Nằm ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có vị trí địa chất, địa lý độc đáo, là nơi giao cắt của hai vành đai sinh khoáng lớn Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, là nước nhiệt đới gió mùa phát triển mạnh, các quá trình phong hóa thuận lợi cho sự hình thành khoáng sản. Qua 65 năm nghiên cứu điều tra cơ bản và tìm kiếm khoáng sản của các nhà địa chất Việt nam cung với các kết quả nghiên cứu của các nhà địa chất Pháp từ trước cách mạng Tháng 8 đến nay chúng ta đã phát hiện trên đất nước có hàng nghìn điểm mỏ và tụ khoáng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau từ các khoáng sản năng lượng, kim loại đến khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dưng. Tuy nhiên chúng ta không giàu về tài nguyên khoáng sản vì hầu hết các khoáng sản ở Việt Nam có trữ lượng không lớn, lại phân bố tản mạn không tập trung.
Trang 1III, THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM
A, Kết quả công tác quản lý nhà nước về khoáng sản trong giai đoạn từ 2003 đến nay-Ngày 27 tháng 12 năm 2002 chức năng quản lý nhà nước về địa chất khoáng sảnchính thức được chuyển giao từ Bộ Công nghiệp sang Bộ TN&MT Sau 4 năm kếtquả công tác quản lý nhà nước về khoáng sản giai đoạn 2003 – 2006 đã đạt được cụthể như sau:
* Đã hoàn thiện một bước quan trọng khung pháp lý về quản lý khoáng sản
-Thông qua việc ban hành Luật sửa đổi , bổ sung một số điều kiện của Luật khoángsản và các văn bản hướng dẫn thi hành ,đã xác định rõ trách nhiệm bảo vệ tài nguyênkhoáng sản giữa Trung ương và địa phương ; làm rõ sự phân công chức năng quản lýnhà nước về khoáng sản và quản lý nhà nước về công nghiệp khai thác , chế biếnkhoáng sản giữa Bộ TN&MT và các Bộ có liên quan , đẩy mạnh phân cấp việc cấpgiấy phép hoạt động khoáng sản cho cấp tỉnh , coi trọng việc sử dụng tiết kiệm , hợp
lý tài nguyên khoáng sản thông qua việc quy định về quy hoạch thăm dò ,khai thác ,chế biến và sử dụng khoáng sản , hạn chế xuất khẩu khoáng sản dưới dạng thô hoặctinh quặng , quy định về phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn
* Công tác quản lý ,cấp phép hoạt động khoáng sản được đẩy nhanh hơn
-Công tác cấp phép HĐKS trong thời gian gần đây đã dược đẩy mạnh theo hướng cảicách thủ tục hành chính ,nâng cao chất lượng thẩm định hồ sơ ,bảo đảm tuân thủ cácquy định của pháp luật về khoáng sản Nhiều hồ sơ phức tạp ,kéo dài đã được giảiquyết dứt điểm
- Từ năm 2003 đến năm 2006 ,Bộ TN&MT đã cấp 220 giấy phép ,trong đó có 166giấy phép thăm dò ,54 giấy phép khai thác khoáng sản (riêng năm 2006 ,số giấy phépthăm dò được cấp tăng gấp hơn hai lần so với năm 2005 ) ,phê duyệt , bàn giao 221khu vực khoáng sản cho các tỉnh , thành phố trực thuộc trung ương để cấp phép khaithác tận thu
-Theo số liệu báo cáo chưa đầy đủ của Sở TN&MT các tỉnh ,số lượng giấy HĐKS docác tỉnh ,thành phố trực thuộc Trung ương đã cấp từ năm 2003 đến 2006 như sau :
Trang 2+ Năm 2003 đã cấp 710 giấy phép khai thác khoáng sản các loại , trong đó cố 232giấy phép khai thác khoáng sản làm VLXDTT (có 58 giấy phép cấp trên cơ sở đã cóbáo cáo kết quả thăm dò và phê duyệt trữ lượng ),478 giấy phép khai thác các loạikhoáng sản ( có 192 giấy phép cấp trên cơ sở khu vực đã được Bộ công nghiệp ,BộTN&MT phê duyệt và bàn giao ).
