỉ là nhất thời và sẽ chấm dứt với sự trưởngthành nếu được áp dụng các biện pháp cải tạo, giáo dục kịp thời, hợp lý.

Ba là, dễ bị ảnh hưởng bởi tác động bên ngoài.

Ở người trưởng thành với kinh nghiệm sống được tích lũy qua quá trình hoànthiện mình để có thể kiểm soát hành vi của bản thân, hạn chế, loại bỏ những tácđộng xấu từ môi trường bên ngoài Tuy nhiên, người chưa thành niên do chưa pháttriển một cách hoàn chỉnh nên dễ bị những tác động tiêu cực từ môi trường xungquanh cùng với việc thiếu tự chủ để đánh giá tính đúng, sai, trắng đen của nhữngảnh hưởng đó dẫn đến thực hiện phạm tội mà chính bản thân các em không biết đó

là hành vi bị pháp luật cấm

Sự phát triển chưa đầy đủ, thêm vào đó là việc dễ bị tác động bởi yếu tố bênngoài, chỉ nhìn tới cái lợi trước mắt nên người chưa thành niên khó thoát ra khỏinhững cám dỗ và sự sai lệch trong suy nghĩ Dưới sức ép của bạn bè người chưathành niên thường dễ chấp nhận rủi ro và đưa ra quyết định mạo hiểm hơn nhằmmục đích tự khẳng định mình, để bạn bè nể phục, tôn trọng

Sự hình thành và phát triển nhu cầu độc lập ở người chưa thành niên là sựphát triển tâm lý mang tính chất tất yếu và cần thiết, là cơ sở quan trọng để hìnhthành nên tính cách, sở thích cũng như lối sống của các em sau này Tuy nhiên, bêncạnh mặt tích cực mà nhu cầu độc lập mang lại thì cũng tồn tại mặt tiêu cực, việcnhu cầu độc lập phát triển một cách thái quá có thể là nguyên nhân dẫn tới hành viphạm tội của các em Việc phát triển nhu cầu độc lập thái quá của người chưa thànhniên thường được biểu hiện ra bên ngoài bằng việc ngang bướng, cố chấp, bảo thủ,

dễ tự ái, gây gổ, phô trương, khoe khoang, thích thể hiện mình, phóng đại khả năngcủa mình, đánh giá cao hơn khả năng mà mình có nhằm mục đích được người khác

Trang 9

tôn trọng Tất cả những hành vi này của người chưa thành niên đều mang tính chấtlệch chuẩn, dễ dẫn tới hành vi phạm tội5.

Về nhận thức pháp luật

Nhận thức pháp luật là khả năng hiểu và vận dụng các quy định của pháp luật

để điều chỉnh hành vi và suy nghĩ của bản thân cho phù hợp với pháp luật

Ý thức về chuẩn mực xã hội nói chung và chuẩn mực pháp luật nói riêng có

ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của người chưa thành niên Việcnhận thức một cách đúng đắn về các giá trị đạo đức cũng như giá trị pháp luật giúpcác em phát triển nhân cách một cách đúng đắn và trở thành công dân tốt cho xãhội, giúp ngăn ngừa, hạn chế những nhu cầu, hành vi mang tính vô thức Tuy nhiên,

do sự phát triển không đồng đều đặc biệt là sự mất cân đối giữa thể chất và trí tuệ,kinh nghiệm sống còn ít ỏi nên ở người chưa thành niên phần lớn nhận thức phápluật của các em còn rất hạn chế hoặc bị lệch lạc theo ý thức chủ quan của các em.Khi các em không ý thức được pháp luật đúng đắn rất dễ dẫn đến các hành vi viphạm pháp luật Phần lớn các em sau khi thực hiện hành vi phạm tội đều không biếtmình phạm tội, không thấy được hết tình nguy hiểm của hành vi mình đối với xãhội mà cho rằng nó là hợp pháp, là tự bảo vệ mình hoặc thực hiện hành vi phạm tộichỉ để thỏa mãn nhu cầu, hứng thú của cá nhân mà không quan tâm đến hậu quảnguy hiểm cho xã hội

Như vậy, ý thức pháp luật là nhân tố có vai trò quan trọng đối với sự pháttriển nhân cách của con người, việc nhận thức pháp luật không đúng đắn là nguyênnhân quan trọng dẫn tới hành vi phạm pháp của người chưa thành niên

Bước qua giai đoạn chưa thành niên, nhận thức của các em vẫn đang trongquá trình hoàn thiện Mặc dù, sống độc lập hơn và trưởng thành hơn nhưng vẫn cần

có sự quan tâm của cha mẹ, bạn bè, nhà trường bởi những khó khăn về mặt tâm,sinh lý là không tránh khỏi Cha mẹ phải là người hiểu rõ và dành cho các em sựquan tâm đúng mức, quản lý chặt chẽ để việc hình thành nhân cách của các emđúng chuẩn mực, không bị lệch lạc Các em chưa thành niên khi trở thành đối tượngđiều chỉnh của Luật XLVPHC cần được xem xét, cân nhắc để áp dụng pháp luậtcho phù hợp, đảm bảo việc bảo vệ hiệu quả nhất những quyền lợi của đối tượngnày

5 Đặng Thị Thanh Nga (2008), “Một số đặc điểm tâm lí của người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Luật

học (01), tr 39.

Trang 10

1.2 Khái quát về quyền con người của người chưa thành niên

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung quyền con người

Khái niệm quyền con người.

Quyền con người là một vấn đề được đặt ra từ rất sớm cùng với sự phân chiagiai cấp trong xã hội và hình thành nhà nước Tuy nhiên, quyền con người trongthời kì này chỉ mới là những ý niệm mơ hồ, chưa hình thành những tư tưởng, quanđiểm rõ ràng Quan điểm của phần lớn các học giả khi nghiên cứu về quyền conngười đều cho rằng tư tưởng về quyền con người được khởi thủy từ khi trái đất xuấthiện nền văn minh cổ đại (khoảng năm 3000-1500 TCN) Bộ luật Hamurabi xứBabilon của Vua Hamurabi được ban hành vào năm 1780 TCN đã nêu ra mục đích

của nhà vua khi thiết lập đạo luật này là “ngăn ngừa kẻ mạnh áp bức kẻ yếu”, làm

cho người cô quả có nơi nương tựa ở thành Babylon, đem lại hạnh phúc chân chính

và đặt nền thống trị nhân từ cho mọi thần dân trên vương quốc Có thể xem Bộ luậtHamurabi là văn bản pháp luật đầu tiên của nhân loại nói đến quyền con người Tuynhiên, chỉ khi xã hội phát triển, các trường phái triết học và pháp luật bắt đầu hìnhthành và phát triển lớn mạnh thì các quan điểm, tranh luận về quyền con người củacác học giả trên thế giới mới bắt đầu được quan tâm Xuất hiện sớm nhất là trườngphái pháp luật tự nhiên, coi quyền con người là các quyền khi sinh ra con người đã

có, nhà nước không có quyền can thiệp Khi cách mạng tư sản thắng lợi, học thuyết

tự nhiên được đề cao, quyền con người chính thức được công khai thừa nhận vàđược quan tâm tuy nhiên chỉ trong phạm vi triết học

Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngônNhân quyền và Dân quyền của Pháp 1789 là hai văn kiện pháp lý đầu tiền ghi nhậnquyền con người Tiếp đó, sau Chiến tranh thế giới thứ 2 khi 48 quốc gia thành viênLiên hiệp quốc thống nhất thông qua Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền (1948)thì khái niệm quyền con người mới chính thức được hợp pháp hóa và trở nên phổbiến Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự chuyển mình của vấn đề quyền con người

từ lĩnh vực triết học sang lĩnh vực pháp lý và là một trong những vấn đề quan trọngnhận được sự quan tâm của toàn nhân loại Việc được ghi nhận trong các văn bảnpháp lý mang ý nghĩa to lớn đối với vấn đề quyền con người Từ đây, quyền conngười không còn là sự thỉnh cầu của người dân đối với Nhà nước mà là những đặcquyền của con người mà Nhà nước có nghĩa vụ phải bảo đảm và thực hiện

Quyền con người là một vấn đề rộng, phức tạp cho tới thời điểm này đã cónhiều công trình nghiên cứu, sách, báo, hội thảo, hội nghị của các cá nhân và tổchức trên thế giới đề cập đến Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một khái niệm nào

Trang 11

được thừa nhận chính thức và phản ánh được đầy đủ các thuộc tính của quyền conngười Để có thể có một cái nhìn khái quát về quyền con người, cần hiểu đượcnguồn gốc của quyền con người do đâu mà có Trên thế giới hiện nay có nhiều quanđiểm khác nhau về nguồn gốc quyền con người, phổ biến nhất có thể kể đến đó làquan điểm quyền con người theo khuynh hướng quyền tự nhiên và quan điểm quyềncon người theo khuynh hướng thực định.

Khuynh hướng quyền tự nhiên.

