Thi pháp học bên cạnh một số phạm trù truyền thống được xác lập như cốt truyện, kết câu, thể loại, lời văn, quan niệm nghệ thuật về con người, kiểu tác giả, chi tiết nghệ thuật thì không
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian học tập và nghiên cứu được sự giúp đỡ tận tình của thạc sĩ
Hà Thị Hải, đến nay đề tài nghiên cứu của chúng em đã hoàn thành Trước tiên chúng
em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo thạc sĩ Hà Thị Hải người đã bỏ nhiều công sức để hướng dẫn, giúp đỡ chúng em về kiến thức, kinh nghiệm và tư liệu trong suốt quá trình chúng em thực hiện đề tài Chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Ngữ Văn nói chung và đặc biệt là tổ Lí luận – Văn học nước ngoài nói riêng, các cán bộ ở bộ phận thư viện đã tạo điều kiện cho chúng em thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này
Vì thời gian có hạn cũng như trình độ năng lực của chúng em còn hạn hẹp nên
đề tài còn có nhiều sai sót Kính mong các thầy cô giáo, các bạn đọc nhận xét và góp ý
để đề tài của chúng em được hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2015
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
2.1 Truyện ngắn Lỗ Tấn 2
2.2 Truyện ngắn Nam Cao 4
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của đề tài 6
6 Cấu trúc đề tài 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7
1.1 Giới thiệu truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao 7
1.1.1 Truyện ngắn Lỗ Tấn 7
1.1.1.1 Tác giả Lỗ Tấn 7
1.1.1.2 Khái quát nội dung và nghệ thuật truyện ngắn Lỗ Tấn 9
1.1.2 Truyện ngắn Nam Cao 13
1.1.2.1 Tác giả Nam Cao 13
1.1.2.2 Khái quát nội dung và nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao 15
1.2 Một số vấn đề lí luận 19
1.2.1 Văn học so sánh 19
1 2.2 Khái quát về không gian nghệ thuật 21
1.2.2.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 21
1.2.2.2 Đặc điểm của không gian nghệ thuật 21
CHƯƠNG 2: ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA CÁC LOẠI KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN VÀ NAM CAO 26
2.1 Không gian nông thôn 26
2.1.1 Tương đồng 26
Trang 32.1.2 Khác biệt 33
2.2 Không gian thành thị 38
2.2.1 Tương đồng 38
2.2.2 Khác biệt 42
2.3 Không gian con đường 47
2.3.1 Tương đồng 47
2.3.2 Khác biệt 51
CHƯƠNG 3 ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN VÀ NAM CAO 56
3.1 Hình ảnh và màu sắc 56
3.1.1 Hình ảnh 56
3.1.1.1 Tương đồng 56
3.1.1.2 Khác biệt 63
3.1.2 Màu sắc 68
3.1.2.1 Tương đồng 68
3.1.2.2 Khác biệt 69
3.2 Âm thanh 71
3.2.1 Tương đồng 71
3.2.2 Khác biệt 73
3.3 Mùi vị 78
3.3.1 Tương đồng 79
3.3.2 Khác biệt 80
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Thi pháp là bộ môn hiện đại của nghiên cứu văn học Nó đã và đang làm
thay đổi cách tiếp nhận văn học, khắc phục những hạn chế mà truyền thống nghiên cứu còn sơ lược và chưa đánh giá đúng, mở ra những chân trời mới cho hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học Thi pháp học bên cạnh một số phạm trù truyền thống được xác lập như cốt truyện, kết câu, thể loại, lời văn, quan niệm nghệ thuật về con người, kiểu tác giả, chi tiết nghệ thuật thì không gian nghệ thuật còn mở ra một hướng mới trong cách tiếp cận tác phẩm văn học và khám phá giá trị tiềm ẩn của thế giới nghệ thuật
Lỗ Tấn là tên tuổi vĩ đại của văn học Trung Quốc thế kỉ XX Ông là một trong
số những tác giả truyện ngắn trên thế giới cuốn hút nhiều thế hệ độc giả Lỗ Tấn không những được xem là nhà văn lớn còn được xem là người thầy cách mạng văn hóa Trung Hoa, là tấm gương sáng, là ngọn cờ đầu của văn hóa Trung Hoa Lỗ Tấn là nhà yêu nước chân chính, có tinh thần nhân đạo sâu sắc Truyện ngắn của ông với đề tài phong phú, nội dung hàm súc đã phản ánh những vấn đề của xã hội về quyền sống cho những con người bất hạnh, về cách mạng Trung Quốc… Vấn đề nào cũng mang tính thời sự nóng hổi, có sức khái quát hiện thực sâu sắc Một trong những yếu tố làm nên thành công trong sáng tác truyện ngắn của Lỗ Tấn là không gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn bao quát từ thành thị đến nông thôn với những bức tranh sinh động về cuộc sống Nghiên cứu không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của ông giúp chúng tôi hiểu sâu sắc hơn về tài năng sáng tạo nghệ thuật và vị trí của ông trong lịch sử văn học Trung Quốc
Nam Cao là một tài năng lớn, một nhà nhân đạo chủ nghĩa và là một cây bút hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam Với những nhân vật nông dân tiêu biểu như Lang rận, Chí Phèo, Thị Nở… những nhân vật tiểu tư sản như Thứ, Oanh, San… Nam Cao đã xây dựng thành công nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình Ông cũng khá chú trọng miêu tả không gian nghệ thuật, điều đó góp phần làm nên nét đặc sắc trong sáng tạo nghệ thuật truyện ngắn của Nam Cao
So sánh không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn và Nam Cao chúng ta sẽ thấy được những nét tương đồng và khác biệt của hai tác giả trong miêu tả không gian, đồng thời thấy được tài năng sáng tạo nghệ thuật của hai cây bút truyện ngắn xuất sắc này
Trang 51.2 Trong quá trình học tập, tìm hiểu hai tác giả Lỗ Tấn và Nam Cao của nền
văn học Trung Quốc và Việt Nam, chúng tôi cảm thấy yêu thích những tác phẩm truyện ngắn của hai nhà văn tài năng này Hai tác giả đã mang đến cho người đọc những cảm xúc khó quên đối với số phận những con người bé nhỏ trong xã hội ấy Bên cạnh đó, không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao khiến chúng tôi đặc biệt yêu thích Không gian thành thị, nông thôn hiện lên rõ nét, sinh động với sự tiêu điều, buồn bã của nông thôn; cuộc sống bế tắc, tẻ nhạt ở thành thị Từ
sự yêu thích, chúng tôi muốn so sánh tìm hiểu điểm tương đồng và khác biệt của không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao để hiểu sâu sắc hơn sáng tác truyện ngắn của hai ông
1.3 Lỗ Tấn và Nam Cao là những nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn
học hiện đại Trung Quốc và Việt Nam Cả hai tác giả đều có tác phẩm được giảng dạy
trong chương trình Trung học Phổ thông Nam Cao: Chí Phèo SGK lớp 11, tập 2; Lỗ Tấn: Thuốc SGK lớp 12, tập 2 Tìm hiểu, so sánh không gian nghệ thuật trong truyện
ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao giúp chúng tôi có thêm kiến thức để sau này giảng dạy Trung học Phổ thông đạt chất lượng tốt hơn
Lựa chọn đề tài “So sánh không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao” chúng tôi mong muốn tìm hiểu sâu sắc hơn giá trị tư tưởng, nghệ thuật
trong sáng tác của mỗi nhà văn Qua đó nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn cống hiến vẻ vang của hai tác giả với nền văn học dân tộc
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Truyện ngắn Lỗ Tấn
Suốt cuộc đời cầm bút của mình Lỗ Tấn đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ, phong phú Chính vì vậy, ở Trung Quốc và Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu về ông và truyện ngắn của ông
Trong cuốn Lịch sử văn học Trung Quốc tác giả Nguyễn Khắc Phi đã cho người
đọc thấy được toàn bộ cuộc đời, tư tưởng và sự nghiệp sáng tác của Lỗ Tấn Qua việc
phân tích nhiều truyện ngắn trong ba tập truyện ngắn: Gào thét, Bàng hoàng, Chuyện
cũ viết lại tác giả cho ta thấy được tư tưởng chống phong kiến, số phận và phẩm chất
của người nông dân, những người trí thức và phụ nữ trong xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Khắc Phi cũng khái quát những thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ: hóm hỉnh, hài
Trang 6hước, châm biếm của Lỗ Tấn Nhưng Nguyễn Khắc Phi chỉ dừng lại ở đề tài, nội dung,
tư tưởng, giá trị hiện thực trong tác phẩm, nghệ thuật xây dựng nhân vật mà ít đề cập đến không gian nghệ thuật trong tác phẩm của Lỗ Tấn
Trong cuốn Thi pháp truyện ngắn Lỗ Tấn của Lê Huy Tiêu, tác giả đã đề cập
đến những vấn đề thi pháp mà Lỗ Tấn sử dụng như đề tài, nhân vật, kết cấu, người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu Tác giả đã khẳng định tài năng xuất sắc của Lỗ Tấn
trong sáng tạo nghệ thuật Bên cạnh đó, tác giả cũng đã chỉ ra: “Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn phần lớn là ở vùng nông thôn Giang Nam và Phủ Thiệu Hưng quê hương của nhà văn” [28; 14], “Nhân vật thường hoạt động trong không gian hẹp và bưng bít với thế giới bên ngoài” [28; 15] Lê Huy Tiêu đã cho chúng ta
thấy không gian tác phẩm gắn với quê hương tác giả Không gian ấy đã ảnh hưởng và quy định đến hoạt động của nhân vật
Trong bài viết Thời gian và không gian trong truyện ngắn Thuốc của Nguyễn
Văn Mỳ, tác giả đã chỉ ra được thời gian trong tác phẩm là thời gian tuyến tính, đã phân tích được không gian con đường đi mua thuốc của lão Thuyên, không gian quán trà lặng lẽ về đêm, ồn ào ban ngày, một pháp trường nhốn nháo, một nghĩa địa với không gian vô cùng ảm đạm và lạnh lẽo Tác giả đã chỉ ra được một số kiểu không gian sử dụng trong tác phẩm, cho ta thấy được đó là không gian của xã hội Trung Quốc đương thời
Trong bài viết Giảng dạy truyện ngắn Lỗ Tấn ở trường trung học phổ thông dưới góc nhìn thi pháp học, tác giả Nguyễn Thị Thu Hương đã chỉ ra được tầm quan
trọng của trong việc giảng dạy tác phẩm của Lỗ Tấn ở nhà trường Trung học Phổ thông, đồng thời nêu ra được vấn đề giảng dạy Lỗ Tấn dưới góc nhìn thi pháp học gặp những vấn đề thuận lợi và khó khăn gì Đặc biệt, tác giả đã khái quát được không gian
và thời gian nghệ thuật trong sáng tác truyện ngắn của Lỗ Tấn chủ yếu gắn với quê hương ông, nhân vật hoạt động trong không gian hẹp khó thoát ra được Và tác giả
cũng đã chỉ ra được không gian nghệ thuật trong hai truyện ngắn Thuốc và AQ chính truyện Trong Thuốc: “Truyện được xây dựng trong không gian khá dung dị Một quán trà nghèo nàn, ồn ào vào ban ngày… Một pháp trường vắng vẻ… Một bãi tha ma mộ dày khít… với những con đường mòn mở ảo” [12; 57-58] Còn trong AQ chính truyện thì “không gian nghệ thuật là không gian hiện thực, không gian đời thường Một làng Mùi yên tĩnh nhưng u ám, khép kín, ngơ ngác xa lạ trước những biến động của thời
Trang 7cuộc” [12; 64-65] Tác giả đã nêu được khái quát không gian nghệ thuật trong truyện
ngắn Lỗ Tấn
Như vậy, qua khảo sát một số tài liệu chúng tôi thấy các tác giả trên chủ yếu nêu khái quát về các loại không gian nghệ thuật mà ít quan tâm đến nghệ thuật xây dựng không gian nghệ thuật truyện ngắn Lỗ Tấn
2.2 Truyện ngắn Nam Cao
Trong cuộc đời cầm bút của mình Nam Cao đã để lại một kho tàng đồ sộ với nhiều tác phẩm có giá trị Tác phẩm của ông thấm đẫm tinh thần nhân đạo, một quan niệm hiện thực nhạy bén, khẳng định tài năng bậc thầy của ông Chính vì vậy đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về ông và truyện ngắn của ông
Năm 1961, chuyên luận Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc nhất của Hà Minh