+Năm 2004 đã cấp 641 giấy phép khai thác khoáng sản các loại ,trong đó có 275 giấyphép khai thác khoáng sản làm VLXDTT ( có 55 giấy phép cấp trên cơ sở đã có báocáo kết quả thăm dò và phê duyệt trữ lượng ) ,366 giấy phép khai thác các loại khoángsản khác ( có 122 giấy phép cấp trên cơ sở khu vực đã được Bộ công nghiệp ,BộTN&MT phê duyệt ,bàn giao)
+Năm 2005 đã cấp 629 giấy phép khai thác khoáng sản các loại , trong đó có 317giấy phép khai thác khoáng sản làm VLXDTT ( có 46 giấy phép được cấp trên cơ sở
đã có báo cáo kết quả thăm dò và phê duyệt trữ lượng ), 322 giấy phép khai thác cácloại khoáng sản khác ( có 98 giấy phép cấp trên cơ sở khu vực đã được Bộ Côngnghiệp , Bộ TN&MT phê duyệt ,bàn giao
+Năm 2006 đã cấp 843 giấy phép khai thác khoáng sản các loại ,trong đó có 357 giấyphép khai thác khoáng sản làm VLXDTT ,444 giấy phép khai thác khoáng sản khác
*Công tác thanh tra , kiểm tra hoạt động khoáng sản được tăng cường
-Công tác này đã được Bội TN&MT quan tâm và thường xuyên chỉ đạo Thanh tra BộCục ĐC&KS Việt Nam phối hợp với Sở TN&MT cấp tỉnh tổ chức kiểm tra , thanh trahoạt động khoáng sản , tập trung trước hết đối với những nơi có các vấn đề nổi cộm
về khai thác và cấp phép khai thác khoáng sản
-Năm 2003 ,đã kiểm tra 43 mỏ , khu vực khai thác của 38 tổ chức ,cá nhân trên địabàn 9 tỉnh ,thành phố ,năm 2004 ,tiên hành 31 đợt kiểm tra hoạt đọng khai tháckhoáng sản kim loại trên địa bàn 22 tỉnh ,thành phố Năm 2005 và năm 2006 ,công táckiểm tra hoạt động khoáng sản của Bộ TN&MT tập trung vào việc kiểm tra đột xuấtnhằm làm rõ các vấn đề liên quan đến công tác quản lý hoạt động khoáng sản ,cấpphép hoặc khai thác khoáng sản trái pháp luật ,theo đó năm 2005 đã tiến hành kiểm tra
Trang 3trên địa bàn 11 tỉnh ,thành phố , năm 2006 kiểm tra tình hình khai thác cát ,sỏi lòngsông trên địa bàn 12 tỉnh ,thành phố, trong đó có 7 tỉnh miền Tây Nam Bộ.