Những người theo học thuyết về quyền tự nhiên cho rằng quyền con người làthuộc tính tự nhiên vốn có của con người, không do ai ban phát Chính vì vậy,không một chủ thể nào có quyền tước bỏ kể cả Nhà nước, ngược lại Nhà nước cónghĩa vụ thừa nhận và bảo vệ ngay cả khi pháp luật thực định không quy định hayquy định hạn chế Quan niệm về quyền con người theo khuynh hướng quyền tựnhiên đã xuất hiện rất sớm ngay từ thời kì cổ đại Tiêu biểu cho khuynh hướng này

có các nhà khoa học, triết gia như Zeno, Thomas Hobbes, Thomas Paine, ZohnLocke Ở Phương Đông, trong thời kì này có Mặc Tử của Trung Quốc với quan

điểm cho rằng quyền bình đẳng tự nhiên của con người là do “ý trời” Theo đó mỗi

người đều có quyền tham gia các công việc của nhà nước theo tài năng chứ không

do dòng dõi, gia thế quyết định Tư tưởng về quyền tự nhiên của con người càng trởnên phổ biến hơn ở Châu Âu kể từ thời phục hưng trở đi với những đại diện tiêubiểu như Locco, Rutxo, Xpinoda

Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776, Hiến pháp của Pháp năm 1791 hayTuyên ngôn độc lập của Việt Nam năm 1945 là những văn bản pháp lý nhìn nhậnquyền con người theo khuynh hướng quyền tự nhiên Trong Tuyên ngôn độc lậpcủa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh

khẳng định: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ

những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Như vậy học thuyết về quyền tự nhiên của con người mang ý nghĩa nhấtđịnh, nó tiêu biểu cho các lực lượng tiến bộ chống lại những bất công, bất bình đẳngtrong xã hội, đề cao quyền con người với tư cách là quyền cao quý, thiêng liêngnhất, là sản phẩm tinh túy của sự phát triển tự nhiên Tuy nhiên, do không nhìn nhậnnguồn gốc xã hội của con người, không đặt con người trong tổng hòa các mối quan

hệ với tự nhiên và xã hội do đó đã không chỉ ra được tính lịch sử, giai cấp và sựphát triển của quyền con người

Khuynh hướng thực định.

Trang 12

Những người theo khuynh hướng này cho rằng quyền con người không phải

là cái gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà do Nhà nước quy định trong phápluật và còn phụ thuộc vào những yếu tố như phong tục tập quán, truyền thống vănhóa của từng xã hội Theo đó, quyền con người không được xem xét một cách côlập, phiến diện mà đặt nó trong mối quan hệ biện chứng với các mối quan hệ xã hội.Chỉ khi xã hội có giai cấp, Nhà nước có sự vi phạm quyền con người thì vấn đềquyền con người mới bắt đầu được quan tâm Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, giai cấpchủ nô không thừa nhận những người nô lệ là con người, họ không có bất kì mộtquyền nào, kể cả quyền được sống Pháp luật của các quốc gia này cho phép chủ nô

có quyền đối xử vô nhân đạo với nô lệ, họ có quyền dùng những hình phạt nặng nềnhất kể cả tử hình để trừng phạt nô lệ của mình Đến chế độ phong kiến, người nôngdân tuy không bị xem là vật sở hữu của địa chủ nhưng họ phải lao động, sản xuấtcủa cải cho địa chủ trên ruộng đất của địa chủ Chính vì vậy, họ bị trói buộc vàoruộng đất của địa chủ, giai cấp phong kiến dùng vương quyền, thần quyền đàn ápnhững người nông dân, chà đạp lên các quyền con người của Giai cấp tư sản ra đời

đã tập hợp lực lượng chống lại vương quyền, thần quyền của giai cấp phong kiến,nhưng do mục đích ra đời chủ yếu để dành được những lợi ích về kinh tế nên saukhi lật đổ giai cấp phong kiến giai cấp tư sản tiến hành các cuộc chiến tranh xâmlược thuộc địa, hành động này đã trực tiếp xâm hại đến quyền con người của cácdân tộc thuộc địa Như vậy, quyền con người mang bản chất giai cấp và sẽ thay đổi,

bổ sung qua từng giai đoạn khác nhau của lịch sử Tùy vào trình độ phát triển,phong tục, tập quán và ý chí của giai cấp thống trị mà pháp luật mỗi quốc gia sẽ ghinhận cho công dân của mình những quyền con người khác nhau trong tổng thể nộidung của quyền con người Chỉ những quyền nào được pháp luật quy định cho phépcon người làm hay không được làm thì mới được xem là quyền con người Tiêubiểu cho khuynh hướng này có Mac-Lenin, Edmund Burke, Jeremy Bentham

Giải quyết được nhược điểm của khuynh hướng quyền tự nhiên khi nghiêncứu về quyền con người, khuynh hướng thực định đã đặt quyền con người trongtổng hòa các mối quan hệ xã hội, gắn quyền con người với ý chí Nhà nước và phápluật Tuy nhiên, do quá đề cao vai trò của Nhà nước, coi ý chí Nhà nước là nguồngốc quyền con người nên làm mất đi tính thiêng liêng của quyền con người Quyềncon người lúc này chỉ là cái được phép làm, được hưởng, còn những đòi hỏi, nhucầu hợp lý của cuộc sống mà chưa được pháp luật ghi nhận thì chưa được coi làquyền con người và không được pháp luật bảo vệ nếu có sự xâm phạm

Như vậy, quyền con người là một vấn đề phức tạp, chứa đựng những mặtmâu thuẫn, đối lập Nó bao gồm các mặt khách quan và chủ quan, tự nhiên và xã

Trang 13

hội, văn hóa và chính trị, đạo đức và pháp luật Bên cạnh đó, nó còn là sự kết hợpgiữa vấn đề giai cấp, dân tộc, quốc tế Chính vì vậy, khi nghiên cứu, tìm hiểu để đưa

ra khái niệm đúng đắn về quyền con người phải giải quyết được các vấn đề nêu trên

để có một cái nhìn toàn diện nhất, đa chiều nhất về quyền con người

Từ những phân tích trên có thế rút ra khái niệm về quyền con người đó là

những quyền tự nhiên, bẩm sinh, vốn có của con người được nhà nước đảm bảo bằng một hệ thống các quy định pháp lý Có thể dẫn chứng khái niệm về quyền con

người được nêu ra bởi Cao ủy Liên hợp quốc: “Quyền con người là những bảo đảm

pháp lý phổ quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”6 Bên cạnh thuật ngữ quyền con người, trong pháp luật Việt

Nam hiện nay còn tồn tại thuật ngữ “nhân quyền” hai thuật ngữ này về cơ bản mang

nghĩa tương tự nhau đều chỉ về những quyền cơ bản của con người Do đó, việc sửdụng thuật ngữ nào cũng không làm thay đổi những nội dung cơ bản của quyền conngười

Nội dung quyền con người.

Quyền con người là một phạm trù rộng lớn, bao trùm lên các lĩnh vực khácnhau của xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật Hơn nữa, như đã phântích ở trên, quyền con người vừa mang tính tự nhiên đồng thời mang tính xã hội, nóphụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, phong tục, tập quán và đặc biệt

là ý chí của nhà cầm quyền của mỗi quốc gia Chính vì vậy, khi xem xét đến nộidung của quyền con người ta cần phải xem xét một cách đầy đủ, đa chiều, bao trùmlên hết các lĩnh vực mà nó tác động đến Phần lớn các quan điểm đều cho rằng nộidung của quyền con người bao gồm các quyền trong các nhóm quyền chủ yếu sau:nhóm quyền trong lĩnh vực chính trị, nhóm quyền trong lĩnh vực kinh tế, nhómquyền trong lĩnh vực văn hóa - xã hội và nhóm quyền trong lĩnh vực dân sự

quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước

mình, trực tiếp hoặc thông qua việc lựa chọn các đại diện” Trong pháp luật Việt

Nam, Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945,

6 Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Hỏi đáp về quyền con người, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,

tr 21.

Trang 14

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một nhà nước

của dân, do dân, vì dân”, việc xác định tính chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa đã

mang trong mình yếu tố quyền chính trị của người dân Tiếp đó, Hiến pháp năm

1946 tại Điều 6 quy định: “Tất cả mọi công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi

phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa”7 Điều 7 quy định cụ thể hơn: “Tất cả mọi

công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền

và công cuộc kiến quốc theo tài năng và đức hạnh của mình” Điều 10 quy định:

“Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và

hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và nước ngoài” Hiến

pháp năm 1959 ngoài việc tiếp tục khẳng định các quyền chính trị đã được quy địnhtrong Hiến pháp năm 1946 như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, lậphội đã bổ sung thêm quyền khiếu nại, tố cáo và quyền biểu tình tại các Điều 25, 29,

30: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có các quyền tự do ngôn luận, báo

chí, hội họp, lập hội và biểu tình Nhà nước bảo vệ những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng những quyền đó” Đến Hiến pháp năm 1992 sửa đổi

bổ sung năm 2001 cụm từ “quyền con người” lần đầu tiên ghi nhận tại Điều 50

đồng thời quy định quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của nhà nước và địaphương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước trưng cầu dân ý

tại Điều 53 Và mới đây nhất Hiến pháp năm 2013 tại Điều 28 đã quy định: “Nhà

nước tạo mọi điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội, công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của dân”.

Trong lĩnh vực dân sự.

Lĩnh vực dân sự điều chỉnh các mối quan hệ nhân thân và tài sản của conngười, đây là một lĩnh vực rộng lớn, bao trùm lên các mối quan hệ thương mại, laođộng, kinh tế, hôn nhân gia đình Chính vì vậy, quyền con người trong nhóm quyềnnày rất rộng, bao gồm các quyền: không bị phân biệt đối xử; được thừa nhận vàbình đẳng trước pháp luật; quyền được sống tự do và an toàn; quyền được bảo vệkhỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện; quyền được xét xử công bằng; quyền được tự do đilại, cư trú; quyền được bảo vệ đời tư, quyền được tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôngiáo; quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân; quyền sở hữu tàisản; quyền tự do buôn bán

Trong pháp luật Việt Nam, nhóm quyền này của con người cũng được ghinhận từ rất sớm Hiến pháp năm 1946 quy định các quyền bất khả xâm phạm vềthân thể, nhà ở, thư tín, quyền tư hữu tài sản, quyền học tập, quyền không bị tra tấn,đánh đập, hành hạ, ngược đãi tại các Điều 11, 12, 15, 16, 66, 68 Bên cạnh đó, trong

7 Hồ Chí Minh (1980), Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Sự thật, Hà Nội, tập 4, tr 4.

Trang 15

các lĩnh vực pháp luật chuyên nghành như Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình,Luật Lao động, Luật Nhà ở, Luật Tố tụng dân sự, Luật Hình sự đều dành nhữngđiều khoản nhất định để quy định về các quyền dân sự của công dân.

