Người dân vùng biển do sống ở một môi trườngkhắc nghiệt hơn, nơi người chét không phải lúc nào cũng tìm được thi thể nên phổbiến một tập tục, đó là những người bị nạn trên biển, không tì
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH sử
_
ĐẶNG THỊ KIM DUNG
TRÊN ĐẢO LÝ SƠN-QUẢNG NGÃI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Lịch sử văn hóa
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Văn Vinh.
Hà Nội, 2016
Trang 2Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tác giả xin ừân ừọng cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa, quýThầy, cô giáo khoa Lịch sử trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy đã giúp đỡ tôiừong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thày hướng dẫn : T.s Nguyễn Văn Vinh Thầy đã luôn tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Tác giả cảm ơn tập thể lớp K38 A - CN Lịch Sử, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã đóng góp ý kiến trongquá trình học tập và thực hiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 2016
Tác giả Đặng Thị Kim Dung.
Trang 3Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả của quá trình học tập nghiên cứu của tôi cùng với sự giúp đỡ củacác thày cô trong khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo -
T.s Nguyễn Văn Vinh.
Trong quá trình làm khóa luận tôi có tham khảo những tài liệu có liên quan đã được hệ thống trong mục Tàiliệu tham khảo Khóa luận không có sự trùng lặp với khóa luận khác
Neu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả Đặng Thị Kim Dung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của khóa luận 3
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẢO LÝ SƠN 4
1.1 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành đảo Lý Sơn 4
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 4
1.1.2 Lịch sử đảo Lý Sơn 6
1.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội 9
1.2 L ý Sơn - Quê hương của Hải đội Hoàng Sa 13
* Tiểu kết chương 1 18
CHƯƠNG 2 Mộ GIÓ, Mộ CHIÊU HỒN VÀ CÁC NGHI THỨC LIÊN QUAN 19
2.1 Quan niệm của người Việt về việc an táng người chết 19
2.2 Chiêu hồn nạp táng 21
2.3 Hình nhân thế mạng 22
2.4 Mộ gió 22
2.5 Mộ gió trên đảo Lý Sơn, mộ gió hay mộ chiêu hồn? 24
2.6 Cách thức lập mộ gió ở Lý Sơn 26
2.7 So sánh mộ gió ở Lý Sơn với mộ gió ở các địa phương khác
32 2.7.1 Điểm khác biệt của những ngôi mộ gió Lý Sơn vói mộ gió ở các vùng ven biển khác 32
Trang 52.7.2.So sánh lễ chiêu hồn ở Lý Sơn vói lễ chiêu hồn nhập cốt củangười Chăm Bà La Mônở Ninh Thuận 332.7.3 Người nặn hình nhân thế mạng cho ngư dân mất tích 36
Trang 6*Tiểu kết chương 2 39
CHƯƠNG 3 NHỮNG DI TÍCH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘI HOÀNG SA VÀ NGƯ DÂN ĐÁNH BẮT Ở HOÀNG SA TRÊN ĐẢO LÝ SƠN 40
3.1 M ộ của cai đội Phạm Quang Anh và binh phu 40
3.2 MỘ của Chánh đội trưởng Thủy quân suất đội của Đội Hoàng Sa -Phạm Hữu Nhật 42
3.3 MỘ và đền thờ Võ Văn Khiết 44
3.4 DĨ tích âm linh tự và mộ lính Hoàng Sa 46
3.5 Dinh Âm hồn (chùa Âm hồn) 49
3.6 N hững ngôi mộ của ngư dân đi Hoàng Sa 49
3.7 Ý nghĩa của những ngôi mộ gió ừên đảo Lý Sơn 51
*Tiểu kết chương 3 53
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC ẢNH 63
MỤC LỤC Error! Bookmark not deíĩned.
Trang 7Quan niệm của người Việt, “sống có cửa có nhà, thác có mồ có mả” vì vậy,tang lễ cho người chết, xây cất mồ mả, cúng giỗ linh hồn người mất được xem là phầnkhông thể thiếu được trong đời sống Người dân vùng biển do sống ở một môi trườngkhắc nghiệt hơn, nơi người chét không phải lúc nào cũng tìm được thi thể nên phổbiến một tập tục, đó là những người bị nạn trên biển, không tìm được thi thể thì phảilàm mộ gió, dựng cây tre đầu làng, trên cây tre buộc mảnh vải trắng (nhìn như câynêu) với niềm tin là gọi hồn người chết trở về nhập vào ngôi mộ.
Tục đắp mộ gió, táng hình nhân thế mạng phổ biến nhiều vùng trên đất nước
ta, nhưng không đâu nhiều bằng huyện đảo Lý Sơn Bởi ở đây ngoài những ngôi mộgió của ngư dân bị gặp thiên tai, tai nạn mất xác trên biển còn có những quân binh cácđội Hoàng Sa, Trường Sa hy sinh trong khi làm nhiệm vụ Ở Lý Sơn, bãi tha ma nàocũng có mộ gió, thậm chí vì đất chật người ta còn đắp cả mộ ở góc ruộng tỏi, gócvườn hay góc sân nhà
Mộ gió ở Lý Sơn gắn liền với tục cúng “Khao lề thế lính”, một lễ thức của cưdân vùng biển với tín ngưỡng thờ chiến sĩ trận vong, ở đây là những người lính đi làmnhiệm vụ ở đảo Hoàng Sa thuở trước:
Hoàng Sa trời nước mênh mông Người đi thì có mà không thấy về
Đe tài mộ gió được viết khá nhiều, nhưng không phải từ góc độ nghiên cứukhoa học Những bài viết về đề tài này hầu hết mới chỉ dừng lại ở mức độ một bàibáo, hoặc một phóng sự nhiều kỳ Lựa chọn đề tài:” Những ngôi mộ gió ở Lý Sơn” làm
đề tài cho khóa luận tốt nghiệp, tôi muốn đưa đến một cái nhìn toàn diện, bao quát về
Trang 8mộ gió từ lịch sử, thời gian hình thành, nguyên nhân lập mộ gió, cách thức tiến hành,
ý nghĩa, giá trị của những ngôi mộ gió, điểm khác biệt của mộ gió ở Lý Sơn với mộgió ở những địa phương khác
2 Lịch sử nghiên cứu
Viết về đề tài mộ gió, về những ngôi mộ của hùng binh Hoàng Sa có rất nhiềubài báo, tạp chí, phóng sự đã từng đăng tải .Neu tra cụm từ “mộ gió” ừên Googlesearch sẽ cho 15.300.000 két quả trong vòng 0,28 giây Tuy nhiên, các bài báo, tạp chínày chủ yếu tập trung khai thác về mộ của những cai đội Hoàng Sa, một vài bài báo
có giới thiệu sơ qua về cách làm mộ gió, về nguyên nhân lập mộ nhưng hầu như tất
cả đều mang tính chất giới thiệu, khái quát
Cuốn sách “Như cây phong ba trên đảo Hoàng Sa”của nhà báo Lê Văn Chương
và bài viết “Mộ gió, Hình nhân và Lễ khao lề” của Lê Hồng Khánh nhắc đến một vàinét về những ngôi mộ gió ở Lý Sơn cũng như cách thức lập mộ chiêu hồn, lập mộgió Nhưng phần nhiều vẫn còn tập trung nhiều vào những ngôi mộ gió của nhữngngười cai đội Hoàng Sa như Phạm Hữu Nhật, Phạm Quang Ảnh và gắn liền với lễkhao lề thế lính Hoàng Sa
Cuốn “Hình nhân và Mộ gió”của tác giả Hiền Văn cũng đề cập một số chi tiếtliên quan đến việc lập mộ gió và các loại hình nhân ở Lý Sơn nhưng tác giả viết dướidạng bút ký, chưa đưa ra được cái nhìn toàn diện về mộ gió
Những bài báo, phóng sự, bài viết, mà tôi đã sưu tầm là nguồn tài liệu thamkhảo quý báu cho quá trình thực hiện đề tài này Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng hiệnnay chưa có một công trình chuyên biệt, nghiên cứu chuyên sâu về mộ gió
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này được xác định là những ngôi mộ gió trênđảo Lý Sơn, đặc biệt chú ý về nguồn gốc, cách thức lập mộ, thống kê số lượng mộ gióhiện có trên đảo, cũng như ý nghĩa của những ngôi mộ này đối với đời sống tinh thầncủa cư dân trên đảo, ngoài ra còn chú trọng so sánh với các ngôi mộ ở các vùng venbiển khác để thấy được sự khác biệt của những ngôi mộ gió ở Lý Sơn
về thời gian: Từ khi người dân trên đảo có tục đắp mộ gió (cách đây 200 năm
cho đen ngày nay)
Trang 9- về không gian: Huyện đảo Lý Sơn và một số vùng ven biển Việt Nam nơi có
tục đắp mộ gió
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu: Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi tích cựctìm các tài liệu , bài báo tạp chí, internet đã xuất bản có liên quan đến vấn đề mộ gió,
mộ chiêu hồn để đọc, phân tích từ đó đưa ra các lập luận và nhận xét góp phần làmcho đề tài được khoa học, chặt chẽ và hấp dẫn hơn Bên cạnh đó tôi đã tiến hành điền
dã, khảo sát, thống kê những ngôi mộ gió ở Lý Sơn cũng như tiến hành phỏng vấnngười trực tiếp tham gia lập mộ gió và những người trong gia đình có mộ gió
- Phương pháp phân tích và so sánh tài liệu.
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện đảo Lý Sơn
Chương 2: Mộ gió, mộ chiêu hồn và nghi thức liên quan
Chương 3: Di tích liên quan đến đội Hoàng Sa và ngư dân đánh bắt ở Hoàng
Sa trên đảo Lý Sơn
Kết luận
Trang 10CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VÈ ĐẢO LÝ SƠN
1.1 VỊ trí địa lý và lịch sử hình thành đảo Lý Son
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Huyện đảo Lý Sơn nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Quảng Ngãi, cách đất liềnchừng 25km, gồm một đảo lớn (Cù Lao Ré), một đảo bé (Cù Lao Bờ Bãi) và hòn Mù
Cu Vốn được tách ra từ huyện Bình Chánh theo quyết định của Thủ tướng Chính phủnăm 1992 và trở thành huyện đảo tiền tiêu Nói về huyện đảo này, nhân dân địaphương có ca dao thủy trình:
“Trực nhìn thấy ngó Bàn Than
Ba hòn lao Ré nằm ngang Sa Kỳ”
Diện tích của Lý Sơn vào khoảng 9,97 km2, cư dân sống ở đây có hơn 20.000người Tổng chiều dài đường bờ biển của huyện đảo là trên 25km Huyện đảo Lý Sơngồm 3 đảo: đảo Lớn (Lý Sơn, Cù Lao Ré), đảo Bé (Cù Lao Bờ Bãi) ở phía Bắc đảoLớn, và hòn Mù Cu ở phía Đông của đảo Lớn Huyện được chia làm 3 xã: An Vĩnh(huyện lỵ - Đảo lớn), An Hải (Đảo lớn) và An Bình (đảo Bé)
Nằm ở vị ữí tiền tiêu cuả Tổ quốc nên đảo Lý Sơn có vị trí rất quan trọngtrong việc bảo vệ chủ quyền an ninh biển đảo, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ đất liền
Đảo Lớn hay còn gọi là Cù Lao Ré1 với 5 hòn núi: Thới Lới, Hòn Tai, HònVung, Giếng Tiền và Hòn sỏi đây là những ngọn nủi lửa hoạt động trong thời kỳ tạosơn đã hình thành nên đảo Lý Sơn và để lại những dấu tích nham thạch, góp phần tạonên những hang động và cảnh quan thiên nhiên kỳ thú hiện nay như Chùa Hang, ChùaĐục, hang Cò, hang Câu, cổng Tò Vò, Mù Cu Xưa ở Lý Sơn có nhiều rừng nguyênsinh như rừng cây gạo, rừng Bà Bút, và nhiều dòng suối như suối Chình, suối Ốc
Đảo Bé, còn gọi là Cù Lao Bờ Bãi, trước đây là thôn Bắc thuộc xã An Vĩnh,nay là xã An Bình, nằm cách đảo lớn khoảng 5km về phía Tây Bắc
Phía Đông Nam đảo lớn có hòn Mù Cu, cách bờ chừng 500m, nơi đây chỉ lànhững bãi đá nhô cao, và chỉ có duy nhất loài cây Mù cu sinh sống Hòn Mù Cu nhỏhẹp, không có người ở Hiện nay, tại đây người ta lợi dụng sự che chắn sóng biển từ
1 Theo cách lý giải dân gian là Cù lao có nhiều cây Ré Một loại cây họ gừng, mọc hoang.
4
Trang 11phía Đông Nam của hòn Mù Cu để xây dựng vũng neo đậu tàu thuyền của ngu dânữên đảo.