-Thông qua công tác kiểm tra ,thanh tra hoạt động khoáng sản ,nhiều vi phạm của tổchức ,cá nhân hoạt động khoáng sản đã bị xử lý ,sai phạm trong công tác cấp phéphoạt động khoáng sản của một số địa phương đã được khắc phục ,tình trạng khai tháckhoáng sản trái phép đã giảm ,ý thức tuân thủ pháp luật về khoáng sản của các tổ chức
cá nhân cũng như người dân và các cơ quan ,tổ chức đã được nâng cao Nhiều bất cậpcủa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản được phát hiện thông quacông tác thanh tra ,kiểm tra đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường kịp thời sửa đổi ,bổsung hoặc trình cấp có thẩm quyền sửa đổi ,bổ sung cho phù hợp
B,Toàn văn báo cáo công tác quản lý về khoáng sản 6 tháng đầu năm 2015 của
KẾT QUẢ 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2015 VÀ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM
Trang 4nguyên và Môi trường, 03 Thông tư của Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, 03 Thông tưliên tịch của các Bộ: Tài nguyên và Môi trường, Tài chính, Kế hoạch đầu tư được banhành Đây là những tiền đề, những cơ sở pháp lý quan trọng để công tác quản lý nhànước về khoáng sản trong năm 2015 cũng như 6 tháng đầu năm 2015 đạt được nhữngkết quả đáng kể, góp phần chấn chỉnh hoạt động khoáng sản trên phạm vi toàn quốc,thể hiện trên các mặt sau đây:
I KẾT QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOÁNG SẢN
1 Kết quả công tác năm 2014
1.1 Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuyên truyền phổ biến pháp luật về khoáng sản
a) Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật và quản lý khoáng sản
Trong năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành theo thẩm quyền 05 thông tư về quản lý khoáng sản; 04 Thông tư về tiêu chuẩn, quy chuẩn lĩnh vực địa chất, khoáng sản Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan ban hành 02 Thông tư liên tịch liên quan đến quy định về đấu giá quyền khaithác khoáng sản và góp vốn, quản lý vốn góp của tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản
Về phía các địa phương, cùng với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung
ương, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý thuộc thẩm quyền để triển khai Luật khoángsản trên địa bàn Theo thống kê từ 61/63 tỉnh, thành phố, trong năm 2014 Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành 173 Quyết định và 831 văn bản quản lý về khoáng sản hoặc văn bản chỉ đạo, điều hành trong quản lý nhà nước về khoáng sản Các quyết định, văn bản chỉ đạo, điều hành tập trung chủ yếu để thực hiệncông tác đấu giá quyền khai thác khoáng sản, thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản;hướng dẫn giá tối thiểu tính thuế tài nguyên, quy định tỷ lệ quy đổi khoáng sản thành phẩm và khoáng sản nguyên khai; chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý nhà nước
về khoáng sản trên địa bàn
Trang 5b) Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khoáng sản
Trong năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo tổ chức 04 Hội nghị hướngdẫn, phổ biến pháp luật về khoáng sản Theo đó, để triển khai Nghị định số
203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mứcthu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản (Nghị định 203), Bộ đã tổ chức Hội nghị trựctuyến tập huấn nghiệp vụ cho các Sở, ngành liên quan thuộc 63 tỉnh, thành phố cả nước, đồng thời chỉ đạo tập huấn tại 13 tỉnh: Bắc Kạn, Quảng Ninh, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Đồng Nai, Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Phước, Hà Nam, Kiên Giang, Hải Dương và Hòa Bình; đã tổ chức hội nghị đối thoại với doanh nghiệp về triển khai thực hiện Nghị định 203 tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; chỉ đạo Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam tổ chức Hội nghị đối thoại với các doanh nghiệp về quy trình “Thăm dò, đánh giá phần trữ lượng còn lại” để giải quyết vướng mắc trong việc tính trữ lượng còn lại của các mỏ khoáng sản đang khai thác khi tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản
Về phía các địa phương, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
khoáng sản cũng được các tỉnh tiếp tục quan tâm, trực tiếp tổ chức tập huấn về Luật khoáng sản, chủ động thực hiện với nhiều hình thức khác nhau như: phối hợp với báo,đài phát thanh truyền hình, tổ chức hội nghị, hội thảo, thông qua cổng thông tin điện
tử của tỉnh Nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật về lĩnh vực khoáng sản cho cácngành, các cấp và địa phương, nhất là triển khai Nghị định 203 và Nghị định số
142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản (Nghị định 142) trên địa bàn; giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về chính sách pháp luật về khoáng sản; quyền
và nghĩa vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã và người dân nơi có khoáng sản theo quy định của Luật khoáng sản
1.2 Công tác lập, phê duyệt quy hoạch khoáng sản, khoanh định khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản
a) Công tác lập, phê duyệt quy hoạch khoáng sản
Trang 6Về quy hoạch khoáng sản cả nước: Thực hiện nhiệm vụ được giao, năm 2014, Bộ Xây
dựng đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 tại Quyết định
1469/QĐ-TTg ngày 22/8/2014 làm cơ sở điều chỉnh quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản vật liệu xây dựng; Bộ Công Thương cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 01 quy hoạch (thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng sắt đến năm
2020, có xét đến năm 2030 để thay quy hoạch phê duyệt năm 2006); theo ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ cũng đã ban hành 07 quyết định để bổ sung các khu vực
có khoáng sản vào 07 quy hoạch đã duyệt trong giai đoạn trước khi Luật khoáng sản năm 2010 có hiệu lực
Về phía quy hoạch tỉnh, thành phố: Theo báo cáo của 61/63 tỉnh, thành phố, đến cuối năm 2014, các địa phương đã phê duyệt mới, điều chỉnh 58 quy hoạch khoáng sản cácloại Các quy hoạch điều chỉnh chủ yếu là các quy hoạch khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường như cát, sỏi; sét gạch ngói, v.v Ngoài ra, cuối năm 2014 có 14 tỉnh, thành phố đã lập quy hoạch điều chỉnh, đang trình Hội đồng nhân dân cùng cấp
để thông qua trước khi phê duyệt (Sơn La, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, thành phố Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Bình Phước, Đồng Tháp và Trà Vinh)
b) Công tác khoanh định, phê duyệt khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản
Năm 2014, công tác khoanh định, phê duyệt khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm cấm hoạt động khoáng sản tiếp tục được các địa phương quan tâm thực hiện Đặc biệt, sau khi Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường có văn bản hướng dẫn các địa phương lập hồ sơ và làm đầu mối tiếp nhận, tổ chức thẩm định hồ
sơ trước khi trình Thủ tướng Chính phủ công tác này được thúc đẩy nhanh hơn Nhờ
đó, trong năm 2014 đã có hồ sơ của 17 tỉnh, thành phố là: Điện Biên, Lai Châu, Sơn
La, Hoà Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Phước,Kon Tum, Đăk Nông, Đồng Nai, Bình Dương, Đồng Tháp, Kiên Giang, Phú Yên đã được thẩm định và phê duyệt Đến cuối năm 2014 có 21 hồ sơ của các tỉnh, thành phố:Hòa Bình, Bắc Kạn, Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng
Trang 7Bình, Quảng Nam, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Bình Phước, Bình Thuận, Lâm Đồng,Đăk Lăk, Gia Lai, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Long An, Trà Vinh và Bà Rịa-Vũng Tàu đã hoàn thành và đang thực hiện công tác trình, thẩm định trước khi phê duyệt.
