Bồi dưỡng theo hướng nâng cao năng lực thi đấu chuẩn bị lực lượng cho đội tuyển TTcơ sở và trang bị nghiệp vụ thể thao “hạt nhân thể thao” cho những SV yêu thích và có năng khiếu thể tha
Trang 1A GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1 MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết: Phân loại trình độ người tập là một yếu tố quan trọng
trong GDTC Từ đó xây dựng chương trình GDTC phù hợp Phân loại trình
độ người tập thường theo các nhóm: Nhóm cơ bản; Nhóm đặc biệt; Nhóm thể thao nâng cao (TTNC) Ngày nay, phong trào thể thao “cho mọi người” phát triển mạnh mẽ, các hoạt động tập luyện và thi đấu diễn ra thường xuyên Bồi dưỡng theo hướng nâng cao năng lực thi đấu (chuẩn bị lực lượng cho đội tuyển TTcơ sở) và trang bị nghiệp vụ thể thao (“hạt nhân thể thao”) cho những SV yêu thích và có năng khiếu thể thao (nhóm TTNC) trong trường ĐH là cần thiết, phù hợp nhu cầu xã hội
Công tác GDTC cho SV các trường thuộc ĐH Thái Nguyên còn một số tồn tại như: Chưa quan tâm nhiều đến đặc điểm cá nhân người học; Chưa có chương trình riêng cho các nhóm đối tượng khác nhau Công tác chuẩn bị các đội tuyển thể thao chỉ được thực hiện trong thời gian ngắn trước giải…
Từ những vấn đề trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng chương trình Thể thao nâng cao cho sinh viên ĐH Thái Nguyên”
Mục đích nghiên cứu
Xây dựng chương trình TTNC theo hướng nâng cao năng lực thi đấu
và bồi dưỡng nghiệp vụ thể thao cho những SV yêu thích và có năng khiếu thể thao của các trường thuộc ĐH Thái Nguyên, nhằm bồi dưỡng những “hạt nhân thể thao” cơ sở Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác TDTT trường học và phong trào “thể thao cho mọi người”
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu thực trạng công tác GDTC và Thể thao của
các trường thuộc Đại học Thái Nguyên theo hướng tiếp cận phân hóa;
Nhiệm vụ 2: Xây dựng chương trình TTNC cho SV ĐH T Nguyên; Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiệu quả chương trình Thể thao nâng cao thông
qua triển khai thí điểm ở các môn thể thao cụ thể
Giả thuyết khoa học
Bồi dưỡng nâng cao cho những sv yêu thích và có năng khiếu thể thao (nhóm TTNC) theo hướng nâng cao năng lực thi đấu và bồi dưỡng nghiệp vụ thể thao góp phần không nhỏ trong việc chuẩn bị lực lượng cho các đội tuyển thể thao và tạo nên những hạt nhân thể thao cơ sở Nếu chương trình TTNC mà đề tài xây dựng được triển khai sẽ nâng cao hiệu quả chuẩn bị các đội tuyển thể thao cho các trường thuộc ĐH Thái Nguyên và tạo nên những hạt nhân thể thao cho nhà trường và XH Qua đó nâng cao hiệu quả công tác GDTC và thể thao trường học cũng như phong trào thể thao cơ sở
2 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩa khoa học:
` Hệ thống được cơ sở lý luận GD và GDTC để tổ chức các hoạt động GDTC và thể thao phù hợp với đặc điểm cá nhân người học;
Trang 2Xác định được mối liên hệ giữa cơ sở lý luận GD với lý luận GDTC trong tổ chức các hình thức GDTC đáp ứng đặc điểm cá nhân người học;