Huyện đảo Lý Sơn có đuợc diện mạo như ngày này là kết quả của quá trìnhđấu tranh lâu dài, không mệt mỏi của con nguời khắc phục những khó khăn, tận dụngnhững nguồn lợi sẵn có từ thiên nhiên, khai thác, cải tạo để phục vụ cho cuộc sốngcủa mình
Địa hình ở khu vực phía Nam Đảo Lớn cao hơn so với mực nước biển 30m, độ dốc nhỏ hơn 8 độ, bậc thềm chân núi có độ dốc từ 8-15, được người dân khaithác để trồng hành, tỏi
20-Hệ thống năm ngọn núi trải dài bờ biển phía Bắc tựa như bức tường thànhchắn gió mùa Đông Bắc vào mùa đông cho người dân sinh sống ở phía Nam Đảo
Huyện Lý Sơn chịu tác động của gió mùa nên có hai mùa rõ rệt là mùa mưa vàmùa khô, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 3 đếntháng 8 Vào mùa mưa, biển động, tàu khó ra khơi, ảnh hưởng đến nghề đi biển củangười dân
Tổng diện tích tự nhiên của huyện đảo là 800ha trong đó đất nông nghiệpchiếm hơn 400ha Đất lâm nghiệp chiếm 182ha, đất chưa sử dụng là 218ha Đấtnông nghiệp trên đảo được canh tác theo hai dạng: cây hoa màu là 383ha chủ yếucanh tác hành, tỏi, lạc, đậu, bắp và 17 ha trồng cây ăn quả Đất là tài nguyên quantrọng ở Lý Sơn, thu hút khoảng 62% lao động, nuôi sống gần 50% dân số trên đảo
Bãi cát ven biển có diện tích khoảng 42ha và diện tích này càng ngày bị thuhẹp do nhu cầu khai thác cát ven biển để trồng hành, tỏi diện tích đảo cũng vì thế
mà bị thu hẹp dần Hơn nữa diện tích đất dành cho nghĩa địa ở Lý Sơn cũng quánhiều, phân bố chưa thật hợp lý
Ở thời tiền sơ sử có nhiều khu rừng nguyên sinh và các dòng suối cổ nay đãcạn, đó là suối Chính và suối ôc Suối Chình thuộc xã An Hải bắt nguồn từ dòng câyữong lòng núi Thới Lới, chảy về phía Nam Đảo, Suối Ốc thuộc xã An Vĩnh, bắtnguồn từ núi Hòn sỏi và Giếng Tiền chảy về phía Nam Đảo Đây là hai dòng suối cổ
có nguồn nước ngọt nên cư dân thời tiền và sơ sử ữên đảo Lý Sơn đã sinh sống dọchai bên bờ suối và để lại nhiều dấu tích văn hóa Trên đảo có trữ lượng nước ngầmtương đối phong phú, đảm bảo sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp cho người dân
Trang 12Đảo Lý Sơn được bao bọc bở biển cả nên việc khai thác và sử dụng các nguồnlợi từ biển cả là một ưu thế, thuận lợi trong phát triển kinh tế của huyện Trong sựkiến tạo địa chất, bậc thềm chân đảo chìm sâu dưới long đất tạo nên nhiều hang hốc,rạng đá ngầm, đồng thời còn có bãi san hô trải dài ở phía Bắc, và đông đảo các loàithủy tộc sinh sống Lý Sơn còn là cửa ngõ gần nhất để đi ra Hoàng Sa đánh bắt, chonên nghề đi biển là thế mạnh của người dân nơi đây
Với vị thế địa lý hải đảo ven bờ, nằm trên con đường kinh té trọng điểm miềnTrung Cách khu công nghiệp Dung Quất 25 hải lý, Lý Sơn có nhiều ưu thế để pháttriển kinh tế và du lích Trong chương trình phát triển của tỉnh Quảng Ngãi thì Lý Sơnđược coi là trung tâm nghề cá của tỉnh Huyện đảo Lý Sơn còn là vị trí quan trọngtrong lĩnh vực quốc phòng, đặc biệt là đối với việc bảo vệ chủ quyền lãnh hải củaquốc gia Từ Lý Sơn có thể giám sát, khống chế cả vùng biển miền Trung Đặc biệt
Lý Sơn còn là chốt tiền tiêu, nằm án ngữ trên con đường vươn ra biển Đông từ cảngDung Quất và khu kinh tế mở Chu Lai
1.1.2 Lịch sử đảo Lý Sơn
Từ kết quả khai quật khảo cổ tại các di chỉ Xóm Ốc và suối Chình - nơi có haidòng suối cổ đã cạn trên đảo và những hiện vật - công cụ lao động bằng đá do giáo sưDiệp Đình Hoa phát hiện ở khu vực núi Giếng Tiền, xã An cho thấy trên đảo Lý Sơn
đã có người sinh sống, cách ngày này chừng 2500 - 3000 năm (tương ứng với văn hóaTiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh) Dấu tích văn hóa Champa sớm và Champa phát triển(từ thế kỷ I đến thế kỷ XIII,XIV) cũng khá dày trên đảo Cư dân thuộc văn hóa SaHuỳnh sống quần cư dọc theo hai bên bở suối Chình, kinh tế chủ yéu là khai thácbiển, món ăn chủ yếu là sò và cá Họ để lại trong khu cư trú một lớp vỏ ốc dày l,5m
Họ cũng làm nông nghiệp Bộ công cụ canh tác nông nghiệp và ché biến nông sảnnhư cuốc đá, rìu đá, bàn nghiền đã chứng mình điều đó
Kế tục văn hóa Sa Huỳnh là văn hóa Champa phát triển từ những thế kỷ đầu
Công nguyên, vết tích văn hóa của họ được để lại qua dấu tích văn hóa chứa trong
tầng văn hóa lớp trên của di chỉ Xóm Ốc và suối Chình Đó là những hạt cườm bằngthủy tinh bầu dục dẹt, những đồ trang sức bằng đồng, bình hình trứng đáy nhọn và
Trang 13nhiều đồ gốm Chăm thô và mịn khác Hiện vật Champa ở đây rất giống với nhữnghiện vật tìm thấy trong các tầng văn hóa Trà Kiệu ( Duy Xuyên, Quảng Nam) từ sớmđến muộn Những di tích khác mang dấu ấn Champa còn có miếu bà Lồi, chùa Hang,dinh Bà Trời, giếng Vuông Cu dân Champa sống bằng kinh tế khai thác biển, buônbán biển và trồng rau củ, hoa màu
Cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, những cư dân Việt sinh sống ở ven biển Sa
Kỳ là làng An Hải (nay thuộc xã Bình Châu - huyện Bình Sơn) và làng An Vĩnh (naythuộc xã Tịnh Kỳ huyện Sơn Tịnh) đã di cư ra đảo sinh sống Theo ghi chép của một
số dòng họ trên đảo thì người Việt ra đảo đầu tiên khoảng những năm 1604 -1610, đã
có 15 người từ đất liền ra đảo và phân chia ranh giới khai thác, cứ trú và hình thànhnên hai làng An Hải và An Vĩnh như ngày nay Ở làng An Vĩnh có 7 vị tiên hiền, gồmcác dòng họ: Phạn Quang, Phạm Văn, Võ Văn, Võ Xuân, Lê, Trần, Nguyễn từ làng
An Vĩnh thuộc xã Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh ra khai phá vùng đất phía tây của Đảo vàlập ra phường An Vĩnh, nay là xã An Vĩnh Làng An Hải có 8 vị tiên hiền, gồm cácdòng họ: Nguyễn, Dương, Trương, Trần, Võ, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn, Lê từ làng
An Hải thuộc xã Bình Châu ra khai phá phần phía Đông và phía Nam đảo lập ra làng
An Hải, nay là xã An Hải (sau này họ Trần ở làng An Vĩnh và họ Lê ở làng An Hải do
vi phạm luật tục nên bị týớc danh hiệu tiên hiền Tuy rời khỏi quê hýõng bản quán từðất liền ra ðảo ðể khai phá, nhýng býớc ðầu những cý dân ðầu tiên ra ðảo vẫn chýatách hẳn nghĩa vụ của mình với quê hương, bản quán Vùng đất mà họ khai phá vàđịnh cư cũng chỉ là một phần thuộc quê gốc An Hải và An Vĩnh trong đất liền, Vì vậy
mà dù sống ngoài đảo nhưng phải trở về đất liền khi có tín hiệu gọi về Tương truyềnkhi tiếng trống từ đất liền vọng ra ngoài đảo, các vị tiên hiền phải trở về để thực hiệnnghĩa vụ của mình Mãi đến năm 1804, các làng ngoài đảo Lý Sơn mới tách khỏi AnVĩnh và An Hải trong đất liền và được ngày 11 tháng 2 năm 1804 là ngày thảnh lậpnhững đơn vị hành chính độc lập
Từ buổi đầu khẩn hoang, lập làng, người Việt ở Lý Sơn đã gặp không ít khókhăn từ thiên nhiên cũng như sự cướp phá của giặc biển hay còn gọi là giặc Tàu Ô.2Đến nay, trên đảo còn có nhiều di tích còn lưu lại đã phản ánh sự đấu tranh kiên
2 Giặc Tàu Ô: Người Việt thường gọi giặc Tàu Ô để chi những toán cướp biển từ Trung Quốc sang.
7
Trang 14cường của nhân dân Lý Sơn với giặc Tàu Ô đó là chùa Hang,dinh Bà Roi, hang KẻCướp., thường để ngừa giặc tàu Ô, mỗi gia đình đều có một hầm bí mật, giấu trên núi,khi giặc Tàu Ô tới, không cướp được gì, ngoài ra những ra đình khá giả cũng đã lậpnên những mái nhà gồm hai, ba lớp, cửa bàn khoa cùng với rầm thượng, rầm hạ để cấtgiấu của cải.3
Trong lịch sử, đảo Lý Sơn có tên gọi là Cù Lao Ré Chữ Cù Lao được việt hóa
từ chữ Pulau của ngôn ngữ Malayo-Polynesien, có nghĩa là đảo, chữ Ré là tên dângian, tương truyền xưa đảo có nhiều cây ré nên dân gian gọi là Cù Lao Ré Tài liệuxưa nhất về Lý Sơn là toàn lộ đồ thư tập “Thiên nam tứ chí lộ đồ thư ” (1630) của Đỗ
Bá đã gọi Cù Lao Ré là Du Trường Sơn Đen năm 1831, trong An Nam Đại Quốc Họa
Đồ giáo sĩ L.Tabord đã gọi Lý Sơn là Poulo Canton
về mặt hành chính, đảo Lý Sơn gọi là Cù Lao Ré, gồm hai phường An Vĩnh và
An Hải Đời vua Gia Long 1808 Lý Sơn đặt thành tổng gọi là tổng Lý Sơn Đời vuaĐồng Khánh, hai phường An Hải và An Vĩnh thuộc tổng Bình Hà huyện Bình Sơn vềsau đặt lại là tổng Lý Sơn trực thuộc tỉnh Quảng Ngãi có một viên Bang tá cai trị.Phường An Hải đổi thành xã Hải Yen, phường An Vĩnh đổi thành xã Vĩnh Long
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đảo Lý Sơn đổi thành tổng Trần Thànhgồm hai xã Dương Xạ (Hải Yến cũ) và xã Vĩnh Long Năm 1946 tổng Trấn Thành đổithành xã Lý Sơn trực thuộc huyện Bình Sơn Năm 1951, quân Pháp đánh chiếm đảo
Lý Sơn và thảnh lập một khu hành chính thuộc thành phố Đà Nằng Từ năm 1945 đến
1975, chính quyền Sài Gòn chia Lý Sơn thảnh hai xã Bình Vĩnh và Bình Yen thuộchuyện Bình Sơn Sau ngày giải phóng hai xã vẫn giữ nguyên tên gọi cũ, ngày01.01.1993 huyện Lý Sơn được thành lập gồm hai xã Lý Hải và Lý Vĩnh Đen năm
2003 tên các xã của huyện được đổi thảnh An Vĩnh và An Hải, xã An Hải gồm cácthôn: thôn Tây, thôn Đông, thôn Bắc (đảo Bé) sau này do đặc thù của một hòn đảotách biệt với đảo lớn và có vị trí quan trọng nên thôn Bắc được tách ra thành đơn vịhành chính cấp xã, gọi là xã An Bình
Do nằm ở vị trí án ngữ cửa biển Sa Kỳ - Quảng Ngãi nên đảo Lý Sơn có tầmquan ữọng về quân sự Từ giữa thế kỷ XVII Bắc quân đô đốc Bùi Tá Hán trên đườngđem quân nhà Lê Trung Hưng vào đánh dẹp nhà Mạc, lấy lại vùng thừa tuyên QuảngNam đã dừng chân tại đảo Lý Sơn, sau này nhà Nguyễn đã xây dựng ở đây các đồn
3 Dần theo cuốn “Vân hóa truyền thống đảo Lý Sơn”, tr.24.
Trang 15phòng thủ quân sự để bảo vệ vùng biển Quảng Ngãi Đặc biệt, do nằm ở vị trí trên conđường buôn bán gốm sứ, tơ lụa và nhiều mặt hàng khác từ Trung Quốc qua ĐôngNam Á, Nam Á và xa hơn nữa, nên Lý Sơn từ xa xưa đã có sự giao lưu thương mại -văn hóa với các khu vực lân cận.