Trong lĩnh vực kinh tế

Các quyền trong lĩnh vực này bao gồm quyền được buôn bán, quyền đượcđầu tư, quyền được bảo vệ thương hiệu, thành quả lao động của mình những quyềnnày được quy định trong các luật như Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luậthàng hải Việc tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động kinh tế tạo cơ sởnhằm phát huy mọi tiềm năng, kích thích các hoạt động sản xuất ra của cải vật chất

từ đó là điều kiện quan trọng để đảm bảo việc thực hiện quyền con người đặc biệt

là các quyền đối với trẻ em như: quyền được học tập, vui chơi, quyền được khámchữa bệnh

Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội

Trong lĩnh vực này, con người có các quyền bao gồm: quyền được bảo vệ vềsức khỏe, quyền được bảo vệ về hôn nhân, gia đình; quyền được hưởng tự do, anninh cá nhân; quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và hưởng thụ các giá trịvăn hóa và đặc biệt là các quyền đối với nhóm người yếu thế trong xã hội nhưngười chưa thành niên, thương binh liệt sĩ, phụ nữ, người sống ở vùng nông thônnghèo, vùng dân tộc thiểu số, người già yếu, cô đơn, người bị nhiễm HIV/AIDS.Việc thực hiện quyền con người trong lĩnh vực văn hóa, xã hội góp phần đảm bảotôn trọng và thực hiện các quyền dân sự, chính trị đồng thời tạo cơ hội bình đẳng,

hỗ trợ các nhóm người yếu thế trong xã hội được tiếp cận và hưởng các quyền đó

Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân.

Cũng như khái niệm quyền con người, khái niệm quyền công dân đã ra đời

từ rất lâu và được sử dụng rộng rãi trong xã hội tư sản Quyền con người gắn vớiquyền công dân và không có sự tách biệt rõ rệt Quyền công dân là một bộ phận củaquyền con người được pháp luật của mỗi quốc gia cụ thể hóa, ghi nhận và bảo vệ.Tuy nhiên, quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm không đồng nhấtvới nhau về mặt chủ thể cũng như nội dung

Về mặt chủ thể

Quyền con người được áp dụng cho mọi cá nhân là thành viên của đại giađình nhân loại, tức là ngoài những người được xác định là công dân của một quốcgia còn bao gồm cả những người không có quốc tịch và người mang quốc tịch nướcngoài Trong khi đó, quyền công dân là những quyền tự nhiên được pháp luật củamột nước ghi nhận và bảo đảm nhưng chủ yếu dành cho những người có quốc tịch

Trang 16

của quốc gia đó8 Như vậy, để một cá nhân được hưởng quyền công dân của mộtquốc gia thì cá nhân đó phải mang quốc tịch của quốc gia đó nhưng nếu một cánhân không mang quốc tịch của quốc gia đó thì vẫn được quốc gia đó tôn trọng vàbảo đảm cho việc thực hiện các quyền con người của họ.

Về mặt nội dung

Quyền con người là một khái niệm rộng lớn, bao hàm quyền công dân nhưngkhông loại trừ, thay thế được quyền công dân Ngược lại, quyền công dân khôngbao quát hết các quyền cá nhân của con người Quyền con người không bị giới hạnbởi mối quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước mà là mối quan hệ giữa cá nhân vớicộng đồng nhân loại, được áp dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người, mọidân tộc trên toàn thế giới Mọi cá nhân trên danh nghĩa đều là chủ thể của cả quyềncon người và quyền công dân (trừ người không có quốc tịch) Cùng với sự pháttriển của các giá trị nhân đạo, quyền con người đang nhận được sự quan tâm củacộng đồng quốc tế, con người trong mối quan hệ biện chứng không chỉ là công dâncủa một quốc gia mà còn là thành viên của cộng đồng nhân loại, việc ghi nhận vàbảo vệ quyền công dân của một quốc gia tức là ghi nhận và bảo vệ các giá trị củaquyền con người được cộng đồng quốc tế ghi nhận

Quyền của người chưa thành niên là một bộ phận của quyền con người nóichung Hiểu rõ được khái niệm, đặc điểm, nội dung của quyền con người sẽ cho tacái nhìn chung nhất, khái quát nhất về quyền con người của người chưa thành niên

sẽ được phân tích rõ ở phần sau của Luận văn

1.2.2 Quyền con người của người chưa thành niên

Cơ sở lý luận cho sự ra đời các quy định về quyền con người của người chưa thành niên phạm pháp

Mặc dù quyền con người đã được ghi nhận như những giá trị cao quý củatoàn nhân loại được bảo vệ bằng một hệ thống các văn kiện từ phạm vi quốc tế tớiphạm vi quốc gia nhưng vẫn tồn tại nhưng quy định dành riêng cho người chưathành niên vì các lí do sau:

Đầu tiên, như đã được phân tích, sự phát triển không đồng đều về thể chất

cũng như tâm lý của người chưa thành niên trong giai đoạn này khiến cho các emrất dễ bị tổn thương bởi những tác động từ bên ngoài xã hội nhiều hơn so với người

đã thành niên Do đó, việc quy định các quyền đặc thù dành cho người chưa thànhniên bên cạnh các quyền con người mà người chưa thành niên đương nhiên được

8 Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Hỏi đáp về quyền con người, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,

tr 43.

Trang 17

hưởng nhẳm bảo vệ người chưa thành niên khỏi những tác động tiêu cực và giúpcác em phát triển lành mạnh.

Quyền con người với tư cách là một quyền tự nhiên và bẩm sinh của mỗi cánhân con người được cộng đồng quốc tế thừa nhận và được cụ thể hóa trong các vănkiện quốc tế cũng như pháp luật của mỗi quốc gia Trong các văn bản pháp lý khi

quy định về quyền con người thường bắt đầu bằng cụm: “mọi người sinh ra đều”,

“không ai bị cưỡng bức”, “không ai có thể tước đoạt” Trong Tuyên ngôn quốc tế

về Nhân quyền quy định tại Điều 1 quy định: “Mọi người sinh ra đều được bình đẳng và tự do về nhân phẩm và quyền Mọi người được phú bẩm về lý trí và lương tâm vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bình đẳng và bác ái”; Điều 3: “Mọi

người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân” Hay Điều 2 Hiến

chương về các quyền cơ bản của Liên minh Châu Âu năm 2000 tuyên bố: “Tất cả

mọi người đều có quyền được sống, không ai có thể bị kết án tử hình hoặc thi hành

án tử hình” Như vậy, mọi người đều có quyền được hưởng các quyền cơ bản của

con người như nhau, không có sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giớitính, ngôn ngữ, tôn giáo Người chưa thành niên bên cạnh là một chủ thể của quyềncon người, một thành viên của xã hội còn là một đối tượng đặc biệt Khoản 2, Điều

25 Tuyên ngôn Nhân quyền 1948 và lời nói đầu Tuyên bố của Liên hợp quốc về

quyền trẻ em 1948 quy định rằng: “Trẻ em do chưa trưởng thành về tinh thần và thể

lực cần có sự bảo vệ và có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ đặc biệt”, Điều

40 Công ước quốc tế về quyền trẻ em yêu cầu các quốc gia thành viên phải thúc đầyviệc thành lập một hệ thống tư pháp dành riêng cho người chưa thành niên

Bên cạnh đó, hơn ai hết, trẻ em là mầm non, là tương lai của đất nước, một

thế hệ trẻ tài năng và nhiệt huyết là dự báo đầy tươi sáng và triển vọng cho tương laimột quốc gia Người chưa thành niên giữ một vị trí đặc biệt trong xã hội, trong thưgửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn:

“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có

bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không

là nhờ một phần lớn ở công lao học tập của các em”

Như vậy, có thể thấy được vai trò của tuổi trẻ đối với tương lai của đất nước,tạo những điều kiện thuận lợi nhất để tuổi trẻ phát triển trí tuệ, nhân cách của mình

là tạo ra nguồn nhân lực của đất nước trong tương lai

Từ những lý do trên, việc quy định những quyền riêng dành cho người chưathành niên bên cạnh quyền con người là hết sức cần thiết, một mặt nó phù hợp vớithông lệ của cộng đồng thế giới, mặt khác nó đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trongtương lai của đất nước Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp việc áp dụng

Trang 18

pháp luật đều được thực hiện một cách nghiêm chỉnh Chính vì vậy, phải có một cơchế nhằm đảm bảo các quyền này được thực hiện trong thực tế.

Cơ sở pháp lý về quyền con người của người chưa thành niên

Trong pháp luật quốc tế.

Trước khi Liên hợp quốc ra đời, trong một thời gian dài không có bất kì mộtmột văn bản pháp lý nào ghi nhận về quyền của người chưa thành niên Đến năm

1924 thuật ngữ “quyền trẻ em” được thừa nhận trong cộng đồng quốc tế khi Hội quốc liên thông qua bản tuyên bố “bảy quyền cơ bản nhất của trẻ em” do bà

EgLantyne Jebb (người sáng lập tổ chức cứu trợ trẻ em ở Anh) soạn thảo Sau khiLiên hợp quốc ra đời hàng loạt các văn kiện quốc tế về quyền con người nói chung

và quyền của người chưa thành niên ra đời và thuật ngữ “quyền của người chưa

thành niên” được thừa nhận.