1.3 Công tác cấp phép hoạt động khoáng sản và đấu giá quyền khai thác khoáng sản
a) Công tác cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trong năm 2014, công tác cấp phép hoạt động khoáng sản tiếp tục được thực hiện theo quy định của Luật khoáng sản năm 2010, các Nghị định hướng dẫn và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 02/CT-TTg Trong quá trình thẩm định có sự phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có khoáng sản trong việc lấy ý kiến về khu vực cấm, tạm cấm hoạt động khoáng sản Việc cấp phép mới đối với quặng titan, đá hoa trắng chỉ thực hiện sau khi có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ; cấp phép mới khai thác khoáng sản đều gắn với địa chỉ sử dụng khoáng sản sau khai thác Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 203/QĐ-TTg ngày 27/01/2014 phê duyệt các khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản đối với khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Kết quả, Bộ đã cấp tổng cộng 75 Giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản, gồm: (1) Giấy phép thăm dò khoáng sản: 34 giấy phép (30 giấy phép cấp mới, 04 giấy phép giahạn, chuyển nhượng, điều chỉnh) cho 22 doanh nghiệp trên địa bàn 17 tỉnh, thành phố
để thăm dò 16 loại khoáng sản với tổng diện tích là 13.568 ha; (2) Giấy phép khai tháckhoáng sản: cấp 41 giấy phép (35 giấy phép cấp mới, 06 giấy phép gia hạn, chuyển nhượng, điều chỉnh) cho 32 doanh nghiệp trên địa bàn 18 tỉnh, thành phố để khai thác
14 loại khoáng sản với tổng diện tích là 4.940 ha
b) Công tác cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Trong năm 2014 tổng số giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản do Ủy ban nhân
dân các tỉnh, thành phố đã cấp là 853 giấy phép Trong đó, thăm dò: 408 giấy phép
(390 giấy phép thăm dò khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, 18 giấy phépthăm dò khoáng sản khác); khai thác: 439 giấy phép (435 giấy phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và 23 giấy phép khai thác khoáng sản khác)
Trang 8Một số địa phương không cấp phép mới như Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bến Tre, Tiền Giang, Hậu Giang, thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, có 07 tỉnh, thành phố đã thu hồi 124 giấy phép khai thác khoáng sản do các đơn vị vi phạm pháp luật vềkhoáng sản, gồm: Lào Cai, Hà Giang, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Đăk Nông, Gia Lai,
Đà Nẵng; có 15 tỉnh, thành phố ban hành quyết định đóng cửa 66 khu vực khai thác khoáng sản, gồm: Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình, Bắc Kạn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Quảng Nam, Bình Thuận, Lâm Đồng, Đăk Nông, Gia Lai, Đà Nẵng và An Giang
c) Công tác đấu giá quyền khai thác khoáng sản
Để có cơ sở pháp lý tổ chức đấu giá theo quy định, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ như đã nêu trên Mặt khác, Bộ cùng
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư quy định về quy chế hoạt động của Hội đồng đấu giá quyền khai thác khoáng sản, Thông tư liên tịch quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 22/2012/NĐ-CP của Chính phủ
Trong năm 2014 nhiều địa phương đã phê duyệt danh mục khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản cũng như kế hoạch đấu giá như: thành phố Hà Nội, ThanhHóa, Yên Bái, Thái Nguyên, Đăk Nông, Đồng Tháp, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Đồng Nai, Tây Ninh, Tiền Giang, Long An, Lâm Đồng, Bình Thuận, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu Bước đầu đã có một số tỉnh tổ chức đấu giá thành công như: Quảng Bình đấu giá quyền khai thác khoáng sản 03 mỏ cát làm vật liệu xây dựng thông thường vớitổng số tiền là 1.382.290.000 đồng; Kon Tum đấu giá quyền khai thác khoáng sản 09 điểm mỏ cát, sỏi trên lòng sông Đăk Bla, thành phố Kon Tum với tổng số tiền là 2.183.900.000 đồng; Quảng Ngãi đấu giá quyền khai thác khoáng sản một số điểm mỏvới tổng số tiền là 5,142 tỷ đồng Các tỉnh, thành phố khác đang lập kế hoạch đấu giá quyền khai thác khoáng sản để triển khai trong năm 2015 như: Bắc Giang, Hải
