1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

88 360 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NÔNG NGỌC LAN Tên đề tài: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN HỮU CƠ VI SINH ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA DONG RIỀNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN KHOÁ LUẬN TỐT

Trang 1

NÔNG NGỌC LAN

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN HỮU CƠ

VI SINH ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA DONG RIỀNG

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

NÔNG NGỌC LAN

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN HỮU CƠ

VI SINH ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA DONG RIỀNG

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Viết Hưng

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa hề được sử dụng Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và các thông tin được trích dẫn trong khóa luận này đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái nguyên, ngày 30 tháng 05 năm 2015

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người thực hiện

PGS.TS Nguyễn Viết Hưng Nông Ngọc Lan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi sinh viên trong quá trình học tập ở các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm nói riêng Đây là giai đoạn cần thiết để sinh viên

hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học để áp dụng lý thuyết vào thực tiễn Đồng thời giúp sinh viên hoàn thiện về mặt kiến thức luận, phương pháp tổ chức tiến hành nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào

trong sản xuất

Xuất phát từ những cơ sở trên được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa

Nông học - Trường Đại học Nông Lâm, em tiến hành đề tài: “Nghiên cứu

ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại trường ĐHNL Thái Nguyên”

Trong thời gian học tập và hoàn thành khóa luận ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, em còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo và bạn bè trong khoa Nông học Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu

sắc đến thầy giáo PGS.TS Nguyễn Viết Hưng đã hướng dẫn, động viên và giúp

đỡ tận tình để em đạt được kết quả này

Do trình độ và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế, nên khó tránh khỏi những thiếu xót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và bạn bè để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Nông Ngọc Lan

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1: Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến tỷ lệ nảy mầm và

thời gian sinh trưởng của giống dong riềng DR3 27 Bảng 4.2: Ảnh hưởng của loại phân vi sinh đến động thái tăng trưởng chiều

cao cây của giống dong riềng DR3 29 Bảng 4.3: Ảnh hưởng của một số loại phân vi sinh đến động thái tăng

trưởng đường kính thân của giống dong riềng DR3 32 Bảng 4.4: Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến động thái ra lá của

giống dong riềng DR3 34 Bảng 4.5: Ảnh hưởng của loại phân vi sinh đến chiều cao, đường kính cuối

cùng của giống dong riềng DR3 36 Bảng.4.6: Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến tình hình nhiễm sâu

bệnh hại và khả năng chống đổ của giống dong riềng DR3 38 Bảng 4.7: Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến các yếu tố cấu thành

năng suất và năng suất của giống dong riềng DR3 39 Bảng 4.8: Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến hiệu quả kinh tế

của giống dong riềng DR3 42

Trang 6

Hình 4.3: Biểu đồ động thái ra lá của giống dong riềng DR3 34

Hình 4.4: Biểu đồ ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ vi sinh đến năng

suất của giống dong riềng DR3 41

Hình 4.5: Biểu đồ ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến hiệu quả

kinh tế của giống dong riềng DR3 42

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CTTN : Công thức thí nghiệm

CT : Công thức

Cs : Cộng sự CIP : Trung tâm khoai tây Quốc tế Đ/C : Đối chứng

ĐHNLTN : Đại học Nông Lâm Thái Nguyên HTX : Hợp tác xã

HTL : Hòa tan lân KHSS : Khoa học sự sống

NC & PT : Nghiên cứu và phát triển NSLT : Năng suất lý thuyết NSTT : Năng suất thực thu UBND : Ủy ban nhân dân PTNT : Phát triển nông thôn

vnd : Việt Nam đồng

ha : hecta

Trang 8

MỤC LỤC

PHẦN 1:MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và mục đích nghiên cứu 3

1.2.1 Mục đích nghiên cứu 3

1.2.2.Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dong riềng 4

2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố của cây dong riềng 4

2.1.2 Phân loại cây dong riềng 4

2.1.3 Đặc điểm thực vật học cây dong riềng 5

2.1.4 Yêu cầu sinh thái của cây Dong riềng 7

2.2 Một số nghiên cứu về phân hữu cơ vi sinh 8

2.2.1 Khái niệm phân hữu cơ vi sinh 10

2.2.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân bón vi sinh ở trên thế giới 11

2.2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón vi sinh trong nước 11

2.3 Tình hình nghiên cứu dong riềng trên Thế giới và ở Việt Nam 14

2.3.1.Tình hình nghiên cứu dong riềng trên thế giới 14

2.3.2 Tình hình nghiên cứu dong riềng tại Việt Nam 16

2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới và Việt Nam 19

2.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới 19

2.4.2 Tình hình sản suất và tiêu thụ dong riềng tại Việt Nam 19

Trang 9

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Đối tượng nghiên cứu 22

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

3.3 Nội dung nghiên cứu 22

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu 22

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22

3.4.2 Quy trình kỹ thuật áp dụng cho các thí nghiệm 23

3.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 24

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 26

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến khả năng sinh trưởng của dong riềng 27

4.1.1 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến tỷ lệ nảy mầm và thời gian sinh trưởng của dong riềng 27

4.1.2 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến động thái tăng trưởng chiều cao cây 29

4.1.3 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến động thái tăng trưởng đường kính thân cây dong riềng 31

4.1.4 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến động thái thái ra lá của cây dong riềng 33

4.2 Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến một số đặc điểm hình thái của cây dong riềng DR3 ở các công thức thí nghiệm 36

4.2.1 Chiều cao, đường kính thân, tổng số lá trên thân chính và độ đồng đều của các công thức tham gia thí nghiệm 36

4.3 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến đến tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống dong riềng DR3 37

Trang 10

4.4 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến năng suất và yếu tố cấu

thành năng suất giống dong riềng DR3 39

4.5 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến hiệu quả kinh tế của giống dong riềng DR3 41

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Kiến nghị 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO

I Tài liệu tiếng việt

II Tài liệu tiếng Anh

PHỤ LỤC 1

Trang 11

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Cây dong riềng có tên khoa học là Canna edulis, thuộc nhóm Agriculture,

có nguồn gốc phát sinh ở Peru, Nam Mỹ và được trồng ở nước ta vào đầu thế kỷ thứ XIX Dong riềng là cây trồng sinh trưởng, phát triển mạnh, có khả năng thích ứng rộng, trồng được trên nhiều loại đất kể cả các vùng đất nghèo dinh dưỡng, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận Năng suất củ tươi có thể đạt từ 45-60 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 13,36 – 16,4 % (Nguyễn Thiếu Hùng

và CS, 2010) [9] Do củ dong riềng có hàm lượng tinh bột cao nên thường được dùng làm nguyên liệu chế biến tinh bột, làm miến dong, bánh đa, bánh mỳ, lấy sợi, pha chế huyết thanh Ngoài ra, thân, lá dong riềng còn được sử dụng làm thức ăn trong chăn nuôi gia súc, góp phần thúc đẩy chăn nuôi phát triển Dong riềng là cây dài ngày, chịu hạn tốt, chịu rét khá, dễ trồng, ít tốn công chăm sócnên trồng dong riềng có hiệu quả kinh tế cao, trung bình một ha trồng 1600-1800

kg củ, sau 8-10 tháng có thể cho thu hoạch Năng suất trung bình 45-60 tấn củ/ha, lãi xuất có thể đạt 50 – 60 triệu đồng/ha Nếu trồng ở nơi đất tốt, một khóm có thể thu được 15 – 20kg, thân lá tận dụng cho chăn nuôi, làm phân hữu

cơ, lá dùng gói bánh… Trước kia do không thấy được giá trị của cây dong riềng nên chúng chủ yếu được trồng trên đất cằn cỗi, đất tận dụng mà các cây khác không phát triển được hoặc trên đất đồi núi Từ năm 1980 cây dong riềng đã được chú ý phát triển như là cây hàng hóa, có giá trị kinh tế Một số địa phương

đã chuyển đổi dong riềng thành cây trồng hàng hóa như Bắc Kạn, Sơn La, Hưng Yên, Hà Nội, Hòa Bình, Quảng Ninh, Đồng Nai Khi năng suất dong riềng ngày càng tăng thì nhu cầu của phân bón cũng được tăng lên do đất không đủ khả năng cung cấp dinh dưỡng Việc lạm dụng phân hóa học để làm tăng năng suất cây trồng đã dẫn tới sự mất cân đối giữa các yếu tố dinh dưỡng, không những