Đầu tiên, phải kể đến là Tuyên ngôn Nhân quyền được Liên hợp quốc thôngqua năm 1948 quy định các quyền cơ bản của con người Tiếp đó là Tuyên ngôn vềquyền trẻ em được thông qua năm 1959 quy định những nguyên tắc cơ bản khi ápdụng pháp luật đối với trẻ em Công ước quốc tế về quyền trẻ em được các thànhviên Liên Hợp quốc thông qua năm 1989 quy định các quyền cơ bản của trẻ em vàyêu cầu các quốc gia phải tuân theo trong đó Điều 9 Công ước quy định quyền được

sống chung, không tách rời khỏi cha mẹ: “trẻ em không bị tách rời khỏi cha mẹ, trừ

khi điều đó do các nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành vi lợi ích của các em”,

Điều 18 quy định về quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng: “Các quốc gia thành

viên cố gắng cao nhất để đảm bảo việc thừa nhận nguyên tắc cả cha và mẹ đều có trách nhiệm trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em” Bên cạnh đó, Quy tắc tiêu

chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật đối với người chưa thànhniên (Quy tắc Bắc Kinh) được thông qua năm 1985 nhấn mạnh việc xây dựng hệthống các quy định pháp luật đối với người chưa thành niên, Quy tắc tối thiểu phổbiến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thôngqua năm 1991 đưa ra các nguyên tắc hướng dẫn về điều kiện và việc đối xử đối vớingười chưa thành niên bị tước quyền tự do

Trong pháp luật Việt Nam.

Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta đối với người chưa thành niên được thểhiện rất rõ ràng trong nhiều văn kiện của Đảng và một hệ thống pháp luật đầy đủ vàhoàn chỉnh Đầu tiên phải kể đến là Hiến pháp, Hiến pháp năm 2013 tại Điều 39

quy định: “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập”, Điều 37 quy định: “Trẻ em

được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm

Trang 19

dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” Trên cơ

sở đường lối của Đảng và quy định của Hiến pháp, Nhà nước đã cụ thể hóa bằngmột loạt các quy định trong các văn bản như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, LuậtQuốc tịch, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật xử lý vi phạm hànhchính

Tiêu biểu phải kể đến đầu tiên là Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em chỉquy định những vấn đề liên quan đến trẻ em trong đó có cả người chưa thành niêngồm quy định chung, quy định về quyền và nghĩa vụ của trẻ em cũng như những đối

tượng liên quan nhằm đảm bảo cho trẻ em những điều tốt nhất: “các quyền trẻ em

phải được tôn trọng và thực hiện”, “gia đình, nhà nước, xã hội có trách nhiệm bảo

vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em” Những quyền cơ bản củacon người và những quyền đặc trưng chỉ trẻ em mới có được quy định rất cụ thểtrong Luật này bao gồm các quyền: quyền được khai sinh và có quốc tich, quyềnđược chăm sóc, nuôi dưỡng và sống chung với cha mẹ, quyền được học tập, vuichơi, giải trí, quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh

dự, quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội

Tiếp đến các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành khác như Bộ luật Hình sự năm

1999 dành hẳn một chương riêng để quy định trách nhiệm pháp lý đối với người

chưa thành niên Khoản 2, Điều 69 Bộ luật Hình sự quy định: “việc truy cứu trách

nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với

họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm”.

Điều 20 Bộ luật Dân sự quy định năng lực hành vi dân sự của người chưa thành

niên: “Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải

có người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác Trong trường hợp người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì

có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Bộ

luật Lao động dành Chương XI quy định riêng đối với lao động chưa thành niên,trong đó quy định về chế độ nghỉ hằng năm đối với người chưa thành niên hoặc việc

sử dụng lao động phải lập sổ theo dõi riêng Quy định về thời gian làm việc củangười chưa thành niên không được quá 7 giờ một ngày hoặc 48 giờ một tuần nhằmđảm bảo quyền được nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, tránh tình trạng người chưa thànhniên bị lạm dụng sức lao động

Trang 20

Luật XLVPHC năm 2012 đã dành hẳn Phần thứ năm để quy định về xử lý viphạm hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm gồm các quy định chung

và các biện pháp thay thế các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với ngườichưa thành niên vi phạm Đây là điểm tiến bộ của Luật XLVPHC so với Pháp lệnh

Xử lý vi phạm hành chính trước đây

Như vậy, quyền con người của người chưa thành niên là một bộ phận củaquyền con người được nhà nước đảm bảo thực hiện Có thể nói, trong giai đoạnhiện nay, với những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước thì Nhà nước ta đã

có những điều kiện kiện tốt nhất cho việc quan tâm tới các em ngay cả khi các em

vi phạm pháp luật Chính sách của Nhà nước ta đối với người chưa thành niên đượcthể hiện trong tất cả các lĩnh vực nhằm giúp cho các em có được những điều kiệntốt nhất để phát triển toàn diện, bù đắp những khiếm khuyết về mặt thể chất và tinhthần của các em trong giai đoạn này

1.3 Lịch sử phát triển của Luật XLVPHC và vấn đề quyền con người của người chưa thành niên

1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển các quy định về quyền con người của người chưa thành niên trong pháp Luật XLVPHC Việt Nam

Những quy định đầu tiên về xử lý vi phạm hành chính ra đời từ những năm

1945, trải qua hơn 60 năm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đã và đang hoànthiện từng bước về nội dung cũng như pháp lý Trong giai đoạn này, vi phạm hành

chính được gọi là “vi cảnh” do Tòa sơ thẩm đệ nhị xét xử (gọi là xét xử vi cảnh) và

cơ quan hành chính xử phạt (gọi là phạt vi cảnh) Tuy nhiên, những quy định về xử

lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên chỉ ra đời khi Hội đồng Chínhphủ ban hành Nghị định 143/CP kèm theo Điều lệ Xử phạt vi cảnh vào năm 1977

Trong đó Điều 6 quy định: “Đối với người dưới 14 tuổi thì giáo dục rồi báo cho

cha mẹ hay người có trách nhiệm nuôi dạy biết, yêu cầu họ phải thi hành trách nhiệm quản lý, giáo dục con em Đối với người tử đủ 14 tuổi đến 16 tuổi thì nặng nhất là phạt tiền, đối với người từ đủ 16 tuổi đến 17 tuổi không có tài sản riêng, cha mẹ hay người có trách nhiệm nuôi dưỡng phải nép thay”.

Như vậy, đối tượng bị phạt vi cảnh theo Điều lệ là người từ đủ 14 tuổi trở lên

cụ thể là: người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạttiền, người từ đủ 16 tuổi đến 17 tuổi thì có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, lao độngcông ích, phạt giam Trường hợp nếu bị phạt tiền mà không có tài sản riêng thì cha

mẹ hoặc người nuôi dưỡng phải nộp thay Tuy nhiên, Điều lệ xử phạt vi cảnh chỉquy định về vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giữ gìntrật tự và an toàn xã hội nên phạm vi điều chỉnh của nó khá hẹp, không bao quát,

Trang 21

không quy định cụ thể hết được tất cả các vấn đề đối với việc xử phạt vi phạm hànhchính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên nóiriêng.

Ngày 30/11/1989 Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh Xử phạt vi phạmhành chính (chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/1990) đã đưa pháp luật về viphạm hành chính lên một tầm cao mới, đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong quátrình xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về vi phạm hành chính Lầnđầu tiên trong lịch sử, các quy định về xử phạt vi phạm hành chính cũng như cácnguyên tắc cơ bản trong xử phạt vi phạm hành chính được thể hiện tập trung trongmột văn bản Bên cạnh đó, những quy định về xử lý vi phạm hành chính đối vớingười chưa thành niên trong Điều lệ phạt vi cảnh tiếp tục được áp dụng và có những

thay đổi cho phù hợp với tình hình hiện tại Quy định tại Điều 29: “Người từ đủ 16

tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hành chính do mình gây ra Người từ

đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị phạt đối với những vi phạm hành chính thực hiện

do cố ý; hình thức và mức phạt đối với họ là cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 10.000 đồng Đối với người dưới 14 tuổi thì không xử phạt mà áp dụng biện pháp giáo dục Trong trường hợp người chưa thành niên không có tiền nép phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải nép phạt thay Quyết định xử phạt với người chưa thành niên khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm” Như vậy, cũng giống

như Điều lệ xử phạt vi cảnh, độ tuổi tối thiểu bị xử phạt vi phạm hành chính là từ đủ

14 tuổi Tuy nhiên, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị xử lý đối với những

vi phạm do cố ý thực hiện

Năm 1995, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung lầnđầu tiên sau hơn năm năm thực hiện để phù hợp với những thay đổi của tình hình xãhội và điều kiện kinh tế Pháp lệnh mới được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông quangày 06/7/1995 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/8/1995 Điểm mới của Pháplệnh sau khi được sửa đổi là ngoài việc quy định về các biện pháp xử phạt còn quyđịnh việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác Bên cạnh Pháp lệnh trêncòn có hàng loạt các nghị định, thông tư của Chính phủ quy định chi tiết Trong đó,

có 45 nghị định quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản

lý nhà nước, 5 nghị định quy định chi tiết trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp xử

lý hành chính khác Tuy nhiên, số lượng các quy định cụ thể về xử lý vi phạm hànhchính đối với người chưa thành niên không nhiều trong đó có Điều 6 quy định riêng

về xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính với mức phạt tiền áp dụng đốivới người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16 là 50.000 đồng cao hơn so với Pháplệnh năm 1989 là 10.000 đồng, mức phạt tiền áp dụng đối với người chưa thành