1.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội
1.1.3.1 Cơ cấu kinh tế
Lý Sơn được xem như là một làng nông - ngư kết hợp Người dân vừa làmnông, vừa đánh bắt hải sản Mặc dù hòn đảo nằm ở giữa biển khơi, nhưng đại bộ phậnngười dân Lý Sơn từ khi ra lập làng đến nay vẫn sống bằng nghề trồng hành, tỏi, bắp,đậu trên những bãi đất hẹp dưới chân năm ngọn núi: Giếng Tiền, Hòn Vung, Hòn Tai,Hòn sỏi, Thới Lới Một số hộ dân trên đảo làm nghề đi biển và đánh bắt gần bờ, gắnvới ngề lưới cá chuồn, đánh cá sơn,cá trích và câu mực là chính Nguồn hải sản đánhbắt được chủ yéu cung cấp cho nhu cầu của nhân dân ữên đảo Nhờ kinh nghiệm đibiển được tích lũy qua nhiều năm cho nên vào thời Nguyễn ngư dân ở An Hải, AnVĩnh đã được triều đình phong kiến tuyển mộ đi khai thác sản vật, đo đạc, cắm mốcthủy trình ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Ngày nay, do điều kiện kinh té pháttriển, người dân đã đầu tư đóng mới nhiều phương tiện đánh bắt hiện đại, có khả năngđánh bắt xa bờ ở ngư trường các nước, ở vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa Kinh tếbiển đang ngày càng phát triển mạnh ở Lý Sơn và đang trở thành kinh tế mũi nhọntrong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi
Ở Lý Sơn do đất đai không ữồng được lúa, chỉ trồng được bắp, đậu ván và một
số loại khoai mì, đậu phông, cây gai Từ năm 1960, cây hành, cây tỏi trở thành câytrồng chủ lực và là nguồn thu chủ yếu của người nông dân trên đảo
Do đất đai phù hợp với điều kiện sinh trưởng của hành, tỏi nên chất lượnghành, tỏi ở Lý Sơn rất tốt Mặc dù cây hành, cây tỏi mang lại hiệu quả kinh tế cao, trớthành đặc sản của Lý Sơn nhưng do quy trình cải tạo đất đòi hỏi phải có đất cát vôitrắng để cho năng suất cao, nhưng nguồn cát này hầu như đã cạn kiệt nên sản xuấtnông nghiệp ở Lý Sơn gặp rất nhiều khó khan và phát triển không bền vững
Chăn nuôi: chủ yếu là bò, dê, lợn, gà, vịt nhung chưa hình thành trang trại chănnuôi tập trung quy mô như các huyện khác mà chủ yếu là chăn nuôi theo hình thức hộgia đình, số lượng gia súc, gia cầm năm 2010 của huyện là 6.000 con
Trang 161 0
Thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện quyết định thu nhập của hơn
50% cư dân của huyện, sản lượng khai thác chiếm gần 1/3 tổng sản lượng khai thác
của toàn tỉnh nhưng chủ yếu tập trung lĩnh vực khai thác thủy sản nước mặn với cáchình thức như: lặn, câu, lưới cước, lưới trủ, lưới ru, vây ngày, vây đêm, rút chì, chong
đèn mang lại hiệu quả kinh té cao Sản lượng đánh bắt hải sản năm 2009 đạt 24.938 tấn, tăng gấp gần 5 lần so với năm 1993 Quý 1 năm 2013, Lý Sơn giá trị sản xuất ngành thủy sản đạt 52.486 triệu đồng Hiện nay huyện có 419 chiếc tàu thuyền, tổng công suất 43,372 cv, tổng số lao động trực tiếp trên biển là 3.003 người (trong đó có
158 tàu đánh bắt xa bờ, khai thác chủ yéu trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa).
Theo ông Võ Xuân Huyện, Bí thư Huyện ủy Lý Sơn, từ nay đến năm 2015, huyện Lý
Sơn sẽ tập trung phát triển kinh tế biển Cụ thể vận động nhân dân cải hoán, đóng mớitàu thuyền, vươn ra biển đánh bắt hải sản dài ngày Với mục tiêu vừa sản xuất, vừatham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh trên biển Ngoài kinh tế ngư nghiệp và nôngnghiệp, người dân trên đảo còn làm nghề ché biến hải sản, dịch vụ thương nghiệp.Xưa ở Lý Sơn do nhu cầu lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác phục vụcho đời sống của nhân dân trên đảo nên đã xuất hiện giao thương, buôn bán, trao đổihàng hóa giữa Lý Sơn với đất liền qua phương tiện ghe bầu, người Lý Sơn rất giỏinghề đi biển và kỹ thuật đóng ghe bầu Hiện nay, dịch vụ mua bán trên đảo đang pháttriển khá mạnh, chủ yếu là các dịch vụ nghề cá, mua bán ngư cụ, và các dịch vụ phục
vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân
Tỷ trọng các ngành kinh tế chủ yếu của huyện năm 2009 là ngành nông lâm ngư nghiệp chiếm 5,17%; thuơng mại dịch vụ chiếm 40,6%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 7,7% Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế của huyện chuyển
-dịch theo hướng tăng tỉ trọng ngành thủy sản, tỷ trọng ngành -dịch vụ và du lịch, giảm
tỷ trọng của nông nghiệp và công nghiệp
Như vậy, ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất ữong cơ cấu kinh tế của LýSơn Trong tương lại không xa, hy vọng với ưu thế biển và kinh nghiệm đánh bắt thủysản của ngư dân trên đảo và sự đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ nghề cá của Nhà nướcnhư xây dựng cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và dịch vụ nghề cá, cho vay vốn ưu đãi
để ngư dân đầu tư mua sắm ngư lưới cụ và đóng mới tàu thuyền Kinh tế ngư nghiệp
ở Lý Sơn sẽ phát triển mạnh và là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển
Trang 17kinh tế - xã hội ở Lý Sơn Bên cạnh đó, với di sản văn hóa truyền thống đa dạng,phong phú Lý Sơn sẽ có lợi thế để phát triển du lịch.
Dân số toàn huyện năm 2008 có 20.344 người Toàn bộ dân số của huyện sốngtrong khu vực nông thôn Mật độ dân số trung bình của huyện là 2.042 người/km2.Năm 2011 toàn huyện 4.746 hộ gia đình (quy mô trung bình hộ là 4,3 người/hộ), trong
đó có 3.748 hộ nông - lâm - ngư nghiệp, chiếm 80% Trong giai đoạn 2001-2005 dân
số trung bình tăng 1.251 nguời với tốc độ tăng bình quân năm là 1,5%
Theo số liệu thống kê của huyện, năm 2008 lực lượng lao động của huyện là10.944 nguời, chiếm 53,79% tổng dân số toàn huyện Trong đó số người đang làmviệc trong các ngành kinh tế quốc dân là 9631 nguời bằng 98,7% số người trong độtuổi lao động có khả năng lao động
Nhìn chung cơ cấu lao động bắt đầu có sự chuyển dịch lao động ngành nông lâm - ngư nghiệp chiếm chủ yếu và giảm từ 85,6% năm 2000 xuống 80,06% năm
-2005, đến năm 2008 còn 77,96%, dự báo đến năm 2010 giảm xuống còn 76,46% Laođộng trong ngành công nghiệp - xây dựng chiếm một phần rất nhỏ và biến động khôngđều: năm 2000 chiếm 9,2%, đén năm 2005 giảm xuống còn 6,75% và tăng lên 7,3%vào năm 2008, dự báo đến năm 2010 chiếm khoảng 8,82% tổng số lao động trong cácngành kinh tế quốc dân của toàn huyện Lao động dịch vụ tăng tương đối nhanh từ5,18% năm 2000 lên 13,19% năm 2005 và đạt 14,69% năm 2008, dự báo đến năm
2010 lao động trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 14,71% tổng số toong các ngành kinh tếquốc dân của huyện
Đây là một yéu tố thuận lợi cho quá trình phát triển kinh té - xã hội của huyệnbởi vấn đề lao động tại chỗ cơ bản được giải quyết Bình quân hàng năm huyện giảiquyết 200 việc làm mới cho lao động và giải quyết việc làm ổn định cho 1729 laođộng Tuy nhiên, chất lượng lao động cũng là vấn đề lớn đặt ra với huyện khi hiện tại
có 87,3% số lao động là lao động phổ thông chưa qua đào tạo và chủ yếu lao độnghoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản số người đi biển ngày càng nhiều
1.1.4 Con người Lý Stfn
Nguồn gốc của cư dân ngày nay trên đảo Lý Sơn là những người nông dânvùng Thanh - Nghệ - Tĩnh di cư vào Quảng Ngãi và ra đảo Lý Sơn từ những năm đầu
Trang 181 2
thế kỷ XVII Bước đầu tạo lập cuộc sống ữên đảo với nhiều khó khăn, bất chắc vànguy hiểm, sống xa quê hương, xa bản quán, và hầu như rất ít giao lưu với các địaphương khác, đời sống kinh té còn mang nhiều tính tự cấp, tự túc Nhưng trải qua trên
400 năm khai phá và xây dựng, bao thé hệ người Lý Sơn đã biết gìn giữ, vun đắp,thành quả của cha ông để xây dựng nên một Lý Sơn giàu truyền thống lịch sử và vănhóa
Con người Lý Sơn cần cù và sáng tạo trong lao động, sống trong môi trườngbiển đã biết đóng ghe bầu để đi biển và giao lưu thương mại với các địa phương kháctrong đất liền, biết trồng gai đan lưới để đánh bắt hải sản phục vụ cho nhu càu đờisống và trao đổi , buôn bán với các nơi khác Đặc biệt, người Lý Sơn anh dũng, cantrường, bao thế hệ người Lý Sơn đã sẵn sang chấp nhận hy sinh vì lệnh vua mà ra tậnHoàng Sa, Trường Sa Trong sinh hoạt văn hóa, người Lý Sơn đã sáng tạo và lưu giữnhiều giá trị văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, thể hiện sự tài hoa trong xây dựng và chạmkhắc tinh xảo ở các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, tiếp thu và biến đổi cácyếu tố văn hóa bản địa của người Chăm trên cơ sở văn hóa của người Việt để hìnhthành nên những giá trị văn hóa mới, phục vụ đời sống văn hóa tâm linh của cộngđồng một cách cởi mở và hội nhập
Từ sự khai phá đầu tiên của các vị tiên hiền, các tộc học sống quần tụ với nhautrong từng khu vực theo sự phân chia đất đai ban đầu khai phá và hình thành nên xómlàng : xóm họ Đặng, xóm họ Nguyễn, xóm họ Phạm sau này có một số tộc họ kháctiếp tục ra định cư trên đảo, hình thành nên xóm làng và có mối quan hệ khá mật thiết,cùng nhau có ữách nhiệm lo chung việc lễ thờ tiên hiền, và thần linh tại đình làng vàcác nơi thờ tự khác trong làng, không có hiện tượng tranh chấp ngôi thứ hoặc địa vịtrong làng xã của các tộc họ lẫn nhau Mỗi tộc học hiện nay đều có nhà thờ tộc họriêng, do ông trưởng tộc giữ gìn và lo tổ chức cúng tế Nét đặc biệt của các tộc họ ở
Lý Sơn là dù trải qua nhiều đời nhưng người trong tộc vẫn xem nhau như ruột thịt, traigái cùng họ không được lấy nhau và hàng năm đều về dự lễ giỗ họ, gọi là “cúng việclề” Chính qua hình thức sinh hoạt “cúng việc lề” con cháu có dịp gặp nhau, nhận biết
bà con trong họ, giáo dục con cháu đoàn kết, yêu thương, giữ gìn truyền thống tộc họ.Đây cũng thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, tưởng nhớ tri ân những người
đã khuất ữong gia đình, tộc họ
Trang 191.2 Lý Sơn - Quê hương của Hải đội Hoàng Sa
Khác với các hòn đảo ven bờ khác của Việt Nam, ngay từ những ngày đầu mớikhai phá và thành lập đảo đã được các chúa Nguyễn tin tưởng giao cho trọng ữáchquan trọng là vượt biển ra Hoàng Sa để khai thác sản vật, đo đạc và cắm mốc thủytrình, bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo này Lịch sử Lý Sơn gắn liềnvới quá trình bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa Theo nguồn thư tịch
cổ như “Phủ biên tạp lục”, “Đại Nam thực lục tiền biên”, “Đại Nam nhất thong chí”
đều có ghi chép về đội Hoàng Sa “Phủ biên tạp lục” của Lê Qúy Đôn năm 1776 đãghi chép cụ thể về việc chúa Nguyễn phiên đặt những tráng dân ở Lý Sơn để thành lậpđội Hoàng Sa đi khai thác sản vật:
- "Ở ngoài Cù Lao Rẻ có đảo Đại Hoàng Sa,ngày trước nơi đây thường sản xuất nhiều hải vật đi bản ở các nơi, nên Nhà nước có thiết lập một đội Hoàng Sa để thu nhận cái hải vật, người ta phải đi ba ngày, ba đêm mới tới được đảo ”
- “Ngày trước họ Nguyễn có thể đi lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất lẩy người xã
An Vĩnh sung vào, hàng năm luân phiên, lẩy tháng giêng nhận sai dịch ra đó, mỗi người trong đội Hoàng Sa được cấp phát sáu tháng lương, học chèo 5 chiếc thuyền câu nhỏ ra ngoài biển, ba ngày, ba đêm mới đến Hoàng Sa, ở lại tha hồ bắt chim, bắt cá làm đồ ăn.