Trang 12

làm giảm chất lượng nông sản mà còn gây ô nhiễm môi trường, làm cạn kiệt đất màu mỡ và chai cứng đất, hậu quả là năng suất có xu hướng bị chững lại Để giải quyết vấn đề này, hàng loạt các vấn đề kỹ thuật được đặt ra và quan tâm như vấn đề quản lý tổng hợp dinh dưỡng, vấn đề sử dụng phân bón sao cho hợp lý, cân đối và đặc biệt xu hướng chung trên thế giới và nước ta hiện nay là: tăng cường sử dụng các loại phân hữu cơ và phân hữu cơ vi sinh để đạt hiệu quả cao

mà vẫn giữ được độ phì cho đất, góp phần bảo vệ môi trường, đảm bảo năng suất

cao và ổn định

Phân hữu cơ vi sinh là loại phân hỗn hợp giữa một phần là phần hữu cơ

và phần còn lại là các chủng vi sinh sinh vật có khả năng cố định đạm, phân giải lân, kích thích quang hợp Trong hoạt động sống các vi sinh vật còn sản sinh ra nhiều hoạt động sinh học có tác dụng trực tiếp đối với quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng Việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh vừa cung cấp nguồn hữu cơ góp phần cải tạo đất và nâng cao, chất lượng cây trồng

Qua điều tra việc sử dụng phân vi sinh trong sản xuất nông nghiệp ở một

số địa phương trong tỉnh Thái Nguyên đã nâng cao năng suất các loại cây nông nghiệp như lúa, ngô, các loại cây rau màu, cây ăn quả từ 18 – 35% Ngoài ra còn phòng chống được một số loại bệnh cho cây trồng như bệnh khô vằn trên lúa, ngô, bệnh héo xanh trên các loại rau Giảm thiểu một số loại sâu hại như sâu đục thân, sâu xám, sâu quấn lá… Sử dụng phân bón vi sinh còn giúp cây sinh trưởng khỏe hơn, nông sản có chất lượng tốt và đều hơn, năng suất cao hơn việc sử dụng phân hóa học từ 10 – 15% mà cây lại ít bị sâu bệnh hơn… Tuy nhiên việc sử dụng phân bón vi sinh cho cây dong riềng đang còn rất mới và chưa có nghiên cứu đầy đủ để

đưa ra phân vi sinh có hiệu quả cao đối với cây trồng này

Xuất phát từ thực tế ấy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên

cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

Trang 13

1.2 Mục tiêu và mục đích nghiên cứu

1.2.1 Mục đích nghiên cứu

Xác định được loại phân vi sinh thích hợp nhằm nâng cao năng suất,

chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất dong riềng

1.2.2.Mục tiêu nghiên cứu

 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân vi sinh đến khả năng sinh trưởng của giống DR3

 Đánh giá sự ảnh hưởng của một số loại phân vi sinh đến tình hình sâu, bệnh hại và khả năng chống đổ của giống DR3

 Nghiên cứu ảnh hưởng của loại phân vi sinh đến đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống DR3

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế Đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận được những phương pháp nghiên cứu khoa học, nâng cao kiến thức và tích lũy kinh

nghiệm thực tế

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Qua kết quả nghiên cứu xác định được công thức bón phân phù hợp với sản xuất dong riềng tại Thái Nguyên và đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức bón Từ đó khuyến cáo ra sản xuất

Trang 14

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dong riềng

2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố của cây dong riềng

Dong riềng có nguồn gốc ở Peru, Nam Mỹ Được chế biến lấy bột để làm lương thực, thực phẩm là chính (Mai Thạch Hoành và Cs.2011)[5] Đến nay đã xác định được 7 loài dong riềng có nguồn gốc tại châu Mỹ và Trung

Quốc (Darlington và Janaki - Ammal,1945) đó là:

 Cana discolor ở Tây Ấn nhiệt đới,

 C flauca ở Tây Ấn và Mêhico,

 C flaccida ở Nam Mỹ,

 C edulico ở châu Mỹ nhiệt đới,

 C indica ở châu Mỹ nhiệt đới,

 C.libata(aureo - vittata) ở Braxin,

 C.humilis ở Trung Quốc

Ngày nay, dong riềng được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới nơi có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới Trong đó Nam Mỹ là trung tâm đa dạng di truyền nguồn gen dong riềng, ngoài ra dong riềng được trồng và sử dụng nhiều ở các nước châu Á, châu Phi và châu Úc

Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước thuộc vùng Nam Mỹ, châu Phi, và một số nước Nam Thái Bình Dương Tại châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc

và Đài Loan (Hermann và Cs.2007) [19]

2.1.2 Phân loại cây dong riềng

Tên khoa học : Canna edulis Ker

Bộ : Scitaminales

Trang 15

Dong riềng thuộc họ chuối hoa - Cannaceae

Có số lượng nhiễm sắc thể cơ bản là 9 Có 2 dạng: nhị bội (2n = 2X = 18) và tam bội (2n = 3X = 27) đã được thông báo (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và

Cs, 2005)[7]

2.1.3 Đặc điểm thực vật học cây dong riềng

Thân: Thân cây dong riềng bao gồm hai loại là: thân khí sinh và thân

củ Thân khí sinh cao trung bình từ 1,2 m đến 1,5 m, có những giống có thể cao tới 2,5m, thường có màu xanh hoặc màu xanh xen tím Thân cây gồm những đốt kéo dài và thân khí sinh được tính từ đốt tiếp phần củ Theo nghiên cứu của Tổ nghiên cứu cây có củ Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (1969), khi tiến hành giải phẫu thân khí sinh cho thấy từ bên ngoài vào đầu tiên là lớp biểu bì gồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có những bó cương

mô xếp thành những bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây khỏi đổ, tiếp đến

là những bó libe, mạch gỗ và trong cùng là nhu mô

Rễ: Bộ rễ cây dong riềng thuộc loại rễ chùm, phát triển mạnh và ăn sâu

vào đất khoảng 20cm – 30cm Rễ mọc từ trên các đốt của thân củ, từ lớp tế bào trụ bì ở đốt thân củ hình thành ra rễ Rễ của chúng phát triển liên tục phân thành rễ cấp một, cấp hai và cấp ba tùy thuộc vào từng giống

Củ: Củ cây dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có

thể đạt chiều dài 60cm Thân rễ phân thành nhiều nhánh và chứa nhiều tinh bột, thân rễ nằm trong đất.Vỏ của thân củ có thể có màu trắng hoặc vàng kem đến màu hồng tía Thân rễ gồm nhiều đốt, mỗi đốt chứa một lá vảy Ban đầu,

lá vảy mới hình thành có hình chóp nhọn, khi lá to, lá vảy bị rách ra và tiêu dần.Trên mỗi đốt có những mầm có thể phát triển thành nhánh, nhánh có thể phân chia thành các nhánh cấp 1 đến cấp 3 Giải phẫu thân rễ cho thấy phía ngoài cùng của củ là biểu bì gồm những tế bào dẹt, tiếp là nhu mô bên trong

có những cương mô và những bó mạch dẫn, libe và gỗ Những tế bào nhu mô

Trang 16

ở đây chỉ chứa một lượng nhỏ số hạt tinh bột, vào trong nữa là lớp trụ bì rất rõ

và trong cùng là nhu mô chứa nhiều hạt tinh bột So với thân khí sinh thì thân

rễ có ít bó cương mô hơn Kích thước củ dong riềng biến động khá lớn phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm bón Năng suất củ dong riềng cao, nếu được trồng ở điều kiện đất đai tốt, một khóm có thể thu được 15 – 20kg củ Trồng 1ha dong riềng có thể cho năng suất đạt từ 45 - 60 tấn củ nếu thâm canh

Lá: Lá dong riềng thuôn dài, mặt trên màu xanh hoặc xanh lục xen tím,

mặt dưới có màu xanh hoặc màu tím Lá dong riềng có diện tích tương đối lớn gồm phiến lá và cuống lá với bẹ ở gốc Phiến lá dong riềng dài khoảng 35 – 60cm, bề rộng khoảng 22 – 25 cm, mép lá nguyên, xung quanh mép lá có viền một đường mỏng màu tím đỏ hoặc màu trắng trong Phiến lá có gân giữa

to, gân phụ song song, có màu xanh hoặc màu tím đỏ Cuống lá dạng bẹ ôm lấy thân, có chiều dài khoảng từ 8 – 15cm.(Hoàng Thị Ngọc Huệ và Cs, 2005)[7]