Trang 22

niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là thấp hơn so với người đã thành niên nhưngkhông quy định cụ thể là thấp hơn bao nhiều Điều 5 Pháp lệnh quy định về đốitượng bị xử lý vi phạm hành chính kế thừa quy định trong Pháp lệnh năm 1989:

“Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hành chính về vi phạm

hành chính do cố ý, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra” Ngoài ra, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành

chính năm 1995 còn quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa

thành niên vi phạm hành chính: “Người chưa thành niên khi vi phạm hành chính

gây thiệt hại vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” Việc quy

định biện pháp xử lý vi phạm khác bên cạnh các biện pháp xử phạt chính đã gópphần quan trọng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm đặcbiệt là tội phạm do người chưa thành niên gây ra Theo đó, có năm biện pháp xử lýkhác gồm đưa vào cơ sở chữa bệnh; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáodục; giáo dục tại xã, phường, thị trấn; quản chế hành chính Tuy nhiên, chỉ có haibiện pháp được áp dụng đối với người chưa thành niên là giáo dục tại xã, phường,thị trấn và đưa vào cơ sở giáo dục

Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 đã mang lại những đóng góptích cực cho quá trình hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật xử lý vi phạmhành chính Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tế các quy định này đã bộc lộ nhữngvướng mắc, thiếu sót Nhận thấy điều đó, năm 2002 Ủy ban thường vụ Quốc hộitiếp tục sửa đổi, bổ sung và Pháp lệnh mới chính thức có hiệu lực vào ngày01/10/2002 nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi ápdụng Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 đồng thời phát huy hiệu quảcủa hoạt động xử lý vi phạm hành chính Những quy định về xử lý vi phạm hànhchính áp dụng đối với người chưa thành niên cũng có nhiều điểm mới

Đầu tiên, phải kể đến đó là việc bỏ áp dụng hình thức phạt tiền đối với ngườichưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16 với đối tượng này chỉ bị cảnh cáo và quy định

cụ thể mức tiền phạt đối với người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 là bằng 1/2mức tiền phạt đối với người thành niên chứ không quy định chung chung như tạiKhoản 2 Điều 6 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995

Tiếp đến, số lượng các biện pháp xử lý hành chính khác vẫn tiếp tục kế thừaPháp lệnh năm 1995 Tuy nhiên, các biện pháp được áp dụng đối với người chưathành niên đã tăng lên ba bao gồm giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào cơ sởgiáo dục và đưa vào cơ sở chữa bệnh thay vì hai biện pháp như trong Pháp lệnh năm

1995 Biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn được quy định cụ thể tại Điều 23:

“Người nhiều lần có hành vi vi phạm phạm pháp luật chưa đến mức đưa vào

Trang 23

trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh; người nghiện ma túy, mại dâm nhưng chưa đến mức đưa vào cơ sở chữa bệnh thì áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn” Như vậy, đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã

được quy định cụ thể gồm bốn nhóm đối tượng nêu trên chứ không quy định chungchung như tại Điều 21 Pháp lệnh năm 1995

Năm 2008 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 được sửa đổi, bổsung Pháp lệnh sau khi sửa đổi, bổ sung tiếp tục kế thừa những quy định của phápLuật XLVPHC trước đó Các quy định áp dụng đối với người chưa thành niênkhông có nhiều thay đổi ngoài việc sửa đổi quy định tại Điều 113 về xử lý trườnghợp một người vừa thuộc đối tượng vào cơ sở giáo dục, vừa thuộc đối tượng đưavào cơ sở chữa bệnh hoặc vừa thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng vừathuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh

Như vậy, cho đến trước khi Luật XLVPHC ra đời, văn bản có giá trị pháp lýcao nhất khi điều chỉnh về các vấn đề liên quan đến xử lý vi phạm hành chính làPháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính Sự tồn tại của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hànhchính cùng với các hệ thống các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành nghị định

đã tạo nên hệ thống cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc, điều chỉnh kịp thời các vấn đềkhác nhau nảy sinh trong xã hội, góp phần quan trọng vào công tác phòng ngừa, đấutranh có hiệu quả đối với các vi phạm hành chính, bảo đảm trật tự và nâng cao hiệuquả của công tác quản lý nhà nước, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuấtkinh doanh, giữ vững trật tự an toàn xã hội ở nước ta trong thời gian qua9 Tuynhiên, qua hơn mười năm thực hiện, sự vận động, phát triển của các mối quan hệ xãhội, các quan hệ kinh tế, hệ thống các quy định pháp luật về xử lý vi phạm hànhchính đã dần bộc lộ những thiếu sót, làm giảm đi hiệu quả của công tác đấu tranhphòng, chống vi phạm hành chính, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của côngdân không được bảo đảm Bên cạnh Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính, cácluật chuyên nghành khác như Luật Chứng khoán năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm

2012, Luật Thương mại năm 2005 đã trực tiếp quy định về các vấn đề liên quan đếnvấn đề xử phạt vi phạm hành chính dẫn đến tình trạng chồng chéo, thiếu sự thốngnhất trong việc áp dụng pháp luật Hơn nữa, các quy định trong quá trình xử lý viphạm hành chính ảnh hưởng trực tiếp đến các vấn đề quyền con người, quyền côngdân nhưng chỉ được thể hiện dưới hình thức pháp lệnh là trái với Điều 14 Hiến pháp

năm 2013: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người,

9 Vũ Văn Nhiêm (2013), “Một số nội dung mới của Luật XLVPHCvới việc bảo đảm quyền con người, quyền

công dân”, kỷ yếu Hội thảo Khoa học “Pháp Luật XLVPHCvới việc bảo đảm quyền con người, quyền công

dân” do Khoa Luật Hành chính - Nhà nước trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 28

tháng 9 năm 2013 tại Thành phố Hồ Chí Minh, tr 9.

Trang 24

quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ bằng Hiến pháp và pháp luật” Để khắc phục các hạn chế trên, ngày

20/6/2012 Quốc hội khóa 13 đã thông qua Luật XLVPHC và chính thức có hiệu lựcngày 01/7/2013 Nghị quyết số 24/2012/QH13 về việc thi hành Luật XLVPHC củaQuốc hội được ban hành để quy định chi tiết về thi hành Luật Xử lý vi phạm hànhchính Tiếp đó, ngày 05/10/2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số1437/QĐ- TTg về kế hoạch triển khai thực hiện Luật XLVPHC và danh mục cácNghị định các Bộ dự thảo trình Chính phủ ban hành để thực hiện Luật Xử lý viphạm hành chính

Các quy định về xử lý vi phạm hành chính áp dụng đối với người chưa thànhniên trong Luật XLVPHC tiếp tục kế thừa các quy định trước đó và có những thayđổi phù hợp, khẳng định bước phát triển mới trong tiến trình bảo vệ các quyền cơbản của con người nói chung và của người chưa thành niên nói riêng Trong thực tế,những hành vi vi phạm pháp luật hành chính mà người chưa thành niên thực hiệnnếu không được phát hiện và xử lý kịp thời sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triểnnhân cách và ý thức pháp luật ở người chưa thành niên10 Chính vì vậy, các quy định

về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên chủ yếu mang tínhphòng ngừa, giáo dục mà không chú trọng đến tính trừng trị Luật XLVPHC dànhhẳn phần thứ năm từ Điều 133 đến Điều 140 quy định riêng về xử lý vi phạm hànhchính đối với người chưa thành niên bên cạnh các quy định áp dụng chung như đốivới người thành niên trước đó Điều 134 quy định riêng về năm nguyên tắc xử lýđối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật hành chính Điều 5 quy định về

đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử

phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên

bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm do cố ý” Điều 22 quy định người từ

đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính chỉ bị phạt cảnh cáo, hình thức phạttiền áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi quy định tạiKhoản 3, Điều 134 không được quá ½ mức phạt tiền áp dụng đối với người thànhniên Các biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người chưa thành niên kếthừa Pháp lệnh năm 1995 gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biệnpháp đưa vào trường giáo dưỡng Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh không cònđược áp dụng cho người chưa thành niên và đã bị loại bỏ khỏi các biện pháp xử lýhành chính áp dụng đối với người thành niên, được thay bằng biện pháp đưa vào cơ

10 Phạm Thị Phương Thảo (2013), “Xử lý vi phạm hành chính với việc bảo đảm quyền con người của người

chưa thành niên”, kỷ yếu Hội thảo “Pháp Luật XLVPHCvới việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân”

do Khoa Luật Hành chính - Nhà nước, trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh ngày 28 tháng 9 năm 2013 tại Thành phố Hồ Chí Minh, tr 166.

Trang 25

sở cai nghiện quy định tại Điều 95 Bên cạnh đó, quyền của người chưa thành niêntrong Luật XLVPHC còn được đảm bảo thông qua việc quy định trách nhiệm củacác chủ thể trong việc tạo điều kiện, giúp đỡ người chưa thành niên nhận ra đượcsai trái, lỗi lầm của mình từ đó hành động theo khuôn khổ pháp luật quy định Đặcbiệt, điểm mới nổi bật của Luật XLVPHC đối với người chưa thành niên vi phạmhành chính là việc quy định các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đốivới người chưa thành niên khi đáp ứng các điều kiện Luật quy đinh tại Điều 138gồm nhắc nhở và quản lý tại gia.