Họ lượm được những vật trôi dạt như kiếm, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen,ngà voi, sáp vàng, đồ sứ, hải sâm, các loại ốc đẹp Đen kỳ tháng 8, thuyền trở về vào cửa Yên Môn (cửa Thuận An) rồi tới thành Phú Xuân trình nộp các vật hạng
đã lượm nhặt được, người ta cân, định dạng những con ốc đẹp rồi mới cho đội này bán riêng những con ốc đẹp, hải sâm, đồi mồi cũng nhiều vật biển khác, sau đó lãnh văn bằng trở về Những vật lượm được ngoài biển có khi nhiều, có khi ít, không nhất định, cũng cổ lần họ ra đi, trở về không ”
phần địa chí biên soạn về phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), đảo Cù Lao Ré và Hoàng Sa
phía dưới đến biển lỏm, chính giữa địa thế rộng rãi, thời đại Thái Vương chuyên chế đổi làm Quảng Nghĩa ba huyện, ở đây vật lực phong phú, lúa gạo không kể siết, vàng bạc, cây gỗ, châu báu, trầm hương, tốc hương đều rất tốt, voi ngựa chăn nuôi cũng rất nhiều Lại có đảo lớn, đảo nhỏ ở ngoài biến, cảnh vật xinh tốt, báu kỳ, vật là phần nhiều ở nơi
Trang 201 4
này vậy (thôn An Vĩnh, thuộc huyện Bình Dương,(tức huyện Bình Sơn) ở ngoài biển gần phía Đông Bẳc, ngoài biển có hòn đảo lớn, nhiều núi linh tinh hơn 130 ngọn, từ trong núi
đi ra biển ước đẫy một ngày đường hoặc một vài trổng canh Trên núi có suối nước ngọt, giữa hòn đảo có bãi Hoàng Sa, dài độ 30 dặm, bằng phang, rộng lớn, nước trong suốt đáy, bên đảo có vô sổ yến sào, bẫy chim cả hàng ngàn, hàng vạn, thấy người đi tới đậu xung quanh, bên bãi có rất nhiều vật lạ, về ốc vằn có thứ gọi là ốc tai voi, lớn bằng tẩm chiểu, trong bụng có hạt ngọc lem bằng ngón tay,vỏ nó có thể đẽo thành bia, lại có thể hầm thành vôi để tô trét, lại có thứ gọi là ốc xá cừ, dùng để trang sức đồ vật, lại có thứ gọi là oe hương, có thứ đồi mồi rất lớn gọi là hải ba, vỏ mỏng, có thể trang sức khí mảnh như ngón tay cái Có thứ gọi là hải sâm, tục gọi là con đồn đột, bò chơi trên bãi cát, người ta bẳt lẩy dung vôi chà xát qua, bỏ ruột, phơi khô, khi ăn lẩy nước cua đồng mà ngâm, nau chung với tôm và thịt heo cũng ngon Nhiều khi thuyền buồm gặp gió nương đậu tại đảo này, tiền Vương lịch triều (các chúa Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa 70 suất lấy người thôn An Vĩnh, luân phiên xung vào, lội trên mặt nước để lấy, mỗi năm cứ đến tháng
ba, nhận chỉ thị đi làm việc, đem theo lương thực 6 tháng, đi năm chiếc thuyền nhỏ , ra khơi ba ngày ba đêm mới đến đảo này Ở đó mặc tình tìm thấy, bắt lấy cá mà ăn, lấy được rất nhiều đồ quý báu của thuyền chở,cùng lượm lấy khá nhiều hải vật, qua tháng 8 trở về,vào cửa Eo( Yên Môn) tới thành Phú Xuân.
Hoàng Sa gặp gió to, giạt vào hải phận Quỳnh Châu thuộc nhà Thanh, tổng đốc Thanh cấp cho Đầy đủ rồi đưa về chúa sai viết thư gửi qua (ngoài biển gửi xã An
Vĩnh có hơn 130 cồn cát, cách xa hơn một ngày đường hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy ngàn dặm tục gọi là Vạn Lý Hoàng Sa Châu, trên có giếng nước ngọt có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, giải, ba ba Hồi quốc sơ (đầu triều Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa gom 70 người, lấy người dân xã An Vĩnh xung vào, hàng năm cứ tháng ba cưỡi thuyền ra đảo,ba ngày ba đêm mới tới nơi, thu lượm hóa vật, đến tháng 8 trở nộp Lại có đội Bắc Hải mộ dân thôn Tư Chình, Bình Co hoắc xã Cảnh Dương xung vào được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo Côn Lôn ở Bắc Hải thu lượm hải vật, cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản luôn.”
Đại Nam thực lục chính biên cũng ghi chép về đội Hoàng Sa và Phạm Quang
Trang 21Ảnh người làng An Vĩnh Cù Lao Ré - Lý Sơn như sau: “Tháng Giêng, năm Ất Hợi
1815, sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa xem xét đo đạc ”
sai lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi đo đạc thủy trình ”
“Tháng 6, mùa hạ , năm Ất Mùi, Minh Mạng thứ 16( 1835) dựng “thần tứ “ ở Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi, Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi”
“Việt sử cương giám khảo lược” của Nguyễn Thông có đoạn viết về đội Hoàng
Quốc gọi là Ngoại La) (tức Cù Lao Ré) đi thuyền về phía Đông, ba ngày đêm thì đến, Nước Việt Nam ta ở hai buổi quốc sơ thường kén những người đinh tráng ở hai bộ An Hải và An Vĩnh mà đặt đội Hoàng Sa để đi kiếm lượm những sản vật ngoài biển Hàng năm cứ tháng hai đi tháng tám về, bãi cát dăng từ phía Đông mà trải sang phía Nam chỗ nối lên, chỗ chìm xuống, không biết mẩy nghìn dặm, ở trong có vụng sâu, thuyền có thể đậu được, trên bãi có nước ngọt, chim biển nhiều giống không biết tên Có một cái miếu
cổ lợp ngói, biển ngạch khắc mẩy chữ “vạn lỷ Ba Bình ” (muôn dặm sóng êm) không biết
Hoàng Sa được các tài liệu nhà Nguyễn ghi chép, xác nhận lại một cách liên tục TheoViệt sử thông giám khảo lược của Nguyễn Thông thì đến tận cuối đời Tự Đức (1876)đội Hoàng Sa mới bị bãi bỏ vì Việt Nam bị Pháp xâm lược, hải quân Pháp uy hiếp mặtbiển Việt Nam, khiến các hoạt động của hải quân Việt Nam bị đình trệ Đội Hoàng Sacũng hoạt động tới 3 thế kỷ Theo người dân Lý Sơn thì 70 suất đinh đi Hoàng Sa đềuđược chia đều chủ yếu cho các suất định các tộc họ ở làng An Vĩnh và một số ở AnHải trên đảo Lý Sơn
Triều Nguyễn tuyển lính cho đội Hoàng Sa theo cách khoán cho mỗi dòng họmột số lượng người đi lính tương ứng theo quy tắc để người tộc trưởng ở nhà lo việc
té tự còn các con thứ trong gia đình và dòng họ phải đi lính Hoàng Sa Mỗi năm một
Trang 221 6
lần luân phiên nhau, những người đi lính Hoàng Sa được triều đình ưu đãi một sốkhoản như miễn tiền sưu, tiền qua đò, qua đồn tuần, đén thời Gia Long còn được miễnthuế nông nghiệp
Người đứng đầu chỉ huy đội Hoàng Sa được gọi là cai đội Ở Lý Sơn có hai vịcai đội nổi tiếng là cai đội Võ Văn Khiết hiện còn miếu thời ở xã Anh Vĩnh và cai độiPhạm Quang Ảnh Dưới thời Gia Long, cai đội Phạm Quang Ảnh lập được nhiều côngtrạng, nên khi mất được sắc phong Thượng Đẳng Thần Mộ ông hiện cũng còn ở xãAnh Vĩnh Phạm Quang Ảnh và Võ Văn Khiết được xem là những vị nhân thần đượcghi tên trong các văn tế của đình miếu ở Lý Sơn
Lính Hoàng Sa khi đi mang theo lương thực, nước uống cho sáu tháng, mỗingười được cấp phát một chiếc chiếu dài, bảy đòn che, mấy sợi dây mây và một thẻbài ghi rõ danh tính, bản quán, phiên hiệu, mục đích là để nếu chết thì dùng chiếu bóxác gần bờ thì mang về đất liền chôn, hoặc thả xuống biển hy vọng cái xác sẽ dạt vàođâu đó và được người địa phương chôn cất
Những người đi Hoàng Sa thời ấy chỉ bằng phương tiện là chiếc ghe bầu mảnhmai, cho nên dễ bị gặp rủi ro trước dông bão, có khi họ vĩnh viễn nằm trong lòng đạidương
Những người chết ngoài Hoàng Sa không về được, thì vợ con, cha mẹ vànhững người thân trong gia đình tạo những hình nhân bằng đất sét và chôn thành các
mộ gió Hiện nay mộ gió nằm tập trung nhiều tại thôn Đông và thôn Tây An Vĩnh
Ngày nay, trên đảo Lý Sơn còn nhiều di tích liên quan đến đội Hoàng Sa,Trường Sa, đó là:
- Di tích Âm linh tự với tượng đài chiến sĩ ữận vong là nơi thờ lính Hoàng Sachung với các vị thần khác, hàng năm làm lễ tế lính Hoàng Sa và những người bỏmình trên biển
- Miếu thành hoàng làng ở đình làng An Hải, nơi thờ Bùi Tá Hán, Nguyễn TúTài và lính Hoàng Sa bỏ mình trên biển
- Mộ cai đội Hoàng Sa Phạm Quang Ảnh tại thôn Đông xã An Vĩnh Đây làmột ngôi mộ chiêu hồn Ngoài ra còn có nhà thờ tộc họ Phạm Quang còn lưu giữnhiều di vật liên quan đén Phạm Quang Ảnh và đội Hoàng Sa
- Miếu ông Thắm , nơi thời cai đội Võ Văn Khiết, mộ chiêu hồn của cụ Võ
Trang 23Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa mang đậm ý nghĩa tri ân đối với các bậc tiềnnhân đã hy sinh vì Tổ quốc Việc hình thành hải đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải là mộttrong những nỗ lực lớn của nhà nước phong kiến Việt Nam trong việc chinh phục vàdựng mốc chủ quyền ở biển Đông Đó là công lao to lớn của cư dân vùng ven biểnBình Sơn và tổng Lý Sơn Quảng Ngãi Qua hàng trăm năm đã có hàng ngàn lính, binhphu, quan lại dân sự của triều đình hy sinh trên biển khi thi hành nhiệm vụ Sự tồn tạicủa khu mộ lính Hoàng Sa với tên thường gọi là khu mộ gió Hoàng Sa là mình chứngsống động cho sự thật lịch sử này.