Đức ra đời Đây là công trình đặt nền móng cho vấn đề nghiên cứu Nam Cao Năm
1975, Hà Minh Đức tiếp tục giới thiệu Tuyển tập Nam Cao gồm hai tập Trong những
cuốn sách này tác giả chỉ đề cập đến vấn đề đề tài, nội dung, tư tưởng, nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Cuốn Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại 1900-1945, tập 1, do Trần Đăng
Suyền và Nguyễn Văn Long chủ biên đã giới thiệu cho bạn đọc về tiểu sử, con người Nam Cao, quan điểm nghệ thuật, đề tài nông thôn, đề tài về tiểu tư sản và một vài đặc điểm nghệ thuật phân tích, miêu tả tâm lí nhân vật của Nam Cao Tác giả cũng đã chỉ
ra và bao quát được không gian nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám:
“Bao trùm lên toàn bộ thôn quê trong tác phẩm Nam Cao là không khí xơ xác, hoang vắng, nghèo đói đến rợn người” [33; 316]
Trước đây, những nghiên cứu về Nam Cao mới chỉ triển khai ở phương diện đề tài, chủ đề Đa số các nhà nghiên cứu chỉ thống nhất khẳng định Nam Cao là cây bút hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của văn học Việt Nam hiện đại Tuy nhiên, trong những thập niên gần đây những sáng tác của Nam Cao đã được chú ý nhìn nhận dưới góc độ thi pháp học: lời văn, đối thoại, không gian, thời gian nghệ thuật… của các tác giả tiêu biểu như Trần Đình Sử, Chu Văn Sơn, Phạm Quang Long
Đáng chú ý là bài viết Thời gian và không gian nghệ thuật của Trần Đăng Suyền Tác giả đã chỉ ra được một số loại hình không gian trong tiểu thuyết Sống mòn đó là không gian thành thị, không gian tâm tưởng của nhân vật trí thức tiểu tư sản: “Trong nhiều tác phẩm của Nam Cao, không gian là hình ảnh một cuộc sống khốn cùng, quẩn
Trang 8quanh, tù túng ngột ngạt Trong tác phẩm Sống mòn, không gian là hình ảnh của sự sống mòn” [34; 89]
Trong cuốn Thi pháp hoàn cảnh trong tác phẩm của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao của Phạm Mạnh Hùng ông đã giới thiệu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong Sống mòn và một số tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao: “Xã hội thành thị Việt Nam những năm trước cách mạng tháng Tám là một xã hội trì trệ, ngưng đọng, ngột ngạt bế tắc” [11; 252] Cái không khí ấy đã tràn vào không gian Sống mòn Cả hai công trình nghiên cứu trên đã khảo sát không gian trong Sống mòn, không gian sống của tầng lớp trí thức
Qua bao quát một số tài liệu chúng tôi nhận thấy chưa có một chuyên luận nào
so sánh không gian nghệ thuật giữa Lỗ Tấn và Nam Cao Trên có sở những tìm hiểu của các thế hệ đi trước, chúng tôi mạnh dạn tiếp tục tìm hiểu và so sánh không gian nghệ thuật của hai tác giả qua một số tác phẩm tiêu biểu để thấy được những nét tương đồng và khác biệt trong không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của hai nhà văn xuất sắc này
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là: không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu, so sánh một số loại không gian nghệ thuật tiêu biểu và một số biện pháp nghệ thuật tiêu biểu trong nghệ thuật xây dựng không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao Riêng với Nam Cao phạm vi nghiên cứu và khảo sát của chúng tôi chỉ giới hạn ở những truyện ngắn
trước cách mạng Văn bản khảo sát chính là: Tuyển tập truyện ngắn Lỗ Tấn, NXB Văn hóa, Hà Nội, 2003 và Tuyển tập Nam Cao, NXB Văn học, Hà Nội, 2003
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài chúng tôi tập trung so sánh không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao, tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa các loại hình không gian
và nghệ thuật xây dựng không gian trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 9Phương pháp khảo sát văn bản:
Chúng tôi dựa vào việc khảo sát, thống kê, phân loại một số dữ liệu cần thiết,
cụ thể để phân thích, chứng minh cho nhận định, đánh giá trong đề tài Thống kê, phân loại những chi tiết để làm sáng tỏ những điểm tương đồng, khác biệt về không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao
Phương pháp so sánh:
Đây là phương pháp quan trọng nhất để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao Chúng tôi cũng vận dụng một số phương pháp của văn học so sánh như phương pháp thực chứng (tìm hiểu giống nhau giữa các hiện tượng văn học quốc tế để từ đó rút ra ảnh hưởng và vay mượn trong văn học), phương pháp loại hình (là phương pháp được xây dựng trên cơ
sở nguyên tắc về tính cộng đồng của các hiện tượng khác nhau), phương pháp tổng hợp và liên ngành (kết hợp các phương pháp khác nhau) để làm nổi bật nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Phương pháp phân tích:
Chúng tôi phân tích những đặc điểm về các loại hình không gian, các thủ pháp nghệ thuật hai tác giả sử dụng khi xây dựng không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn và Nam Cao
5 Đóng góp của đề tài
Đề tài đã chỉ ra một cách cụ thể, chi tiết điểm tương đồng và khác biệt giữa các loại không gian nghệ thuật và nghệ thuật xây dựng không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao, giúp bạn đọc hiểu sâu sắc hơn về sáng tác truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao Từ đó góp phần bổ sung vào hệ thống những tài liệu nghiên cứu về tác giả Lỗ Tấn và Nam Cao
6 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Điểm tương đồng và khác biệt giữa các loại không gian nghệ thuật
trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao
Chương 3: Điểm tương đồng và khác biệt trong nghệ thuật xây dựng không
gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao
Trang 10CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Lỗ Tấn được mệnh danh là bậc thầy của truyện ngắn thế giới Những tác phẩm truyện ngắn mà ông để lại vô cùng dung dị, nhẹ nhàng, mang đậm giá hiện thực, thấm đẫm giá trị nhân văn Văn hóa và văn học Trung Quốc từ xa xưa đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các quốc gia lân cận, trong đó có Việt Nam Nam Cao là nhà văn số một của dòng văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 Tác phẩm của ông lạnh lùng
mô tả hiện thực và mang đầy tính nhân đạo Đến với những truyện ngắn của hai tác gia lớn trên ta có thể nhận thấy khá nhiều điểm tương đồng và khác biệt, nhất là trong miêu tả không gian nghệ thuật Sóng gió của thời đại làm cho bản thân họ cũng như tác phẩm được viết ra mang đầy âm vang của lịch sử - xã hội đương thời Sau đây, chúng tôi sẽ giới thiệu khái quát về truyện ngắn của Lỗ Tấn, Nam Cao và một số vấn
đề lí luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu vấn đề cơ bản của đề tài
1.1 Giới thiệu truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao
1.1.1 Truyện ngắn Lỗ Tấn
1.1.1.1 Tác giả Lỗ Tấn
a Tiểu sử
Lỗ Tấn tên khai sinh là Chu Chương Thọ sau đổi thành Chu Thụ Nhân, tên chữ
Dự Tài, nhưng khi đến với văn học ông dùng khá nhiều bút danh: Lỗ Tấn, Thân Phi, Đường Sĩ, Ba Nhân… Ông có chừng 80 bút danh, riêng năm 1933 ông đã sử dụng tới
20 bút danh Lỗ Tấn sinh ngày 25/9/1881 ở phường Đông Xương, phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, xuất thân trong một gia đình đại sỹ phu phong kiến sa sút từ thời ông nội Chu Phúc Thanh (tự là Giới Phù) Thân phụ Chu Phượng Nghi (tự là Bá Nghi), học đến tú tài nhưng không ra làm quan Thân mẫu là bà Lỗ Thụy, người con gái xuất thân thôn quê, bà tự học đến trình độ có thể xem sách, tính tình hiền hậu, thương yêu con cái và tiếp thu tư tưởng mới Bà có sức ảnh hưởng khá mạnh đến Lỗ Tấn, bút danh
Lỗ Tấn được ông lấy từ họ mẹ
Từ 6 đến 17 tuổi ông học trường tư thục ở quê nhà, trường Tam Vị nổi danh quanh vùng lúc bấy giờ, thầy dạy giỏi lại rất nghiêm khắc Lỗ Tấn đặc biệt thích bà nội
và vú em kể cho nghe những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, ham mê xem tranh dân gian, xem hát tuồng Chính những điều này đã ấp ủ lòng ham mê nghệ thuật của cậu bé Lỗ Tấn
Năm 13 tuổi, ông nội bị bắt giam, cha lâm bệnh nặng, cảnh nhà trở nên sa sút
Trang 11quả gì, năm Lỗ Tấn 16 tuổi thì cha mất Năm 1898, Lỗ Tấn đến Nam Kinh dự thi vào trường Thủy Sư chuyên đào tạo kỹ sư hàng hải Học chưa đầy một năm Lỗ Tấn thấy chán ghét cảnh sống và chương trình học ở đây liền chuyển sang trường Khoáng Lộ học kĩ sư hầm mỏ Tháng 3/1902, Lỗ Tấn tốt nghiệp trường Khoáng Lộ, vì thi đỗ xuất sắc nên ông được cử sang lưu học sinh ở Nhật Bản Ở Nhật Bản, đầu tiên ông học thuốc với mục đích lấy đó để đưa Trung Quốc vào con đường tiến bộ và cường thịnh Tháng 7/1906 ông bỏ trường thuốc chuyển sang hoạt động Văn nghệ với mục đích: dùng văn nghệ để biến đổi tinh thần của người dân còn ngu muội kia
Năm 1907, ông cùng một số bạn ở Tôkyô bàn việc sáng lập tạp chí Văn nghệ
tên là Tân sinh (Cuộc sống mới), nhưng vì thiếu tiền và phương tiện nên đành gác ý
định đó lại, ông xoay sang viết bài cho các tạp chí Tháng 8/1909 vì gia đình quẫn bách, Lỗ Tấn phải trở về nước nuôi mẹ và em Ông làm giáo viên hóa học và sinh lí học cho trường Sư phạm Hàng Châu Mùa hè năm 1910, ông về quê nhà ở Thiệu Hưng làm giáo viên sinh lí học kiêm giám học trường Trung học Thiệu Hưng Năm 1911, khi Cách mạng Tân Hợi bùng nổ, Lỗ Tấn vui mừng, phấn khởi đón tiếp cuộc cách mạng lật đổ ngai vàng của chế độ phong kiến Sau đó ông được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường Sư phạm Thiệu Hưng
Năm 1920, ông được đến dạy văn học cổ điển ở các trường Đại học Bắc Kinh, năm 1923 dạy học cho trường nữ Sư phạm Bắc Kinh và trường Thế giới ngữ Năm
1921, ông cho ra đời tác phẩm xuất sắc AQ chính truyện nâng cao địa vị Lỗ Tấn trên
văn đàn thế giới
Tháng 10/1927, do bị Quốc dân Đảng truy nã ráo riết, Lỗ Tấn cùng với vợ là bà Hứa Quảng Bình về Thượng Hải, ông dồn sức vào hoạt động văn nghệ Ngày
2/3/1930, Lỗ Tấn cùng một số nhà văn thành lập “Hội liên hiệp các nhà văn cánh tả”
(gọi tắt là Tả Liên) dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc
5 giờ 25 phút ngày 19/10/1936 Lỗ Tấn qua đời vì làm việc quá sức tại nhà số 9 phố Đại Lục tân thôn, Thượng Hải Tin Lỗ Tấn từ trần lan truyền khắp mọi nơi gây xúc động hàng triệu trái tim đã từng yêu mến, quý trọng Lỗ Tấn
b Sự nghiệp sáng tác
Ban đầu Lỗ Tấn chọn con đường khoa học, nhưng sau ông chuyển sang hoạt
động văn học Điều này ông đã nói rõ trong bài Tại sao tôi viết tiểu thuyết, ông nói:
“Chẳng qua là muốn lợi dụng sức mạnh của nó để cải tạo xã hội” [24; 197]
Trang 12Năm 1918 khi 37 tuổi, ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác văn nghệ của mình với
tác phẩm đầu tay Nhật kí người điên Từ đó ông sáng tác liên tục trong vòng 18 năm,
hầu như ngòi bút và đôi tay không lúc nào ngừng nghỉ
Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại: truyện ngắn, thơ cổ, thơ mới, kịch, tạp văn, khảo cứu, phê bình, dịch thuật… Truyện ngắn của ông được in chủ yếu trong ba
tập Gào thét, Bàng hoàng và Chuyện cũ viết lại Tập Gào thét gồm 14 truyện, sáng tác