Hoa: Hoa dong riềng mọc ở ngọn cây, xếp thành cụm, cụm hoa dạng

chùm, được bao bọc bởi một mo chung như hoa chuối Chùm hoa thiết diện hình tam giác, có khoảng 6 – 8đốt, mỗi đốt có hai hoa, riêng đốt trên cùng và đốt dưới cùng có một hoa

Cấu tạo của hoa gồm: ba cánh hoa dài thon, cuộn theo chiều dài; ba lá đài hình cánh rời nhau Hoa có năm nhị đực, vòng ngoài có ba nhị thì hai nhị biến thành bản hình cánh hoa, một nhị biến thành cánh môi cuộn lại phía trước Vòng trong có hai nhị, trong đó một nhị bị tiêu biến chỉ còn vết, nhị còn lại thì một nửa cánh mang một bao phấn, một nửa còn lại cũng biến thành hình cánh Các nhị hoa của cây dong diềng đều mang màu sắc sặc sỡ, màu cánh biến động từ màu đỏ tươi đến màu vàng điểm đỏ Bầu hoa có ba ô, mỗi ô

có từ 6 – 8 noãn, phía trên bầu hoa có tuyến tiết mùi Thời gian hình thành nụ

Trang 17

đến nở hoa chiếm khoảng từ 3 – 5 ngày Hoa nở theo thứ tự từ thấp đến cao,

từ trong ra ngoài Thời gian nở hoa từ 3 – 5 ngày vào sáng sớm

Quả: Quả của cây dong riềng thuộc dạng quả nang và nhiều gai mềm,

có hình trứng ngược, kích thước khoảng 3cm Đường kính quả tầm 3mm

Hạt: Hạt của cây dong riềng có màu đen, hình tròn, đường kính hạt

khoảng 3,5 – 5mm Khối lượng 1000 hạt khoảng từ 12,0g – 13,0g

2.1.4 Yêu cầu sinh thái của cây Dong riềng

Yêu cầu về nhiệt độ: Cây dong riềng ưa nhiệt độ cao, nhiệt độ thích hợp

để cây sinh trưởng và phát triển bình thường nằm trong khoảng từ 25 – 300

C Trong điều kiện thời tiết ấm áp dong riềng sinh trưởng phát triển mạnh, tốc độ đồng hóa cao và đẩy nhanh quá trình hình thành thân củ trong cây Trong điều kiện thời tiết hanh và hơi lạnh, quá trình vận chuyển tinh bột từ thân lá đến củ được đẩy mạnh Ngoài ra, cây Dong riềng chịu được lạnh khá nên có khả

năng trồng được ở độ cao trên 2.500m trên mặt nước biển

Yêu cầu về đất trồng: Dong riềng là cây trồng dễ tính, yêu cầu đất

không quá nghiêm khắc nên có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau.Tuy nhiên trồng trên đất cát pha, nhiều mùn, đủ ẩm là tốt nhất để cho năng suất cao Dong riềng là loại cây chịu úng kém do vậy đất trồng dong riềng phải là nơi dễ thoát nước Đất đọng nước làm cho bộ rễ hô hấp kém có thể dẫn đến thối củ Dong riềng phát triển tốt với pH = 5 – 7 , với pH dưới 4 phát triển kém, rễ nhỏ bị đen, xù xì, mọc ngược lên mặt đất.(Hoàng Thị Ngọc Huệ và

Trang 18

Yêu cầu về ánh sáng : Dong riềng không có nhu cầu nhiều về ánh sáng,

nên có thể trồng dưới tán cây ăn quả, cây sinh trưởng, phát triển bình thường nơi cớm nắng Trong điều kiện ngày ngắn, cường độ ánh sáng mạnh làm thúc đẩy

quá phát triển và hình thành củ, trong khi ngày dài thúc đẩy sự phát triển thân lá

Yêu cầu về chất dinh dưỡng: Cũng như nhiều loại cây có củ khác, Dong

riềng yêu cầu có đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng NPK, trong đó K có ý nghĩa trong việc tăng khối lượng củ Cây Dong riềng yêu cầu đất tốt giàu mùn

để cho năng suất cao Những nơi đất cằn cỗi quá, cần bón thêm phân hữu cơ Phân bón rất có ý nghĩa trong việc tăng năng suất củ của dong riềng (Nguyễn

Thị Ngọc Huệ và Cs, 2005)[7]

2.2 Một số nghiên cứu về phân hữu cơ vi sinh

Chúng ta biết rằng hoạt động của vi sinh vật ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của cây trồng ở cả hai mặt có lợi và có hại, vì vậy từ lâu đời ta đã nghĩ đến tác động vào hoạt động của vi sinh vật ở trong đất, tăng cường số lượng

và hoạt động của vi sinh vật có lợi, hạn chế số lượng và hoạt động của vi sinh

vật có hại cho cây trồng

Đối với sản xuất nông nghiệp, vi sinh vật có vai trò rất to lớn Vi sinh vật tham gia tích cực vào sự phân giải các hợp chất hữu cơ, nâng cao hiệu quả

sử dụng phân khoáng,đồng thời cố định nitơ của đất, hạn chế một số bệnh vùng rễ cây trồng, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sử dụng Ngoài ra, Trong hoạt động sống vi sinh vật còn sản sinh ra nhiều chất hoạt động sinh học có tác dụng trực tiếp đối với quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng Các chất hoạt động sinh học này (axit amin, vitamin, enzyme, chất kháng sinh, độc tố,…) tích lũy trong vùng rễ cây trồng, làm tăng cường sự phát triển của các loại cây phù hợp với khu hệ sinh vật này và làm hạn chế sự phát triển của các loại cây khác Người ta nhận thấy nếu không có vi sinh vật giúp cây trồng tiêu thụ các sản phẩm trao đổi chất do các cây trồng tiết ra

quanh bộ rễ thì một số các sản phẩm này sẽ đầu độc trở lại cây trồng

Trang 19

Trong quá trình thực hiện các biện pháp kĩ thuật trồng trọt, ở mỗi khâu vai trò của vi sinh vật đều nổi lên khá rõ rệt Vì vậy, để có thể đạt hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp không thể không chú ý đến hoạt động của sinh vật

Phân hữu cơ vi sinh là sản phẩm sinh học, có tác dụng nâng cao năng suất và chất lượng nông sản, giảm chi phí, tiết kiệm và tăng hiệu lực phân hóa học, làm giảm tối thiểu việc sử dụng phân khoáng góp phần tạo nên cân bằng sinh thái Phân hữu cơ vi sinh có ý nghĩa trong việc bảo vệ môi trường và xây dựng nền nông nghiệp sạch bền vững, do vậy nghiên cứu sử dụng phân hữu

cơ vi sinh trong nông lâm nghiệp đã đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm và phát triển

Để đáp ứng nhu cầu của sản xuất, phân bón vi sinh vật sắp tới sẽ là sản phẩm được tạo ra từ những tổ hợp vi sinh vật đa hoạt tính, khi đó vi sinh vật

sử dụng không chỉ có nhiệm vụ cung cấp, chuyển hóa dinh dưỡng, giúp cây trồng sử dụng dinh dưỡng tốt hơn mà còn nâng cao độ phì của đất trồng, giảm thiểu các yếu tố sinh học và phi sinh học đối với sức khỏe của cây trồng và đất trồng

Tùy theo điều kiện tự nhiên, đặc điểm canh tác của từng vùng và công thức sử dụng của từng địa phương mà phân hữu cơ vi sinh được sản xuất từ một chủng hoặc nhiều chủng vi sinh khác nhau, sử dụng cho một hay nhiều loại đối tượng cây trồng khác nhau

Các loại phân hữu cơ vi sinh đang được thế giới nghiên cứu và sử dụng

có thể kể đến là phân hữu cơ vi sinh cố định đạm, phân hữu cơ vi sinh phân giải lân:

Phân hữu cơ vi sinh cố định đạm: Phân đạm vi sinh hay còn được gọi là phân vi sinh vật cố đinh Nitơ Loại phân này chứa những vi sinh vật có khả năng sử dụng Nito từ không khí, tổng hợp thành đạm cung cấp cho đất và cây trồng Sử dụng phân vi sinh thay thế được phân đạm hóa học từ 10 – 30 % tùy theo từng loại cây trồng, làm giảm đáng kể lượng độc tố NO3

- chất gây bệnh

Trang 20

ung thư) tồn đọng trong nông sản phầm Bón phân đạm vi sinh không tiêu diệt

vi sinh vật trong đất, trái lại, độ màu mỡ của đất được phục hồi, không gây ô nhiễm môi trường Đặc biệt cho hiệu quả cao nếu kết hợp với bón phân chuồng, phân xanh