* Tiểu kết chương 1
Huyện đảo Lý Sơn hay Cù Lao Ré, là huyện đảo duy nhất của tỉnh QuảngNgãi, nằm ở phía Đông Bắc và cách đất liền 15 hải lý Theo các kết quả khai quậtkhảo cổ học thì cách ngày nay chừng 2000-3000 năm ở Lý Sơn đã có người sinh sống,tương ứng với văn hóa Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh Dấu tích của văn hóa Chăm cũngcòn khá dày trên đảo Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, những cư dân người Việt ởvùng ven biển Sa Kỳ đã theo chân 15 vị tiền hiền di cư ra đảo, khai hoang, lập làng,
mở xóm, xây dựng đảo cho đen ngày nay Đảo Lý Sơn có vị trí chiến lược quan trọng,
là cửa ngõ ra Hoàng Sa, và nằm ưên tuyến đường giao lưu buôn bán với nhiều nước
Trang 241 8
ữong khu vực và the giới
Người dân Lý Sơn có nguồn gốc từ những nông dân ở vùng Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh, di cư vào Quảng Ngãi và sau đó là di cư tiếp ra Lý Sơn Dân Lý Sơngiỏi đi biển, có tới khoảng 60% dân số làm nghề đi biển Thủy sản chiếm tới 50% thunhập của ngư dân trên đảo Tương lại ngành khai thác thủy sản tiếp tục là the mạnhcủa Lý Sơn Tuy nhiên, Lý sơn có thể xem như là một làng nông ngư két hợp vớikhoảng 30% dân số sống bằng nghề trồng hành tỏi, đậu, bắp, mà tỏi Lý Sơn hiện nay
đã ữở thành một thương hiệu nổi tiếng
Đảo Lý Sơn là hòn đảo của những di tích lịch sử, văn hóa với hệ thống các ditích vật thể và phi vật thể dày dặc Hiếm có nơi nào mà bảo tồn và lưu giữ được cácgiá trị truyền thống tốt như Lý Sơn Không chỉ vậy Lý Sơn còn là quê hương của hảiđội Hoàng Sa Là nơi mà các binh phu Hoàng Sa xuất phát lên đường ra Hoàng Satheo lệnh vua để thực thi chủ quyền, cắm mốc đo đạc thủy trình và thu lượm sản vật.Hiện nay vào tháng hai hàng năm các dòng tộc trên đảo vẫn tổ chức lễ khao lề của tộc
họ mình và lễ khao lề thế lính Hoàng Sa như một sự tri ân, thể hiện lòng biết ơn sâusắc tới công lao của những người con anh hùng bỏ mạng trên biển vì sự nghiệp bảo vệchủ quyền của dân tộc Những di tích gắn với hoạt động của đội Hoàng Sa trên đảohiện nay, là minh chứng khẳng định: “Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam”
CHƯƠNG 2
Mộ GIÓ, Mộ CHIÊU HỒN VÀ CÁC NGHI THỨC LIÊN QUAN
2.1 Quan niệm của người Việt về việc an táng người chết
Trong quan niệm truyền thống của người Việt, nếu người sống cần có ngôi nhả
để sum họp, che nắng che mưa thì người chết cũng phải có một nấm mồ để giữ gìnhình hài Người Việt Nam rất coi trọng mồ mả của người đã khuất, do lòng thành kínhvới người chết mà ra Hơn nữa, mồ mả không chỉ là nơi an táng, yên nghỉ của người
đã mất mà còn mang ý nghĩa thiêng liêng, tâm linh và huyền bí, khiến người ta phải loxây cất mộ cho người chét đàng hoàng, cũng không ai dám động chạm tới mồ mả, sợ
bị “động mộ” ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc tương lai của con cháu trong giađình Luật pháp xưa coi việc xúc phạm mồ mả là trọng tội Những gia đình nghèo, dùkhông có tiền cũng gắng kiếm lấy manh chiếu, hay cỗ áo quan để lập mộ chôn cất chongười thân chu toàn
Trang 25Mộ (mồ, mả) là nơi người chét được chôn cất (chôn xuống đất) Mộ thườngnằm tập trung ở các nghĩa trang hay nghĩa địa hoặc nằm riêng lẻ, rải rác ở khắp nơi,với xác người chét hoặc tro đốt xác chôn bên dưới Theo Ngũ Hành, Kim sinh Thủy(Kim khí nấu chảy ra nước), Thủy sinh Mộc (Nước nuôi cây đâm chồi nẩy lộc), Mộcsinh Hỏa (Cây cháy phát ra lửa), Hỏa sinh Thổ (Lửa cháy tàn rụi ra tro đất) Cho nên,chưa “hạ Thổ” là chu luân sanh, trụ, hoại, diệt chưa hoàn tất Nghĩa là người chết chưa
đi hết hành trình sinh diệt! Người xưa nói: “Song cái nhà, già cái mồ” là muốn khi chétđược mồ yên mả đẹp Động mồ, động mả là điều đại kỵ Cho nên, chỉ có xá lợi củaPhật là một thứ ngọc rất qúi, két tinh bởi tinh, khí, thần mới đáng để chiêm bái thờphượng mà thôi Còn tro cốt của người phàm nào làm trái với qui luật tự nhiên, tự nó
sẽ gây ra nhân qủa vật lý có hại mà không ai có thể chối cãi được
Có nhiều cách phân chia mộ, nhưng xét trường hợp chất liệu làm mộ thì có hailoại chính: mộ đất và mộ đá
Mộ đất: hình chữ nhật, có kích thước chừng 2m X 0,5m X 0,5m; đỉnh mộ cóhình chữ nhật nhưng hơi tròn và càng cao, bề mặt càng nhỏ dần Neu không đượcchăm sóc hay bồi lắp hàng năm, những ngôi mộ này sẽ dần dàn bị mưa, gió sói mòn,nên nấm mồ thấp hay lở dần, có khi bị san bằng dần dần không thể tìm thấy nữa
Mộ đá: là loại mộ được xây bằng đá, gọi theo dân gian là mả đá cũng là hìnhchữ nhật, kích thước thì tùy và gia cảnh của người quá cố, sau này mả xây bằng ximăng cũng được gọi là mả đá
Dù là mộ đất hay mộ xây thì bia mộ, bình cắm nhang bao giờ cũng đặt ở dướichân người chét theo sự tin tưởng rằng, người chét nằm trong mồ chứng kiến ngườisống mỗi lần ra thăm mộ đốt nhang vái lạy hay cúng thức ăn trước mộ bia Tuy nhiên
về sau này, có nhiều mộ xây bằng đá cẩm thạch hay đá mài thì có mộ bia dính ở ngayphía đầu người chết Bình cắm nhang có khi đặt ở đầu, có khi ở giữa có khi ở chân củangười chét
Dân gian ta có câu: “không mả, con bà đứa nào làm nên” người ta cho rằng cómối liên quan siêu vật lý giữa mồ mả của tổ tiên với số mệnh của con cháu Mồ mảkhông chỉ là nơi chôn cất người chết, mà còn mang nhiều ý nghĩa linh thiêng Mồ mảtrong vòng bốn đời phải chôn cố định Phải chọn đất, chọn hướng chôn phù hợp vớituổi tác của người đã mất Sau đó phải giữ gìn, không được phép làm động mộ nếukhông sẽ bị ảnh hưởng đến người sống, vì làm xáo trộn vong linh người âm đang tuluyện yên tĩnh ở cõi âm Khi đó chắc chắn con cháu sẽ đau ốm, làm ăn không thuận
Trang 262 0
lợi
Đối với gia đình người Viêt thì việc chôn cất, thờ cúng người chét là điều quan
cháu phải một lòng kỉnh dưỡng, hiếu thảo; lúc ông bà cha mẹ chết con cháu phải sung bái tỏ lòng biết ơn đồng thời cầu mong tổ tiên phù hộ ”
Người ta quan niệm rằng phách là phần phụ của thể xác, khi người ta chết thìtan xuống đất Theo dị đoan, đàn ông có bảy phách hợp với thất khiếu (bảy lỗ) trong
cơ thể Đàn bà thì có 9 phách hợp với cửu khiếu trong cơ thể Đàn ông, đàn bà đều có
ba hồn phụ vào tam tiêu Khi bất tỉnh thì hồn lìa khỏi than thể trong chốc lát, khingười ta chết thì hồn lìa hẳn khỏi xác Bởi vậy phách và xác là phần ô trọc nên bị tiêuhủy đi Còn linh hồn là phần tinh anh nên vẫn còn và có đủ ý thức Vong hồn khôngđược tiêu diệt nên hằng cảm thông với kẻ sống Vong hồn của cha - mẹ tuy âm dươngkhác nhau nhưng vẫn thường dự vào cuộc sống của con cháu, của gia đình, mỗi khi cóđiều vui, điều buồn, điều lo sợ Tổ tiên vẫn phù hộ cho con cháu nên đôi khi vẫn đềphòng tai ách Linh hồn tổ tiên và cha mẹ linh thiêng nhường ấy, nên con cháu phảiphụng thờ cha mẹ tổ tiên cho trọn đạo, phải cúng cấp cho tổ tiên, cha mẹ và nhữngngười ở dưới âm phủ không bị thiếu thốn
Ngày xưa Nho học cho rằng: “sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn” sự chếtcũng như là sự sống, sự tan đi cũng như là sự tồn tại Nhiều người cho rằng, ngườichết ở dưới Âm Phủ vẫn có sự sống, nghĩa là vẫn cần có nhà cửa, có sự sống, trao đổi,đền ơn, ữả oán, hoạt động như một thế giới thật Chính vì vậy mà người ta phải lolắng xây mộ, mả chu đáo làm “nhà ở” cho người chét, cứ đến ngày tuần, ngày lệ thìcúng các loại đồ vật như trên trần thế, cúng quần áo, vàng hương để người chét có thểdùng
Thờ cúng, xây mộ còn là một trong những việc làm thể hiện đạo hiếu, lòng biết
ơn của người còn sống đối với những người đã khuất, mong người thân của mình sangthế giới bên kia được mồ yên mả đẹp, an nghỉ nơi chín suối
2.2 Chiêu hồn nạp táng
Đó là những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuốihay do thú dữ vồ không tìm được tử thi Thân nhân làm hình nhân và làm lễ an tángtheo như lễ an táng thông thường
Trang 27Được nghe các cụ kể lại rằng: chất liệu làm hình nhân, có địa phương dùng câynúc nác (còn gọi là sò đo thuyền, mộc hồ điệp, nam hoàng bá, bạch ngọc nhi) Núcnác là loại gỗ mềm và xốp, dễ tạo hình, chôn dưới đất lâu hoai, lại dễ kiếm vì mọc ởnhiều nơi Có địa phương dùng bùn lấy ở giữa dòng sông, có địa phương dùng mùnđào ở giữa ngã tư đường cái.
Hình nhân được đẽo gọt hoặc nhào nặn thô sơ, có đầu mình chân tay là được(vì đa số không phải là nghệ nhân) Kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiềudài Thi hài tượng trưng đó cũng được khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng gỗ vàngtâm, kích thước nhỏ bé, hoặc đưa vào tiểu sành Trên hình nhân có phủ lên linh vị viếttrên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ Trước khi làm lễ antáng có mời thầy cúng làm bùa ấn phù phép để vong hồn nhập vào hình nhân
Lễ an táng và các lễ các lễ khác cũng tiến hành như tang lễ thông thường
2.3 Hình nhân thế mạng
Ở nước ta xưa có tục đốt hình nhân thế mạng, để vua chúa xuống dưới âmcung có người hầu hạ, người ta không chôn người sống mà dùng hình nộm làm bằngtre nứa, quấn bằng rơm rạ hoặc nhào nặn bằng đất sét, ngoài dán giấy làm quần áo rồi
vẽ mặt mũi, sau đó khi tế lễ xong thì đốt hình nhân đó cùng với vàng mã Nếu lễ thuỷthần, long vương, hà bá thì làm thuyền bằng giấy kết trên thân cây chuối rồi đặt hìnhnhân vào thuyền và thả trôi sông Có người nghe theo lời bói toán nhảm nhí sắp đếnvận hạn bị hung thần quỷ dữ bắt, phải nhờ thầy cúng làm lễ, đốt hình nhân the mạng
Có người vì mối tư thù nhưng yéu thế không trả thù được bèn nghĩ cách làm hìnhnhân rồi đề tên họ, huý, hiệu của kẻ thù vào trước ngực hình nhân, cắm ở ngã ba, ngã
tư đường cái, thắp hương cắm lên đầu hình nhân để nhờ thần linh bắt tội người đó.Nguồn gốc sâu xa của “hình nhân thế mạng” chính là tục “bồi táng”, xuất hiện từ thờinguyên thủy, mà các nhà khảo cổ học đã cho chúng ta biết từ rất lâu khi khai quật,phát hiện những đồ tùy táng chôn theo hài cốt hoặc than tro di thân người chết
Trên thực tế, không phải Lý Sơn là địa phương duy nhất có mộ gió, có hìnhnhân thế mạng như nhiều người vẫn hay lầm tưởng Trong truyền “phong thần” của sửTrung Hoa đã từng ghi lại chuyện cậu bé Na Tra được tái sinh từ một hình nhân bằngngó sen được thổi hồn vào, hay những chuyện “yểm bùa” vào các hình nhân, búp bêbằng vải trong cung cấm xưa kia
Trang 282 2
Cả hai hình thức chiêu hồn nạp táng và làm hình nhân the mạng đều rất gần vớitục lập mộ gió trên đất nước ta
2.4 Mộ gió
Mộ gió được hiểu theo nghĩa chung nhất là những ngôi mộ không có hài cốtthật bên dưới Thực té ở nước ta có đến hàng ngàn, hàng vạn ngôi mộ gió Chúng nằmrải rác khắp nơi, trên mọi miền của đất nước
Có khi là những nấm mộ rải rác khắp nơi của các liệt sĩ, họ hy sinh oanh liệtnhưng vì điều kiện chiến tranh ác liệt mà đồng đội không thể chôn cất cẩn thận hoặc
bị vùi lấp mất sau này thân nhân của họ không thể tìm được xác nên phải lấy nắm đấtchính nơi họ đã ngã xuống đem về lập mộ, coi như đó là hài cốt của liệt sĩ Nhữngngôi mộ giả như the nằm ở khắp nơi, từ Điện Biên, Quảng Bình, Quảng Trị cho đến
Cà Mau Theo thống kê của bộ Lao Động - Thương Binh và Xã hội thì tới năm 2010
có tới hơn 300,000 trường hợp mộ chưa có hài cốt hoặc mộ vô danh Như vậy có thểthấy số mộ gió cũng chiếm khá nhiều
Trong trận hải chiến Trường Sa ngày 14.03.1988 có tới 64 liệt sĩ đã vĩnh viễnnằm lại dưới biển sâu ở bãi Cô Lin và Gạc Ma Những người thân của họ cũng vĩnhviễn không bao giờ nhìn thấy thân xác họ lần cuối Nhiều gia đình đã lập mộ gió chocác anh Dưới mộ không có thân xác, mà chỉ có những kỷ vật còn lại của các anh ởnhà Mộ của các anh ở nghĩa trang liệt sĩ, có nhiều gia đình chiến sĩ còn xây mộ gió tạigia đình Gia đình liệt sĩ Kiều Văn Lập ở Phúc Thọ - Hà Tây cũng lập cho anh mộtngôi mộ gió tại nghĩa trang liệt sĩ của địa phương Tại nghĩa trang liệt sĩ Đà Nằngcũng có tới 6 ngôi mộ gió của các các chiến sĩ Trường Sa năm xưa Đó là mộ gió củacác liệt sĩ Phan Văn Sự, Trương Quốc Hùng, Lê Văn Xanh, Trần Tài, Nguyễn HữuLộc, Phan Văn Lợi, khác nhau năm sinh tháng đẻ, nhưng cùng là người Đà Nang,cùng hy sinh một ngày 14-3-1988 Và cùng để lại xương thịt nơi biển khơi
Cũng trường hợp người ta coi mộ gió những ngôi mộ giả mà họ tự vun lên đểgiữ đất, có thể là giữ đất để sau này làm mộ, có thể là để bảo vệ cho những ngôi mộ ởgần đó, như một cách xí phần, đánh dấu đất, nhưng thực chất trong nấm đất đó không
có gì hết Có rất nhiều ngôi mộ được xây dựng công phu, ốp đá, lát gạch men bóngloáng đủ màu Điều khác biệt duy nhất của những ngôi mộ này so với những ngôi mộbình thường là nó chẳng có hài cốt, nên cũng không có bia mộ hay tên tuổi người mất
Trang 29Hiện tượng này có nhiều ở các vùng đô thị, ven đô nhất là những vùng mà chuẩn bị
mở dự án hay khu công nghiệp Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi thì đây không thểcoi là mộ gió Nó chỉ là những nấm mộ giả, mộ chờ mà thôi