Xác định được quy trình XD chương trình GDTC phù hợp với trình độ
SV theo nguyên tắc, quan điểm, cách tiếp cận và xu hướng tiên tiến
Chương trình TTNC là lựa chọn bổ ích, đáp ứng nhu cầu tập luyện cho
SV nhóm TTNC, nâng cao hiệu quả phong trào “TT cho mọi người”
3 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án được trình bày trong 135 trang A4 gồm: Mở đầu (5 trang); Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu (46 trang); Chương 2: Phương pháp và tổ chức nghiên cứu (11 trang); Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận (71 trang); Kết luận và kiến nghị (2 trang); Luận án sử dụng 79 tài liệu tham khảo; Phụ lục (26 trang)
B: NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về TDTT trường học
Nội dung cơ bản: Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến 2020; Nghị quyết số 08/NQ-TW; Nghị định số 11/2015 NĐ-CP
1.2 Công tác Giáo dục thể chất và Thể thao trong trường đại học
ND cơ bản: Khái niệm GDTC và TT trường học; Mục đích, nhiệm vụ của TDTT trong trường ĐH; Hình thức GDTC và TT trong trường ĐH
1.3 Tiếp cận phân hóa trong tổ chức hoạt động giáo dục theo hướng đáp ứng nhu cầu, năng lực và trình độ người học
Nội dung cơ bản: Khái niệm phân hóa (PH) trong GD; Cơ sở lý luận của
PH trong GD; Cách tiếp cận và xu hướng PH trong GD;
1.4 Cơ sở lý luận của việc phát triển chương trình giáo dục đại học
Khái niệm về chương trình giáo dục (CTGD); Một số xu hướng của CTGD hiện đại; Cách tiếp cận trong xây dựng CTGD; Phát triển CTGD 1.5 Đánh giá trong giáo dục
Khái niệm đánh giá trong giáo dục; Đối tượng đánh giá trong giáo dục; Các bước cơ bản của một quá trình đánh giá
1.6 Đặc điểm tâm lý và các dạng hoạt động cơ bản của sinh viên
1.7 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Kết luận chương 1:
Công tác TDTT trường học cần dựa trên những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về TDTT trường học; Vận dụng các quan điểm, xu hướng GD tiên tiến phù hợp với điều kiện nhà trường và đặc điểm SV
Trang 3Phân hóa là quan điểm chú trọng đặc điểm cá nhân người học, từ đó xây dựng ND, hình thức GD phù hợp Nó trùng hợp với xu hướng “người học làm trung tâm”, “chương trình mở”, cách tiếp cận “phát triển”, nguyên tắc “thích hợp và cá biệt hóa” trong GDTC Một hình thức phân hóa trong GDTC là phân loại trình độ theo nhóm: Sức khỏe yếu, cơ bản và TTNC
Xây dựng chương trình GDTC và thể thao cho SV theo các nhóm có trình độ khác nhau cần được thực hiện với cách tiếp cận và xu hướng GD hiện đại Đó là xu hướng “lấy người học làm trung tâm”, chương trình “mở”
và cách “tiếp cận phát triển” Quy trình xây dựng chương trình gồm 5 bước: Phân tích tình hình; Xác định mục mục tiêu; Thiết kế; Thực thi; Đánh giá
2.1 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp: Phân tích và tổng hợp tài liệu; Phỏng vấn; Quan sát sư phạm; Kiểm tra sư phạm; Thực nghiệm sư phạm; Toán học thống kê
2.2 Tổ chức nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là chương trình TTNC cho SV ĐH TN
Khách thể, phạm vi và địa điểm nghiên cứu:
Phỏng vấn: 1550 SV (thu về 1523 phiếu hợp lệ); 62 giảng viên;
Khảo sát ý kiến: 180 sinh viên và 70 cựu sinh viên nhóm TTNC; 28 CBQL trong các hoạt động thể thao cấp cơ sở
Kiểm tra trình độ thể lực chung của 533 SV (228 nam và 305 nữ)
Chương trình TTNC triển khai thí điểm tại Trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên ở nhóm Bóng chuyền (n = 16) và Bóng đá nâng cao (n = 25);
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2011 đến tháng 11/2015
3.1 Thực trạng công tác giáo dục thể chât và thể thao cho sinh viên theo hướng tiếp cận phân hóa tại Đại học Thái Nguyên
3.1.1 Mô tả chung về chương trình giáo dục thể chất và các hoạt động thể
thao của các trường thuộc Đại học Thái nguyên
Chương trình GDTC ở mỗi trường là khác nhau; Không có chương trình riêng cho các nhóm sinh viên có trình độ và sức khỏe khác nhau;
Về thời lượng: 3 đến 4 học phần; Mỗi học phần từ 30 đến 50 tiết học chính khóa (1 tiết = 50 phút);
Các trường đều có các giải thi đấu thể thao hàng năm cho sinh viên Các hoạt động thể thao cấp khoa cũng thường xuyên được tổ chức;
Chuẩn bị đội tuyển tham gia thi đấu thể thao do địa phương và ngành
tổ chức chỉ được thực hiện trong thời gian ngắn trước mỗi giải đấu;
Các CLB thể thao SV rất ít và hoạt động chủ yếu là tự phát (Do SV tự tập hợp, ít có sự tham gia tổ chức của Khoa, Trường và đoàn thể)
Trang 43.1.2 Nhận định của giảng viên và sinh viên về công tác giáo dục thể chất
và các hoạt động thể thao
Thực trạng sự phân hóa về trình độ SV trong GDTC và thể thao:
Ý kiến SV về các bài tập trong giờ GDTC và độ khó của các bài kiểm tra, thi cho thấy SV có sự phân hóa về trình độ; Phân loại trình độ để có nội dung, hình thức tập luyện phù hợp ít được thực hiện (Bảng 3.2)
Bảng 3.2: Ý kiến SV về mức độ hoàn thành bài tập trong giờ GDTC (n = 1523)
Phân chia thành các nhóm
1 Việc phân biệt giới tính và trình độ trong giờ học
Mức độ hoàn thành bài tập trong giờ học GDTC rất khác nhau: 20.68%
số SV không thể hoàn thành các bài tập khó; 51.61% phải gắng sức; Ngược lại, 20.03% “dễ dàng thực hiện” và 7.68% cho là “quá dễ”
Ý kiến của SV về các bài kiểm tra và thi cũng cho thấy sự phân hóa khá rõ ràng: 22.65% cho là nội dung kiểm tra và thi “quá khó”; 49.97% đánh giá là khó; 19.44% cho là bình thường và 7.94% cho là quá dễ
Bảng 3.3: Thực trạng tham gia các đội tuyển TT của SV ĐH Thái Nguyên (n=1523)
Nhiều SV đã và đang tham gia đội tuyển nghiệp dư 60 SV (3.94%) tham gia đội tuyển trường PT, phường; 16 SV (1.05%) tham gia đội tuyển cấp huyện, thành phố; 5 SV (0,33%) tham gia cấp tỉnh; 81 SV (5.32%) là thành viên đội tuyển khoa và 35 SV (2.30%) là thành viên đội tuyển trường
130 SV (8.54%) tập thường xuyên tại các CLB thể thao (Bảng 3.3)
Vận dụng quan điểm phân hóa trong giáo dục thể chất:
Giảng viên coi trọng việc phân loại trình độ người học (100% trả lời
“rất cần” và “cần”) nhưng ít người thực hiện (88.71% không thực hiện);
Trang 5Chuẩn bị đội tuyển thể thao thực hiện trong thời gian ngắn (91.94%); Chương trình GDTC chung cho tất cả các SV (100%) (Bảng 3.4)