Phân hữu cơ vi sinh phân giải lân: Là loại phân vi sinh có khả năng chuyển hóa các hợp chất phospho khó tan thành dễ tiêu cho cây trồng sử dụng

Các loài vi sinh vật phân giải lân có thể kể đến: Preudomonas, Flavo.Bacterinin, Pennicilium (Nguyễn Đường và Cs, 1999)[2]

Trong đất thường tồn tại nhóm vi sinh vật có khả năng hòa tan lân Nhóm vi sinh vật này được các nhà khoa học đặt tên là nhóm HTL (hòa tan lân) Sử dụng các chế phẩm vi sinh vật HLT đem lại hiệu quả cao ở những vùng đất cây bị thiếu lân

Vai trò của vi sinh vật phân giải lân được nhiều nhà khoa học trên thế giới biết đến từ những năm 50 – 60, với các cây ngũ cốc như kiều mạch, đại mạch và ngô [9] Vi sinh vật phân giải lân không chỉ làm tăng năng suất mà còn làm tăng hiệu quả của phân lân vô cơ từ 15 - 30% Tuy nhiên, tùy từng loại đất mà phản ứng của cây trồng đối với vi sinh vật phân giải lân có khác nhau Năng suất cây trồng tăng hơn đối chứng ở vùng đất chua khoảng 9 - 27% Một số thử nghiệm khi bón quặng phot phat cho thấy sử dụng vi sinh vật phân giải lân có thể tiết kiệm được 50kg P205 /ha/vụ Chúng có thể làm tăng năng suất rau quả từ 5 - 30%, ngoài ra còn làm tăng chất lượng nông sản.(Nguyễn Đường và Cs, 1999) [2]

2.2.1 Khái niệm phân hữu cơ vi sinh

Phân hữu cơ vi sinh: Là một loại sản phẩm được tạo thành thông qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau (phế thải nông, lâm nghiệp, phế thải chăn nuôi, phế thải chế biến, phế thải đô thị,

Trang 21

phế thải sinh hoạt ), trong đó các hợp chất hữu cơ phức tạp dưới tác động của vi

sinh vật hoặc các hoạt chất sinh học của chúng được chuyển hoá thành mùn

2.2.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân bón vi sinh ở trên thế giới

Các kết quả nghiên cứu từ các nước Mỹ, Canada, Nga, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản,… cho thấy sử dụng phế phẩm vi sinh vật có thể cung cấp cho đất và cây trồng từ 30 – 60 kg N/ha/năm hoặc thay thế từ 1/2 – 1/3 lượng phân vô cơ từ quặng phốt phát Ngoài ra thông qua các hoạt động sống của vi sinh vật mà cây trồng được nâng cao khả năng trao đổi chất, khả năng chống chịu sâu bệnh và qua đó góp phần nâng cao năng suất và chất lượng nông sản

Từ lâu phân bón vi sinh đã trở thành hàng hóa được sử dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới Chế phẩm vi sinh vật có thể sử dụng như một loại phân bón hoặc phối trộn với nền hữu cơ tạo thành phân bón hữu cơ vi sinh vật

Hiện nay tình trạng ô nhiễm rác thải đã trở nên trầm trọng và bên cạnh

đó là nhu cầu hữu cơ sản xuất nông nghiệp an toàn ngày càng lớn, phương pháp phân loại rác thải sinh hoạt thành rác hữu cơ và rác vô cơ đã được áp dụng Những rác vô cơ được đem chôn, đốt hoặc tái chế, còn rác hữu cơ sẽ được chế biến thành phân hữu cơ cho nông nghiệp Từ những năm 90 của thế

kỷ XX cho đến nay, xu hướng này ngày càng phát triển và được mở rộng trên toàn cầu Có thể nói đây là xu hướng này ngày càng phát triển và được mở rộng trên toàn cầu, đây là xu hướng tích cực, hữu hiệu nhằm giải quyết vấn đề bức xúc nhất của môi trường sống Nhưng vấn đề nghiên cứu sử dụng phân vi sinh bón cho dong riềng cũng chưa nhiều Phân lân vi sinh đã làm tăng hiệu quả sử dụng phân vô cơ lên từ 15 – 30%

2.2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón vi sinh trong nước

Phân bón ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất nông sản, đặc biệt là các loại nông sản phẩm dùng làm thức ăn cho người và gia súc Các chỉ tiêu về

Trang 22

thức ăn gia súc chịu ảnh hưởng về phân bón được nghiên cứu là: Hàm lượng

muối khoáng, các hợp chất hữu cơ như các chất có chứa N, enzim

Nhiều kết quả cho thấy, sự cung cấp quá lượng đạm không hợp lý làm tăng lượng nitơrat trong nông sản, là nguyên nhân tăng bệnh ung thư và một

số bệnh khác Bón phân kali gây ra sự thiếu magiê, thiếu lân gây ra sự tích lũy nhiều izoflavin.Vì thế, từ những năm đầu của thập kỷ 80, Nhà nước đã triển khai hàng loạt các đề tài nghiên cứu thuộc chương trình công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp giai đoạn 1986 – 1990 và chương trình công nghệ sinh học giai đoạn 1991 – 2005 Một số kết quả chính trong công tác nghiên cứu ứng dụng vi sinh vật làm phân bón phục vụ phát triển nông lâm bền vững tại Việt Nam

Dự án Kết hợp cải cách giáo dục và Phát triển cộng đồng do trường Đại học Cần Thơ hợp tác với trường Đại Học Michigan State thực hiện năm 2006-

2007 ở ấp Hòa Bình huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang trong 4 công thức bón phân: 100% phân hóa học; bón 100% phân hữu cơ; 50% phân hóa học + 50% phân hữu cơ; 100% phân hữu cơ + 50% phân hóa học; Kết quả cho thấy, công thức bón 100% phân hữu cơ + 50% phân hóa học cho năng suất và hiệu quả tốt nhất đối với rau (Phùng Nguyệt Hồng, 2007) [6]

Những nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thanh Hiền về phân bón đạm

vi sinh Biogro ở xóm Tâm Thái, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trong 4 vụ cho thấy: việc dùng đạm vi sinh thay thế được 50% ure và tăng năng suất cây trồng Với lúa, năng suất tăng từ 10 – 25%, công thức bón đạm vi sinh 3 kg/sào thay cho 70% đạm hóa học, tăng năng suất 25,9 kg/sào Đối với mỗi loại rau khác nhau năng suất cũng tăng 12 – 20% Bên cạnh đó người ta nhận thấy đạm vi sinh làm tăng khả năng chống chịu sâu bệnh của cây trồng vì nó làm cây trồng khỏe, phát triển đều, phẩm chất hạt và quả tăng (Nguyễn Thanh Hiền, 1996) [4]

Trang 23

 Thu thập, phân lập, tuyển chọn chủng giống vi sinh vật: Các chủng giống vi sinh vật được thu thập, phân lập, tuyển chọn và lưu giữ tại Quỹ gen

vi sinh vật nông nghiệp Hàng năm quỹ gen vi sinh vật bổ sung 30 – 50 chủng loại vi sinh vật mới từ các nguồn phân lập khác nhau Ngoài ra thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế với các viện vi sinh vật Liên bang Nga, Viện nghiên cứu cây trồng bán khô hạn (ICRISAT - Ấn Độ), trung tâm cố định đạm sinh học (NIFTAL – Mỹ, Thái Lan)…quỹ gen vi sinh vật nông nghiệp được mở rộng thêm với nhiều chủng giống đa dạng khác

 Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất phân bón vi sinh vật: Phân bón vi sinh vật được sản xuất bằng cách nhân sinh khối vi sinh vật trong môi trường và điều kiện thích hợp để đạt được mật độ nhất định sau đó xử lý, bảo quản và đưa đi sử dụng Nhiều sản phẩm được tạo ra đã được khảo nghiệm trên diện rộng và được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận và cho đăng ký trong danh mục các loại phân bón được sử dụng tại Việt Nam (phân vi sinh vật cố định nitơ cho cây họ Đậu, phân lân vi sinh HUMIX, phân

vi sinh đa chức năng…) Tùy theo công nghệ mà sản phẩm phân bón có thể chứa sinh khối từ một chủng hay nhiều chủng vi sinh vật đã tuyển chọn và sản phẩm có thể được sản xuất ở dạng bột hoặc lỏng