Như vậy, sau một quá trình dài hoàn thiện và từng bước chuyển mình phápluật về xử lý vi phạm hành chính đã có những đóng góp quan trọng trong việc đảmbảo quyền con người nói chung và người chưa thành niên nói riêng Đáp ứng yêucầu thể chế hóa kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng về xây dựng Nhànước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, bảm đảm quyền con người, quyền tự

do, dân chủ của công dân

1.3.2 Vai trò của Luật XLVPHC trong việc bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên

Người chưa thành niên chưa có sự phát triển đầy đủ về thể chất cũng nhưtâm lý, thêm vào đó kinh nghiệm sống cũng như khả năng nhận thức của họ còn hạnchế nên việc vi phạm pháp luật và việc bị áp dụng các chế tài mà luật đã quy định làkhó tránh khỏi Việc xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên ítnhiều tác động đến các quyền con người cơ bản của người chưa thành niên nhưquyền tự do đi lại, tự do cư trú, quyền về tài sản Những quy định của LuậtXLVPHC về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm gópphần phát hiện kịp thời các vi phạm hành chính do người chưa thành niên gây ra từ

đó có các biện pháp xử lý phù hợp giúp cho người chưa thành niên nhận ra nhữngsai trái của mình, giúp hoàn thiện nhân cách của các em, định hướng hành động củacác em được đúng đắn hơn góp phần làm giảm tỷ lệ tội phạm ở lứa tuổi chưa thànhniên Thông qua các quy định Luật XLVPHC còn bảo vệ quyền con người củangười chưa thành niên khi họ vi phạm hành chính như các nguyên tắc xử lý được ápdụng riêng đối với người chưa thành niên, các biện pháp xử phạt không áp dụng đốivới người chưa thành niên vi phạm, các biện pháp thay thế các biện pháp xử lý viphạm hành chính hay về thời hạn được xem là chưa bị xử lý vi phạm hành chínhđều khác biệt so với người thành niên

Với tầm quan trọng như vậy, Luật XLVPHC có ý nghĩa lớn trong việc bảođảm quyền con người của người chưa thành niên thể hiện ở:

Trang 26

Thứ nhất, Luật XLVPHC cụ thể hóa, chi tiết hóa các quy định của pháp luật

quốc tế, Hiến pháp về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như Tuyên ngônnhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về quyền con người hay trong Hiến pháp

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 như: “Mọi người có quyền

bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo vệ danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”, “trẻ em được Nhà nước, gia đình và

xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”, các quy định về nghĩa vụ như: “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng”, “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”.

Thứ hai, tránh sự lạm quyền của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khi

thực thi công vụ Quan hệ pháp luật hành chính mang bản chất bất bình đẳng khimột bên đại diện cho Nhà nước mang trong mình quyền lực và một hệ thống các cơquan quyền lực từ trung ương tới địa phương với một bên là công dân Càng dễdàng hơn khi người bị áp dụng pháp luật đó lại là những người chưa thành niên vớikhả năng nhận thức và tự bảo vệ mình rất hạn chế Chính vì vậy, việc quy định cụthể các nguyên tắc xử lý, các hình thức xử phạt cũng như các vấn đề liên quan đếnviệc xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên để ràng buộc các chủthể có thẩm quyền phải tuân theo pháp luật khi xử lý người chưa thành niên viphạm Khi chủ thể có thẩm quyền không tuân thủ đúng pháp luật thì Luật XLVPHClúc này là cơ sở pháp lý để người bị xâm phạm thực hiện việc khiếu nại, tố cáo vàyêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý

Thứ ba, khi quy định các chế tài hành chính áp dụng đối với người chưa

thành niên vi phạm hành chính như các biện pháp xử phạt chính, các biện pháp xửphạt bổ sung, các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp xử lý vi phạm hànhchính áp dụng đối với người chưa thành niên vi phạm Luật XLVPHC đã giúp ngườichưa thành niên vi phạm pháp luật có nhận thức đúng đắn hơn về hành vi của mình

từ đó điều chỉnh suy nghĩ, hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật,nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của các em

Trang 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Như vậy, người chưa thành niên xuất phát từ đặc điểm tâm, sinh lý đặc trưngnhư sự phát triển chưa hoàn thiện về thể chất, nhận thức về các vấn đề xã hội cũngnhư pháp luật còn yếu kém, kinh nghiệm sống còn ít ỏi nên dễ thực hiện các hành vi

đi ngược với các chuẩn mực đạo đức trong xã hội và bị pháp luật nghiêm cấm Tuynhiên, hành vi của các em thường mang tính chất bộc phát cũng như tâm lý thíchkhám phá của lứa tuổi mới lớn, không do bản chất xấu cố hữu sẵn có trong conngười nên việc giáo dục, cải tạo các em là hoàn toàn có thể Chính vì vậy, pháp luậtkhi áp dụng đối với lứa tuổi này cũng rất quan trọng, làm sao thể hiện được tínhchất nghiêm khắc của pháp luật nhưng đồng thời phải đảm bảo được mục đích giáodục các em là hết sức cần thiết Luật XLVPHC ra đời thay thế Pháp lệnh Xử lý viphạm hành chính thể hiện một bước tiến mới trong hệ thống pháp Luật XLVPHCnước ta đưa các quy định xử lý vi phạm hành chính từ tầm pháp lệnh lên tầm luật,được ban hành bởi cơ quan cao nhất đại diện cho nhân dân, do nhân dân bầu ra đãthực hiện tốt việc bảo đảm những quyền lợi cơ bản cho con người nói chung và chongười chưa thành niên nói riêng thông qua một hệ thống các nguyên tắc, biện pháp

xử phạt, biện pháp xử lý vi phạm hành chính áp dụng đối với người chưa thành niên

vi phạm, các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành

niên, những quy định này sẽ được phân tích trong Chương 2 của Luận văn

Trang 28

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT XLVPHC VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC TRẠNG

VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

2.1 Thực trạng các quy định của Luật XLVPHC với việc bảo đảm

quyền con người của người chưa thành niên

2.1.1 Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm

Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm là những tư tưởngchỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật đối với người chưathành niên Việc quy định các nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính nói chung vàđối với người chưa thành niên phần nào thể hiện quan điểm, đường lối và chínhsách của Nhà nước ta trong công cuộc đấu tranh, phòng và chống tội phạm Nguyêntắc xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm trong Luật XLVPHC gồm cácnguyên tắc chung được quy định tại Điều 3 và các nguyên tắc xử lý riêng đối vớingười chưa thành niên được quy định tại Điều 134

Nguyên tắc chung

Phạm vi điều chỉnh của Luật XLVPHC như được quy định tại Điều 1 là:

“Luật này quy định về xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý vi phạm

hành chính” nên các nguyên tắc xử lý chung được quy định Điều 3 gồm nguyên tắc

xử phạt vi phạm hành chính tại Khoản 1và nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý

vi phạm hành chính tại Khoản 2 Có thể khái quát thành các nguyên tắc sau:

Nguyên tắc thứ nhất : Việc xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện

pháp xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, khách quan, côngkhai, đúng thẩm quyền, đảm bảo công bằng, đúng quy định pháp luật11 Nội dungnguyên tắc này được hiểu như sau:

Thứ nhất, hiệu quả của việc áp dụng pháp luật phụ thuộc nhiều vào việc đảm

bảo tính nhanh chóng và chính xác vì ở mỗi giai đoạn khác nhau tùy thuộc vào tìnhhình kinh tế, sự biến chuyển của các mối quan hệ xã hội và chính sách của Nhànước mà tính nguy hiểm của cùng một hành vi có thể được xem xét ở các mức độkhác nhau Hành vi vi phạm pháp luật hành chính của một cá nhân, tổ chức phảiđược phát hiện kịp thời và xử lý theo quy định của pháp luật Có như vậy, mới đảmbảo được tính răn đe và mục đích cải tạo, giáo dục của pháp luật Một hành vi viphạm pháp luật sau khi thực hiên bị phát hiện và xử lý ngay sẽ giúp người vi phạmthấy được tính nguy hiểm của hành vi mình gây ra nhiều hơn là sau một thời giandài mới bị xử lý Hơn nữa, việc xử lý nhanh chóng, kịp thời hành vi vi phạm phápluật hành chính còn nhằm đảm bảo tính thời hiệu của hoạt động xử lý vi phạm hành

11 Điểm b, Khoản 1, Điều 3 Luật XLVPHCnăm 2012.

Trang 29

chính Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Điều 6 cụ thể là mộtnăm đối với xử phạt vi phạm hành chính trừ các trường hợp như: vi phạm về kếtoán, thủ tục thuế, phí, sở hữu trí tuệ, xây dựng, đối với áp dụng các biện pháp xử lýhành chính là một năm đối với các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưavào cơ sở giáo dục bắt buộc; đưa vào trường giáo dưỡng và ba tháng đối với biệnpháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Hết thời hạn luật định, hành vi vi phạmkhông còn bị áp dụng các biện pháp xử phạt hay xử lý hành chính nữa.