Dương, Hải Phòng, Bắc Ninh, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Bình Định,Phú Yên, Gia Lai,
1.4 Công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực khoáng sản
Trang 9a) Công tác thanh tra, kiểm tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Công tác thanh tra, kiểm tra lĩnh vực khoáng sản được thực hiện thông qua kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ hàng năm được Bộ trưởng phê duyệt ngày 25 tháng 11 của năm trước Năm 2014, Bộ đã chỉ đạo Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam thực hiện tổng số 34 cuộc thanh tra, kiểm tra (trong đó có 30 cuộc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch và 04 cuộc thanh tra kiểm tra đột xuất) đối với 196 tổ chức, cá nhân được thanh tra, kiểm tra trên địa bàn 31 tỉnh, thành phố, cụ thể:
Đã thực hiện 07 cuộc thanh tra chuyên đề việc chấp hành các quy định của pháp luật
về khoáng sản trong hoạt động thăm dò, khai thác nước khoáng tại 10 tỉnh, thành phố
gồm: Quảng Ninh, Phú Thọ, Hòa Bình, Ninh Bình, Hà Nội, Quảng Ngãi, Bình Thuận,
Bà Rịa - Vũng Tàu, Khánh Hòa, Long An; thanh tra trách nhiệm công tác quản lý nhà
nước về khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên, Lâm Đồng
Hoàn thành kiểm tra định kỳ hoạt động khoáng sản tại các tỉnh tại 07 tỉnh: Hà Giang,
Nghệ An, Yên Bái, Phú Yên, Khánh Hòa, Quảng Bình, Quảng Nam; hậu kiểm tình hình thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm tra tại 12 tỉnh: Bình Định, Lào Cai, An Giang, Phú Thọ, Long An, Khánh Hòa, Ninh Bình, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hải Dương
Bộ cũng đã thực hiện 10 cuộc thanh tra, kiểm tra đột xuất theo yêu cầu của các cơ quan chức năng liên quan tại các tỉnh: Thừa Thiên - Huế; Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Khánh Hòa, Đăk Lăk, Đăk Nông
Qua thanh tra, kiểm tra, cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành khoáng sản của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã lập biên bản, ban hành quyết định xử phạt hành vi vi phạm hành chính theo thẩm quyền đối với 67 tổ chức, cá nhân với tổng số tiền đã xử phạt gần 4 tỷ đồng Các hành vi bị xử phạt vi phạm hành chính chủ yếu là không nộp báo cáo định kỳ hoạt động khoáng sản, kết quả thống kê kiểm kê trữ lượng năm 2013; khai thác khi giấy phép đã hết hạn hoặc không có giấy phép; khai thác không có thiết kế mỏ được phê duyệt theo quy định; không cắm mốc ranh giới khu vực khai thác
b) Công tác thanh tra, kiểm tra tại các địa phương
Trang 10Trong năm 2014, công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động khoáng sản cũng đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh duy trì và tăng cường thực hiện Theo đó, các Sở Tài nguyên vàMôi trường đã chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về khoáng sản, pháp luật khác có liên quan đối với các đơn vị hoạt động trên địa bàn theo giấy phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng như hoạt động khai thác khoáng sản không có giấy phép của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền (khai thác khoáng sản trái phép) trên địa bàn
Các địa phương đã thực hiện trên 300 cuộc thanh tra, kiểm tra (kể cả kiểm tra hoạt động khoáng sản trái phép), xử phạt hành chính hàng trăm tổ chức, cá nhân với tổng
số tiền gần 20 tỷ đồng Một số tỉnh, thành phố thực hiện khá quyết liệt như Kiên Giang, Bình Thuận, Vĩnh Long, Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Nam, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Bình, Sơn La, Bắc Giang trong đó thành phố Đà Nẵng xử phạt với số tiền 2,940 tỷ đồng, thành phố Hải Phòng xử phạt 2,009 tỷ đồng, tỉnh Quảng Nam xử phạt với số tiền 1,344 tỷ đồng, tỉnh Bắc Giang xử phạt với số tiền 883 triệu đồng, tỉnh Sơn La xử phạt với số tiền 835 triệu đồng, tỉnh Bắc Ninh xử phạt với số tiền 433 triệu đồng