từ 1918 – 1922 gồm các tác phẩm tiêu biểu như: Nhật kí người điên, Khổng Ất Kỉ, Thuốc, Cố hương, AQ chính truyện, Tết Đoan Ngọ… Trong đó, Nhật kí người điên được coi là “quả bộc phá thật mạnh ném vào dinh lũy của xã hội phong kiến, là tiếng kèn xung trận trên mặt trận văn hóa mới” [24; 198] Tập Bàng hoàng gồm 11 truyện viết từ 1924 – 1925, có các truyện ngắn tiêu biểu như: Lễ cầu phúc, Trong quán rượu, Một gia đình hạnh phúc, Cao Phu Tử, Con người cô độc, Tiếc thương những ngày đã mất, Anh em Từ 1930 – 1933 sáng tác của ông được in trong tập Chuyện cũ viết lại
gồm 8 truyện ngắn lấy đề tài thần thoại, truyền thuyết và lịch sử để phản ánh hiện
thực, mượn xưa để nói nay với các tác phẩm chính như: Vá trời (Bổ thiên), Lên trăng (Bôn nguyệt), Luyện kiếm, Tri kỉ, Phản đối chiến tranh “Chuyện cũ viết lại của Lỗ Tấn đã phá vỡ hình thức của thể loại tiểu thuyết lịch sử cũ mà phát triển thành hình thức mới mẻ, độc đáo” [24; 223] Đánh giá về Chuyện cũ viết lại Mao Thuẫn có viết:
“Từ Ngũ Tứ đến nay những tác phẩm viết bằng đề tài lịch sử đã phát triển, về mặt này
Lỗ Tấn là người mở đầu và cũng là người thành công vĩ đại Chuyện cũ viết lại của ông với nhiều hình thức, nhiều màu, nhiều vẻ đã xây dựng cho chúng ta những mẫu mực quý giá, nhưng quan trọng nhất là tính sâu sắc của nội dung” [24; 234]
Bên cạnh thể loại truyện ngắn, Lỗ Tấn còn thành công với thể loại tạp văn Tạp văn là thành tựu đặc sắc của Lỗ Tấn, chiếm hai phần ba số lượng sáng tác, tổng cộng
có đến 659 bài, thu thập trong 17 tập với dung lượng đồ sộ về xã hội, về văn học và hồi kí văn học Tạp văn đã nâng địa vị Lỗ Tấn ngày càng cao trên văn đàn Trung
Quốc Nếu truyện ngắn Lỗ Tấn là ngọn cờ tiên phong, là cương lĩnh sáng tác đánh dấu
thời kì vẻ vang của văn học Trung Quốc thì tạp văn của Lỗ Tấn là một bộ sử đấu tranh
tư tưởng của nhân dân Trung Quốc, là cuốn bách khoa toàn thư của Trung Quốc thời
hiện đại
1.1.1.2 Khái quát nội dung và nghệ thuật truyện ngắn Lỗ Tấn
a Khái quát nội dung truyện ngắn Lỗ Tấn
Trang 13Phản ánh tư tưởng chống phong kiến
Cuộc cách mạng Ngũ Tứ nổ ra năm 1919 với tư tưởng chống đế quốc, chống phong kiến, đòi dân chủ Lỗ Tấn đã giương cao ngọn cờ chống phong kiến bằng ngòi bút sắc lẹm của mình Những truyện ngắn của Lỗ Tấn phần lớn đều phản ánh tư tưởng
chống phong kiến Tư tưởng này thể hiện rất rõ trong Nhật kí người điên Người điên
là một chiến sĩ dân chủ chống lại xã hội phong kiến, người điên mắc bệnh “Bách hại cuồng”, lúc nào cũng có cảm giác người khác đang bức hại mình Gặp ai, nhìn thấy ai
cũng vậy, từ người phụ nữ mắng con ngoài phố đến thầy lang do anh trai dẫn về chữa bệnh cho mình cũng thấy sợ hãi Tuy nhiên, người điên lại có câu nói vô cùng sáng
suốt: “Cổ lai, việc ăn thịt người thường lắm” [27; 35] – câu nói chĩa thẳng vào xã hội
phong kiến Lỗ Tấn xây dựng hình ảnh người điên là người chiến sĩ dân chủ trên mặt trận chống chế độ phong kiến, đòi dân chủ, tự do cho nhân dân
Phản ánh số phận của người nông dân
Không chỉ phản ánh tư tưởng của phong trào cách mạng, truyện ngắn Lỗ Tấn còn
đề cập đến số phận con người, đặc biệt là người nông dân trong xã hội thuộc địa nửa
phong kiến Trước tiên là sự bần cùng hóa của người nông dân Nếu ai đã đọc Cố hương sẽ nhớ mãi không quên anh nông dân Nhuận Thổ Nhân vật “tôi” làm cho
người đọc mường tượng ra hình ảnh của anh cách đây 30 năm, lúc đó anh là một cậu
bé mặt phúng phính, cổ đeo vòng bạc, trông rất lanh lẹn Nhưng giờ thì sao? Nhân vật
“tôi” làm cho người đọc bất ngờ về hình ảnh và số phận của anh hiện giờ Cũng như bao người nông dân khác phải chịu mất mùa, thuế khóa nặng nề, lính tráng, trộm cướp hơn thế nữa gia đình anh lại đông con (6 đứa), tất cả chất chồng đày đọa thân anh khiến anh ngày càng trở nên đần độn, mụ mẫn Mặc dù vậy, nhưng Nhuận Thổ cũng như bao người nông dân khác, anh mang trong mình những phẩm chất vô cùng tốt đẹp: thật thà, lương thiện, hiếu khách, quý bạn, không tham lam Dù con đông túng nghèo là vậy, nhưng do quý bạn và thảo tính nên khi đến thăm nhân vật “tôi” anh vẫn gói một bọc đậu xanh do nhà trồng được làm quà
Cái nghèo, sự bần cùng phải chăng một phần do chính người nông dân tạo ra cho họ? Do sự thiếu hiểu biết mà bàn tay họ tiếp thêm sức mạnh đẩy mình xuống vực sâu
Lỗ Tấn đã chỉ ra những “tật bệnh”của người nông dân và người lao động để tìm ra
cách chữa: đó là Nhuận Thổ an phận thủ thường trong Cố hương, là AQ mê muội với phép thắng lợi tinh thần trong AQ chính truyện, là thím Tường Lâm mê tín của Lễ cầu
Trang 14phúc và nguy hiểm hơn là cả số đông người dân mê muội tin vào thứ thuốc kì quái trong tác phẩm Thuốc
Hơn nữa, Lỗ Tấn còn quan tâm đến người phụ nữ nông dân trong xã hội cũ Thím Tường Lâm hiền lành, khỏe mạnh, tháo vát là vậy mà cả cuộc đời thím phải sống trong
sự cô đơn Đến khi thím chết đi rồi mà vẫn bị người đời hắt hủi, trách móc Dù có là người nông dân bần cùng mang trong mình nhiều “tật bệnh” vô cùng nặng nề, khó chữa thì Lỗ Tấn vẫn nói lên nguyện vọng tha thiết được đổi đời của họ
Phản ánh cuộc sống của người trí thức
Bên cạnh số phận người nông dân Lỗ Tấn còn đề cập đến số phận người trí thức
Vì xuất thân từ tầng lớp này nên ông hiểu biết khá sâu sắc về mọi vấn đề cả bên trong
và bên ngoài của họ Có những con người có học nhưng lại khư khư bảo vệ lễ giáo phong kiến và tất nhiên trong hoàn cảnh xã hội Trung Quốc lúc ấy họ trở thành kẻ thù
của xã hội mới Đó là trí thức trẻ Cao Cán Đình trong Cao Phu Tử, Tứ Minh trong Xà phòng Cách mạng đang nổ ra mạnh mẽ trên diện rộng, mọi giai tầng trong xã hội đều
vùng dậy đấu tranh chống đế quốc, phong kiến, đòi tự do, dân chủ thì Cao Cán Đình lại bảo thủ, ôm khư khư những lễ giáo đã lạc hậu, cổ hủ và còn cho rằng đó là truyền thống cần được gìn giữ Qua đó, Lỗ Tấn hết sức phê phán tầng lớp này
Cũng có những người trí thức vô cùng đáng thương, họ bị văn hóa phong kiến và chế độ khoa cử đẩy vào đói nghèo Nhân vật Khổng Ất Kỉ trong truyện ngắn cùng tên
đi vào quán rượu, mặc dù trên người mang “áo dài” nhưng chiếc áo lại bẩn thỉu, rách tươm Để có được những thứ mình muốn ông phải đi ăn cắp Đối với người có học thì sách là một tài sản quý giá, là điều thiết yếu mà ông ta phải ăn trộm mới có được Thảm hại hơn là một lần đi ăn cắp đúng nhà cụ Cử Đinh đến mức bị đánh què chân phải đi bằng “tứ chi” Việc miêu tả Khổng Ất Kỉ phải đi bằng tay của Lỗ Tấn cho ta thấy hình ảnh người trí thức trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến ấy có phần đớn hèn, bất tài và vô cùng bi đát
Có lẽ vui mừng hơn là trong cái xã hội ấy vẫn có những người trí thức tiếp thu được ít nhiều tư tưởng cách mạng, dám chống lại chế độ cũ đòi cải cách xã hội Nhưng đáng buồn thay tinh thần của họ lại rất dễ bị dao động, dễ dàng thỏa hiệp, sợ gian khó, tư tưởng thì xa rời thực tế, bi quan, chán nản nên họ cũng chẳng giúp gì được cho cách mạng
Trang 15Truyện ngắn Lỗ Tấn vẽ lên khung cảnh u ám của xã hội Trung Quốc nửa đầu thế
kỉ XX Phản ánh khát vọng mãnh liệt của nhân dân Trung Quốc được đổi đời, chấm dứt chế độ phong kiến, dùng sức mạnh dân tộc đánh đuổi đế quốc
b Khái quát nghệ thuật truyện ngắn Lỗ Tấn
Kết cấu
Tất cả các sáng tác truyện ngắn của Lỗ Tấn nằm trọn vẹn ở nửa đầu thế kỉ XX
Đó là những tác phẩm văn học hiện đại mang tính chất hiện thực có kết cấu chặt chẽ
và súc tích Tiêu biểu là ở tác phẩm Nhật kí người điên, Lỗ Tấn xây dựng hình tượng
nhân vật trung tâm là người điên, các tình tiết, sự việc diễn ra trong truyện phát triển theo đường thẳng, đôi khi kết cấu truyện ngắn Lỗ Tấn lại rất đơn giản, bình dị Tiêu
biểu là AQ chính truyện kết cấu theo chu trình từng phần nối tiếp nhau: I- Tựa; II- Lược thuật những truyện đắc thắng của AQ; III- Lược thuật thêm về những truyện đắc thắng của AQ; IV- Bi kịch tình yêu; V- Vấn đề kinh tế; VI- Lên voi xuống chó; VII- Cách mạng; VIII- Đại đoàn viên Kết cấu này dựa trên những sự kiện xảy ra trong
cuộc đời AQ
Hài hước và lạnh lùng châm biếm
Đọc văn của Lỗ Tấn ta thấy lời văn dí dỏm, hài hước có lẽ bản thân ông cũng là con người như vậy Đặc biệt là khi phê phán tật xấu của AQ, AQ lúc nào cũng nghĩ
mình chiến thắng, khi bị người khác đánh cho thua thảm hại thì hả hê rằng: “Nó đánh mình chẳng khác nào nó đánh bố nó” [27; 97], rồi lại cười ra về đắc thắng Khi sắp bị Vương râu xồm đánh thì AQ nghếch đầu nói: “Người quân tử chỉ đấu khẩu, ai đấu sức” [26; 104] Ngoài sự dí dỏm, hài hước, ngòi bút của ông còn lạnh lùng mổ xẻ,
điềm tĩnh phân tích, cứng cỏi trong việc phê phán những thói hư tật xấu của quốc dân Ông biết rằng nếu như đưa dao vào mổ ung nhọt ra thì người bệnh sẽ đau đớn vô cùng Nhưng khi đã lấy được nó ra rồi chắc chắn cuộc sống của họ sẽ nhẹ nhàng hơn rất nhiều Điều này một phần do ông có bản lĩnh của người thầy thuốc
Trang 16mãi thành đường Đó cũng là cái ranh giới tự nhiên giữa nghĩa địa những người chết chém hoặc chết tù ở về phía tay trái, và nghĩa địa những người nghèo ở về phía tay phải Cả hai nơi, mộ dày khít, lớp này lớp khác, như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ” [27; 65] Ông cũng chú ý mở đầu và kết thúc tác phẩm, hay lặp lại từ Trong Lễ cầu phúc, thím Tường Lâm rất hay nói cụm từ “tôi thật khờ” trước khi bắt đầu kể lể hoàn cảnh của mình cho những người phụ nữ trong làng nghe Lỗ Tấn còn đặc biệt chú
ý tên biệt hiệu cho nhân vật của mình, có lẽ cái tên đặc biệt và đáng chú ý nhất là AQ
1.1.2 Truyện ngắn Nam Cao
1.1.2.1 Tác giả Nam Cao
a Tiểu sử
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, ông sinh ngày 29/10/1917 trong một gia đình trung nông, tại làng Đại Hoàng thuộc tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam (nay thuộc xã Hòa Hậu, huyện Lí Nhân, tỉnh Hà Nam) Bút danh Nam Cao do ghép hai chữ tên huyện và tổng mà thành Thân phụ là Trần Hữu Huệ, sinh năm 1895 làm nghề chạm trổ và bốc thuốc bắc Thân mẫu là bà Trần Thị Minh, sinh năm 1897 xuất thân nông dân quanh năm làm ruộng, làm vườn, dệt vải
Nam Cao là con trai cả trong một gia đình đông anh em, có bốn em trai và ba
em gái Trong số đó chỉ có nhà văn được ăn học đến nơi đến chốn Năm 1922, ông học
ở trường tư tại làng, sau đó theo học bậc Tiểu học và Thành chung ở thành phố Nam Định Đầu năm 1935, Nam Cao từ thành phố Nam Định về quê chữa bệnh Ngày 2/10/1935 ông lập gia đình, vợ ông là bà Trần Thị Sen, sinh năm 1917 Bà cũng là người con gái xuất thân nông dân Cuối năm 1935, ông vào Sài Gòn giúp việc cho một hiệu may
Năm 1936, ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình Ông viết văn, làm thơ,
viết kịch Các tác phẩm của ông được đăng báo từ năm 1936, với một số bút danh như:
Nguyệt, Thúy Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê Năm 1938, Nam Cao ốm nặng do bệnh tim