Thứ hai, trong quá trình xử phạt và áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm

hành chính phải đảm bảo tính khách quan, công bằng, đúng thẩm quyền, đúng quyđịnh pháp luật Quan hệ hành chính mang tính chất bất bình đẳng giữa một bên là cánhân, cơ quan có thẩm quyền đại diện cho quyền lực nhà nước và một bên là côngdân nên việc bị xâm phạm các quyền cơ bản là điều rất có thể Chính vì vậy, phápluật yêu cầu quá trình xử phạt và áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chínhphải được tiến hành công khai, khách quan, phải đảm bảo công bằng và phải đượctiến hành theo một trình tự luật định bởi những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền.Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng quyền hạn, chức vụ để sách nhiễu, nhậntiền của người vi phạm, dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm khi

xử phạt hoặc áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Khoản 2, Điều 3,hành vi áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng,không đầy đủ tại Khoản 6 hay xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp xử lý

vi phạm hành chính không kịp thời, không nghiêm minh tại Khoản 5, Điều 12.Ngoài ra, để đảm bảo nguyên tắc này được thực hiện trên thực tế, Luật còn quy địnhsẵn quyền khiếu nai, tố cáo cho cá nhân trong quá trình xử phạt hoặc áp dụng biệnpháp xử lý vi phạm hành chính tại Điều 15

Nguyên tắc thứ hai : Việc xử phạt vi phạm hành chính hay quyết định áp

dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ,hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng12 Luậtbên cạnh quy định các biện pháp xử phạt và biện pháp xử lý áp dụng chung cho tất

cả các đối tượng còn quy định các tình tiết tăng năng, tình tiết giảm nhẹ, nhữngtrường hợp không xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp áp dụng riêng chomột số đối tượng nhằm phân hóa trách nhiệm hành chính Việc xử lý vi phạm hànhchính như được phân tích ở trên phải đảm bảo nguyên tắc bình đằng Tuy nhiên,bình đẳng ở đây không có nghĩa là cào bằng đối với mọi cá nhân thực hiện hành vi

vi phạm Có thể cùng một hành vi vi phạm pháp luật nhưng nguyên nhân, lý do củamỗi người khi thực hiện là khác nhau Chính vì vậy, khi xem xét áp dụng cần phải

12 Điểm c, Khoản 2, Điều 3 Luật XLVPHC năm 2012.

Trang 30

căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi để có những biện pháp xử lýphù hợp, tránh xử lý oan người vô tội hay bỏ lọt người vi phạm Việc xử lý vi phạmhành chính đối với người chưa thành niên cũng vậy, không thể áp dụng các biệnpháp giống như người thành niên đối với cùng hành vi phạm tội của họ cũng nhưphải xem xét tới nhân thân, mục đích, nguyên nhân thực hiện hành vi phạm tội củacác em để có những biện pháp xử lý, giáo dục đối với các em cho phù hợp Việc ápdụng các biện pháp không phù hợp có thể làm cho mục đích giáo dục của pháp luâtkhông đạt được, khiến các em có những suy nghĩ sai lầm, lệch lạc hơn trước.

Nguyên tắc thứ ba : Việc xử phạt vi phạm hành chính hay áp dụng các biện

pháp xử lý hành chính chỉ được thực hiện khi rơi vào các trường hợp do luật quyđịnh Cụ thể hơn, đối với việc xử phạt vi phạm hành chính chỉ khi có vi phạm hànhchính do luật quy định và biện pháp xử lý hành chính chỉ áp dụng đối với cá nhânthuộc các đối tượng quy định tại Điều 90, 92, 94, 96 Nguyên tắc này xuất phát từnguyên tắc pháp chế, theo đó, một người chỉ bị xem là có tội khi luật có quy định.Việc một người thực hiện hành vi có thể xem là trái với đạo đức, bị xã hội lên ánnhưng nếu pháp luật quốc gia đó không quy định hành vi đó là vi phạm pháp luậtthì họ sẽ không phải chịu bất kì một chế tài nào trong đó có chế tài hành chính

Nguyên tắc thứ tư : Người có thẩm quyền có trách nhiệm chứng minh vi

phạm hành chính Cá nhân, tổ chức bị xử phạt hành chính hay cá nhân bị áp dụngbiện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợppháp chứng minh mình không vi phạm hành chính13 Đây là nguyên tắc cực kì quantrọng nhưng là lần đầu tiên được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính.Nguyên tắc thể hiện quan điểm, tư tưởng tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta trongviệc bảo đảm quyền con người, quyền công dân Theo đó, tất cả các hoạt động quản

lý nhà nước đều phải lấy con người làm trọng tâm, phải bảo vệ các quyền cơ bảncủa công dân vì bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nướccủa dân, do dân và vì dân Có thể hiểu một cách khái quát nguyên tắc là khi pháthiện có hành vi vi phạm cơ quan, cá nhân có thẩm quyền phải có nghĩa vụ chứngminh nếu người có thẩm quyền không chứng minh đượcvi phạm thì không được ápdụng các biện pháp xử phạt hay các biện pháp xử lý vi phạm hành chính Ngược lại,người vi phạm có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứngminh mình không vi phạm hành chính

Nguyên tắc xử lý đặc thù đối với người chưa thành niên phạm tội.

Xuất phát từ đặc điểm tâm lý và yêu cầu của công tác đấu trành phòng vàchống tội phạm của người chưa thành niên, Luật XLVPHC quy định những nguyên

13 Điểm đ, Khoản 1, Điều 3 Luật XLVPHC năm 2012.

Trang 31

tắc xử lý vi phạm hành chính đặc thù áp dụng đối với người chưa thành niên viphạm bên cạnh các nguyên tắc được áp dụng chung như đối với người thành niên viphạm Điều 134 quy định năm nguyên tắc xử lý dành riêng cho người chưa thànhniên vi phạm.

Nguyên tắc thứ nhất: Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính

chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

Trong quá trình xem xét xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, người có thẩm quyền phải đảm bảo lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng chỉ được áp dụng khi xét thấy không có biện pháp

xử lý khác phù hợp hơn14.

Đây là nguyên tắc xử lý chung cho người chưa thành niên phạm tội, thể hiệnmục đích, quan điểm của Nhà nước ta trong việc xử lý vi phạm hành chính đối vớingười chưa thành niên vi phạm là để giáo dục, giúp các em sữa chữa sai lầm, pháttriển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội chứ không đề cập trực tiếpđến mục đích trừng trị Nguyên tắc này xuất phát từ cơ sở lý luận về đặc điểm tâm,sinh lý của người chưa thành niên do các em là người chưa phát triển đầy đủ về thểchất, tâm lý cũng như nhận thức và kinh nghiệm sống còn hạn chế Tuy nhiên,người chưa thành niên lại có tính thích nghi cao, dễ thay đổi, thêm vào đó là ý thứcphạm tội chưa sâu sắc nên khả năng cải tạo, giáo dục, giúp đỡ họ trở thành nhữngcông dân lành mạnh là hoàn toàn có thể Ngoài ra, nguyên nhân và điều kiện dẫnđến hành vi vi phạm của người chưa thành niên phần lớn do môi trường sống trong

đó có một phần lớn trách nhiệm của gia đình và xã hội Vì vậy, việc quyết định cácbiện pháp xử phạt hay áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối vớingười chưa thành niên vi phạm nhằm giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọngcác quy tắc của cuộc sống cũng như giúp đỡ các em nhận ra sai lầm từ đó sữa chữasai lầm của mình là chủ yếu

Khi xử lý vi phạm hành chính việc bảo đảm các lợi ích của người chưa thànhniên phải được đưa lên hàng đầu Mặc dù, các em là những người có hành vi viphạm pháp luật nhưng mục đích khi xử lý người chưa thành niên như đã nói trên lànhằm giáo dục và giúp đỡ các em nhận ra sai lầm nên khi áp dụng các biện pháp xửphạt hay các biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên cũng phải đảm bảonhững quyền cơ bản mà các em đương nhiên được hưởng Biện pháp đưa vàotrường giáo dưỡng xuất phát từ tính chất nghiêm khắc của nó tước đi quyền tự docủa người vi phạm buộc các em phải sinh hoạt văn hóa, học nghề, lao động dưới sự

14 Khoản 1, Điều 134 Luật XLVPHC năm 2012.

Trang 32

quản lý, giáo dục của nhà trường nên chỉ được áp dụng đối với các đối tượng quyđịnh tại Điều 92 và phải là sự lựa chọn cuối cùng khi xét thấy không còn biện pháp

xử lý nào phù hợp nữa

Nguyên tắc thứ hai: Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính

còn căn cứ vào khả năng nhận thức của người chưa thành niên về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, nguyên nhân và hoàn cảnh vi phạm để quyết định việc xử phạt hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính phù hợp15.

Do chưa phát triển đầy đủ về các mặt nên không phải trong mọi trường hợpkhi thực hiện hành vi vi phạm người chưa thành niên có thể thấy hết tính nguy hiểmcho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, cũng như hậu quả sẽ phải gánh chịu Mặtkhác, sự hình thành, phát triển nhân cách và các đặc điểm nhân thân khác của ngườichưa thành niên chịu ảnh hưởng lớn từ sự giáo dục của gia đình, nhà trường và môitrường sống xung quanh Chính vì vậy, khi quyết định các biện pháp xử phạt hay ápdụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính cơ quan có thẩm quyền vừa phải căn

cứ vào khả năng nhận thức của người chưa thành niên vi phạm vừa phải xét đếnnguyên nhân, hoàn cảnh dẫn đến hành vi vi phạm đó Có như vậy, việc áp dụngbiện pháp xử phạt hay xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên mớiphát huy hết mục đích giáo dục, đồng thời giúp người chưa thành niên nhận thứcmột cách đầy đủ và sâu sắc về hành vi của mình từ đó sữa chữa sai lầm và trở thànhngười có ích cho xã hội

Nguyên tắc thứ ba: Việc áp dụng hình thức xử phạt, quyết định mức xử phạt

đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính phải nhẹ hơn so với người thành niên có cùng hành vi vi phạm hành chính

Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì không áp dụng hình thức phạt tiền.