 Đánh giá hiệu lực của phân bón vi sinh vật đối với cây trồng: Vi khuẩn nốt sần có tác dụng nâng cao năng suất lạc vỏ 13,8 – 17,5% ở các tỉnh phía Bắc miền Trung và 22% ở các tỉnh miền Nam Lợi nhuận do vi khuẩn nốt sần đạt 442.000 vnd/ha với tỷ lệ lãi suất /1đ chi phí đạt 9,8 lần Phân vi sinh nốt sần không chỉ có tác dụng làm tăng năng suất lạc, tiết kiệm phân đạm khoáng mà còn tăng cường sức đề kháng cho lạc đối với một số bệnh vùng rễ, ngoài ra lạc có sinh khối chất xanh cao hơn Tàn dư thực vật sau khi thu hoạch nếu được vun trả lại cho đất sẽ trở thành nguồn dinh dưỡng đạm và các chất hữu cơ quan trọng cho các cây trồng vụ sau

Trang 24

 Một số chế phẩm vi sinh vật: Chế phẩm NSA được công ty Thiên Nông đưa vào nước ta từ năm 1990 một dạng photpho Bacterin bao gồm nhiều loại vi khuẩn có khả năng chuyển hóa lân vô cơ, chế phẩm này đã được ứng dụng thành công ở nhiều tỉnh miền Bắc song việc nghiên cứu chất lượng

và độ bền của chế phẩm trong điều kiện nóng ẩm như nước ta vẫn chưa được đặt ra Có thể nói trong những năm gần đây ngành sản xuất phân bón ở nước

ta phát triển rất mạnh đặc biệt là sản xuất phân vi sinh, các loại phân có thể kể đến là: Phân đạm sinh học, đạm vi sinh Komic, phân hữu cơ vi sinh Biogro, phân vi sinh Sông Gianh, phân lân vi sinh vật Sơn Tây, phân lân vi sinh vật Vegecam, phân hữu cơ vi sinh đa tác dụng

Sử dụng phân hữu cơ vi sinh đã có những đóng góp nhất định để giải quyết những vấn đề bón phân tổng hợp cân đối cho cây trồng để tiến tới nông nghiệp ổn định, bền vững và chắc chắn sẽ đưa ra nhiều tiến bộ kỹ thuật có hiệu quả sử dụng trong những năm tới

2.3 Tình hình nghiên cứu dong riềng trên Thế giới và ở Việt Nam

2.3.1.Tình hình nghiên cứu dong riềng trên thế giới

Cây dong riềng thuộc nhóm cây nông nghiệp có nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới Nam Mỹ là trung tâm đa dạng của dong riềng nhưng châu Á, châu Úc và châu Phi là những nơi trồng và sử dụng dong riềng nhiều nhất dong riềng được gọi bằng một số tên khác nhau như Queenland Arrowroot,

Canna Indica (L.), Canna Edulis (Kerr- Gawl) (Cecil T, 1992) [18]

Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy môt thương mại tại các nước vùng Nam Mỹ, châu Phi và một số nước Nam Thái Bình Dương Tại châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và Đoài Loan Mặc dù vậy đến nay chưa có số liệu thống kê chính xác về loài cây

trồng này

Trang 25

Nghiên cứu về dong riềng còn hạn chế Theo (Hermann và Cs, 2007)[19], cây dong riềng là loài cây triển vọng cho hệ thống nông lâm kết hợp vì nó có những đặc điểm quý như chịu bóng râm, trồng được những nơi khó khăn như thiếu nước, thời tiết lạnh Củ dong riềng có nhiều công dụng: luộc để ăn, làm bột, nấu rượu Bột dong riềng dễ tiêu hóa nên có thể làm nguồn thức ăn tốt cho trẻ nhỏ và người ốm Bột dong riềng có thể dùng làm hạt chân châu, miến, bánh đa, bánh mì, bánh bao, mì sợi, kẹo và thức ăn chăn nuôi Đối với miền núi, những nơi kinh tế còn khó khăn, dong riềng cũng là cây đảm bảo an ninh lương thực Trong thân cây dong riềng có sợi màu trắng,

có thể được sử dụng để chế biến thành sợi dệt thành các loại bao bì nhỏ Củ dong riềng có thể làm thức ăn chăn nuôi, tuy nhiên cả củ, thân, lá đều dùng

được vào mục đích này

Ở Ecuador, dong riềng được trồng trên đất cát pha, ở độ cao 2340 m trên mực nước biển, trong điều kiện nhiệt độ bình quân 15 – 170

C Trong 6 tháng đầu người ta trồng xen với khoai tây, sau 12 tháng thu hoạch cho năng suất củ trung bình 56 tấn/ha Nghiên cứu đánh giá 26 mẫu giống dong riềng từ ngân hàng gen dong riềng quốc tế của CIP tại Ecuador, trong nhà lưới ở độ cao 2400 m, biên độ 12 – 270C với mật độ 2 cây/m2, trên nền đất cát pha, không bón phân, đã thu được kết quả là năng suất củ tươi đạt từ 17 – 96 tấn/ha, hàm lượng tinh bột trong củ tươi đạt 4 – 22% và đạt 12 – 31% quy về chất khô, hàm lượng đường hòa tan trong củ tươi là 5 – 11 độ Brix (Hermann

và Cs, 2007) [19]

Hiện nay trên thế giới, chọn tạo giống dong riềng chủ yếu được chọn lọc từ nguồn gen hoang dại, sau đó tiến hành cải tiến nguồn gen để chọn lọc giống mới Nhưng cũng có một phần nhỏ công trình nghiên cứu chọn giống

dong riềng bằng chỉ thị phân tử

Trang 26

2.3.2 Tình hình nghiên cứu dong riềng tại Việt Nam

Dong riềng Canna edulis Ker là cây thân thảo, họ Dong riềng (Cannaceae)

Dựa vào tính chất củ, thân lá và hoa dong riềng được chia thành 3 loại: Cây chuối

hoa (Canna indica L.), cây dong đao (Canna sp), cây dong riềng (Canna Edulis

ker) Dong riềng có nhiều tên đại phương khác nhau như: dong tây, khoai chuối,

khoai lào, khoai riềng, củ đót, củ đao, chuối nước

Dong riềng được nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ XIX Năm 1898, người Pháp đã trồng thử dong riềng ở nước ta nhưng công việc đã bị dừng lại

vì thời đó chưa biết cách chế biến tinh bột dong riềng (Lý Ban, 1963)[1] Từ năm 1961 đến 1965 một số nghiên cứu về nông nghiệp (INSA) nhằm mục đích mở rộng diện tích dong riềng, tuy nhiên vấn đề trồng dong riềng vẫn chưa được quan tâm do thiếu công nghệ chê biến và tiêu thụ thấp Tuy nhiên

từ năm 1968, diện tích dong riềng được người dân mở rộng do nhu cầu sản xuất miến từ bột dong riềng ngày tăng Những địa phương trồng dong riềng với diện tích lớn như: Hòa Bình, Ngoại thành Hà Nội, Sơn La, Lai Châu,

Thanh Hóa, Hưng Yên, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Đồng Nai

Dong riềng có nhiều đặc tính sinh học quý như kích thích thước hạt tinh bột lớn nhất trong nhóm cây có củ, tới 150 micron (tinh bột sắn là 35 micron) Điều này giúp cho việc chiết tinh bột dong riềng dễ dàng hơn so với một số cây có củ khác Hàm lượng amiloza trong tinh bột dong riềng cao đạt

từ 38 – 41%, gần bằng hàm lượng amiloza trong tinh bột đậu đỗ (45 – 54%) (Lê Ngọc Tú và CS, 1994) [14] Điều này làm cho sợi dây miến dong riềng dai và giòn tương tự miến đỗ xanh, trong khi giá thành miến dong chỉ bằng một nửa so với miến đậu xanh Đây là lợi thế cạnh tranh của miến dong so với

miến đậu xanh

Dong riềng là cây trồng đem lại thu nhập cho nông dân tại một số vùng sinh thái đặc thù như nơi đất khô hạn (vùng đồi núi của Huế, Sơn Tây), đất