Trang 17và tê thấp Ông trở ra bắc tự học và thi đỗ bằng Thành chung, sau đó Nam Cao nhận dạy học ở trường tư thục Công Thanh - Thụy Khê - Hà Nội Năm 1940, Nhật vào Đông Dương, trường bị Nhật trưng dụng làm chuồng ngựa, ông thôi dạy học Tháng 3/1943, Nam Cao ra nhập hội Văn hóa cứu quốc Tháng 8/1945, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lí Nhân, được bầu làm chủ tịch xã Vào cuối năm 1947, Nam Cao được kết nạp Đảng Ông sống và hoạt động cách mạng ở Bắc Kạn Năm 1948 -
1949, ông đi thực tế vùng đồng bằng, dự định viết một tiểu thuyết về quê hương kháng chiến Năm 1949, Nam Cao từ đồng bằng trở lên chiến khu Việt Bắc, ông tham dự lớp Nguyễn Ái Quốc ở Việt Bắc, phụ trách phần văn nghệ trong tạp chí và báo Cứu quốc Tháng 5/1950, ông nhận công tác ở tòa soạn tạp chí Văn nghệ, cơ quan của hội Nhà văn Việt Nam
Ngày 30/11/1951, nhà văn Nam Cao đã anh dũng hi sinh ở Liên khu 3 Đây là một mất mát vô cùng to lớn của cách mạng và văn học nước nhà
b Sự nghiệp sáng tác
Kể từ thời điểm 1936 đến khi vĩnh biệt cõi đời (1951), Nam Cao có khoảng thời gian 15 năm gắn bó với văn chương So với những tác giả cùng thời thì khối lượng tác phẩm ông để lại cho văn học dân tộc không mấy đồ sộ
Ở thể loại tiểu thuyết, Nam Cao để lại hai tiểu thuyết lớn đó là: Sống mòn và Truyện người hàng xóm Nhưng ở thời điểm hiện tại chỉ có Sống mòn được công nhận
là tiểu thuyết còn Truyện người hàng xóm với dung lượng của nó chỉ được xếp vào
truyện dài
Nhà văn Nam Cao thành công nhất ở thể loại truyện ngắn Ông để lại cho đời gần
60 tác phẩm truyện ngắn Trong đó có một số tác phẩm tiêu biểu như: Chí Phèo, Nghèo, Đời thừa, Trăng sáng, Xem bói, Một bữa no, Đui mù, Đôi mắt Phần lớn
truyện ngắn của ông hướng tới hai giai cấp trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ: giai cấp nông dân và trí thức tiểu tư sản nghèo ở cả trước và sau Cách mạng tháng 8
Ông còn để lại một tác phẩm kí mang tên Chuyện biên giới, một tác phẩm kịch Đóng góp, được nhà xuất bản Văn nghệ xuất bản năm 1951
Nam Cao có một điểm khác biệt so với số đông nhà văn hiện thực là ông còn dành khá nhiều quỹ thời gian viết truyện thiếu nhi Truyện dành cho lứa tuổi này của ông dí dỏm, nhẹ nhàng nhưng vô cùng sâu sắc, mang tính thẩm mĩ, tính giáo
dục, phù hợp với lứa tuổi các em Đó là những truyện: Nụ cười, Người thợ rèn, Con
Trang 18mèo mắt ngọc, Ba người bạn, Những kẻ khốn nạn, Đầu đường xó chợ, Phiêu lưu, Bẩy bông lúa lép
Chỉ với số lượng khiêm nhường như vậy nhưng những tác phẩm của ông lại luôn ám ảnh người đọc, tạo khả năng cho người đọc đồng sáng tạo với tác giả Những trang viết của Nam Cao thật sự là những trang văn xuôi đặc sắc, khiến cho các thế hệ độc giả tốn bao giấy mực để tiếp cận, khai thác, khám phá và phát hiện các tầng giá trị của một sự nghiệp văn chương mà trong đó những sáng tác đã trở thành cổ điển, mẫu mực cho thể loại truyện ngắn cũng như truyện dài
Nhiều nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đã cho rằng những sáng tác của Nam Cao không hề thua kém những sáng tác văn chương thế giới Tác phẩm của ông đã vượt qua lãnh thổ Việt Nam đến với thế giới, trở thành đối tượng nghiên cứu, so sánh của một số nhà nghiên cứu nước ngoài Nam Cao là một trong số những nhà văn hàng đầu nửa đầu thế kỉ XX đã đóng góp phần cách tân và hiện đại hóa nền văn xuôi Việt Nam trên hành trình văn học của thế kỉ XX
1.1.2.2 Khái quát nội dung và nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao
a Khái quát nội dung truyện ngắn Nam Cao
Trước Nam Cao, văn học hiện thực 1930 - 1945 đã tồn tại hai mảng đề tài: nông dân ở chốn thôn quê và người dân đô thị Trên cả hai mảng này Nguyễn Công Hoan,
Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng đã có những thành công đáng kể trong Bước đường cùng, Tắt đèn, Số đỏ Nam Cao cũng khai thác hai mảng đề tài trên, nổi bật là hình
ảnh người nông dân và người trí thức tiểu tư sản Những sáng tác của ông không chỉ dừng ở mức độ phản ánh, quan sát mà còn xâm nhập sâu vào bản chất những cái vặt vãnh, tủn mủn của đời sống hàng ngày Trong những sáng tác ấy điều tưởng chừng
như chẳng bao giờ đáng để ý lại tác động mạnh mẽ đến cá nhân con người “như tảng
đá cứ đè trĩu lên lòng người” [29; 23]
Đề tài người nông dân
Trong đề tài nông thôn và người nông dân, hình ảnh nông thôn hiện lên luôn là bức tranh tiêu điều, xơ xác, nghèo đói đến rợn người và bức tranh của Nam Cao luôn
im ắng, vắng lặng từ đầu ngõ đến cuối làng Mọi sinh hoạt được gói gọn lại trong những mái nhà, những nhân vật luôn mang hình dáng khắc khổ, trầm buồn hay suy nghĩ và độc thoại nội tâm
Người dân luôn chịu sự đói khổ, lần đầu tiên cái đói và miếng ăn được nói
Trang 19Nghèo Anh cay đắng khi nhìn cảnh vợ con phải ăn cám để nhường cơm cho mình (lúc
này anh đang bị ốm nặng) Ở trong nhà thấy chủ nợ đang ghì riết vợ những nắm gạo mới vay để nấu cơm cho anh, anh đĩ Chuột thấy sao mà đau đớn, nhục nhã đến thế Người đàn ông nông dân ấy đã kết thúc cuộc đời mình bằng cách thắt cổ Anh mất đi rồi thì vợ con anh sẽ sống ra sao? Người chồng, người cha trụ cột trong gia đình chết
đi thì vợ con biết bấu víu vào đâu? Đó là thảm hại đói khổ, bế tắc của gia đình anh đĩ Chuột nói riêng cũng là thảm cảnh chung của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng 8
Đặc biệt, khi viết về người nông dân, Nam Cao đề cập đến một vấn đề hoàn toàn mới mẻ, đó là người nông dân bị phá sản và bị đẩy vào con đường lưu manh hóa, như Chí Phèo, Lang rận trong truyện ngắn cùng tên Họ đều là những con người có ngoại hình xấu xí, gớm ghiếc, tâm hồn thui chột, tính cách méo mó Người nông dân
bần cùng đến mức phải ăn bả chó trong Lão Hạc, hay phải thắt cổ chết đi cho rảnh nợ trong tác phẩm Nghèo Nhưng đau đớn hơn là “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” - Chí
Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao Từ nhà tù thực dân trở về, hắn không còn
là một con người Xót thương với vẻ ngoài xấu xí, Nam Cao đã làm nổi bật nhân tính của họ Chí Phèo cũng đã có lúc tỉnh ngộ muốn trở thành người lương thiện, nhưng hắn đã chết trên ngưỡng cửa của sự trở về Qua đây ông cũng phản ánh ước mơ được đổi đời của họ
Đề tài người trí thức
Với đề tài người trí thức tiểu tư sản nghèo thì phần lớn tác phẩm Nam Cao viết
về chính cuộc đời mình Ông đã trung thực và dũng cảm tự mổ xẻ mình trên trang viết vừa day dứt vừa thiết tha và vô cùng tâm huyết Người trí thức của Nam Cao gặp phải hai bi kịch lớn: vỡ mộng và sống mòn chết mòn
Bi kịch vỡ mộng giữa một bên là khát vọng hết sức lớn lao và bên kia là vấn đề cơm, áo, gạo, tiền đã đẩy người trí thức này xuống đáy xã hội, điều đó đã kìm hãm ước
mơ của họ Nhà văn Hộ trong Đời thừa muốn trở thành nhà văn thật nổi tiếng, muốn
có tác phẩm do chính mình viết đoạt giải Nobel, nhưng cuộc sống không đủ no, vợ con khổ sở đã khiến Hộ thất vọng đến vô cùng Bi kịch sống mòn và chết mòn mà Nam Cao nói đến là bi kịch của chuỗi ngày sống thảm hại kéo lê một cách vô vị trong cuộc sống đen tối, ngột ngạt, con người không thể thực hiện được những khát vọng vì miếng cơm manh áo Từ đó, những lí tưởng dần vụt mất, những nhân vật trí thức sống quẩn quanh và trì trệ sợ mình lao theo những cám dỗ của cuộc đời Nhưng dù rơi vào
Trang 20bi kịch thì tất cả đều vượt lên khó khăn Đặc biệt, Nam Cao nói đến cuộc đấu tranh nội tâm mạnh mẽ giữa thiện và ác Cuối cùng họ đã vượt qua cám dỗ vật chất tầm thường,
giữ lại lương tri tốt đẹp Nhà văn Điền nghèo kiết xác trong Trăng sáng có gia tài là
một người vợ, hai đứa con trai và bốn cái ghế mây là giá trị nhất Với cuộc sống quẩn quanh, nhạt nhẽo và tù đọng ấy, lại kèm theo tâm hồn nghệ sĩ, đã có lúc Điền mơ đến một cô gái có mái tóc thơm tho, một làn da mát mịn, một bàn tay ve vuốt Nhưng khi trở về với hiện tại, vượt qua được những ham muốn nhất thời, những cám dỗ tầm
thường Điền lại yêu vợ, yêu con vô cùng - một người vợ “nhịn ăn cho chồng Thị nhịn mặc để cho chồng mặc Thị bán cả yếm, áo để lo thuốc thang cho chồng” [36; 110]
Và anh vẫn là người chồng mẫu mực, một người có học
Tất cả các nhân vật trí thức này cuối cùng đều xác định được mục tiên cho đời mình Đó là chống lại những thế lực xấu xa, là thứ căn nguyên gây bi kịch cho cuộc đời họ Mục tiêu họ đã xác định: cầm bút chiến đấu
Đóng góp của Nam Cao vào việc cách tân và hiện đại hóa văn xuôi đã biểu hiện khá nổi bật về mọi phương diện Truyện ngắn của Nam Cao là thành công không thể phủ nhận, trong đó chất chứa nội dung sâu sắc cùng tấm lòng nhân hậu của nhà văn
b Khái quát nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao
Nam Cao đã kế thừa và phát huy tinh hoa của các thế hệ đi trước, lĩnh hội một cách có chọn lọc và sáng tạo để làm nên những nét đặc sắc nghệ thuật riêng trong truyện ngắn của mình Trong đó bao gồm: kết cấu, ngôn ngữ và bút pháp tâm lí của nhà văn
Kết cấu
Theo quan niệm truyền thống, cốt truyện đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm
tự sự Cốt truyện được xây dựng từ những sự kiện và hành động nhân vật Nhưng trong sáng tác của mình Nam Cao không mấy quan tâm đến cốt truyện, thậm chí có những tác phẩm không có cốt truyện Yếu tố để xây dựng tác phẩm là sự phân tích, lí giải thế giới nội tâm của nhân vật Nam Cao đã khắc họa thành công nhân vật Lão Hạc
ở truyện ngắn cùng tên với những suy nghĩ của người cha nghèo thương con đến vô cùng, những suy nghĩ ấy chỉ được lão giãi bày với ông giáo mà thôi Và đáng chú ý trong tác phẩm của mình, Nam Cao thường kết thúc truyện bỏ ngỏ, không có hậu, kích thích tưởng tượng đối của người đọc, tạo cơ hội đồng sáng tạo của người đọc
đối với tác phẩm Kết thúc Trăng sáng nhà văn viết “ Sáng hôm sau, Điền ngồi
Trang 21viết, giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng, tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm Và
có cả tiếng chửi bới của một người láng giềng ban đêm mất gà” [36; 113] Chẳng
ai biết liệu rằng Điền có thực hiện được ước mơ của mình hay không, và rồi cuộc đời anh sẽ ra sao? Đó cũng là câu hỏi chung cho tất cả những người trí thức tiểu tư
sản nghèo lúc bấy giờ
rũ tù chưa biết chừng” [36; 35] Còn những người có học, tính cách điềm đạm lại khác: “Mình ơi! Anh Độ tốt thật Xa thế mà anh ấy cũng chịu khó đến thăm chúng mình” [36; 822]
Ngôn ngữ trong tác phẩm Nam Cao là sự hòa âm, phối hợp của nhiều loại ngôn ngữ khác nhau như là sự sống tự nó cất lên như thế Sự thành thạo trong sử dụng ngôn ngữ của ông còn thể hiện ở ngôn ngữ đối thoại mang tính chất văn xuôi đời thường, và
cả trong việc xây dựng những đoạn độc thoại nội tâm, đặc biệt là trong việc tiếp thu một cách sáng tạo, chắt lọc phương pháp “dòng ý thức” của văn học phương Tây tạo điều kiện đi sâu vào tâm lí nhân vật
Bút pháp hiện thực – tâm lý
Điểm nổi bật và tiêu biểu trong truyện ngắn của Nam Cao, đó là ông miêu tả hiện thực – tâm lí Không những miêu tả hiện thực xã hội ông còn đi sâu vào khám phá hiện thực tâm hồn con người Nhân vật của ông dù là nông dân hay trí thức cũng đều