c) Công tác bảo vệ khoáng sản chưa khai thác
Thực hiện trách nhiệm bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn, năm 2014 Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, nhất là các địa phương có nhiều khoáng sản đã tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp nhằm phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động khai thác
khoáng sản trái phép bằng nhiều hình thức như: ban hành các công văn, chỉ thị nhằm bảo vệ khoáng sản chưa khai thác, các địa phương, các ngành chức năng công bố địa chỉ thư điện tử, số điện thoại đường dây nóng để tổ chức, cá nhân biết, phản ánh mọi thông tin về tình trạng khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn; tổ chức nhiều đợt truy quét, giải toả, tịch thu nhiều phương tiện phục vụ khai thác trái phép, xử phạt hành chính đối với các tổ chức cá nhân Điển hình như các tỉnh: Lào Cai, Phú Thọ, Quảng Nam, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, Lâm Đồng và thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng v.v
Nhờ đó, tình trạng khai thác trái phép trong năm 2014 đã giảm (từ 45 tỉnh, thành phố trong năm 2013 xuống còn 39 tỉnh, thành phố cả nước có hoạt động khai thác trái
Trang 11phép) nhưng vẫn chưa chấm dứt Vẫn còn nhiều loại khoáng sản bị khai thác trái phép, nhất là đối với khoáng sản kim loại, quý, hiếm (vàng, đá quý, mangan,
antimon, ), cát, sỏi, nước khoáng v.v Các địa phương còn nhiều khu vực có
khoáng sản bị khai thác trái phép như: Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Đà Nẵng, Hà Tĩnh, Hòa Bình, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Lào Cai, Nghệ An, Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Phú Thọ, Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long… Hoạt động khai thác cát, sỏi trái phép còn diễn ra trên địa bàn 22 tỉnh, thành phố; khai thác vàng trái phép còn diễn ra trên địa bàn 10 tỉnh, thành phố
1.5 Công tác tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản
a) Đối với khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Thực hiện Nghị định 203, trong năm 2014 Bộ đã chỉ đạo Tổng cục Địa chất và
Khoáng sản Việt Nam thẩm định hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 460
hồ sơ (377/495 hồ sơ cấp phép cũ và 83/118 hồ sơ cấp phép mới) với tổng số tiền là 41.778 tỷ đồng và số tiền phải thu trong năm 2014 là 5.176 tỷ đồng (kế hoạch thu năm
2014 là 4.500 tỷ đồng) Trong đó, số hồ sơ đã được Bộ TN&MT phê duyệt là 168/452với tổng số tiền là 19.277 tỷ đồng
b) Đối với khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam chủđộng hướng dẫn, tập huấn công tác tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản cho tất cảcác tỉnh, thành phố và đôn đốc công tác triển khai thực hiện Theo báo cáo, đến hết năm 2014 đã có 39/63 tỉnh, thành phố đã có kết quả triển khai phê duyệt tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản với 608 hồ sơ, tổng số tiền là 2053 tỷ đồng và số tiền thu trong năm 2014 là 411 tỷ đồng
1.6 Công tác xác định và hoàn trả kinh phí đã điều tra đánh giá, thăm dò khoáng sản bằng ngân sách của Nhà nước
Để triển khai tốt công tác này Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giao Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam ban hành quy trình tổ chức xây dựng và nghiệm thu báocáo xác định tiền sử dụng số liệu, thông tin về kết quả điều tra, thăm dò khoáng sản của Nhà nước, đồng thời Bộ cũng đã ban hành Quy trình tổ chức thẩm định và phê
Trang 12duyệt kết quả xác định tiền sử dụng số liệu, thông tin về kết quả điều tra, thăm dò khoáng sản của Nhà nước Nhờ vậy, từ năm 2014 công tác này được thúc đẩy nhanh hơn so với năm 2012, 2013, kết quả cụ thể như sau:
Tính đến thời điểm ngày 31/3/2015, số nhiệm vụ xác định tiền sử dụng số liệu, thông tin về kết quả điều tra, thăm dò khoáng sản của Nhà nước đã được triển khai thực hiện
là 188 báo cáo Đến ngày 07/4/2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phê duyệt 60 báo cáo với số tiền là 1.021,569 tỷ đồng Trong đó, năm 2014 phê duyệt 23 báo cáo (136,94 tỷ đồng)
1.7 Về khoanh định và công bố khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ
Thực hiện khoản 2 Điều 82 Luật khoáng sản năm 2010 và Điều 11 Nghị định 15, trong năm 2014 trên cơ sở kết quả của công tác điều tra, đánh giá khoáng sản và đề nghị của các địa phương, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã khoanh định và công bố 38khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ với tổng diện tích là 10,463 km2 trên địa bàn
14 tỉnh, thành phố gồm: Lai Châu, Yên Bái, Hòa Bình, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam và Gia Lai để Ủy ban nhân dân các tỉnh quản lý, cấp phép khai thác khoáng sản theo quy định của Luật khoáng sản
1.8 Công tác phê duyệt trữ lượng khoáng sản
a) Đối với khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Thực hiện nhiệm vụ thường trực Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia,
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo Văn phòng Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia tiếp nhận, tổ chức thẩm định và trình phê duyệt trữ lượng khoángsản theo đúng quy định Kết quả năm 2014 Hội đồng đã phê duyệt trữ lượng 35 loại khoáng sản khác nhau trong các báo cáo của các doanh nghiệp thăm dò theo giấy phépthuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường Theo đó đã góp phần gia tăng trữ lượng cho một số khoáng sản như: quặng mangan (1.515 nghìn tấn), đồng(5.604 nghìn tấn), vàng (4.446 kg), đá vôi làm nguyên liệu xi măng (335,954 triệu tấn), đá sét làm nguyên liệu xi măng (62,267 triệu tấn), đá hoa trắng ốp lát (9,643 triệu
m3), đá hoa trắng làm bột cacbonat canxi (56,307 triệu tấn) Chi tiết trữ lượng của
Trang 13các loại khoáng sản đã được Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia phê duyệt tại Phụ lục số 08.
b) Đối với khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Công tác phê duyệt trữ lượng khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được thực hiện theo quy định tại Điều 49 Luật khoáng sản năm
2010 Theo đó, nhiều tỉnh, thành phố đã phê duyệt trữ lượng khoáng sản (chủ yếu là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường) cho hàng trăm báo cáo thăm dò khoáng sản Một số địa phương đã có báo cáo thống kê trữ lượng đã phê duyệt như: Yên Bái, Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai Theo đó, tổng trữ lượng khoáng sản do các địa phương nêu trên như sau: đá xây dựng, đá vôi làm vật liệu xây dựng thông thường: 66,04 triệu m3, cát sỏi vật liệu xây dựng, cát san lấp: 5,53 triệu
m3, sét gạch ngói, đất san lấp: 15,82 triệu m3, felspat: 362 nghìn tấn, quặng sắt:
141,133 nghìn tấn, quặng barit: 20,133 nghìn tấn và antimon: 46 tấn, than bùn: 45.551
m3
II KẾT QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOÁNG SẢN 6
THÁNG ĐẦU NĂM 2015 CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Phát huy kết quả đạt được của công tác quản lý nhà nước về khoáng sản năm 2014, công tác này trong 6 tháng đầu năm 2015 tiếp tục đạt được những kết quả đáng kể, thểhiện trên một số mặt cơ bản sau đây:
1 Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản
Từ đầu năm năm 2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành theo thẩm quyền 04 Thông tư: (1) số 03/2015/TT-BTNMT ngày 13/02/2015 quy định về thăm dò và phân cấp trữ lượng, cấp tài nguyên khoáng sản vàng gốc; (2) số 04/2015/TT-BTNMT ngày 13/02/2015 quy định về thăm dò và phân cấp trữ lượng, cấp tài nguyên khoáng sản chì
- kẽm; (3) số 06/2015/TT-BTNMT ngày 25/02/2015 quy định kỹ thuật công tác điều tra, đánh giá địa chất môi trường khu vực có khoáng sản độc hại; (4) số 37/2015/TT-