Trang 27

dốc, khí hâu lạnh như Mộc Châu, Sơn La, Hòa Bình Tuy nhiên trong những năm gần đây do không có sự đầu tư về chọn lọc, phục tráng giống cũng như các kỹ thuật canh tác phù hợp, các giống dong riềng có tiềm năng và chất lượng cao đang bị suy giảm Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng làm cho diện tích trồng dong riềng đang có xu hướng giảm, khiến nhiều nguồn cung cấp nguyên liệu ngày càng bị cạn kiệt trong khi nhu cầu tiêu dùng các

sản phẩm của nó vẫn không ngừng tăng lên ở Việt Nam cũng như trên thế giới

Tại Việt Nam trong những năm 60 cây dong riềng đã được một số tác giả nghiên cứu về đặc điểm thực vật học, giải phẫu lá và một số biện pháp kỹ thuật trồng (Bùi Công Trừng và Nguyễn Hữu Bình, 1963) [16], Tổ nghiên cứu cây có củ, 1969) [17] Nước ta thường trồng 3 nhóm giống: Nhóm dong đỏ, nếu thâm canh tốt năng suất đạt 40 tấn/ha, bột ướt chiếm 27% củ tươi, thời gian sinh trưởng 8,5 – 10 tháng Nhóm dong xanh năng suất đạt 40 – 42 tấn/ha nếu thâm canh tốt, bột ướt chiếm từ 25 – 27% củ tươi, thời gian sinh trưởng 9 – 12 tháng Nhóm Việt - CIP năng suất đạt trên diện tích nhỏ thâm canh có thể tới

60 tấn/ha, bột ướt chiếm 23% củ tươi, thời gian sinh trưởng 7,5 tháng (Mai

Thạch Hoành, 2003) [5]

Những năm 1993 – 1994, Trung tâm nghiên cứu khoai tây rau, nay là trung nghiên cứu và phát triển quốc tế Canada (IDRC), đã bước đầu thu nhập nguồn gen dong riềng tại nhiều vùng sinh thái trong cả nước, đây là cuộc thu nhập có quy mô lớn nhất và rộng nhất từ trước đến nay Hiện tại Ngân hàng gen cây trồng quốc gia có 71 mẫu giống dong riềng gồm cả địa phương và nhập nội từ CIP, tuy nhiên vẫn chưa khai thác hiệu quả tài nguyên này do điều kiện kinh phí hạn hẹp chỉ đủ cho hoạt động bảo quản lưu giữ và đánh giá ban

đầu (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và CS, 2006) [8]

Về kỹ thuật trồng dong riềng đạt năng suất cao, Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn khuyến cáo: Thời vụ trồng dong riềng từ

Trang 28

tháng 1 đến tháng 3 dương lịch, tốt nhất là tháng 2 Mật độ từ 1,6 – 2,5 vạn cây, hàng cách hàng 0,8 – 1m, cây cách cây 0,5 – 0,6 m Phân bón từ 15 – 25 tấn phân hữu cơ + 200 – 400 kg đạm + 500 – 650 kg lân + 200 kg kali Phân hữu cơ và lân bón một lần trước khi trồng, phân đạm bón ba lần (trước trồng, sau trồng một và bốn đến năm tháng), kali bón hai lần (sau trồng một và bốn đến năm tháng) Làm cỏ và vun gốc ba lần (sau mọc 1,2 và 4 – 5 tháng) Thu hoạch sau trồng 10 – 11 tháng, nếu thu sớm củ non giảm năng suất và hàm lượng

tinh bột, nếu thu muộn cây có thể ra mầm mới làm giảm hàm lượng tinh bột

Theo Nguyễn Thiếu Hùng (2012), dong riềng có thể trồng quanh năm trừ những tháng quá nóng hoặc quá rét, nhưng thích hợp nhất là từ tháng 2 đến tháng 5 Dong riềng có thể trồng trên rất nhiều loại đất, từ đất bạc màu, đất đồi núi, đất mặn nhưng tốt nhất là đất xốp, nhiều mùn Nếu trồng dong riềng trên đất đồi núi, đất đá, bãi thoát nước thì không cần phải làm đất mà sau khi dọn cỏ, bổ hốc đường kính khoảng 20 cm, sâu khoảng 20 đến 25 cm sau đó mới trồng Trồng trên đất ruộng, vườn, bãi đọng nước thì cần lên luống rộng 1,4 đến 2m; cao 15 – 20 cm và rãnh rạch ngang luống sâu khoảng 15cm Mật độ trồng từ 4 đến 5 vạn cây/ha, khoảng cách khóm cách khóm là 45 đến 50cm hàng cách hàng: 50cm, nếu trồng xen với ngô và đậu tương thì giảm mật độ trồng Lượng phân bón: 10 đến 15 tấn phân hữu cơ + 200kg N + 100kg P205 + 200kg K20 chia làm 3 lần Bón lót 100% phân hữu cơ + 100%

P205 + 1/3 N; sau trồng 1 tháng bón thúc lần 1: 1/3 N + 1/2 K20 kết hợp với xới đất và vun nhẹ vào gốc; sau trồng 4 tháng bón lượng phân còn lại kết hợp với xới đất và vun nhẹ vào gốc; sau trồng 4 tháng bón lượng phân còn lại kết hợp với vun cao gốc Thu hoạch để ăn tươi sau khi trồng 6 đến 8 tháng, còn

thu hoạch để chế biến tinh bột phải sau trồng 10 đến 12 tháng

Như vậy trên thế giới và ở Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu về cây dong riềng, vậy nên việc nghiên cứu để xác định biện pháp kĩ thuật phù

Trang 29

hợp đặc biệt là xác định chế độ bón phân cho hợp lý là hết sức quan trọng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất

dong riềng ở Thái Nguyên nói riêng và ở vùng miền núi phái Bắc nói chung

2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới và Việt Nam

2.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới

Trên thế giới dong riềng được trồng với quy mô thương mại tại các nước vùng nam Mỹ, châu Phi, Châu Á và một số nước nam Thái Bình Dương Diện tích dong riềng trên thế giới khoảng 200.000 – 3.000.000 ha Năng suất trung bình đạt khoảng 30 tấn/ha Châu Phi là châu lục có diện tích trồng Dong

riềng lớn nhất thế giới

Tại châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, nam Trung Quốc, Úc và Đài Loan (Hermann và Cs, 2007)[19] Trung Quốc là nước có

diện tích dong riềng lớn nhất châu Á

2.4.2 Tình hình sản suất và tiêu thụ dong riềng tại Việt Nam

Diện tích dong riềng của Việt Nam đạt khoảng 30.000 ha Sản lượng hàng năm đạt 450.000 tấn củ tươi.Theo kết quả n điều tra cho thấy, trước đây dong riềng được trồng ở Đồng những chân đất khô hạn, trên đất dốc, cằn cỗi, đất tận dụng Nhưng ngày nay ở một số địa phương tại Hưng Yên, Hà Nội dong riềng đã được trồng thành vùng sản xuất dong riềng trên diện tích lớn tập trung (150 – 300 ha/địa điểm) như Khoái Châu, Văn Giang (Hưng Yên), Quốc Oai, Hoài Đức, Thanh Trì, Thường Tín, Ba Vì (Hà Nội) Ở nước ta, sản xuất dong riềng chủ yếu để chế biến tinh bột làm nguyên liệu sản xuất miến dong (Nguyễn Khắc Quỳnh và Trương Văn Hộ, 1995) [11] Tuy nhiên, các quy trình chế biến miến dong ở nước ta hiện nay vẫn mang tính thủ công chưa đảm bảo chất lượng và chỉ có một số ít nhà máy sử dụng tinh bột dong để sản xuất miến ăn liền, không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng nên hàng năm nước ta vẫn phải nhập hàng ngàn tấn tinh bột dong ẩm từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc

Trang 30

Cây dong riềng hiện nay đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong việc xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn miền núi Là cây trồng tăng thu nhập cho nông dân tại một số vùng đặc thù như nơi đất khô hạn, đất dốc, khí hậu lạnh như Mộc Châu, Sơn La, Hòa Bình, Bắc Kạn

Bắc Kạn thuộc tỉnh miền núi phía Bắc, có địa hình phân dị lớn, độ dốc cao Trong những năm qua đã có nhiều nghiên cứu, nhiều mô hình đưa một số loại cây trồng vào sản xuất phù hợp với điều kiện địa lý, thổ nhưỡng và tập quán canh tác vùng Tại đây, mùa đông nhiệt độ dưới 100