có thế giới nội tâm giằng xé Qua đó nhà văn đặt ra vấn đề: Làm thế nào để giữ được nhân phẩm của con người trước sức công phá dữ dội của hoàn cảnh Đọc truyện ngắn Nam Cao, ta thấy chất tự thuật trong sáng tác của ông khá đậm Nhiều lúc ông viết về cuộc đời, cảnh ngộ, tâm tư và suy nghĩ của chính bản thân mình Trong truyện ngắn của ông có một người kể chuyện đóng vai trò là nhà văn, thầy giáo Người ấy biết nghe ngóng, quan sát, suy ngẫm, biết tự thú, biết những thói hư tật xấu của chính mình
như ông giáo trong Lão Hạc, nhà văn Điền trong Trăng sáng, nhà văn Hộ trong Đời thừa, nhà văn Độ trong Đôi mắt… Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, Nam Cao đã
Trang 22“săn đuổi chính mình” [29; 32], lấy bản thân mình ra kiểm nghiệm để đi sâu vào
những bí ẩn tâm lí mang tính nhân cách Đó là những đóng góp độc đáo trong việc hình thành phong cách nhà văn tâm lí của Nam Cao
Ngoài ra, trong truyện ngắn Nam Cao còn có sự phối hợp đan xen các giọng điệu,
có thể tạm phân biệt: chất giọng nghiêm nghị, trầm tư, suy ngẫm, giọng điệu triết lí, bi quan, hài hước Tất cả những thủ pháp biểu hiện trên góp phần làm cho truyện ngắn của ông thêm đặc sắc
1.2 Một số vấn đề lí luận
1.2.1 Văn học so sánh
Văn học so sánh ban đầu chỉ là một phương pháp Trong cuộc sống hàng ngày
so sánh là một hành động và yêu cầu rất tự nhiên, là một trong những phương pháp để xác định sự vật về mặt định tính, định lượng hoặc ngôi thứ Còn trong văn học nó là một phương pháp dùng để xác định, đánh giá các hình tượng văn học trong mối quan
hệ giữa chúng với nhau Việc này đã được tiến hành từ thời Phục hưng Tuy nhiên, khi
ấy phương pháp so sánh chỉ được áp dụng một cách tự phát, đơn sơ, chưa có cơ sở khoa học
Nhờ công lao của các nhà nghiên cứu văn học Pháp, Anh, Italia và về sau là Liên Xô (cũ), Hunggari và các nước Đông Âu khác, văn học so sánh từ chỗ chỉ là một phương pháp dần dần trở thành một bộ môn khoa học thực sự Họ đã chứng minh bằng các công trình nghiên cứu ứng dụng và lí luận của họ: văn học so sánh có đối tượng và phạm vi nghiên cứu riêng, nó không chỉ đơn giản là một phương pháp so sánh Tuy nhiên, trên thực tế nghiên cứu văn học đòi hỏi và do điều kiện lịch sử quy định, đối tượng của văn học phải trải qua một quá trình chuyển biến từ đơn giản đến phức tạp,
từ thấp đến cao
Văn học so sánh được giao một sứ mạng là so sánh hai hay một số hiện tượng văn học thuộc các nền văn học dân tộc khác nhau, không có sự tương đồng về điều kiện lịch sử để chứng minh đặc thù dân tộc của mỗi hiện tượng Do vậy, văn học so
sánh có thể được định nghĩa: “Văn học so sánh là một bộ môn khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc” [4; 19] Cụ thể là văn học so sánh sẽ bao
hàm ba bộ phận nghiên cứu:
Bộ phận thứ nhất: Nghiên cứu những mối quan hệ trực tiếp giữa các nền văn
học dân tộc (những sự ảnh hưởng và vay mượn lẫn nhau giữa các nền văn học)
Trang 23Nguyễn Du và Nguyễn Đình Chiểu cũng vay mượn tích cổ Trung Quốc để sáng
tác văn học Nguyễn Du đã vay mượn cốt truyện tiểu thuyết văn xuôi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để sáng tác nên một tác phẩm thi ca vừa mang tính tự
sự vừa mang tính trữ tình
Bộ phận thứ hai: Nghiên cứu những điểm tương đồng (những điểm giống nhau
giữa các nền văn học sinh ra không phải do ảnh hưởng giữa chúng mà là do điều kiện lịch sử giống nhau)
Từ những nét tương đồng về lịch sử - xã hội mà các tác phẩm của các nhà văn cũng có những nét tương đồng với nhau về chủ đề, đề tài…
Cùng viết về nông dân, AQ chính truyện của Lỗ Tấn và Chí Phèo của Nam Cao
miêu tả số phận của nông dân dưới nanh vuốt của bọn cường hào, thái độ phê phán xã hội và cảm thông đối với người nông dân của Lỗ Tấn và Nam Cao thể hiện rõ trong tác phẩm của hai nhà văn thiên tài
Bộ phận thứ ba: Nghiên cứu những điểm khác biệt độc lập, biểu hiện bản sắc
của các hiện tượng văn học dân tộc hay các nền văn học dân tộc, được chứng minh bằng các phương pháp so sánh
Trong thực tiễn nghiên cứu, đôi khi các nhà nghiên cứu phải so sánh hai hiện tượng văn học khác nhau để chứng minh cho mức độ khác nhau giữa chúng, qua đó khẳng định thêm cho một yêu cầu nào đó của mình Chẳng hạn, Vũ Ngọc Phan so sánh Phạm Duy Tốn với Guyde Maupassant để cho thấy trình độ nghệ thuật tả chân của
Phạm Duy Tốn là chưa đạt yêu cầu Vũ Ngọc Phan cũng so sánh tiểu thuyết Quả dưa
đỏ của Nguyễn Trọng Thuật với Những cuộc hành trình của Gulliver của Swift, với Robinson Crusoe của D Defoe để chứng minh rằng Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng
Thuật không phải là loại tiểu thuyết phiêu lưu
Như vậy, so sánh không phải chỉ là để tìm ra những nguồn gốc vay mượn, những ảnh hưởng trực tiếp hoặc chỉ là để tìm ra những điểm giống nhau giữa các hiện tượng so sánh, mà khi một hoàn cảnh thực tiễn nào đó đòi hỏi thì nhà so sánh luận còn
có nhiệm vụ so sánh để chứng minh sự khác biệt nhằm bác bỏ một giả thiết nào đó về khả năng có sự ảnh hưởng của đối tượng nghiên cứu
Mặc dù đã có đầy đủ kiến thức về mặt lí luận nhưng hiện nay bộ môn khoa học văn học so sánh vẫn đang còn khá mới mẻ và đáng được quan tâm từ các nhà nghiên cứu văn học
Trang 241 2.2 Khái quát về không gian nghệ thuật
1.2.2.1 Khái niệm không gian nghệ thuật
Khái niệm không gian nghệ thuật luôn được đặt trong mối quan hệ với không
gian, vì vậy muốn hiểu được không gian nghệ thuật ta sẽ đi tìm khái niệm cơ sở của
nó, chính là không gian Theo triết học Mac - Lênin: Bất kì một khách thể vật chất
nào cũng đều chiếm một vị trí nhất định trong tương quan về mặt kích thước so với
khách thể khác Các hình thức tồn tại như vậy của vật thể được gọi là không gian
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản, không gian chính là môi trường chung sống của con người với sự tồn tại của vô vàn các sự vật xung quanh Không gian chính
là hình thức tồn tại vật chất với các thuộc tính cùng tồn tại và tách biệt, có chiều, có hướng và có kết cấu Vậy đặt vào trong văn học thì không gian sẽ được hiểu như thế nào? Đây là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm
Trần Đình Sử đã định nghĩa về không gian nghệ thuật như sau: “Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống” [38; 88] Như vậy, không gian nghệ thuật chính là phạm trù của
hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Không gian nghệ thuật trở thành một phương tiện chiếm lĩnh đời sống của con người
và thế giới xung quanh, “mang ý nghĩa biểu tượng nghệ thuật” [38; 89] Nếu thế giới
nghệ thuật là thế giới của cái nhìn mang ý nghĩa thì không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn Căn cứ vào điểm nhìn ấy ta có thể xác định được vị trí của chủ thể trong không gian, thể hiện ở phương hướng, khoảng cách nhìn, ở đặc điểm của đối tượng nhìn
Tóm lại, không gian nghệ thuật là một trong những phương diện quan trọng của thi pháp học Không gian nghệ thuật cho thấy những cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng và còn thấy cả những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học Nó trở thành phương tiện chiếm lĩnh đời sống, là mô hình nghệ thuật về thế giới mà con người đang sống, đang cảm nhận
1.2.2.2 Đặc điểm của không gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật thống nhất nhưng không đồng nhất với không gian khách thể Bản thân không gian vật chất khách thể tồn tại khách quan, nghĩa là sự tồn tại của
nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Không gian nghệ thuật có ranh giới phân biệt với không gian vật chất bên ngoài nhưng nó khá trừu tượng, không
Trang 25dễ thấy như một cái khung, mà nó phải được bạn đọc liên tưởng qua câu chữ Không gian ấy có thể được mở rộng bao la hay thu hẹp chật chội:
Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn ngoài từng không
(Khi con tu hú - Tố Hữu)
hay:
Anh đứng trong song sắt
Em đứng ngoài song sắt Gần nhau trong tấc gang
Mà biển trời cách mặt
(Vợ người bạn tù đến thăm chồng - Hồ Chí Minh)
Chính những cảm quan của con người quy định tính chất rộng hẹp của không gian Nó không đơn giản chỉ là cảm nhận bằng tư duy mà nó còn là cảm xúc, tâm trạng của nhà văn:
Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi Những đền xưa đổ nát dưới thời gian Những sông vắng lê mình trong bống tối Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than
(Trên đường về - Chế Lan Viên)
Có lẽ những con người bình thường, đơn điệu khi nhìn vào thành trì của vương quốc Chiêm Thành xưa chỉ thấy đó là một công trình kiến trúc lâu đời, do thời gian mà
nó không còn giữ được nguyên vẹn, trở nên đổ nát Nhưng bằng sự cảm nhận tinh
vi, trái tim rung động của thi sĩ, Chế Lan Viên thấy không gian ấy mang tâm trạng đợi chờ, buồn đau, bế tắc, than thở Nhắc đến mỗi một mặt nhà thơ lại có những tâm trạng khác nhau, cảm xúc thay đổi và nhà thơ như thấy mình trong đó, như chính ông cũng đang đợi chờ, buồn đau bế tắc và than thở về một hiện tại, tâm hồn hướng về dĩ vãng đã qua
Không gian trong văn học có những ranh giới thể hiện quan niệm về trật tự thế giới và sự lựa chọn của con người Nó biểu hiện ở không gian bên trong và không gian bên ngoài, ranh giới khả biến và bất biến, giữa còn và mất
Mai sau dù có bao giờ Đốt lò hương ấy so tơ phím này Trông ra ngọn cỏ lá cây
Trang 26Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Ngay trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao cũng có sự đối lập của hai kiểu
không gian: nhà của văn sĩ Hoàng lúc nào cũng đóng cửa, còn có cả chó giống Đức để giữ nhà, đây là nơi thu mình của những con người, gia đình quay lưng với kháng chiến, cách mạng, thu mình về thế giới riêng tư để hưởng thụ những thú vui cá nhân Bên ngoài ngôi nhà ấy cả đất nước đang hăng hái tham gia kháng chiến, hoạt động cách mạng để góp sức đánh đuổi thực dân, giải phóng dân tộc
Không gian nghệ thuật còn là một hiện tượng mang tính ước lệ, mang ý nghĩa cảm xúc, có khi rất gần gũi, nhưng cũng có khi thật xa xôi:
Đôi mắt người yêu, ôi! Vực thẳm Ôi! Trời xa vừng trán của người yêu
hay:
Những cánh tay hãy quấn riết đôi vai Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng
Và rồi:
Trong say sưa anh sẽ bảo em rằng:
Gần thêm nữa thế vẫn còn xa lắm
(Xa cách - Xuân Diệu)
Không gian trong các sáng tác văn học được biểu hiện bằng các không gian điểm mang tính ước lệ tượng trưng như: Ôlimpia, Tây Trúc, Thiên đình, Long cung, làng quê, bến nước, sân đình, góc phố…
Không gian được biểu thị qua các từ chỉ không gian vốn đã có sẵn trong kho tàng từ vựng tiếng Việt như: cao, thấp, xa, gần về tính chất có thể là: dài, ngắn, rộng, hẹp, thoáng, bí, quanh co, thẳng, cong…
Một đặc điểm quan trọng của không gian nghệ thuật là mang tính biểu trưng và tính quan niệm Điều này xuất phát từ nguyên tắc mô phỏng tự nhiên trong hội họa,