Bảng 3.4: Ý kiến của GV về TDTT cho SV theo quan điểm phân hóa (n=62)
3.1.3 Thực trạng thể lực chung và kết quả học tập môn GDTC của SV
Đề tài kiểm tra 533 (228 nam, 305 nữ) SV năm thứ 2 Trường ĐHSP Thái Nguyên Trong đó sử dụng 4/6 test gồm: Bật xa tại chỗ; Chạy 30m XPC; Chạy con thoi 4 x 10m; Chạy 5 phút Kết quả kiểm tra được đối chiếu theo tiêu chuẩn tuổi 19 Kết quả của cả nam và nữ tổng hợp tại Bảng 3.6
Bảng 3.6: Tổng hợp kết quả kiểm tra thể lực SV Trường ĐHSP Thái Nguyên (n=533)
Kết quả đánh giá tổng hợp tại Bảng 3.6 cho thấy 14.82% đạt loại
“tốt”,38.46% “đạt” và 46.72% “không đạt” trình độ thể lực theo lứa tuổi
và 22.89%) và khoảng C (33.77% và 32.08%); Khoảng F (không đạt) có tỷ
lệ thấp nhất là 11.82% và 14.63%
Trang 63.1.4 Thực trạng các hoạt động giáo dục thể chất và thể thao của sinh viên
nhóm Thể thao nâng cao
Ý kiến của SV và cựu SV nhóm TTNC về việc các học phần GDTC:
Bảng 3.8: Tổng hợp ý kiến về việc học GDTC của SV nhóm TTNC (n=250)
Nhiều SV nhóm TTNC không hài lòng với giờ học GDTC (60.80%);
Đa số “dễ dàng thực hiện” (89.20%) các bài tập khó; Đa số đánh giá nội dung thi, kiểm tra ở mức “bình thường” (47.20%) và “quá dễ” (52.80%)
SV nhóm TTNC “dễ dàng” thực hiện các bài tập khó, bài kiểm tra, thi phần nào cho thấy quan điểm phân hóa chưa được vận dụng hiệu quả Cần
có các yêu cầu riêng cho những nhóm SV đặc biệt như nhóm TTNC
Ý kiến của SV và cựu SV nhóm TTNC về hoạt động TT ngoại khóa:
Bảng 3.9: Ý kiến của SV và cựu SVnhóm TTNC về tham gia HĐ ngoại khóa (n=250)
môn thể thao yêu
2 Hình thức tập ngoại khóa môn
Làm trọng tài trong các hoạt động thể thao
SV nhóm TTNC thường xuyên tập ngoại khóa 81.20% thường xuyên tập 2 buổi trở lên/tuần, 18.00% tập một buổi và chỉ có 0.80% trả lời là “có giải thi đấu mới tập” Tuy nhiên đa số (91.20%) tập tự phát; Chỉ có 8.80% tập trong CLB ngoài trường; Không có SV nào tập trong CLB trong trường
SV nhóm TTNC còn thể hiện trách nhiệm với tập thể Đa số đã từng thực hiện nghiệp vụ thể thao trong hoạt động tập thể (39.20% đến 82%)
Trang 73.1.5 Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao cho những sinh viên yêu thích và có
năng khiếu thể thao (nhóm Thể thao nâng cao)
Hoạt động thể thao tại CQ và địa phương của cựu SV nhóm TTNC:
Cựu SV nhóm TTNC vẫn thường xuyên hoạt động thể thao sau khi ra trường 77.14% thường xuyên tập 2 buổi trở lên/tuần; 88.57% vẫn tham gia thi đấu tại cơ sở; Có 60.00% đến 80.00% thực hiện nghiệp vụ thể thao tại cơ
sở (hướng dẫn tập luyện; tổ chức hoạt động thể thao; làm trọng tài; tổ chức tập cho đội thể thao; tham gia phụ trách CLB, đội thể thao (Bảng 3.10)
Bảng 3.10: Hoạt động TT của cựu SV nhóm TTNC tại cơ quan và địa phương (n=70)
1 Mức xuyên tập luyện môn độ thường
2
Tham gia thi đấu thể
thao cho cơ quan
3 Các hoạt động thể thao hiện nay của cơ
Làm trọng tài trong các hoạt động thể
Những công việc đã
từng thực hiện trong
các hoạt động thể
thao của cơ quan
Ý kiến của SV và cựu SV về tổ chức hoạt động cho nhóm TTNC:
SV và cựu SV nhóm TTNC đồng tình với việc tổ chức nhóm TTNC 100% SV và cựu SV trả lời “rất cần thiết” và “cần thiết”; Đa số (92.78% SV
và 92.86% cựu SV) “sẵn sàng” tham gia nhóm TTNC; 86.11% SV và 85.71% cựu SV “sẵn sàng” đóng góp kinh phí để tham gia (Bảng 3.11)
Bảng 3.11: Ý kiến của sv và cựu sv về việc tham gia nhóm TTNC
Sinh viên (n = 180) Cựu SV (n= 70)
3 Tham gia tập luyện theo nhóm
4 Nộp kinh phí để có điều kiện tập
Nội dung cơ bản dự kiến trong chương trình được đa số SV và cựu SV nhóm TTNC tán thành (76.11% đến 100% “đồng ý”) (Bảng 3.12)
Bảng 3.12: Tổng hợp ý kiến của SV và cựu SV về nội dung chương trình TTNC
Trang 8Đồng ý Phân vân Không đồng ý Nội dung cơ bản của chương
Nội dung cơ bản của chương
Ý kiến của CB quản lý về nhu cầu bồi dưỡng cho SV nhóm TTNC:
Vai trò của “hạt nhân thể thao” trong các hoạt động thể thao cơ sở được đa số CBQL nhận định rất quan trọng (42.86%) và quan trọng (50.00%); Tổ chức hoạt động TT nên thông qua sự phối hợp với các hạt nhân TT cơ sở (89.29%); Có 32.14% cho rằng bồi dưỡng nghiệp vụ cho các hạt nhân thể thao là “rất cần thiết”, 60.71% cho rằng “cần thiết”;
Các CBQL cho rằng TCHĐ cho SV nhóm TTNC theo hướng nâng cao thành tích và bồi dưỡng nghiệp vụ để họ có thể trở thành những “hạt nhân
thể thao” cơ sở là “rất cần thiết” (25.00%) và “cần thiết” (64.29%);
Bảng 3.13: Ý kiến của CBQL về nhu cầu bồi dưỡng SV nhóm TTNC (n=28)
1 Vai trò của các “hạt nhân” thể thao trong các hoạt động thể thao
Hoàn toàn do cán bộ thể
2 Việc triển khai và tổ chức các hoạt động thể thao cấp cơ sở nên
3 Nhu cầu về việc bồi dưỡng nghiệp vụ thể thao cho các cộng
4
Việc TCHĐ cho sinh viên nhóm
TTNC theo hướng nâng cao
thành tích và bồi dưỡng nghiệp
5 Việc tham gia hỗ trợ bồi dưỡng sinh viên nhóm TTNC (trong
Trang 9Các năng lực cần bồi dưỡng cho SV nhóm TTNC nhận được sự hưởng ứng cao: 92.85% đến 100% trả lời “rất cần” và “cần” (Bảng 3.14)
Bảng 3.14: Ý kiến của cán bộ TT về năng lực cần bồi dưỡng cho SV TTNC (n = 28)
3.1.6 Bàn luận về thực trạng Giáo dục thể chất cho sinh viên Đại học Thái
Nguyên và nhu cầu bồi dưỡng cho nhóm thể thao nâng cao
Theo nguyên tắc “thích hợp và cá biệt hóa” trong GDTC và quan điểm
“phân hóa” trong GD thì nội dung và hình thức GDTC phải khác nhau đối với các nhóm SV có năng lực và trình độ khác nhau Tuy nhiên, các trường thuộc ĐH Thái Nguyên chưa có chương trình và các hình thức hoạt động riêng cho những các nhóm đối tượng khác nhau; Công tác chuẩn bị đội tuyển thể thao thực hiện trong thời gian ngắn trước giải
Về chương trình GDTC: Do xu hướng tự chủ (cả về chương trình) của
các trường đại học nên chương trình GDTC ở mỗi trường là khác nhau Chương trình GDTC của các trường thuộc ĐH Thái Nguyên có khối lượng
từ 90 đến 150 tiết, thực hiện trong 3 đến 4 học kỳ, chỉ có một chương trình chung cho tất cả SV Ưu điểm của tự chủ là các trường có thể xây dựng chương trình phù hợp với đặc điểm của mình Thực tế cho thấy chương trình GDTC tại các trường ngày càng bị thu hẹp và mang tính hình thức Với phương thức đạo tạo theo tín chỉ thì đa số SV đăng ký môn học GDTC “cho xong” Trong khi từ những năm 90 của thế kỷ trước, Bộ GD&ĐT đã ban hành chương trình GDTC chính khóa cho SV với khối lượng 150 tiết/5 học