C các loại cây trồng khác như lúa, ngô, khoai lang, sắn không trồng được nhưng riêng dong riềng vẫn phát triển bình thường Ngoài ra dong riềng có khả năng trồng xen trên các núi đá mà ở đó cây trồng khác không thể canh tác Cây dong riềng cũng chịu hạn tốt hơn ngô, khoai lang và sắn.Theo tính toán của Sở Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Bắc Kạn, một năm thuận thời tiết, không sâu bệnh thì một ha lúa cho thu nhập 50 – 60 triệu đồng, ngô năng suất cao cũng chỉ đạt được 40 – 45 triệu đồng/ha, trong khi dong riềng cho thu nhập 100 – 150 triệu đồng/ha Chính vì thế trong những năm gần đây, dong riềng được người dân địa phương quan tâm và phát triển diện tích trồng trên toàn tỉnh

Nhận thấy dong riềng là cây phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của địa phương lại cho hiệu quả kinh tế cao, những năm gần đây, tỉnh Bắc Kạn đã đẩy mạnh việc sản xuất dong riềng Diện tích trồng và quy mô chế biến nông sản này ngày càng tăng Nếu như năm 2010, toàn tỉnh trồng được 270 ha, năng suất 100 tấn/ha thì năm 2011 tăng lên 551 ha (tăng 2 lần so với 2010), dự kiến 51.000 tấn củ Năm 2012, diện tích trồng dong riềng của tỉnh lên tới 1.324 ha (tăng 2,5 lần so với 2011) Hiện nay, tỉnh Bắc Kạn đã có 5 cơ sở sản xuất miến từ nguyên liệu dong riềng là Nhất Thiện (huyện Ba Bể), HTX miến dong Côn Minh, Kim Lư, Cư Lễ, Lạng San (huyện Na Rì) Sắp tới, Bắc Kạn

Trang 31

sẽ có những cơ sở sản xuất miến dong quy mô lớn hơn, thực hiện sự cam kết giữa doanh nghiệp và người dân trong việc trồng và tiêu thụ sản phẩm Trong những tháng đầu năm 2012, toàn tỉnh Bắc Kạn đã có thêm 10 hợp tác xã (HTX) chế biến tinh bột Dong riềng, miến Dong, nâng tổng số các HTX chế biến Dong riềng trên địa bàn tỉnh lên 21 HTX (trong đó có 4 HTX chế biến tinh bột và miến dong, 17 HTX chế biến tinh bột) Với sự thành lập mới 10 HTX tính đến thời điển hiện nay, trên địa bàn Bắc Kạn có gần 80 cơ sở chế biến tinh bột dong riềng và sản xuất miến dong

Cùng với các hợp tác xã chế biến dong riềng được thành lập mới, hiện nay một số cơ sở chế biến dong riềng hoạt động với quy mô nhỏ đang chuẩn

bị đầu tư mới để sản xuất với quy mô lớn Theo số liệu thống kê của sở Công Thương, trên địa bàn tỉnh hiện có 940 tấn củ/ngày; 04 đơn vị đang dự kiến đầu tư mới dây truyền sản xuất miến dong với tổng công suất đạt 13,7 tấn củ/ngày

Năm 2014, diện tích trồng mà tỉnh xây dựng kế hoạch khoảng 1700 ha

để phù hợp với công suất chế biến của các cơ sở sản xuất, chế biến (Phương Thảo, 2014)[12]

Tại xã Nà Tấu, huyện Điện Biên cây dong riềng đã thành cây mũi nhọn của nông dân Nà Tấu với diện tích hiện có trên 500 ha Khoảng 3 - 4 năm trở lại đây, diện tích và sản lượng cây dong riềng ở xã Nà Tấu này tăng gấp 10 lần so với những năm trước Bán củ dong riềng tươi giúp nông dân cho thu nhập cao hơn 2 lần so với các cây trồng khác nên bà con rất hào hứng (Thanh Tâm, 2014)[13]

Xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, cây dong riềng đang ngày càng mở rộng thêm diện tích, trở thành một trong 3 loại cây hàng hóa mũi nhọn xóa đói, giảm nghèo ở vùng cao Khoảng 3 – 4 năm lại đây, việc tiêu thụ dong riềng ổn định, lượng củ thu hoạch đến đâu tiêu thụ hết đến đó Toàn xã trồng khoảng 300 ha, năng suất ước đạt từ 35 – 40 tấn/ha, sản lượng ước đạt 11.000 tấn Từ hiệu quả kinh tế mà cây dong riềng mang lại ta thấy cây trồng này đã thực sự trở thành cây trồng quan trọng trong cơ cấu kinh tế ở hầu khắp các địa phương trên địa bàn một số tỉnh (Trịnh Thanh Hòa, 2013) [3]

Trang 32

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu

 Một số loại phân hữu cơ vi sinh phổ biến ở miền Bắc: Hữu cơ vi sinh

Sông Gianh, hữu cơ vi sinh Quế Lâm, hữu cơ vi sinh NTT

 Giống dong riềng DR3: Do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây

có củ (thuộc Viện Cây Lương thực và thực phẩm) chọn lọc và giới thiệu 3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được thực hiện từ tháng 02

đến tháng 12 năm 2014

Địa điểm: Thí nghiệm được bố trí tại khu cây trồng cạn – Viện KHSS

– Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

3.3 Nội dung nghiên cứu

 Nghiên cứu ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến khả năng

sinh trưởng và năng suất của dong riềng

 Nghiên cứu ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến tình hình sâu

bệnh hại và khả năng chống đổ của dong riềng

 Nghiên cứu ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến năng suất,

các yếu tố cấu thành năng suất và hiệu quả kinh tế của dong riềng

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu

Công thức 1 không bón phân (ĐC)

Công thức 2 bón phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh

Trang 33

Công thức 3 bón phân hữu cơ vi sinh Quế Lâm

Công thức 4 bón phân hữu cơ vi sinh NTT

(Lượng phân hữu cơ vi sinh mỗi loại: 3 tấn/ha; nền N : P : K = 200 : 100 :

Phân vô cơ: 200 kg N + 100 kg P2O5 + 200 kg K2O/ha + loại phân hữu

cơ vi sinh theo công thức thí nghiệm

+ Phương pháp bón:

Bón lót: 100% phân hữu cơ vi sinh + 100% P2O5 + 50% N

Thúc lần 1 sau khi cây mọc 1 tháng: 25% N + 50% K2O

Thúc lần 2 sau khi cây mọc 4 tháng: 25% N + 50% K2O

 Chăm sóc: Làm cỏ xung quanh gốc dong riềng, bờ và rãnh xung quanh thí nghiệm

Trang 34

 Bón thúc 2 đợt kết hợp xới tơi đất xung quanh gốc từ 20 -25cm, vun nhẹ vào gốc tránh làm tổn thương tới thân và rễ cây dong riềng.Vì củ dong riềng phát triển nông sát mặt đất

 Thu hoạch: Khi cây có 2/3 số lá gốc chuyển màu vàng, chọn thời tiết khô ráo, không mưa mới thu (không thu sau lập xuân, vì củ dễ có mầm làm củ

bị sượng và hàm lượng tinh bột trong củ giảm)

3.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

 Ngày kết thúc mọc: Ngày có ít nhất 80% khóm mọc

 Tỷ lệ mọc: % số cây mọc/ô

 Ngày ra hoa: Ngày có > 50% số cây ra hoa

 Thời gian sinh trưởng (ngày): Tính từ khi trồng đến khi có 80% số lá trên cây chuyển màu vàng

* Chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng của cây dong riềng: Chọn 5 khóm liên tục

ở hàng giữa của ô (cách bờ 2 khóm), 10 ngày theo dõi 1 lần (bắt đầu từ sau khi mọc 10 ngày đến thời kỳ ra hoa rộ - 180 ngày sau trồng) đối với các chỉ tiêu sau:

 Động thái tăng trưởng chiều cao cây: Đo từ sát mặt đất đến mút lá dài nhất

 Động thái ra lá: Đếm các lá/thân chính (đánh dấu 1 thân chính/khóm) bằng phương pháp đánh dấu (lá 3, 5, 7)

 Động thái tăng trưởng đường kính: Dùng thước Panme đo cách gốc của thân chính 10 cm

 Khả năng đẻ nhánh: Đếm các nhánh ở 5 khóm theo dõi

 Độ đồng đều: Đánh giá ở giai đoạn 50 và 75 ngày sau trồng (NST) theo thang điểm 1 – 9:

Điểm 1 Rất không đồng đều

Điểm 3 Không đồng đều

Trang 35

Điểm 5 Trung bình

Điểm 7 Khá đồng đều

Điểm 9 Rất đồng đều

* Đặc điểm hình thái: Theo dõi vào thời kỳ ra hoa rộ (ở giai đoạn 180 NST)