chẳng hạn như hội họa phương Tây quen thuộc là: xa, gần, sáng, tối Hay luật “phủ ngưỡng tự đắc”, âm dương ngũ hành, hư thực liền nhau trong hội họa phương Đông
Vì vậy, trong văn học cổ con người sẽ nhìn không gian theo con mắt cá nhân cá thể
Trang 27Các cặp không gian đối lập đều ẩn chứa tính tư tưởng, đạo đức như: cao - thấp, khép -
mở, lớn - nhỏ Các nhà văn thường sử dụng những hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng, tính tư tưởng như: con đường, ngã ba, ga tàu, bến đò đó là những hình ảnh giàu ý nghĩa trong văn học xưa và nay Chúng ta thấy rõ không gian trong thơ cổ điển thường mang ý nghĩa biểu trưng cho một môi trường thanh sạch, nhàn nhã, xa lánh bụi trần:
Rồi hóng mát thuở ngày trường Hòe lục đùn đùn tán rợp trương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tịn mùi hương
(Bảo kính cảnh giới 43 - Nguyễn Trãi)
hay:
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn, người đến chốn lao xao Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
(Nhàn - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Tóm lại, không gian nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật và tư tưởng, chủ đề tác phẩm Là một không gian thu nhỏ trên trang giấy cuộc sống của con người, nhưng không gian nghệ thuật sẽ vô cùng bao la khi đi vào sự liên tưởng của người đọc
Tiểu kết: Là một bậc thầy của truyện ngắn thế giới, là cây bút hàng đầu của
phong trào Ngũ Tứ, Lỗ Tấn đã góp phần không nhỏ vào việc đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến, đánh đuổi đế quốc thực dân, thiết lập nhà nước dân chủ cho nhân dân Trung Hoa những năm đầu của thế kỉ XX Trong khi đó văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930- 1945, Nam Cao được đánh giá là cây bút số một của văn chương hiện thực nước ta thời kì bấy giờ Trong truyện ngắn của ông, hình ảnh người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng tám, những mâu thuẫn trong con người trí thức tiểu
tư sản nghèo hiện lên trên bề mặt câu chữ vô cùng sắc lạnh nhưng chứa đựng trong đó
là tấm lòng xót thương đong đầy của nhà văn Những truyện ngắn của hai tác giả Lỗ Tấn và Nam Cao đã vẽ lên bức tranh hiện thực xã hội xung quanh cuộc sống con người mang nhiều dấu ấn, sự kiện, tình tiết khác nhau, đồng thời thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy của hai ông trong các lĩnh vực của truyện ngắn như: kết cấu, ngôn
Trang 28ngữ, các thủ pháp biểu hiện Đặc biệt, cả hai tác giả đều khá quan tâm miêu tả không gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ, là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn Nhận thấy sự tương đồng về không gian nghệ thuật ở mảng truyện ngắn của hai tác gia lớn trên, hơn nữa văn học so sánh cũng là bộ môn khoa học đang được quan tâm nên chúng tôi sẽ đi sâu vào vấn đề khá mới, nan
giải nhưng đầy thú vị này là “so sánh không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Lỗ
Tấn và Nam Cao” Những hiểu biết về tác giả, tác phẩm truyện ngắn của hai ông, lí
luận về văn học so sánh và không gian nghệ thuật sẽ là cơ sở vững chắc để chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài
Trang 29
CHƯƠNG 2: ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
CÁC LOẠI KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN VÀ NAM CAO
Lỗ Tấn và Nam Cao đều sinh ra trong thời kì hai nước Trung - Việt dưới chế độ
phong kiến suy tàn nhưng cực kì tàn bạo Hai tác giả đều là những nhà văn, nhà giáo,
rất am hiểu về người trí thức và cũng gần gũi với những người lao động Xuất phát từ
quan điểm tính cực của nhà văn, tư tưởng dân chủ, ghét áp bức bất công, thông cảm
xót xa trước nỗi khổ của quần chúng lao động là hạt nhân hình thành khuynh hướng
sáng tác hiện thực phê phán của hai tác giả Hai tác giả có nhiều điểm gặp gỡ về cuộc
đời và tư tưởng gửi gắm trong văn chương Truyện ngắn của Lỗ Tấn và Nam Cao có
nhiều điểm gần gũi nhau, nhưng đồng thời cũng có nhiều điểm khác biệt về nội dung
tư tưởng và giá trị nghệ thuật Cả hai tác giả đều khá chú trọng khắc họa các loại
không gian nghệ thuật như không gian nông thôn, không gian thành thị, không gian
con đường
Sau đây, chúng tôi sẽ so sánh để thấy được những điểm tương đồng và khác
biệt của các loại không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lỗ Tấn và Nam Cao
2.1 Không gian nông thôn
2.1.1 Tương đồng
Không gian rộng lớn bao trùm các tác phẩm truyện ngắn của Lỗ Tấn và Nam
Cao trước hết là không gian nông thôn Cả hai tác giả cùng chú ý miêu tả không gian
nông thôn xơ xác tiêu điều, gắn với hình ảnh những người nông dân quanh năm khổ
cực lam lũ
Trong truyện ngắn Lỗ Tấn không gian nông thôn xơ xác tiêu điều hiện lên rõ
nét qua các tác phẩm: Cố hương, AQ chính truyện, Lễ cầu phúc, Cây trường minh
đăng, Hát tuồng ngày rước thần, Ngày mai, Nhật kí người điên…
Không gian nông thôn hiện lên trong tác phẩm Cố hương của Lỗ Tấn là hình
ảnh “Thôn xóm tiêu điều, hoang vắng, nằm im lìm dưới vòm trời vàng úa” [26; 73],
“Trên mái ngói mấy cọng tranh khô phất phơ theo gió” [26; 74] Điều ấy khiến nhân
vật “tôi” không nén nổi lòng mình, buồn bã tự hỏi: “A, đây có phải làng cũ mà hai
mươi năm trời nay tôi hằng ghi lấy hình ảnh trong kí ức không” [26; 73] Ngôi nhà
thân yêu của “tôi” cũng hoang tàn hiu quạnh Cảnh đó nhuốm màu tâm trạng, vì vậy,
cảnh buồn lại càng buồn hơn Trên con đường xa quê, khung cảnh vẫn như vậy:
Trang 30“Trong hoàng hôn những dãy núi hai bên bờ sông đen sẫm lại, nối tiếp nhau chạy lùi
về phía sau lái” [26; 85] Cả làng cũ mờ dần nhưng trong lòng “tôi” lại không một
chút lưu luyến
Bên cạnh không gian địa lí xơ xác, đượm sắc buồn, không gian nông thôn Trung Quốc còn gắn liền với bối cảnh xã hội cùng những bi kịch xã hội khiến nó càng thêm bức bối, ngột ngạt, mà Nhuận Thổ và thím Hai Dương là hình ảnh tiêu biểu cho những bi kịch ấy Không gian làng cũ ở phần đầu truyện trong hồi ức của nhân vật “tôi” càng tươi sáng bao nhiêu thì càng tương phản với không gian hiện tại của làng cũ bấy nhiêu
Sự tương phản này không chỉ nói lên sự đổi thay của con người và cảnh vật mà còn khắc sâu thêm hiện thực phũ phàng, đen tối trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ
Bức tranh nông thôn không chỉ được hiện lên trong Cố hương mà còn được thể hiện trong tác phẩm AQ chính truyện Nông thôn trong truyện này cũng là không gian
hẹp, đó là không gian làng Mùi, một ngôi làng nhỏ của Trung Quốc Làng Mùi được miêu tả theo từng bước trôi của thời gian, nhưng cảnh vật và con người dường như
không có gì thay đổi: “Đêm ấy không trăng bóng tối dày đặc, cảnh làng Mùi vẫn lặng
lẽ như những ngày thịnh trị thời Hy Hoàng” [26; 142] Con người sống trong không
gian tù túng ít có sự thay đổi địa điểm, nhiều người suốt cả đời sống trong ngôi làng nhỏ bé ấy Trong không gian hạn hẹp và tầm nhìn chỉ quẩn quanh sau lũy tre làng, họ vẫn giữ những lề thói cũ; họ trở nên mụ mẫn, tha hóa; trở nên xa lạ, ngơ ngác trước sự thay đổi của thế giới bên ngoài Làng Mùi là hình ảnh điển hình cho không gian nông thôn Trung Quốc sau cách mạng Tân Hợi đầy rẫy những hủ tục, lề thói với đủ mọi thành phần từ kẻ hạ lưu đến bọn thanh niên vô công rồi nghề, những cố nông như Cu Don, Vương Râu Xồm, Vú Ngò… đến tầng lớp thượng lưu như Cụ Triệu, Cụ Cử, Cậu
Tú, thằng tây giả…
Trong nhiều truyện ngắn khác của Lỗ Tấn cũng miêu tả không gian nông thôn
như Lễ cầu phúc, Ngày mai, Nhật kí người điên, Cây trường minh đăng, Hát tuồng ngày rước thần… Đó là khung cảnh nông thôn vào mùa đông với tuyết rơi lạnh lẽo trong Lễ cầu phúc Đầu tác phẩm là mùa đông, những lần thím Tường Lâm xuất hiện ở
Lỗ Trấn cũng vào mùa đông lạnh lẽo Con người cũng vậy, người ta lạnh lùng, tàn nhẫn như chính cái lạnh của mùa đông Với tư tưởng bảo thủ vẫn giữ từ thời phong kiến, họ đã giết chết cả một con người đáng lẽ phải được hưởng ấm no, hạnh phúc như
thím Tường Lâm Hay hình ảnh nông thôn trong Cây trường minh đăng với sự mê
Trang 31muội của người dân thôn Cát Quang nhỏ bé, tù túng Người ta giữ và tôn thờ chế độ
phong kiến, không chịu đổi mới và cũng không chịu đấu tranh Và trong Hát tuồng
ngày rước thần: “Làng Bình - Kiều một ngôi làng nhỏ ở ven sông, cách biển không xa
lắm và rất hẻo lánh Cả làng không đầy ba mươi nóc nhà” [26; 170] Người dân trong
làng chỉ làm ruộng, đánh cá, làng chỉ có một khu chợ bán hàng xén nhỏ Cuộc sống ở
đây rất bình yên Có lẽ đây là một trong số hiếm những ngôi làng giữ được vẻ mộc
mạc, nên thơ và mọi người trong làng luôn vui vẻ và hiếu khách
Cũng như nông thôn Trung Quốc trong truyện ngắn Lỗ Tấn, nông thôn Việt
Nam trong truyện ngắn Nam Cao cũng tiêu điều, xơ xác vì nghèo đói Ở đó người
nông dân vốn triền miên trong bần cùng, giờ đây cũng đang tiến tới thảm họa khủng
khiếp năm 1945
Không gian nông thôn được tác giả Nam Cao miêu tả trong các truyện ngắn tiêu
biểu như: Lão Hạc, Quái dị, Nửa đêm, Chí Phèo, Một bữa no, Ma đưa…
Trong truyện ngắn Chí Phèo, làng Vũ Đại được nói tới với đặc điểm đầu tiên là
“xa phủ xa tỉnh” [3; 28], vừa hẻo lánh, vừa xơ xác, hơn nữa lại là một mảnh đất “quần
ngư tranh thực” [3; 28] Giống như làng Mùi trong truyện ngắn của Lỗ Tấn, làng Vũ
Đại cũng là một ngôi làng điển hình cho làng quê nông thôn Việt trước cách mạng Nó
khoác lên mình dáng vẻ hoang vu, tiêu điều và ẩn chứa bên trong nhiều nỗi bất hạnh,
đắng cay Trong cái không gian tù hãm bị vây bọc bởi lũy tre xanh, biết bao số phận đã
bị vùi dập, đày ải, nếu không cam phận sống thiệt thòi, tủi nhục như một kẻ tôi đòi (Ở
hiền) thì cũng sống âm thầm nhẫn nại trong đắng cay, chua xót (Dì Hảo), nếu không bị
chết vì đói, vì bệnh tật (Nghèo, Điếu văn) thì cũng chết khốn chết khổ vì bả chó (Lão
Hạc) hay bội thực vì một bữa no như bà cái Tí (Một bữa no) Nơi ấy không gian đóng
kín, chật hẹp với những luật lệ, hủ tục khắt khe đã cướp đi quyền làm người của một
con người, dồn con người vào chỗ chết như Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên hay
có thể hóa điên dại như Đức trong truyện Nửa đêm
Không gian làng Vũ Đại còn là nơi ngự trị của những bè cánh, âm mưa, toan
tính bóc lột dân nghèo của bọn cường hào ác bá: “Làng nào cũng có nhiều cánh, mỗi
cánh kết bè kết đảng chung quanh một người; cánh cụ Bá Kiến, cánh ông Đội Tảo,
cánh ông Tư Đạm, cánh ông Bát Tùng” [3; 33] Bằng ấy cánh hợp sức lại với nhau để
bóc lột nhân dân, nhưng đồng thời lại ngấm ngầm chia rẽ, nhè từng chỗ hở mà trị
nhau Không gian làng Vũ Đại, từ lúc Chí Phèo đi tù về lúc nào cũng vang tiếng chửi
Trang 32rủa: “Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi” [3; 23], Chí Phèo “chửi trời”, “chửi đời”, “chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn” và “chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn” [3; 23] khiến cho thân hắn phải khổ như bây giờ Chí