2.5 Mộ gió trên đảo Lý Sơn, mộ gió hay mộ chiêu hồn?
Hai từ mộ gió ở Lý Sơn chẳng biết có từ bao giờ Mộ gió là ngôi mộ củanhững người dân đi biển bị chết mất xác Hoặc những ngôi mộ xưa kia được chôn bêncạnh bờ biển được đắp bằng cát bị nước cuốn trôi đi mất xác, về sau không thể tìmthấy được, cũng có thể là mộ của người bị mất xác nơi rừng sâu, hoặc người lính giữatrận tiền mà đồng đội không tìm ra thi thể Người sống còn ở lại muốn tri ân, tưởngnhớ tới người đã khuất, tuy thể xác của người thân đã mất nhưng họ vẫn muốn giữ lạiphần tinh anh để cầu mong linh hồn được an ủi, phù hộ, che trở cho con cháu
Theo tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, giám đốc sở VH-TT-DL tỉnh Quảng Ngãi thì
“Mộ gió ở Lý Sơn là cách nổi dân gian, còn thực chất nó là mộ chiêu hon”.Có lẽ bởi vì,bên dưới mộ không có xác người thật, mà chỉ có những hình nhân bằng đất sét, đượcthầy phù thủy khéo léo nặn giống như người thật Hình nhân đó đã được làm lễ chiêuhồn, gọi hồn trở về nhập vào Người nhà tin rằng, khi hồn đã nhập hình nhân thì giốngnhư thân xác thực sự của người đã khuất Đồng quan điểm với tiễn sĩ Nguyễn Đăng
Vũ, chú Võ Văn út, hậu duệ của cụ Võ Văn Khiết và cụ Phạm Đoàn - tộc trưởng họPhạm Văn cũng đều cho rằng: “phải gọi là mộ chiêu hồn mới đủng, còn mộ gió chỉ là cái tên mà sau này con em Lý Sơn đi ra ngoài học hỏi, làm ăn gọi theo như trong đẩt liền
mà thôi ” Trong lịch sử, có rất nhiều người là quan quân, binh lính, phu dịch của độiHoàng Sa, đội Bắc Hải đã hy sinh trong quá trình làm nhiệm vụ, bỏ mạng trên biển.Khi tộc họ Phạm Văn trên đảo xây dựng ngôi mộ gió cho Chánh đội trưởng thủy quânHoàng Sa - Phạm Hữu Nhật, Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ đã khắc tấm bia để đặt trướcngôi mộ Ông đã dốc tâm huyết để góp phần phục dựng lễ khao lề thế lính Hoàng Sa
đã mai một đi phần nào, do mấy chục năm chiến tranh, loạn lạc
Ông Hồ Cương Quyết (Andre Menras), một người Pháp mang Quốc tịch ViệtNam, người đã xây dựng bộ phim tài liệu “Nỗi đau Hoàng Sa”đến Quảng Ngãi ông đãnhiều lần ra thăm ngôi mộ gió ở đảo Lý Sơn, ở trong đất liền Đăm đăm với nỗi đaunên ông khá am hiểu câu chuyện về mộ gió thì lại triết lý rằng: “Mộ gió có nghĩa là gió ở quanh đây, ta cảm nhận được, nhưng không thể nào nắm bắt được nó” 4
Trang 302 4
Mộ gió thì ở đâu cũng có, nhưng mộ ở Lý Sơn thì có rất nhiều điều đặc biệt.Điểm đặc biệt đầu tiên là ở đây mộ gió nhiều vô kể, chúng nằm rải rác khắp nơi, ữongkhu nghĩa địa của thôn, ương các ruộng tỏi hay trong vườn nhà Điểm đặc biệt tiếptheo là có rất nhiều ngôi mộ là mộ của những người lính, những người cai đội Hoàng
Sa năm xưa, họ ra đi và hy sinh trên biển cả không phải vì mưu sinh mà vì lệnh vuaban, vì sự nghiệp bảo vệ biên cương và chủ quyền của đất nước Tuy nhiên, néu chỉnhìn bằng mắt thường sẽ rất khó để phân biệt được mộ gió và mộ bình thường, vì ngàynay, người ta xây mộ kiên cố, không có dấu hiệu riêng và hầu như rất giống nhau chỉ
có thầy phù thủy đã từng tham gia vào quá trình làm mộ, hay thân nhân của người quá
cố mới biết chính xác đâu là mộ gió Hoặc còn một cách là kiểm tra bên dưới nếu cóhình nhân bằng đất sét thì là đó chính là mộ chiêu hồn
Biển mang lại nhiều nguồn lợi cho người dân đảo Lý Sơn Đời sống người dânnơi đây ngày một sung túc hơn với sự ra vào của những tàu cá tải trọng cùng tấm lướikhổng lồ trị giá hàng trị giá hàng tỉ đồng Biển mang lại niềm vui nhưng cũng mangđến đau thương mất mát không gì bù đắp được cho những con người ở nơi đây, nhiềungười đã ra đi, thân xác nằm lại vĩnh viễn dưới biển khơi Để tưởng nhớ đến nhữngngười đã ra đi vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền của đất nước vì cuộc sống ấm no của giađình, dòng tộc, từ xa xưa người dân vùng ven biển đã có tập tục lập mộ gió để tưởngnhớ đến họ Mộ gió có ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam nhưng lịch sử hình thành
mộ gió ở đảo Lý Sơn thì chỉ có một không hai
Nghề đi biển chứa đựng nhiều rủi ro, bất chắc hàng năm số ngôi mộ gió ở LýSơn cứ ngày một nhiều thêm Ở Lý Sơn, nghèo đến mấy, gia đình ngư dân cũng gắngchạy vạy lo toan để làm mộ chiêu hồn cho người đã mất Bởi, cuộc sống vất vả diễn ratheo một vòng xoáy trôn ốc, khi lớn lên con trai của những ngư dân gặp nạn sẽ rất khó
để có điều kiện tìm một nghề nào khác ngoài công việc mà cha, ông họ đã làm Và vớiniềm tin của ngư dân, sẽ rất cay đắng và nhiều điềm dữ, nếu đứa con trai họ bước vàonghề khi cha nó vẫn chưa có một nơi an nghỉ, dù chỉ là ngôi mộ thay bằng hình nhânđất sét
Anh Võ Văn Nhành, truyền nhân đời thứ 6 của một gia đình chuyên làm mộgió cho biết, mỗi năm anh phải làm ít nhất ba, năm đén bảy hình nhân cho các gia đìnhngư dân Tùy vào số người không may gặp rủi ro trên biển Anh Nhành nói: “Thông
Trang 31thường, bặt tin thuyền từ một tới ba tháng là gia đình đã lo việc làm mộ chiêu hồn rồi Bây giờ, thông tin liên lạc rất nhanh, việc ngư dân tưởng chết bỗng đùng đùng trở về nhà chắc chi có trong sách”
2.6 Cách thức lập mộ giố ở Lý Stfn
Khi biết tin tàu gặp nạn, gia đình chuẩn bị lễ lạt và tới nhờ thầy pháp để lậpcho người thân của mình một ngôi mộ gió, để lấy chỗ trú ngụ cho linh hồn người xấu
số, được trở về bên gia đình và người thân
Dưới đây là các công đoạn lập mộ gió:
Thầy pháp (ở Lý Sơn hiện nay là anh Võ Văn Nhành) sau khi nhận tin từ giađình, sẽ hỏi lại tên họ của người mất để báo cáo cho đầy đủ, và đi chuẩn bị các vậtdụng cần thiết cho công việc lập mộ gió Công việc đầu tiên là cúng lên cốt, làm lễữiệu vấn sau đó hướng dẫn người nhà đi lấy đất sét Đất sét dùng cho việc nặn hìnhnhân phải được lấy trên núi Giếng Tiền Không thể dùng bất kỳ một loại đất nào khác
để thay thé Không phải chỗ nào trên miệng Giếng Tiền cũng có đất sét Chỉ có mộtroi đất khoảng chừng 100m2 là đất sét, còn lại là đất thịt Người ta phải đào bỏ đi lớpđất trên cùng, lấy đất ở lớp đất thứ hai Đất sét trên Giếng Tiền là thứ đất dẻo quánh vàróc nước đến mức không có bất kỳ một loai cây nào mọc trên đó được Thứ đất đượcdùng vào việc thiêng cho nên ở Lý Sơn người ta không xây nhà bằng đất sét như một
số vùng khác
Đất sét lấy về được đem cho vào một cái cối lớn, chứa được khoảng 7-10kg.Người ta cứ quết đất cho tới khi đều, thì cho thêm vào đó một chút nước, và tiếp tụcquét cho tới khi nó dẻo và dính như xi măng già Sau đó, cho thêm bông gòn và quếttiếp đến khi đạt đến một độ mịn, nhuyễn nhất định mới thôi Công việc giã, quết đấtsét đòi hỏi tốn nhiều sức lực Theo anh Nhảnh để giã được một cối đất chừng 10kg thìcần đến sức lực của 6 người đàn ông khỏe mạnh, lực lưỡng thì mới có thể giã dập đều
và nhuyễn được Hiện nay để có được một cối đất sét anh Nhành phải mất ít nhất400.000 vnd để thuê người giã
Người ta cho rằng, đất lấy bao nhiêu thì phải dùng hết bấy nhiêu, nếu không sẽgiống như da thịt của người mất còn vương lại Cũng không thể lấy thêm Ví dụ chiếccối quết đất chỉ có thể quết được tối đa 5kg thì dùng hết 5kg đất đó để nặn hình nhân.Không vì thế mà đi lấy thêm đất, hay làm thêm một cối khác được
Sau khi giã đất xong, thầy pháp sẽ sử dụng một cành triệu - tức là một nhánh
Trang 322 6
tre dài chừng 2m, dóc bỏ hết cành lá, chỉ để lại ngọn ghi rõ tên tuổi, quê quán củangười bị nạn, sớ, hình nhân người thế, cùng với đồ lễ là xôi gà, bánh , trầu nhang đènđầy đủ., đem the xuống cho bà Mụ Thầy pháp, đầu đội mũ, quần áo chuyên dụng bắtđầu làm lễ Hai tay giấu trong áo, thầy bắt quyết, đọc thần chú trước hai ban bầy biệnnhững đồ lễ thông thường như xôi gà, tiền vàng, rượu nước: “ngày hôm nay gia chủ thành tâm thế những lê vật kia, xỉn bà cho những linh hồn đó, để hồn về nhập vào hài cốt ” Ban chính thờ thần linh treo tấm phướn ghi mấy câu thần chú cùng năm đạobùa xanh - đỏ - tím - vàng - trắng Ban phụ để bài vị của người đã mất cùng hình nhânthế mạng bằng giấy Trên bài vị có ghi phục vị (Vi), Dong (vong) kèm danh chủ linhvị
Làm lễ xong, thầy sẽ chuẩn bị một miếng ván dài chừng 60-70cm, nhồi đất vào
và đập đều, cho đen khi đất cứng lai, vuông vức thành khối giống như một khối gỗ, từkhối vuông vức đó, thầy bắt đầu công việc điêu khắc, tạo chân tay, mắt, mũi và các bộphận cho người chết Trong lán che đã được dựng sẵn trước đó, thầy pháp chuyên tâm,
tỉ mỉ, cẩn thận nặn hình nhân Lúc nặn hình nhân chỉ có thầy pháp và người nhà củanạn nhân được phép ở trong lán Thậm chí khi nặn đen phần bụng dưới, vợ con củangười chết cũng được mời ra ngoài hoặc phải quay mặt đi, vì sợ linh hồn người mất sẽ
bị xấu hổ Đây là công đoạn quan trọng, đòi hỏi sự tỉ mỉ, nghiêm túc và khéo léo củathầy pháp Vì tính chất tâm linh và thiêng liêng của nó mà người ta không thể làm lại,dựng lại hay biểu diễn cho người lạ, khách du lịch hay nhà báo xem được Tất cả đềuphải tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc đã được đề ra Anh Nhành kế: “Hổi làm sáu hình nhân cho vụ đắm tàu của ông Lê Minh Tân, có một anh nhà báo đã đặt máy quay lên chân máy để ghi lại nhưng khi anh nặn gần xong thì chân máy bỗng nhiên đổ, máy không bị hỏng hóc gì, nhưng khỉ xem lại máy quay thì toàn bộ hình ảnh đêu mất hết, cải quay được chỉ là một
màu đen ” chính vì thế mà người ta càng tin tưởng và sự huyền bí, kì lạ của hìnhnhân thế mạng này.5
Phần quết đất và tạo hình chung vô cùng quan trọng, nhưng việc làm lục phủngũ tạng và các cơ quan cho hình nhân thế mạng cũng quan trọng không kém
5 Tuy nhiên, trong quá trình sưu tầm tài liệu để thực hiện đề tài, tôi đã tìm thấy ở phàn cuối đoạn phim tài liệu “ Nỗi đau Hoàng Sa” của ông Hồ Cương Quyết có quay lại được một phần của quá trình nặn hình nhân
và tạo mộ gió Đây là nguồn tài liệu vô cùng quan trọng giúp tôi hiểu, có cái nhìn trực quan, sinh động cụ thể hơn
về quá trình lập mộ gió.