kỳ Chương trình gồm phần bắt buộc và các môn thể thao tự chọn Bên cạnh
đó cũng đưa ra các hướng điều chỉnh phù hợp với đặc điểm các trường Chương trình lúc đó đã rất quan tâm đến “… phân biệt giới tính, trình độ thể lực và sức khỏe, đặc điểm nghề nghiệp”, “… đảm bảo cho SV được học tập theo khả năng, sở thích…”, cũng như “… phát triển năng khiếu thể thao trong SV, từng bước nâng cao trình độ thể thao trong lực lượng SV…” Các nội dung về nghiệp vụ thể thao cũng được đưa vào chương trình như phương pháp tổ chức thi đấu và trọng tài, phương pháp tổ chức tập luyện…
Về nhu cầu bồi dưỡng cho nhóm TTNC:
Theo quan điểm phân hóa trong GD và nguyên tắc “thích hợp và cá biệt hóa” trong GDTC thì SV nhóm TTNC cần có cách nhìn nhận cũng như phương thức, nội dung GD đặc biệt Bồi dưỡng những SV yêu thích và có
Trang 10năng khiếu thể thao theo hướng nâng cao năng lực thi đấu và bồi dưỡng nghiệp vụ để họ trở thành những “hạt nhân” của phong trào “thể thao cho mọi người” là cần thiết, phù hợp nhu cầu xã hội Thực tiễn cho thấy:
Phong trào “thể thao cho mọi người” ngày nay phát triển rất mạnh mẽ Các hoạt động thể thao diễn ra thường xuyên, không thể thiếu với phần lớn người dân, trong các cơ quan, trường học, địa phương Các SV và cựu SV nhóm TTNC thường xuyên tham gia các hoạt động thể thao tại nơi họ sinh sống, học tập và làm việc Bên cạnh việc tham gia thi đấu, họ còn thực hiện các nhiệm vụ như hướng dẫn tập luyện, trọng tài, tổ chức tập luyện cho đội thể thao của đơn vị… (Bảng 3.9 và Bảng 3.10)
Cán bộ thể thao cơ sở cho rằng các “hạt nhân thể thao” có vai trò “quan trọng” trong hoạt động thể thao cơ sở Bồi dưỡng “hạt nhân thể thao” từ những SV yêu thích và có năng khiếu thể thao (nhóm TTNC) trong môi trường GD đại học là cần thiết Những mặt năng lực cần bồi dưỡng gồm: kỹ chiến thuật, thể lực, kiến thức; Cùng với các nghiệp vụ cấp cơ sở như: trọng tài, tổ chức thi đấu, tổ chức tập luyện… (Bảng 3.13, Bảng 3.14) Tuy nhiên, chỉ nên định hướng, không nên đề ra tiêu chuẩn bắt buộc vì còn tùy thuộc vào năng lực, nguyện vọng cá nhân Việc tham gia nhóm TTNC là tự nguyện, nếu đề ra những tiêu chuẩn cứng nhắc, thiếu linh hoạt sẽ tạo sự căng thẳng, gò bó và ảnh hưởng đến hứng thú của SV
Bộ GD&ĐT thường xuyên tổ chức các giải thi đấu thể thao cho SV và
tổ chức các Đoàn thể thao SV Việt Nam tham gia thi đấu quốc tế Do vậy, các trường tổ chức nhóm TTNC để bồi dưỡng thường xuyên với mục tiêu nâng cao năng lực thi đấu, chuẩn bị lực lượng cho các đội tuyển tham gia các giải thi đấu là cần thiết
Qua khảo sát cho thấy đa số SV và cựu SV sẵn sàng tham gia nhóm TTNC và đồng ý với nội dung bồi dưỡng Thậm chí họ sẵn sàng đóng góp kinh phí để có điều kiện tập luyện tốt hơn (Bảng 3.11 và Bảng 3.12)
Tóm lại: Qua đánh giá thực trạng và khảo sát nhu cầu thực tiễn cho thấy:
Các trường thuộc ĐH Thái Nguyên chưa có chương trình GDTC riêng cho các nhóm SV có trình độ khác nhau; SV có sự phân hóa về trình độ; Các đội tuyển thể thao được chuẩn bị trong thời gian ngắn trước giải đấu
Bồi dưỡng SV nhóm TTNC theo hướng nâng cao thành tích và bồi dưỡng nghiệp vụ thể thao là cần thiết, phù hợp với nhu cầu xã hội
Những mặt năng lực cần bồi dưỡng cho nhóm TTNC gồm: Kiến thức; Thể lực; Kỹ chiến thuật; Luật thi đấu; Phương pháp trọng tài (cơ sở); PP tổ chức hoạt động thể thao cơ sở; Phòng, sơ cứu những chấn thương; Trách nhiệm với hoạt động thể thao (chỉ nên định hướng, không nên bắt buộc)
3.2 Xây dựng chương trình Thể thao nâng cao
3.2.1 Cơ sở lý luận xây dựng chương trình Thể thao nâng cao cho SV
Vận dụng lý luận GDTC: Bồi dưỡng nâng cao cho những SV yêu thích
và có năng khiếu thể thao (nhóm TTNC) là một hình thức phân trình độ người tập dựa trên nguyên tắc “thích hợp và cá biệt hóa” Cá biệt hoá không
Trang 11chỉ hướng đến đặc điểm cá nhân mà còn phải cải tạo các đặc điểm cá nhân
cho phù hợp với yêu cầu chung
Vận dụng quan điểm phân hóa trong GD: Trong GDTC thì quan điểm
phân hóa cần được thể hiện rõ ràng hơn bất cứ lĩnh vực GD nào khác Nó được thực hiện bằng cách định hướng môn thể thao tự chọn kết hợp với phân loại trình độ người tập Tạo điều kiện cho người học lựa chọn nội dung và hình thức tập luyện phù hợp Bồi dưỡng nhóm TTNC là một hình thức phân
hóa trong TDTT trường học
Xu hướng cần quan tâm khi xây dựng chương trình TTNC: Nhằm phát
triển năng lực cho SV (khả năng tự tập luyện, tìm hiểu và giải quyết các vấn
đề trong hoạt động TDTT của cá nhân và tập thể, khả năng hỗ trợ hoạt động thể thao của tập thể); ”Tập trung vào người học” (xuất phát từ đặc điểm của SV); Chương trình theo hướng ”mở” (Nội dung mang tính định hướng Giảng viên và SV thống nhất điều chỉnh các yếu tố cho phù hợp thực tiễn)
Xác định cách tiếp cận để xây dựng chương trình: Đề tài lựa chọn cách
“tiếp cận phát triển” Chú trọng đến nhu cầu và những giá trị đem lại cho người học, coi “người học là trung tâm” Sau khoá học, người học được phát
triển những năng lực sở trường bên cạnh những yêu cầu cơ bản
Mục tiêu chung: Bồi dưỡng nhóm TTNC theo hướng nâng cao năng
lực thi đấu và bồi dưỡng nghiệp vụ TT trên cơ sở đạt trình độ thể lực chung
và chương trình GDTC cơ bản;
Quy trình tổ chức:
Bước 1: Lựa chọn nhóm TTNC từ các đội tuyển, SV tự nguyện tham
gia; Quản lý thông qua Đoàn Thanh niên hoặc bộ phận Quản sinh;
Bước 2: Xây dựng mục tiêu của chương trình theo hướng nâng cao
năng lực thi đấu (chuẩn bị lực lượng cho đội tuyển thể thao) và bồi dưỡng nghiệp vụ thể thao
Bước 3: Biên soạn chương trình linh hoạt, “mở” theo mục tiêu
Chương trình cho từng nhóm TTNC cụ thể phải phù hợp với thực tiễn Cùng
là nhóm TTNC nhưng ở mỗi khóa, mỗi khoa hay mỗi trường lại có trình độ khác nhau Không thể có chung một chương trình với cùng các hoạt động, các yêu cầu cho mọi nhóm TTNC;
Bước 4: Tổ chức thực hiện với sự đa dạng về phương pháp, hình thức