Phèo quay về làng Vũ Đại để tìm lại cuộc sống từng mơ ước, hay trở về đây để trả thù
kẻ đã đẩy Chí vào nhà tù đen tối của thực dân Ở phần đầu của tác phẩm ta chưa rõ, ngày thứ hai về làng Chí đã tới nhà Bá Kiến, có lẽ đây cũng là nơi Chí chửi rủa nhiều
nhất bởi chính vì ghen tuông mà Bá Kiến đã đẩy Chí vào nhà tù thực dân: “Hàng xóm được một bữa điếc tai nhưng có lẽ trong bụng thì họ hả: Xưa nay họ mới chỉ được nghe bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá chửi người ta, bây giờ họ lại thấy người ta chửi nhà cụ bá Mà chửi cũng sướng miệng làm sao, ngoa ngoắt làm sao” [3; 24-25]
Một làng quê không còn bình yên như vốn có, ở đó diễn ra những âm mưu, thủ
đoạn, gây gổ, rạch mặt ăn vạ: “Một cái tát rất kêu Ôi! Cái gì thế này? Tiếng đấm, tiếng đá nhau bình bịch Thôi cứ gọi là tan xương! Bỗng choang một cái, thôi phải rồi, hắn đập cái chai vào cột cổng… Ồ hắn kêu, hắn vừa chửi vừa kêu làng như ai cắt họng”
[3; 25] Nếu ngược dòng thời gian thì Chí Phèo trước đây chỉ là một anh canh điền, bản tính lương thiện, hiền lành Vậy mà sau khi ở tù về Chí trở thành con quỷ của làng Vũ Đại Rõ ràng hoàn cảnh sống, không gian sống thay đổi đã khiến Chí Phèo trở nên tha hóa
về cả hình hài và nhân tính Chí Phèo phải sống trong không gian bị cả làng cô lập: “Tất
cả làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi khi hắn qua” [3; 38] Người làng đã loại hắn ra khỏi cộng đồng: “ngay cả đến cái thẻ có biên tuổi hắn cũng không có trong sổ làng, người ta vẫn khai hắn là dân lưu tán lâu năm không về làng” [3; 37]
Không gian nông thôn xơ xác, tiêu điều không chỉ có trong truyện Chí Phèo mà còn được miêu tả trong truyện ngắn Lão Hạc Ngôi làng được miêu tả là một làng quê nghèo đói, gần như không có sức sống Công việc làm ăn mỗi ngày một tàn lụi: “Làng mất vè sợi, nghề vải đành phải bỏ Đàn bà rỗi rãi nhiều có tí việc nhẹ nào họ tranh nhau làm mất cả Lão Hạc không có việc” [3; 109] Con người ở đây sống chìm đắm
trong cảnh thiếu thốn, khổ đau, bởi vậy họ tỏ vẻ lạnh lùng, thờ ơ trước nỗi đau của
người khác, giống như nhận định của tác giả: “khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ đến ai được nữa Cái bản chất tốt đẹp của người ta đã bị những nỗi lo lắng, buồn đau ích kỉ che lấp mất” [3; 113]
Khi đọc truyện ngắn của Nam Cao, còn có một không gian làng quê khác hiện
lên trong tâm trí bạn đọc, đó là làng Mai trong truyện ngắn Quái dị Ở đoạn đầu tác
Trang 33phẩm nhân vật “tôi” có nhắc tới ngôi làng của mình rằng năm ấy mất mùa “lúa xấu lắm” [3; 148] Người nông dân gặt xong của nhà, rồi mới đi gặt thuê chỉ được vài ba
buổi đã hết Rồi họ lại rủ nhau sang làng Đông để gặt thuê, nhưng thật không may lúa mạn Đông năm nay lại chín sớm Vì cuộc sống mưu sinh những người nông dân phải rời bỏ làng mình đi kiếm ăn, vậy mà họ phải chứng kiến ngôi làng còn nghèo đói, xơ
xác hơn cả làng quê họ: “một ngôi làng xác xơ và có vẻ nghèo nàn Nhà cửa lưa thưa Toàn những nhà tre úp xúp giữa những khu vườn rộng thì có rộng nhưng xấu lắm Mía đốt như lau hoặc khẳng khiu như chân gà, chuối lè tè như những cây rau diếp ngồng,
dĩ chỉ đến cây khoai, cây ráy cũng không lên được” [3; 150] Cái đích và cũng là hi
vọng cuối cùng của những người nông dân đi gặt thuê là làng Mai Ấn tượng đầu tiên
đó là đặc điểm riêng biệt của ngôi làng “chỉ có đầu, có đuôi mà không có khúc giữa” [3; 152] Thật đúng là một ngôi làng quái dị: “những quán gianh vắng ngắt đứng xơ rơ như những con gà xù lông ra, ngủ ròm Những con gà quái gở” [3; 153] Mấy gian chợ cũng nghèo nàn, chẳng lấy thức gì làm sang trọng: “Chỉ cần nhìn vào hàng nước cũng
đủ biết người dân ở đây khổ”, “Xôi thì xôi mắt cua Bánh đúc sặc mùi vôi Giá có bát bún cua thì cũng ba phần rau mới được một phần bún Mà nào có ra hồn bún! Những sợi to bằng cái đầu đũa mà xam xám chứ không trắng hẳn Ăn vào rắn mà lại chua Ấy thế gọi là danh giá lắm Hàng nào cừ mới có Còn thì chỉ cái giống bánh sắn, bánh khoai hoặc bánh rán bằng cơm nguội là nhiều lắm” [3; 150] Không gian này khiến
cho ta nhớ tới câu thơ của Hà Cừ:
Chợ quê con tép cũng gầy Con cua, con cá dính đầy bùn tươi
Mớ rau muống, mớ mồng tơi Quả bầu, quả bí nói lời gió trăng
Trang 34nhất cũng phải “rú lên” Không chỉ có các nhân vật trong truyện mà người đọc cũng
cảm thấy rất kinh ngạc và ghê rợn, cùng với những băn khoăn về sự việc quái dị này
Tuy thực tại đen tối nhưng cả hai tác giả không nhìn cuộc sống bắng con mắt bi
quan, tuyệt vọng Bên cạnh không gian nông thôn xơ xác, tiêu điều hai tác giả Lỗ Tấn
và Nam Cao còn xây dựng nên không gian nông thôn có vẻ đẹp bình yên trong thực tế
và cả mộng tưởng của nhân vật “tôi” về tương lai tươi sáng Đây cũng chính là đặc
điểm tương đồng cơ bản thứ hai trong việc khắc họa nên không gian nông thôn của hai tác giả
Qua các sáng tác tiêu biểu của Lỗ Tấn như Cố hương, Hát tuồng ngày rước thần, bức tranh nông thôn được hiện ra với màu xanh của cỏ cây, đồi lúa, hoa màu của người nông dân hiện ra thật đẹp và yên bình Làng cũ trong Cố hương hiện ra với cảnh
ruộng dưa xanh rờn, bạt ngàn với hình ảnh cậu bé Nhuận Thổ nhanh nhẹn, hoạt bát
đi trông dưa vào ban đêm và cảnh bẫy chim sẻ: “Quét lấy một khoảng đất trống, dùng một cái que ngắn chống một cái nong lớn, rắc một ít lúa lép, thấy chim tước xuống ăn, đứng đằng xa giật mạnh sợi dây buộc vào cái que thế là chim sẻ chụp vào nong hết Thứ nào cũng có: sẻ đồng, chào mào “cô bột”, sẻ lưng xanh” [26; 76-77]
Cảnh nhặt vỏ sò của những đứa trẻ trên bãi biển củng rất đẹp, có những vỏ sò xanh,
đỏ, nhiều hình thù ngộ nghĩnh theo trí tưởng tượng phong phú của trẻ thơ: sò mặt quỷ, sò tay phật…
Trong Hát tuồng ngày rước thần, không gian nông thôn cũng hiện ra rất đẹp và
thơ mộng Hình ảnh ngôi làng nhỏ Bình - Kiều nằm cạnh một dòng sông lớn và trải dài, uốn quanh đồi thông Dòng sông còn nối với làng Triệu nơi tổ chức sân khấu hát
tuồng Không gian hai bên dọc sông hiện lên thật đẹp, thật gần gũi, thân thuộc: “Hai bên bờ sông là những ruộng lúa, ruộng đậu một màu xanh rập rờn [26; 173] Bức tranh không gian vừa có sắc lại vừa có hương của “mùi thơm của lúa, đậu hai bên bờ
và mùi của rong dưới đáy sông, lẫn trong hơi nước, nhẹ đưa vào mặt” [26; 173]
Trong đêm trăng cảnh vật trở nên lung linh mờ ảo Bọn trẻ con vui vẻ, hứng khởi chèo thuyền trên sông để đi xem hát Không gian đồng quê cũng từ đó hiện ra theo dòng
chảy: “Xa xa những dãy núi màu đen nhạt nhấp nhô trông giống như lưng một con thú đúc bằng sắt đang chồm lên” [26; 173] Dưới ánh trăng thanh mát, không gian càng
trở nên đẹp hơn Giữa không gian cánh đồng làng Triệu bát ngát hòa cùng ánh đèn sân
khấu, nhân vật tôi “tưởng chừng như đây là cảnh tiên mình từng gặp trong tranh” [26;
Trang 35174] Nhà văn Lỗ Tấn để cho con người được thả hồn trong cảnh đẹp thiên nhiên, đất
trời, cũng giống như M Gorki trong truyện ngắn Manva đã lồng vào tâm trạng của
nhân vật trữ tình là khung cảnh thiên nhiên dịu dàng yên bình như chính suy nghĩ lắng
đọng ở họ: “Mặt trăng nhô lên sau những đụn cát nhấp nhô phía bên trái, láng ánh bạc trên mặt biển Vầng trăng to hiền dịu từ từ nhô lên cao trên vòm trời xanh lam, ánh sáng rực rỡ nhòa đi và tan ra trong ánh trăng bàng bạc mơ màng” [26; 282] Trong phần cuối của tác phẩm Cố hương Lỗ Tấn đã vẽ nên viễn tưởng của một không gian mới đối lập với không gian thực tại: “Trước mắt tôi hiện ra cảnh tượng một cánh đồng, màu xanh biếc, cạnh bờ biển trên vòm trời xanh đậm, treo lơ lửng một vừng trăng tròn vàng thắm” [3; 87] Đó là niềm tin và hi vọng của “tôi” vào một tương lai tươi sáng, đây cũng chính là niềm tin của tác giả Hay trong tác phẩm Ngày mai chị Tư
Thiền đau đớn, quằn quại vì mất chồng, mất con trong miền quê lạnh lẽo tình người nhưng chị vẫn hi vọng vào một ngày mai tốt đẹp hơn
Giống như Lỗ Tấn, Nam Cao miêu tả không gian tươi đẹp cùng niềm tin vào tương lai tươi sáng trong truyện ngắn của mình Đôi khi đơn giản là một đêm trăng
sáng, rất sáng, dưới ánh trăng vàng dòng sông quê lung linh như dát vàng, những con
sóng vàng nối tiếp nhau vỗ bờ Hay cảnh đẹp của đồng nội: “có nắng thu dìu dịu, trời đẹp Cánh đồng lúa mơn mởn, run gờn gợn như một làn da quen ủ kín, đột nhiên phơi
ra gió lạnh Phong cảnh quyến rũ như một nhan sắc hoàn toàn nảy nở” [3; 139], trong truyện Trẻ con không được ăn thịt chó Trong truyện Nhìn người ta sung sướng khung cảnh nông thôn được miêu tả rất đẹp và giản dị: “Trời rất xanh, không khí trong suốt Cánh đồng gió lộng phập phồng như ngực xốn xao của bể Lại có nắng, có chim, có tiếng xe bò nghiến những hòn đá kêu lắc rắc và tiếng cười tiếng nói” [3; 249]
Cảnh nông thôn tươi sáng trong các sáng tác của Nam Cao mang đặc trưng của miền quê thuần nông nghiệp, với nét đẹp mộc mạc, chỉ là những đêm trăng thanh gió mát hay những ngày trời thu trong xanh Chỉ vậy thôi, nhưng đôi khi phải nhờ đến cả
trí tưởng tượng mới có, trong truyện Ma đưa: “Cảnh hai bên khoáng đãng và tươi đẹp Những đồng lúa bát ngát giải màu xanh non đến tận chân trời Một vài cái ao, nước lấp lánh dưới những tia nắng đẹp, một xóm rất nhiều nhà gạch, san sát như ngoài phố, một cái đền đầu mái cong chọc thủng đám lá si…” [3; 73] Trong phần kết truyện ngắn Điếu văn Nam Cao đã thể hiện niềm tin và hy vọng vào tương lai tươi sáng: “Sự đời không thể cứ mãi mịt mù như thế này đâu Tương lai phải sáng sủa hơn Một rạng
Trang 36đông đã báo rồi Một mặt trời mới sẽ mọc lên trên nấm mồ anh và bên trên đầu hai đứa con côi anh để lại Một bàn tay bè bạn sẽ nắm lấy bàn tay chúng cùng đi tới một chân trời đẹp hơn” [3; 278]
Như vậy, điểm giống nhau khi miêu tả không gian nông thôn của Lỗ Tấn và Nam Cao là đã cho ta thấy được không gian làng quê xơ xác tiêu điều và cả những hình ảnh tươi đẹp mộc mạc của của nông thôn, qua đó thể hiện niềm tin và hi vọng của hai tác giả vào tương lai tươi sáng Đây là đặc điểm chung nhất của không gian này Ta nhận thấy ra rằng cái nghèo đói đã lấn chiếm cả không gian nông thôn Cuộc sống của con người nơi đây luôn đắm chìm trong nghèo đói, đau khổ Cả hai tác giả với lòng nhân hậu vẫn luôn hướng các nhân vật của mình tới một không gian tươi sáng hơn trong tương lai Niềm tin và hi vọng ấy của hai tác giả khiến cho ta cảm phục, trân trọng
2.1.2 Khác biệt
Lỗ Tấn và Nam Cao đều chú trọng miêu tả không gian nông thôn Tuy nhiên, nếu như Lỗ Tấn dựng nên không gian nông thôn tươi đẹp, thơ mộng gắn với đó là thời gian trong quá khứ cùng cuộc sống trù phú, sôi động của con người thì cảnh đẹp trong không gian nông thôn của Nam Cao chỉ thoáng hiện ra qua sự cảm nhận, cái nhìn của nhân vật rồi sau đó chìm vào không gian thực tại đượm một màu đen u tối
Trong truyện ngắn Cố hương, kí ức tuổi thơ của nhân vật “tôi” về quê hương thật đẹp: “ Một vầng trăng tròn vàng thắm treo lơ lửng trên nền trời xanh đậm, dưới là một bãi cát bên bờ biển, trồng toàn dưa hấu, bát ngát một màu xanh rờn” [26; 75] cùng hình ảnh cậu bé Nhuận Thổ chạy giữa bãi dưa “tay lăm lăm cầm chiếc đinh ba, đang