Trang 33Trước buổi lễ, người ta phải chuẩn bị: trứng gà con so, quả thầu dầu (sào đông)đốt cháy, cành dâu mồ côi, chỉ màu trứng gà được dùng để làm bao tử Hột sào đông
có lỗ tượng trưng cho lá phổi, trước buổi lễ dùng một con gà trống trắng gọi là kim kê,bịt mắt nó lại, sau khi cúng xong đem thả ở ngã ba đường, con gà mổ xuống chỗ nàothì lấy đất chỗ đó làm gan.6 Trước kia lấy sợi tơ do tằm nhả ra để làm mạch máu vàgân, nhưng ngày nay cũng được thay bằng chỉ màu Cành dâu mồ côi được dùng đểlàm xương, nam có đủ 7 xương sườn, nữ có đủ 9 chiếc, cũng có đủ các đốt ngón tay,ngón chân Nặn xong đầy đủ các bộ phận, người ta còn dùng lòng trắng trứng gà đểquết đều lên bề mặt của hình nhân Khi hình nhân khô đi sẽ có màu giống như da thịtcủa người thật.7 Hình nhân cũng được vẽ đầy đủ tất cả các bộ phận, cơ quan, có đủ lụcphủ ngũ tạng, mắt mũi, kể cả cơ quan sinh dục
Sở dĩ người ta chọn cành dâu tước vỏ để làm xương cốt cho hình nhân là vìdựa theo triết lý về sự chuyển kiếp, hoàn sinh Dân Lý Sơn trồng dâu không phải đểnuôi tằm như chức năng của loài cây này, mà để làm một việc khác, thiêng liêng hơnnhiều: dùng làm xương cốt cho hình nhân trong các ngôi mộ gió Vì vậy, người LýSơn không biết nuôi tằm, dệt vải nhưng cây dâu vẫn tồn tại nhu một lẽ đương nhiêntrong đời sống tâm linh của họ suốt mấy trăm năm qua Họ gọi cây dâu là “cây thiêng”
là vì thế Theo quan niệm dân gian của người dân Việt nói chung và người dân Lý Sơnnói riêng ở dâu là cây xua tà ma nên linh hồn của người chết sẽ dễ dàng “nhập” vàoxương cốt ấy Thầy Toại nói thân dâu làm cốt xuất phát từ câu chuyện “truyền tử lưutôn” Con tằm ăn dâu đổi kiếp tới 4 bận Các cụ làm xương cốt hình nhân bằng thândâu dường nhu với ước mong rằng những người dã khuất sẽ chuyển kiếp để khôngbao giờ “sổng đời bấp bênh, chết kiếp tuyệt tích ” nữa
Chiều Lý Sơn những đôi mắt thở dài Chập chùng nhớ chập chùng nhoai phía biể Từng mảng xám biển ù ù mây xếp Níu hồn vào những đốt dâu xanh
Đây là những câu thơ cảm tác của Văn Công Hùng, thi sĩ Tây Nguyên lần đầu
ra đảo
6Sau này vì tốn thời gian nên thày pháp ít dùng cách này.
7 Theo anh Nhanh, giờ hầu như cũng không còn dùng đến cách này Vì anh có xem qua sách thì
Trang 342 8
Theo quy định từ xưa truyền lại, việc nặn hình nhân phải thực hiện vào đêm,thông thường bắt đầu khoảng 22 giờ và kéo dài đén khoảng 4 giờ ngày hôm sau Mỗihình nhân có trọng lượng trung bình khoảng 4 đên 5 kg Mỗi hình nhân có chiều dàitrung bình là 60-70cm, tối đa là 90cm Hình nhân không thể giống tuyệt đối như ngườithật thì cũng cần phải giống tương đối và có đầy đủ các bộ phận như một cơ thể bìnhthường Sau khi hình nhân được nặn xong, thầy pháp sẽ cắt giấy vàng để làm quần áo,mặc vào và đem liệm như bình thường Và chuẩn bị làm lễ triệu hồn từ biển về Việcnặn hình nhân, lên cốt, đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ và nghiêm túc thực sự của người thầypháp và sự thành kính của những người xung quanh
Thay cho thi hài thật, hình nhân đất sét được đặt cùng lễ vật tại mép biển, theohướng con thuyền cũ từng ra khơi với niềm tin linh hồn của người đã mất sẽ đượcrước về để “nhập” vào đây
Phần nghi lễ Đối với người bị chết nước, chết mất xác ở biển thì người ta lậpmột rạp, đàn lễ bao gồm bốn bàn Một bàn thời tổ pháp quan, một bàn thờ hà bá, mộtbàn thờ ngũ linh đồng tử, bàn thờ bà chúa thiên thai và mười hai bà mụ Bàn ngũ linhđồng tử thờ năm vị thần, ưấn giữ năm phương, để sau khi lên cốt cho hình nhân xong,nhờ năm vị này dẫn dắt, đưa lối cho hồn của người mất về nhập vào hình nhân Nghi
lễ cúng bà chúa thiên thai và mười hai bà mụ là để mời bà về chứng giám giống như
sự chuyển sinh Mỗi bàn thờ dều được bày sắp lễ đầy đủ gồm ba con gà
Phần tiếp theo của nghi thức là làm lễ triệu hồn (gọi hồn) Lễ gọi hồn nhập xáccũng được tiến hành theo nghi lễ của những thầy phong thủy thời Gia Long Thay choviệc kéo dài về cúng tế, thì nay, thời gian cúng được giản lược lại chỉ còn 12 giờ đồng
hồ Dùng linh phù, linh dược để triệu hồn về Người ta sẽ chuẩn bị một cành phang(một cành ổi) dài chừng 25cm Nam thì 7 lá, nữ thì 9 lá, tương đương với thất phách
và cửu phách Tên người chết được viết lên một tờ giấy và gắn nó trên cành ổi Ngườidắt hồn nhảy xuống biển, nhúng cành lá xuống nước rồi chạy từ bờ biển đưa hồn vềnhà Khi hồn nhập về, cánh tay của người cầm phang sẽ giật và rung lên Khi gặp thânnhân của người chết thì cánh tay của người cầm phan sẽ rung đều, rung liên tục, đại ýbiểu hiện sự vui mừng được gặp lại Khi về đến nhà, người cầm phang luôn thể hiệnrằng mình quá quen thuộc với ngôi nhà này bằng cách chỉ đâu là nơi để quần áo, đâu
là chỗ để giấy tờ Hoặc có trường hợp người thân trong gia đình hỏi chỗ cất đồ đạc,
Trang 35tiền bạc, điện thoại di động mà trước khi đi biển, người chét cất ở đâu mà gia đìnhkhông tìm thấy Khi đó người cầm phang sẽ di chuyển, và đập xuống chỗ nào thì cónghĩa là chỗ đó là nơi cất đồ vật Tuy có phần huyền bí và khó giải thích, nhưng tất cảnhững lần hỏi như thế đều tìm được đồ vật Chính vì vậy mà người ta luôn tin rằng,hồn của người đã mất thực sự quay trở về với gia đình, với quê hương Người cầmphang kể lại rằng , từ lúc hồn nhập vào cho đên lúc trở về nhà họ như bị chìm đi trongcảm giác mộng du, giống như ai mượn thân xác mình, họ hoàn toàn không tự điềukhiển được hành động của họ Người cầm cành phang có khi là những người khôngthực sự hiểu rõ về gia đình người chét, cho nên không có chuyện họ đã biết chỗ cất đồ,hay biết rõ từng vị trí trong ngôi nhà của người chết như thế Anh Nhành cho biết: “cả
đảo giờ chi có 2-3 người cầm phang được mà thôi”. Khi được hỏi căn cứ vào đâu đểbiết hồn đã nhập, anh Nhành cho biết, người cầm phang sẽ có cảm giác ấy, chạy từ vaixuống tới cánh tay
Sau khi hồn nhập về hình nhân, người ta đem khâm liệm, tổ chức tang lễ, chôncất như một người chết bình thường Với những người không biết chính xác ngày mấtthì người ta lấy ngày lập mộ làm ngày giỗ, ngày kị Chôn cất xong thì về nhà lập bànthờ và tổ chức cúng hàng ngày Đen ngày thứ ba thì làm lễ mở mả, đen ngày thứ 49 thìlàm tuần chung thất, cúng 100 ngày, tuần một năm, sau ba năm thì làm tuần mãn tang,xép bỏ tang ché, xép cất bàn thờ riêng, chuyển lên thờ chung tại bàn thờ lớn của giađình Sau đó dỡ bỏ nhà mát và đắp thêm mộ cho người chết Ngày Thanh Minh cũng
đi tảo mộ như bình thường Ở Lý Sơn không có tục cải táng Nên những ngôi mộ gió
sẽ mãi mãi nằm đó với thời gian với nắng, với gió và cát biển
về độ bền của những hình nhân thì tùy vào thời tiết và độ sau của vị trí đặt mộ
Ở những chỗ đất cát có chất vôi nhiều thì hình nhân có thể giữ được tới vài ba chụcnăm, nếu chôn nông, lại ở nơi nắng nóng thì hình nhân sẽ rất dễ bị nứt Mộ gió rất linhthiêng, anh Nhành và nhiều người trên đảo Lý Sơn kể rằng: “Nếu chẳng may hình nhân
ở dưới bị nứt ra thì người thân trong nhà chắc chẳc sẽ cỏ người bị đau ốm Có những người bị đau tay, đau ngực, hay đau tim nhưng đi bệnh viện đều không khám ra bệnh gì Tới khi người ta đi xem, đi gọi hồn người chết về mới biết hình nhân đã bị nứt”.Có thể là
do bị rễ cây xuyên qua, hoặc quá trình nặn hình nhân bị lẫn một hòn sỏi vào đôi khi
là do quá trình quét đất với bông gòn không được kỹ cho nên dễ nứt, nhưng trường
Trang 363 0
hợp này hiếm, vì người làm mộ thường có ý thức rất cao và rất cẩn thận Gặp tìnhhuống như thế này, người nhà phải sắm một cái lễ, thắp nhang cho người đã khuất xinphép được kiểm tra lại hình nhân, để nếu chẳng may có bị nứt chỗ nào thì xin phépđược sửa lại Điều kỳ lạ rằng, khi lật mộ lên, thì thấy đứng là chỗ hình nhân bị nứt,tương ứng với chỗ bị đau của người thân trong gia đình Người nhà lại phải tiếp tụcnhờ thầy pháp tới sửa sang lại hình nhân và chôn cất lại như cũ Sau khi đã làm lạixong xuôi thì người nhà cũng tự nhiên hết bệnh Đây chính là điều kỳ lạ mà người takhông thể nào giải thích được và luôn có niềm tin vào sự linh thiêng của những ngôi
mộ gió nơi đây
Việc làm mộ gió rất cầu kỳ và cũng rất tốn kém Trung bình mỗi lần lập mộ,chưa kể chi phí xây mộ thì mỗi gia đình sẽ phải mất từ 5 đến 7 triệu để mua sắm đồ lễ
và tiến hành các thủ tục cần thiết theo lời dặn của thầy pháp Đối với những gia đìnhnghèo, họ phải chạy vạy khắp nơi nhưng cũng gắng lo cho được, chưa có tiền xây mộ
to, thì người ta đắp bằng cát rồi lợp mát che xung quanh Còn những gia đình giàu cóhơn thì xây mộ cẩn thận, chắc chắn
Đối với những người bị trôi mồ, dạt mả hay người chét đường, chét chợ , đirừng bị gặp nạn không tìm thấy xác thì người ta cũng tiến hành các bước trình tựgiống như làm lễ cho người chét biển, chỉ có điều khác là nơi làm lễ không phải ở mépbiển, nơi hướng con tàu của người bị nạn ra khơi mà là ở nơi ngã ba đường Dù có làm
lễ ở đâu thì yêu cầu cần thiết vẫn là phải có hình nhân thế mạng để hồn có chỗ nhậpvề
Mộ ở Lý Sơn có ở khắp nơi, trong các khu nghĩa địa, trong ruộng tỏi, ương gócvườn nhà Trên thực tế, rất khó để phân biệt mộ gió và mộ bình thường Nhất là ngàynay, người dân ữên đảo đã sửa sang mộ gió bằng những ngôi mộ đã được xây cất cẩnthận như những ngôi mộ khác trong nghĩa trang Điểm khác biệt duy nhất ấy là: “Nếu
là ngôi mộ thường, trên mặt được xây kín bằng xi măng, còn nếu là mộ gió thì trên mặt không xây bít kín mà khỏa một lớp cát biển lên phía trên”, để linh hồn người chét đượchòa mình với gió và cát biển Tuy nhiên, hiện nay cũng nhiều gia đình, xây mộ nhưbình thường nên càng khó để nhận biết Thường chỉ có người nhà của chủ nhân ngôi
mộ, hay thầy phù thủy lập nên ngôi mộ đó, biết chỗ thì mới biết đâu là mộ gió giữa bạtngàn những ngôi mộ ở Lý Sơn
Trang 372.7 So sánh mộ gió ở Lý Sơn với mộ gió ở các địa phương khác
2.7.1 Điểm khác biệt của những ngôi mộ gió Lý Sơn với mộ gió ở các vùng ven biển khác
Lý Sơn là nơi tập trung nhiều mộ gió nhất, mộ gió có ở khắp nơi, trong vườnnhà, trong đồng tỏi, trong nghĩa trang, nằm lẫn với những ngôi mộ bình thường khác
Mộ ở Lý Sơn còn đặc biệt vì nó gắn liền với chiến tích của hải đội Hoàng Sa năm xưa.Hơn nữa cách thức nặn hình nhân, lập mộ cũng chứa đựng nhiều điểu khác biệt so vớicác địa phương ven biển khác của nước ta
Tại làng biển Bình Chánh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, nơi đây mỗi năm
có tới gần 3000 ngư dân đi Trường Sa Năm nào trong làng cũng có vài ngôi mộ gióđược lập nên Khác với Lý Sơn, hình nhân trong mộ gió ở đây to hơn, có chiều cao,vóc dáng tương tự như người đã khuất Ông Đặng Phán, thầy chuyên làm mộ gió chongư dân ở nơi đây cho biết ở đây người ta không gọi là mộ gió mà gọi nó là “u hồn ấp nẩm”Mới năm 2012, ông Phán đã làm một hình nhân cao l,7m, tương ứng với vócdáng của ngư dân Đào Văn Hải bị mất tích ở Trường Sa Ngoài điểm đó thì mộ gió ởđây cũng được làm bằng đất sét trộn với bông gòn, về cơ bản đều giống như ở Lý Sơn.Tuy nhiên, cái tên “u hồn ấp nấm”nghe qua cũng có cảm giác rờn rợn Theo ôngPhán, u hồn vì nó rất mờ mịt Trong đất liền, ngày lập mộ gió, người dân tổ chứcđám tang bài bản giống như những đám tang bình thường khác
Đối với các làng chài trong đất liền, việc gọi hồn trở về mộ gió được thực hiệntheo cách khác Đó là người vợ của ngư dân đã khuất nhảy xuống biển để hồn nhậpvào, sau đó hét to và cầm đèn chạy một mạch về nhà đặt lên bàn thờ Khác với lễ gọihồn trên đảo Lý Sơn được thực hiện bằng nghi lễ “cầm phang” như đã trình bày
Ở Hà Tĩnh, quanh khư vực mỏ sắt Thạch Khê, với những ngôi mộ bị mất hài
đầu Lấy hai hạt nhãn làm mat giả gắn vào, hai quả trám làm xương gối Rồi huy động nhiều người đi xin cành cây dâu về đế làm thân hình ” Sau đó dùng đất nặn thân hình
hồn của người thân về nhập vào hình nhân giả rồi đem đi chân ” Họ xem đó, như chính
là hài cốt của người thân trong gia đình mình.