Trường hợp người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì mức phạt tiền không quá ½ mức phạt tiền áp dụng đối với người thành niên; trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay16.

Nguyên tắc này thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta trong việc xử lý đốivới người chưa thành niên vi phạm hành chính.Việc áp dụng biện pháp xử phạt hay

xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm phải nhẹ hơnngười thành niên Nếu người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị ápdụng hình thức phạt tiền thì số tiền mà các em phải nộp chỉ bằng ½ số tiền mà

15 Khoản 2, Điều 134 Luật XLVPHC năm 2012.

16 Khoản 3, Điều 134 Luật XLVPHC năm 2012.

Trang 33

người thành niên phải nộp nếu thực hiện cùng một hành vi Bên cạnh đó, xuất phát

từ mục đích của hình thức phạt tiền là nhằm tác động đến lợi ích kinh tế của người

vi phạm từ đó giúp họ khắc phục, sữa chữa sai lầm của mình Trong khi đó, ngườichưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16 do còn sống phụ thuộc vào gia đình, phần lớncác em chưa tự chủ về kinh tế, chưa có tài sản riêng nên nếu áp dụng hình thức phạttiền đối với các em sẽ không đạt được mục đích và không đảm bảo tính khả thi củapháp luật trên thực tế

Nguyên tắc thứ tư: Trong quá trình xử lý người chưa thành niên vi phạm

hành chính, bí mật riêng tư của người chưa thành niên phải được tôn trọng và bảo

vệ 17

Quyền được bảo vệ bí mật riêng tư là một trong những quyền dân sự cơ bảncủa con người được cộng đồng quốc tế và pháp luật Việt Nam thừa nhận.Việc quyđịnh nguyên tắc này trong Luật XLVPHC thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhànước ta đối với việc bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ bí mật đời tư củacon người nói riêng Bí mật đời tư của người chưa thành niên có thể là bí mật về thưtín, điện thoại, điện tín, chỗ ở, đời sống cá nhân của người chưa thành niên Nguyêntắc này trong Luật XLVPHC được biểu hiện như sau:

Thứ nhất, trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời hoặc để bảo đảm việc xử

lý vi phạm hành chính người chưa thành niên, người có thẩm quyền có thể áp dụngcác biện pháp như tạm giữ người, áp giải người vi phạm, tạm giữ tang vật, phươngtiện vi phạm, khám người, khám chỗ ở nhưng khi áp dụng phải tuân thủ các quyđịnh từ Điều 120 đến Điều132 của Luật XLVPHC về điều kiện áp dụng, trình tự,thủ tục áp dụng

Thứ hai, người có thẩm quyền khi thực hiện các hoạt động trên nếu không

tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật thì bị xử lý theo quy định pháp luật Vàviệc áp dụng các biện pháp nói trên chỉ được tiến hành trong những trường hợp cầnthiết

Nguyên tắc thứ năm: Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính phải

được xem xét áp dụng khi có đủ các điều kiện quy định tại Chương II của phần này Việc áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính không được coi là đã bị

xử lý vi phạm hành chính18.

Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính lần đầu tiên được quy địnhtrong Luật XLVPHC năm 2012 bên cạnh các biện pháp xử phạt và xử lý vi phạmhành chính bao gồm nhắc nhở và quản lý tại gia thể hiện một bước tiến mới trong

17 Khoản 4, Điều 134 Luật XLVPHC năm 2012.

18 Khoản 5, Điều 134 Luật XLVPHC năm 2012.

Trang 34

quan điểm của Nhà nước ta đối với vần đề quyền con người, quyền công dân.Người chưa thành niên vi phạm hành chính khi đáp ứng các điều kiện do luật quyđịnh thì được áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính Tính chất củabiện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính nhẹ nhàng hơn so với các biện pháp xửphạt hay biện pháp xử lý Hơn nữa, việc bị áp dụng các biện pháp thay thế không bịxem đã bị xử lý vi phạm hành chính nên tạo cho người chưa thành niên tâm lý thoảimái hơn khi nhìn nhận hành vi sai lầm của mình, giúp các em không bị mặc cảm, từ

đó thúc đẩy việc hình thành ý thức tuân thủ pháp luật đối với các hành vi sau này

Như vậy, với việc quy định các nguyên tắc xử lý chung và nguyên tắc xử lýđặc thù đối với người chưa thành niên làm tư tưởng xuyên suốt trong quá trình xử lý

vi phạm hành chính đã thể hiện những quan điểm của Nhà nước ta trong việc bảođảm quyền con người của người chưa thành niên vi phạm hành chính, đảm bảo chomục đích của việc xử lý vi phạm hành chính đối với các em đã đặt ra trước đó lànhằm giáo dục, cải tạo các em trở thành những người công dân có ích cho xã hội,tránh việc các em quay lại con đường phạm pháp từ đó thực hiện mục đích phòngngừa chung của pháp luật Bên cạnh đó, hạn chế sự xâm phạm bất hợp pháp, lạmdụng quyền lực của chủ thể có thẩm quyền trong quá trình thực hiện việc xử lý viphạm hành chính đối với các em

2.1.2 Các quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên phạm tội

Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền căn

cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hành chính để quyếtđịnh áp dụng các biện pháp xử phạt và các biện pháp khắc phục trong những trườnghợp cần thiết Điều 21 Luật XLVPHC năm 2012 quy định các hình thức xử phạt viphạm hành chính bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép lái

xe, tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạmhành chính và trục xuất Trong đó, cảnh cáo và phạt tiền được áp dụng là hình thức

xử phạt chính, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tịch thu tangvật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có thểđược áp dụng là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính

Xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên là hoạt động ápdụng các hình thức xử phạt đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18tuổi thực hiện hành vi vi phạm Khoản 1, Điều 135 quy định các hình thức xử phạt

vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên gồm ba biện pháp là cảnh cáo,phạt tiền và tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm trong tổng số năm biện phápđược quy định tại Điều 21 được áp dụng chung cho mọi người

Trang 35

Hình thức xử phạt Cảnh cáo.

Cảnh cáo là sự khiển trách công khai của Nhà nước, của cơ quan, tổ chứchoặc một cá nhân đối với người vi phạm pháp luật19 Hệ thống các văn bản xử lý viphạm hành chính từ trước đến nay đều quy định cảnh cáo là hình thức xử phạt chínhbên cạnh nhiều hình thức xử phạt khác.Với tư cách là hình thức xử phạt chính, cảnhcáo có thể được áp dụng một cách độc lập tức là khi ra quyết định xử phạt, người cóthẩm quyền chỉ cần quy định một hình thức xử phạt cảnh cáo duy nhất trong quyếtđịnh mà không cần bất cứ hình thức nào khác kèm theo hoặc cảnh cáo cũng có thểđược áp dụng đồng thời với các hình thức xử phạt khác Tuy nhiên, lúc này các hìnhthức xử phạt khác sẽ với tư cách là các hình thức xử phạt kèm theo, bổ sung chohình thức xử phạt cảnh cáo hoặc cảnh cáo cũng có thể được áp dụng cùng với biệnpháp khắc phục hậu quả20 Như vậy, có thể thấy được tầm quan trọng của hình thức

xử phạt cảnh cáo trong hệ thống các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính, hìnhthức xử phạt cảnh cáo cùng với hình thức phạt tiền là hai hình thức xử phạt chính có

vị trí pháp lý tương tự nhau và so với hình thức xử phạt bổ sung, cảnh cáo có vai tròquan trọng hơn thông qua việc phân loại hình thức xử phạt chính và hình thức xửphạt bổ sung

Phạt cảnh cáo khi áp dụng với người chưa thành niên vi phạm hành chính có

sự phân biệt giữa hai nhóm đối tượng: người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới

16 tuổi và người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi

Đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hình thức xửphạt cảnh cáo được áp dụng với mọi vi phạm Quy định trên của Luật xuất phát từ

cơ sở khoa học về tâm, sinh lý của lứa tuổi này Đây là giai đoạn giao thoa giữa lứatuổi thiếu niên và thành niên, đây cũng là lúc hình thành những tính cách và sẽ hoànthiện dần cho đến lúc các em trưởng thành nên tạo cho các em có được nhận thứcđúng đắn và thói quen hành động tuân theo pháp luật là vô cùng cần thiết Chính vìvậy, việc áp dụng các biện pháp nghiêm khắc, nhằm mục đích trừng trị như đối vớingười chưa thành niên dễ tạo ra những kết quả không mong muốn, giáo dục kiên trìbằng những biện pháp khoan dung ngay cả khi các em có những hành vi trái phápluật sẽ tạo nên những tác động tích cực hơn đối với việc hình thành nhận thức củacác em Người từ đủ 14 đến dưới 16 chỉ bị xử lý hành chính về các hành vi vi phạm

19 Nguyễn Văn Hoàn (2011) , “Hình thức xử phạt và biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành

niên trong Dự thảo Luật XLVPHC”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (20), tr 58.

20 Mai Thị Lâm (2013), “Hình thức xử phạt cảnh cáo - Vận dụng có hiệu quả để bảo vệ quyền con người,

quyền công dân”, kỷ yếu Hội thảo khoa học “Pháp Luật XLVPHCvới việc bảo đảm quyền con người, quyền

công dân”do Khoa Luật Hành chính - Nhà nước trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh tổ chức ngày 28 tháng

9 năm 2013 tại Thành phố Hồ Chí Minh, tr 95.

Ngày đăng: 18/11/2016, 18:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w