cố sức đuổi theo một con “tra”” [26; 75] Cảnh nông thôn hiện lên tươi đẹp trong quá khứ còn thể hiện qua nếp sống nhộn nhịp của con người nơi đây: “Hằng ngày đại khái
là đào giun, mắc vào lưỡi câu nhỏ làm bằng dây đồng rồi ra nằm bẹp ở bờ sông”,
“cùng nhau chăn trâu” [26; 171]
Trong Hát tuồng ngày rước thần không gian tươi đẹp và thơ mộng hiện ra trong hồi tưởng của nhân vật “tôi” – cũng chính là tác giả: “Hai bên bờ sông là những ruộng lúa, ruộng đậu một màu xanh rập rờn” [26; 173] Những đứa trẻ và những người dân
trong vùng luôn tỏ ra hào hứng khi có hát tuồng bên làng Triệu Khi trời về khuya những đứa trẻ trở về và vô cùng thích thú với việc trộm đậu la hán và luộc ăn ngay trên thuyền
Trang 37Nơi đây còn có một không gian đặc biệt khác, thể hiện cách sống và sinh hoạt của những người nông dân, đó chính là không gian quán rượu Quán rượu cũng góp phần thể hiện không gian nông thôn đa sắc màu trong truyện ngắn của Lỗ Tấn Trong các
truyện ngắn như Khổng Ất Kỉ và Trong quán rượu: “Các quán rượu ở Lỗ Trấn có một cách sắp đặt khác hẳn với những nơi khác Quán nào cũng có một quày to, hình thước thợ, ngoảnh ra đường cái…” [26; 47] Trong quán rượu, những người nông dân là những người mặc áo cộc đi làm về đứng tựa vào quầy vừa uống vừa nghỉ, còn “những
vị khách áo dài thì đi vào tận phòng trong gọi rượu, gọi thịt uống khề khà” [26; 48]
Vì là quán với đủ mọi thành phần, con người trong này lại có hơi men nên không gian
quán thường ồn ào Quán rượu trong Khổng Ất Kỉ nổi bật lên là hình ảnh nhân vật
Khổng Ất Kỉ, mặc áo dài cũ nhàu nát nhưng lại đứng ở quầy rượu vẻ bề ngoài ấy với
những hành động, lời nói khác lạ: “Chi hồ giả dã”, hay “quân tử cố cùng, nào là giả hồ” những lời nói ấy đã thu hút sự chú ý của mọi người trong quán khiến họ cười dậy lên “Trong quán ngoài quán không khí nhộn nhịp” [26; 50] Ở quán rượu người ta bàn
tán, soi mói và lôi việc ăn cắp sách của Khổng Ất Kỉ bị treo ngược lên cành cây đánh, hay chuyện Khổng Ất Kỉ vốn cũng đi học nhưng thi mãi không đỗ Đến chuyện đi
chép sánh thuê để kiếm cơm: “Ngồi chép được mấy hôm thế là cả người lẫn sách vở, giấy mực đều mất tang” [26; 54] Những kẻ nát rượu vô công rồi nghề đã lôi Khổng Ất
Kỉ ra làm trò cười trên bàn rượu của họ và cho khách trong quán, hầu như lần nào cũng vậy khiến cho không khí nơi đây mỗi lần nhân vật này xuất hiện lại huyên náo hẳn lên, mọi người lại được những trận cười như pháo
Có thể thấy, không gian quán rượu trong truyện ngắn Lỗ Tấn vui nhộn, náo nhiệt, nhưng đằng sau ấy là hình ảnh quần chúng “vô công rồi nghề” hoặc bị tha hóa hoặc bị chế độ khoa cử đầu độc đến mê dại Đó là một thực trạng vô cùng đau xót mà nhà văn
cố gắng chỉ ra và kêu gọi mọi người “thức dậy” Quán rượu của dì Tư béo trong Đất rừng Phương Nam của Đoàn Giỏi cũng vậy, một quán rượu “nhỏ xệch xạc, trống trước trống sau, cất dựa trên bờ sông dưới bóng một cây gạo cổ thụ” [8; 14] nhưng lúc nào cũng huyên náo, đặc biệt nơi đây không thiếu hạng người: “Những tay vô công rồi nghề, la cà ngồi tán róc suốt ngày cũng có Những người tản cư, cắm thuyền tạt lên uống chén rượu… Bọn con buôn vào ngồi chỉ cốt lấy cớ gặp gỡ, trao đổi luồng hàng đương khan hiếm… Đôi khi, một vài người lính cộng hòa vệ binh…” [5; 17]
Trang 38Khác với truyện ngắn Lỗ Tấn, phần không gian tươi sáng, đẹp đẽ trong truyện ngắn của Nam Cao chỉ thoáng hiện qua một cách nhẹ nhàng trong tâm chí bạn đọc rồi sau đó cả không gian nông thôn lại mang lên mình thời gian, không gian cuộc sống tù túng, ngột ngạt Con người ở giữa ranh giới sự sống và cái chết rất gần Các nhân vật của Nam Cao không lúc nào được sống trong đầm ấm, hạnh phúc Những khó khăn, đau khổ cứ đè nén lên cuộc sống yếu ớt của những con người khốn khổ ấy Quan lại,
cường hào luôn soi mói, bóp nặn từng đồng của dân: “Ở cái đất nhà quê bọn dân hiền lành chỉ là cố làm nuôi bọn hào lý” [3; 33] Những người nông dân phải nai lưng ra đi
làm thuê, làm mướn để kiếm từng đồng, từng hào và cũng có không ít người phải bỏ làng đi tha phương cầu thực Sự bóc lột của bọn địa chủ, cường hào đã đè nặng lên đôi vai của những người dân nơi miền quê nghèo Rồi lại đến nạn cho vay lãi Một cuộc sống mà cái đói, nghèo cũng theo từng bước, không đủ ăn, đủ mặc mà còn phải lo trả
nợ lãi Bà Xã Vận trong truyện Dì Hảo khi chồng bà mất “bà chạy ngược chạy xuôi van lạy hết người này đến người kia, mới vay được non chục bạc” [3; 56] Cuộc sống
hàng ngày của bà chỉ trông chờ vào gánh hàng bánh đúc Đứa con duy nhất cũng cho
đi ở làm con nuôi từ bé, mỗi lần có người đòi nợ, không có tiền, bà chỉ biết van lạy xin
khất và tìm cách né tránh Hay trong truyện Một đám cưới, gả con gái mà không khác
nào bán con để có tiền lo ma chay Khi mẹ Dần nằm xuống không có tiền lo ma, cha Dần đã phải nhận trước của nhà trai hai mươi đồng bạc cưới
Không chỉ có vậy, những người nông dân thấp cổ bé họng còn phải hứng chịu biết bao trận hoành hành của thiên nhiên Bão cứ tiếp bão năm nào cũng vậy Hoàn cảnh sống của người nông dân ruộng đất đã ít, công việc cũng không, nguồn sống của
cả gia đình trông chờ vào mấy sào vườn, vậy mà chỉ qua một đêm mưa bão là bao nhiêu cây cối hoa màu đều mất trắng, cái còn lại chỉ là một đống rác rưởi Nếu như không có bão, nơi đây với sự bóc lột, thống trị của bọn địa chủ, cường hào cũng đủ làm cho cuộc sống của người dân tiêu điều kiệt quệ rồi Hết con người lại đến thiên nhiên, những cái nạn đã cộng lại với nhau bóp nghẹt cuộc sống người dân Đọc truyện ngắn Nam Cao ta cảm tưởng như không còn có một không gian nào tù túng, ảm đạm hơn thế nữa
Trong một số tác phẩm như: Lão Hạc, Làm tổ, Mua danh, Mua nhà… Ta bắt gặp cảnh “hoa màu bị phá sạch sành sanh Từ ngày bão đến nay, vườn lão chưa có một tí gì bán Gạo thì cứ kém mãi đi Mỗi lão với một con chó mỗi ngày ba hào gạo,
Trang 39mà gia sự vẫn còn đói deo đói dắt” [3; 109] Hay cảnh hoang tàn của vườn tược trong truyện Làm tổ đã khiến cho người đọc không khỏi xót xa đau lòng: “Biết bao nhiêu chuối đổ, cây gẫy gục, cây tróc gốc Biết bao nhiêu mía đổ Bưởi cam rụng lở tở Những cây xoan bị gãy cành, nát lá Những cây tre rã rượi như gần kiệt sức, những chiếc còn sót lại tước ra thành sợi nhỏ như chùm lá thông” [3; 178] Những người
nông dân nhìn ra vườn đã không khỏi xót thương, từ cây cối cho đến những con vật sống Họ thương vườn cây và thương chính số phận của mình Bao nhiêu mồ hôi nước mắt Người nông dân lại thở dài, chép miệng, người ta rên như sốt rét, họ lo sẽ chết đói Bão thì cứ liên tiếp hết trận này lại trận khác Cây cối mà trận bão trước còn để sót
lại vừa mới hơi hơi lại thì lại chuẩn bị có bão Những giàn trầu “nát như tương, chẳng khác gì có người giật đổ xuống rồi lấy chân dận” [3; 204] Và còn hơn thế nữa, ngôi
nhà là nơi trú ngụ, che mưa che gió, là tài sản to lớn duy nhất mà người nông dân có
thì sau bão: “Nó nằm ụp xuống, như một người già khụyu gối” [3; 322] Viễn cảnh đen
tối đã hiện ra trước mắt người nông dân Khu vườn chỉ còn bãi đất trắng, củ chuối cũng không còn để ăn
Không gian nông thôn trong truyện ngắn Nam Cao không chỉ tù túng, ảm đạm
mà nó còn mang vẻ tĩnh lặng hoang vu đến đáng sợ Trong truyện ngắn Nửa đêm:
“Cảnh vật thì yên tĩnh quá; những giậu tre rậm như rừng, chiều đến, thở ra u ám; khu vườn hẻo lánh tựa tha ma” [3; 90-91] Người ta còn có thể nghe thấy cả tiếng những cái kèo, cái cột đôi khi vô cớ “kêu rền rĩ, hình như chúng tê mỏi mà vươn mình hay sốt ruột mà kêu lên” [3; 91] Ta còn bắt gặp không gian ấy trong truyện Quái dị Cái vẻ
lạnh lẽo của không gian làng Mai khiến ta có cảm giác rờn rợn như khi áp lưỡi dao cạo
sắc lên gáy Trong không gian “văng vẳng tiếng khóc tỉ ti bay theo chiều gió” [3; 152],
ngôi làng mang một vẻ hoang vu, quái dị, những bụi tre bên đường tối om om, lại thêm có bóng người… từ bụi tre đen ngòm đi ra Cảnh ấy khiến cho nhân vật tôi dựng ngược tóc gáy, bủn rủn chân tay Hoạt động của con người nơi đây diễn ra vào đêm tối khiến cho ta cảm thấy có điều gi đó kì dị, ma quái ở đây Không gian vắng lặng ấy đôi khi cũng bị khuấy lên bởi những tiếng khóc hờ, tiếng chửi trời, chửi đất, tiếng cãi nhau tranh giành vè sợi… Và rồi sau đó cả làng quê lại chìm lặng đi trong đói khát ốm đau
Trang 40gian cư trú như một sợi dây vô hình giam hãm con người vươn tới những ước mơ cao rộng, không gian này khắc họa rõ nét sự nghèo khổ của biết bao con người
Trong truyện ngắn Chí Phèo, năm sào vườn ở bãi sông chính là không gian sống riêng tư của Chí Phèo Ở đó Chí có một túp lều “úp xúp”, “ẩm thấp” “Ở đây người ta thấy chiều là lúc xế trưa và gặp đêm thì bên ngoài trời vẫn sáng” [3; 45] Trong truyện ngắn Dì Hảo, ta thấy hiện lên hình ảnh “cái lều hôi hám” [3; 58] và tối
tăm là nơi dì Hảo sống đói rách, khổ sở cùng mẹ và em Không gian cái lều tối tăm, bẩn thỉu ấy khiến cho dì Hảo phải khiếp sợ như trong đó có đầy những ma cùng quỷ
Hay ngôi nhà của nhân vật “tôi” trong truyện Mua nhà Không gian ngôi nhà ở được miêu tả là “một cái lều tối om om Nền nhà bằng đất nên ẩm dưới chân Một mùi khăng khẳng làm các anh nhăn mũi”, “Cái võng nhuộm màu nâu căng từ đầu nhà nọ đến đầu nhà kia, chắn cả lối đi” [3; 320] Vì nghèo đói mà người ta không còn cách
nào khác, đành phải sống trong không gian tối tăm ấy, sống chịu đựng, sống mòn mỏi đến hết cuộc đời
Trong truyện ngắn của M Gorki cũng xuất hiện không gian sinh hoạt tù hãm, chật hẹp, bế tắc và quẩn quanh trong đời sống của nhân dân Nga cuối thế kỉ XIX
Trong truyện Vợ chồng Orlop, Gorki đã xây dựng không gian sinh hoạt tối tăm, ngột
ngạt như chính cuộc đời của các nhân vật, căn phòng của đôi vợ chồng già được miêu
tả: “Trong phòng ẩm ướt, âm u không sinh khí… Trên tường những con gián tha thẩn dạo chơi, nhấm ruột bánh mì dán những bức tranh ở tạp chí; những con ruồi rầu rĩ bay khắp đó đây, vo ve một điệu buồn tênh, những bức tranh ruồi bâu nom như những vệt tối thẫm trên nền tường xám bẩn” [10; 406]
Dưới mái nhà tranh nhân vật của Nam Cao thường miên man trong những lo toan, suy nghĩ, độc thoại nột tâm triền miên trong âm thầm, chua chát Nhiều nhân vật
cứ nằm ngay trên giường mà suy nghĩ Chí Phèo lần đầu tiên nằm trong căn lều, lần đầu tiên hắn cảm nhận không gian bên ngoài bờ sông có con nước trong lành, nơi duy trì nguồn sống của con người, nơi có ánh nắng rực rỡ, ấm áp, có tiếng chim hót ríu rít,
có tiếng vui vẻ của người đi chợ về Và cả vào những đêm trăng, hắn nhận ra được đời sống tư tình vạn vật Chính ở không gian này, Chí Phèo mới thực sự đối mặt với chiều sâu nội tâm của bản thân và sống nguyên vẹn với phần lương thiện của mình, với bản tính thường ngày bị che lấp bởi rượu, tiếng chửi và những thủ đoạn kiếm sống của mình