Mỗi cá nhân có đặc điểm khác nhau nên cần những phương pháp, hình thức, liều lượng khác nhau Trải nghiệm những thách thức khác nhau (tập kỹ-chiến thuật, thể lực; thi đấu giao lưu; giải thi đấu; các hoạt động thể thao tập thể; rèn luyện nghiệp vụ thể thao…);
Bước 5: Kiểm tra thường xuyên: để đánh giá sự tiến bộ của SV và sự
phù hợp của chương trình Đây cũng là cơ sở để kịp thời điều chỉnh chương trình và phân nhóm linh hoạt (Ví dụ: điều chỉnh nội dung, hình thức , mục tiêu tập luyện; tuyển thêm hoặc loại bớt thành viên của nhóm TTNC )
Thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển TDTT và đổi mới GD: Các nghiên cứu của đề tài hướng đến khắc phục
Trang 12những tồn tại cũng như thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp phát triển TDTT trường học được đưa ra trong Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 và Nghị quyết số 08-NQ/TW cũng như Nghị quyết số 29-NQ/TW của BCH TW khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD và ĐT
3.2.2 Xác định mục tiêu của chương trình Thể thao nâng cao
Căn cứ vào: Cơ sở lý luận GD và GDTC; Khái niệm về nhóm TTNC; Nhu cầu của xã hội và của SV Đề tài xác định mục tiêu của chương trình:
Về kiến thức: Hiểu biết sơ lược về TDTT (Lý luận và PP TDTT, y sinh học TDTT…); Có kiến thức cơ bản về môn TTNC (Kỹ chiến thuật; Luật thi đấu; PP trọng tài; PP tổ chức hoạt động tập luyện, thi đấu…)
Về kỹ năng: Đạt trình độ thể lực chung; Có trình độ nhất định về thể lực chuyên môn; Có khả năng thực hiện những hành động kỹ chiến thuật cơ bản; Có khả năng tham gia thi đấu cấp cơ sở; Có kỹ năng xử lý ban đầu chấn
thương thường gặp; Có khả năng thực hiện ít nhất một trong các nghiệp vụ
về trọng tài, tổ chức thi đấu, tổ chức và hướng dẫn tập luyện… (cấp cơ sở)
Về thái độ: Có ý thức tuyên truyền, hướng dẫn mọi người thực hiện
đúng các nguyên tắc cơ bản khi tham gia hoạt động thể thao; Có trách nhiệm
(tư cách là hạt nhân thể thao) phát triển hoạt động thể thao trong cộng đồng
Bảng 3.15: Ý kiến của cán bộ thể thao về mục tiêu của chương trình (n = 28)
1 Có hiểu biết sơ lược về lĩnh vực TDTT (Lý luận
2 Có kiến thức cơ bản về môn TTNC (Kỹ chiến
3 Đạt trình độ thể lực chung theo lứa tuổi; Có
4 Có khả năng thực hiện kỹ chiến thuật cơ bản;
5 Có kỹ năng cơ bản để xử lý ban đầu những chấn
6 Có khả năng thực hiện ít nhất một trong các
7 Có ý thức hướng dẫn mọi người thực hiện đúng
các nguyên tắc khi tham gia hoạt động thể thao; 21 75.00% 5 17.86% 2 7.14%
8 Có trách nhiệm (với tư cách là hạt nhân) phát
Để đảm bảo những mục tiêu bước đầu lựa chọn là phù hợp với thực tiễn, tác giả tham khảo ý kiến các cán bộ thể thao cấp cơ sở có kinh nghiệm (n = 28) Kết quả tổng hợp ở Bảng 3.15 cho thấy các mục tiêu mà đề tài lựa chọn được đa số chuyên gia tán thành Các tiêu chí được 75.00% đến 96.43% số người trả lời “đồng ý” Kết quả này cùng với kết quả điều tra về nhu cầu của SV và cựu SV nhóm TTNC cho thấy mục tiêu mà đề tài đã lựa chọn bước đầu đã đủ cơ sở khoa học để định hướng nghiên cứu tiếp theo