 Chiều cao cây cuối cùng (cm): Đo 5 cây cao nhất của 5 khóm/ô Đo

từ đốt sát đất đến đốt ra cuống hoa (hoặc đo từ mặt củ giáp thân đến ngọn cuối cùng,

 Đường kính thân Đo đường kính thân cách mặt đất 50 cm Đo 5 cây cao nhất của 5 khóm/ô

 Số lá/thân: Đếm số lá của 5 cây cao nhất của 5 khóm/ô

 Số thân/khóm: Đếm tất cả các thân của 5 khóm theo dõi

* Khả năng chống chịu của dong riềng:

 Tính chống đổ của cây (% số cây bị đổ): Giai đoạn đánh giá sau khi

có gió to hay bão Đếm số cây đổ/tổng số cây trong ô, cho điểm từ 1 – 9:

Điểm 1 Không có cây đổ

Trang 36

phận của cây gồm: thân, lá, ngọn có triệu chứng sâu bệnh hại để xác định tỷ lệ hại Đồng thời đếm số lượng sâu trên các bộ phận của cây trồng

*Năng suất và yếu tố năng suất:

 Đường kính củ (cm): lấy củ cấp 1, đo 5 củ trung bình của 5 khóm

 Số khóm thu hoạch/ô: Đếm tất cả các khóm có trong ô thí nghiệm

 Khối lượng củ/khóm (kg): Đào 5 khóm, bỏ hết đất và cân khối lượng

 Năng suất (tấn/ha):

+ Năng suất lý thuyết (tấn/ha): Khối lượng củ/khóm x số khóm/m2 + Năng suất thực thu (tấn/ha): Thu hoạch toàn bộ ô thí nghiệm, cân khối lượng và quy ra tấn/ha

Trang 37

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến khả năng sinh trưởng của dong riềng

4.1.1 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến tỷ lệ nảy mầm và thời gian sinh trưởng của dong riềng

Quá trình sinh trưởng, phát triển của cây dong riềng được chia thành hai thời kỳ Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng là thời gian được tính từ lúc trồng cho đến khi bắt đầu ra hoa Đây là giai đoạn cây trồng sinh trưởng, phát triển mạnh về các bộ phận của cơ quan sinh dưỡng như thân, rễ và lá Thời kỳ sinh trưởng sinh thực được tính từ lúc cây bắt đầu ra hoa cho đến lúc thu hoạch.Thời kỳ này là sự hình thành và phát triển của các cơ quan sinh sản như hoa, quả.Theo dõi thời gian sinh trưởng từ lúc trồng cho đến lúc ra hoa và thời gian trồng cho đến lúc thu hoạch của giống dong riềng DR3 chúng tôi thu

được kết quả bảng 4.1:

Bảng 4.1: Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến tỷ lệ nảy mầm và

thời gian sinh trưởng của giống dong riềng DR3

Công thức

thí nghiệm

Tỉ lệ mọc (%)

Thời gian từ trồng đến (ngày)

Trang 38

- Tỷ lệ mọc mầm: Sự mọc mầm của dong riềng là một chỉ tiêu quan trọng, ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cây Khi gặp điều kiện thời tiết thuận lợi cây nảy mầm nhanh, sinh trưởng tốt và cho năng suất củ cao Kết quả theo dõi thí nghiệm cho thấy, tỷ lệ mọc mầm của các giống dong riềng DR3 rất tốt vì không chịu ảnh hưởng của loại phân vi sinh Tất cả các

C) Thời gian mọc mầm ở các công thức chênh lệch nhau không nhiều Trong đó CT4 (Bón phân hữu cơ vi sinh NTT) và CT3 (bón phân hữu cơ vi sinh Quế Lâm) có thời gian mọc nhanh nhất là 21 ngày CT2 (bón phân hữu cơ vi sinh Sông Danh) có thời gian từ lúc gieo đến lúc mọc là 22 ngày Còn công thức đối chứng có thời gian mọc dài

nhất là 23 ngày

-Thời gian trồng cho đến khi ra hoa của các công thức là khá sớm dao động từ 148 – 152 ngày Công thức đối chứng ra hoa sớm nhất là 148 ngày Các công thức còn lại ra hoa muộn hơn so với công thức đối chứng từ 2 – 4

ngày

-Thời gian sinh trưởng là khoảng thời gian được tính từ khi trồng đến

khi có 80% số lá trên cây chuyển vàng

Qua theo dõi thời gian từ trồng tới thu hoạch chúng tôi thấy các công thức thí nghiệm có thời gian từ trồng đến thu hoạch dao động từ 294 – 297 Trong đó công thức CT4 (Bón phân vi sinh NTT) và CT2 (bón phân hữu cơ

vi sinh Sông Gianh) có thời gian thu hoạch dài hơn CT3 (bón phân hữu cơ vi

sinh Quế Lâm) và Công thức đối chứng

Trang 39

4.1.2 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến động thái tăng trưởng chiều cao cây

Chiều cao cây là chỉ tiêu quan trọng liên quan đến năng suất và khả năng chống đổ của dong riềng Chiều cao cây được quyết định bởi bản chất di truyền của giống, các giống khác nhau có chiều cao cây khác nhau Ngoài ra,

nó cũng chịu bởi tác động điều kiện ngoại cảnh; đất, nước, nhiệt độ, ánh sáng, vì vậy, chiều cao cây lớn thì khả năng chống đổ càng kém Nếu gặp điều kiện bất lợi như gặp hạn, rét cây sẽ sinh trưởng phát triển chậm lại Từ

đó ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng dong riềng

Theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao cây dong riềng chúng tôi thu

được ở bảng 4.2 và Hình 4.1

Bảng 4.2: Ảnh hưởng của loại phân vi sinh đến động thái tăng trưởng

chiều cao cây của giống dong riềng DR3

Trang 40

Hình 4.1: Biểu đồ động thái tăng trưởng chiều cao cây giống

dong riềng DR3

Từ số liệu bảng 4.2 và hình 4.1 cho thấy chiều cao của cây dong riềng tăng nhanh theo thời gian sinh trưởng Nhanh nhất là vào thời kỳ từ 10 – 60 ngày sau mọc

- Giai đoạn sau khi mọc 10 ngày, chiều cao cây của các công thức dao động từ 22,52 cm – 23,47 cm Kết quả xử lý thống kê cho thấy P > 0,05, nghĩa là các công thức có chiều cao cây đều tương đương nhau và cùng sai

khác không có ý nghĩa thống kê so với công thức đối chứng

- Giai đoạn sau mọc 30 ngày, chiều cao của các công thức dao động từ 51,27 – 60,61cm Sự sai khác về chiều cao cây giữa các công thức so với

công thức đối chứng là đáng tin cậy ở mức xác suất 95% Trong đó, công thức

4 có chiều cao cây lớn nhất đạt 60,61 cm, cao hơn chắc chắn công thức đối chứng 9,34 cm Công thức 2 có chiều cao cây đạt 59,99cm, cao hơn chắc chắn công thức đối chứng 8,72cm So sánh chiều cao cây giữa các công thức bón phân vi sinh ta thấy, công thức 3 có chiều cao cây thấp thấp nhất đạt 56,79cm

Ngày đăng: 18/11/2016, 14:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến tỷ lệ nảy mầm và - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến tỷ lệ nảy mầm và (Trang 37)
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của loại phân vi sinh đến động thái tăng trưởng - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của loại phân vi sinh đến động thái tăng trưởng (Trang 39)
Hình 4.1: Biểu đồ động thái tăng trưởng chiều cao cây giống - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Hình 4.1 Biểu đồ động thái tăng trưởng chiều cao cây giống (Trang 40)
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của một số loại phân vi sinh đến động thái tăng - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của một số loại phân vi sinh đến động thái tăng (Trang 42)
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến động  thái ra lá - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến động thái ra lá (Trang 44)
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của loại phân vi sinh đến chiều cao, đường kính - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của loại phân vi sinh đến chiều cao, đường kính (Trang 46)
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến tình hình nhiễm  sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống dong riềng DR3 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến tình hình nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống dong riềng DR3 (Trang 48)
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến các yếu tố cấu - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến các yếu tố cấu (Trang 49)
Hình 4.4: Biểu đồ ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ vi sinh đến năng - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Hình 4.4 Biểu đồ ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ vi sinh đến năng (Trang 51)
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của loại  phân hữu cơ vi sinh đến hiệu quả kinh tế - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ vi sinh đến hiệu quả kinh tế (Trang 52)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w