2.7.2.S0 sánh lễ chiêu hồn ở Lý Sơn với lễ chiêu hồn nhập cốt của người
Trang 383 2
Chăm Bà La Môn ở Ninh Thuận8
Cũng như người Lý Sơn, khi gia đình có người bị mất tích, mất xác hoặc thấtlạc hải cốt, người Chăm cũng cảm thấy áy náy, không an tâm vì họ cho rằng linh hồnngười chét không được giải phóng để sang thế giới bên kia, không được trở về với tổtiên, và cũng không được đầu thai trở lại Không những thế, người Chăm còn chorằng, người chết bị mất hài cốt, một khi chưa làm đầy đủ các nghi thức chiêu hồn nhậpcốt chu đáo, thì gia đình cũng không yên ổn, làm ăn không phát đạt thậm chí bị ốmđau, bệnh tật và không may mắn Vì vậy, dù người Chăm, người Lý Sơn hay bất cứgia đình nào có người thân bị mất tích, mất xác, thất lạc hài cốt dù có nghèo đến mấycũng phải cố gắng lo liệu để làm lễ chiêu hồn, nhập cốt, lấy chỗ đi về cho hồn người
đã khuất
Lễ chiêu hồn, nhập cốt của người Chăm (dam ngáp hay ơm), là lễ dành chongười bị mất tích, những người bị mất xác, hay những hài cốt bị thất lạc Thời gianlàm lễ chỉ được diễn ra trong một buổi sáng hoặc một buổi chiều ngày thứ tư hoặcngày thứ bảy theo lịch của người Chăm Địa điểm làm lễ cũng không giống ở Lý Sơn
là làm ở mép biển hay ngã ba đường mà là làm ở một khu rừng xa làng Trước khi làm
lễ thì thầy pháp (người Chăm gọi là phó cả sư) phải làm lễ quấn khăn bịt đầu và tẩy uếbản thân và làm lễ báo với thần linh về việc làm lễ chiêu hồn cho người mất
Các vật chuẩn bị làm hình nhân không phải là đất sét, trứng gà, cành dâu nhưnhững hình nhân ở Lý Sơn mà bao gồm: một thúng gạo, vỏ một quả dừa khô, bột gạomàu, lá mít và một miếng chì để ghi tên tuổi người đã chết Người ta tạo đầu củangười chết trước tiên bằng cách lấy vỏ trái dừa khô để làm đầu người, phía đầu tráidừa khô có ba lỗ tạo thành hình tam giác đều, người ta vẽ khoanh hai lỗ làm mắt, đầuchóp nhọn của quả dừa làm mũi, còn một lỗ dưới vẽ miệng Tiếp đó còn phải làm “lễcho ăn” gội đầu, chải tóc cho chiếc đầu của người chét, phủ một chiếc khăn lên tránqua đầu của người đã mất Rồi làm lễ cúng tuấn cho “cái đầu” Và dùng gạo để làmthân hình Ông thầy đọc câu thần chú rồi trải chiếc chiếu tục Chăm (chiêu pang), trảimột tấm vải liệm màu trắng cũng theo hướng đông - tây lên trên để làm phép tạo thânhình Bên cạnh ông lúc nào cũng có cây gậy thần (cài môn) Trước hết, ông cầm nắm
8 Người chết là chị Thập Thị Tâm, nhà ông Lại Xuân Điềm, thôn Bình Nghĩa, xã Phương Hải, huyện Ninh Hải tinh Ninh Thuận.Tham khảo thêm hài: Lễ chiêu hồn nhập cốt người Chăm, hlog Pham Quốc Anh:
http://phanquocanh.vnweblogs.com/post/5609/64524'
Trang 39bông lức nhúng vào khay nước rồi vẩy ra phía trước, vừa vẩy vừa đọc thần chú khấnvái thần linh Ông múc một bát gạo từ trong thúng, hơ lên khói trầm, đọc thần chú rồibốc các nắm gạo bỏ vào bốn góc trên tấm vải, một nắm gạo bỏ vào giữa Sau khi đọcthần chú, ông đổ hét bát gạo to vào, lấy tay san gạo thành một mặt phẳng hình tròn và
vẽ bùa Ornean lên Và ông cầm cây gậy thần đọc thần chú và trải chín lá mít lên mặtgạo Trên mỗi lá mít ông bỏ một cục cơm và cắm vào mỗi nắm cơm một chiếc quenhỏ như chiếc tăm, trên đầu tăm đều có cuốn bông gòn ở phía đầu lá mít có cắmnhững bông hoa lức (tà chạ) Mỗi lần trước khi làm các thủ tục, ông thầy luôn lấy bàntay trái ấp vào ngực phải, tay phải lấy rượu nhỏ vài giọt lên gạo, bứt các bông lức, bốchạt nổ ném lên gạo rồi cầm một chùm hoa nhỏ nhúng vào nước, vẩy lên mặt gạo vàkhay lửa trầm Trong khi ông làm những động tác đó, miệng ông luôn khấn vái và đọcthần chú Ông thầy giải thích rằng lá mít tượng trưng cho phần da, cơm tượng trưngcho phần thịt, cây tăm cuốn bông gòn tượng trưng cho phần lông mao con người Ôngthầy vừa đọc thần chú vừa bốc một nắm gạo bỏ phía sau chiếc đầu, lấy gậy thần yểmbùa, rồi bỏ xung quanh đầu Tiếp theo ông đổ cả thúng gạo (khoảng 3kg) lên mặt tấmvải, phủ gạo cho bằng theo hình người nằm ngửa, có hai tay, hai chân Ông dùng ngóntay chấm lên hai bên ngực làm vú, một chấm phía dưới làm bộ phận sinh dục, dùng cảbàn tay úp xuống để làm hình năm ngón tay năm ngón chân Kế đó, ông dùng bột gạo
đã nhuộm màu rải thành những đường thẳng dài lên khắp thân hình Cả thảy bột gạo
có bốn màu: vàng, đỏ, trắng và đen Ông giải thích rằng đó là bốn loại máu toong cơthể người Tạo hình hài xong, ông thầy đứng dậy, tay cầm chiếc gậy thần khấn vái làmnghi thức gọi và nhập hồn, mời Yang Pôi Nưgar về nhập hồn vào xác cho người chết.Chỉ có Yang Pôi Nưgar (thần mẫu, mẹ xứ sở) mới có thể nhập được hồn vào xácđược Đen đây, nghi thức nhập hồn cho người chét đã xong Tiếp theo là lễ tang “mộtthầy” Lễ tang một thầy là lễ tang nhỏ, chỉ do một thầy pà xé làm Sở dĩ người chétnày chỉ được làm lễ tang “một thầy” vì đã là mất hài cốt thì bị liệt vào loại “chét xấu”
Người chết được tạo hình hài và lễ nhập hồn xong coi như là một thi hài nêncũng làm đầy đủ các thủ tục khâm liệm Trước hét là thủ tục tắm rửa (chỉ là tượngtrưng nhưng cũng đủ thủ tục cho người chết) Sau đó hình hài người chết được mặcquần áo và bó lại bằng chiếc chăn màu trắng rồi lấy vải trắng phủ lên và thực hiện cácnghi lễ chôn cất, táng lễ
Trang 403 4
Nghi thức chôn hoặc hoả táng đối với “thi hài” người chết đã được chiêu hồnnhập cốt làm đơn giản hơn rất nhiều so với những hình thức tang ma của người ChămBàlamôn Người Chăm Bàlamôn chôn người không có quan tài, chỉ bọc xác bằng vải
bỏ xuống hố chôn cùng với đồ đạc cho người chết Sau khi chôn vào khu nghĩa địadòng họ, người ta đắp một cái mả nhưng rất thấp Những ngôi mả này chỉ tâm khi cóngười thân đã khuất nhưng không tìm thấy hài cốt Lễ “chiêu hồn” vừa biểu hiện tráchnhiệm với những người chết mất mộ, vừa là một “biện pháp tâm lý” đối với ngườithân đang sống Đối với người Việt, dù đã làm lễ chiêu hồn nhập cốt đối với nhữngngười chết mất xác hoặc lễ truy điệu đối với các liệt sỹ đã hy sinh và mất mộ nơi chiếntrường, toong tâm vẫn cảm thấy chưa làm tròn trách nhiệm đối với người đã khuất.Còn người Chăm, sau khi làm xong lễ chiêu hồn nhập cốt và các lễ thức tang ma chođến khi nhập kút, linh hồn người chét coi như đã được giải thoát, nhập vào dòng chảyvòng tròn luân hồi vô cùng vô tận
Như vậy, có thể thấy cùng một nghi lễ chiêu hồn nhập cốt, ở mỗi địa phươngđều có một cách làmkhác nhau, tùy theo văn hóa, đặc trưng của từng vùng Nhưng dùlàm cách nào thì cũng đều với mong muốn, an ủi cho linh hồn người xấu số và ngườithân trong gia đình Đưa linh hồn người chết trở về với gia đình, với họ hàng, làngxóm Để mọi người yên tâm làm ăn
2.7.3 Người nặn hình nhân thế mạng cho ngư dân mất tích
Ven biển Việt Nam có tới hàng vạn ngôi làng mà dân cư làm nghề chài lưới.Thế nhưng, không ở đâu có những ngôi mộ gió nhiều và đặc biệt như ở Lý Sơn Trênđảo cũng chỉ có gia đình ông Võ Văn Toại ở thôn Đông, xã An Vĩnh làm nghề nặnhình nhân bằng đất sét thay cho thân xác những ngư dân xấu số Đen ông Toại là đờithứ 8 của dòng họ Võ ở đảo Lý Sơn làm công việc nặn hình nhân này Họ Võ là mộttrong 7 tộc họ lớn của đảo Lý Sơn Võ Văn Khiết từng làm cai đội, dẫn quân ra Hoàng
Sa cắm mốc chủ quyền cách nay hơn 200 năm
Dòng họ Võ ở thôn Đông này làm hai nghề chính là toong hành tỏi và đi biển.Thế nhưng, “nhánh” Võ nhà ông Toại lại rẽ sang một “nghề” ít ai chọn - nghề nặnhình nhân Ngay cả 6 người con của ông Toại thì chỉ có một người theo nghiệp cha -anh Võ Nhành, 41 tuổi
Trước thời ông Toại, trên đảo cũng có mấy người có khả năng nặn hình nhân,