PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, cả thế giới đang hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Vừa phát triển kinh tế hiện đại song song với bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, cùng với sự đi lên về kinh tế thì vấn đề môi trường đang trở thành vấn nạn, thách thức và cần cả thế giới chung tay bảo vệ. Ai cũng có thể thấy rằng chất lượng môi trường càng ngày càng đi xuống với sự biến đổi khí hậu mang tính chất toàn cầu, tầng ozon bị phá hủy, các tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt,diện tích sa mạc tăng lên,...nhưng không phải ai cũng nhận thấy mình đang trực tiếp hoặc gián tiếp tàn phá mầm sống của chính mình. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây chính sách phát triển kinh tế xã hội và định hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của đảng và nhà nước đã tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các làng nghề, nhiều làng nghề được khôi phục và nhiều làng nghề mới được ra đời. Điều này góp phần đổi mới bộ mặt nông thôn và đem lại đóng góp lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Do tính chất linh hoạt trong sản xuất, quy mô sản xuất nhỏ, sản phẩm đa dạng và luôn thay đổi theo nhu cầu thị trường, các làng nghề đang là bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế và được chú trọng trong các định hướng phát triển kinh tế thị trường. Làng nghề sơn mài Hạ Thái (xã Duyên Thái Thường Tín Hà Nội) có lịch sử hơn 200 năm. Hạ Thái có đến 60% hộ dân làm nghề truyền thống, đóng góp 75% tổng thu nhập của xã Duyên Thái, được Thành phố quy hoạch là 1 trong 6 điểm làng nghề gắn với du lịch. . đến nay sản phẩm của Hạ Thái đang dần khẳng định được vị trí và chỗ đứng trong nền kinh tế nhờ thương hiệu và chất lượng sản phẩm cao. Tuy nhiên mặt trái của sự phát triển này là ngòai một số rất cơ sở sản xuất lớn chuyển ra ngoài vùng quy hoạch 12 ha tuân thủ các quy định về đảm bảo về sinh môi trường, đa số các hộ, các cơ sở sản xuất còn lại với quy mô nhỏ lẻ xen lẫn với các khu dân cư, thiếu vốn, cơ sở vật chất nghèo nàn, chắp vá, thiếu đồng bộ, cùng với đó là sự đầu tư cho việc xây dựng các hệ thống cơ sở hạ tầng rất ít được quan tâm. 20,21 Xuất phát từ những lí do trên, nhằm đánh giá được mức độ ô nhiễm hiện tại đồng thời đề xuất các biện pháp khắc phục và quản lí ô nhiễm tại làng nghề nên tôi thực hiện đề tài “ Đánh giá chất lượng môi trường làng nghề sơn mài Hạ Thái xã Duyên Thái Thường Tín Hà Nội”
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG
LÀNG NGHỀ SƠN MÀI HẠ THÁI - XÃ DUYÊN THÁI
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG
LÀNG NGHỀ SƠN MÀI HẠ THÁI - XÃ DUYÊN THÁI
THƯỜNG TÍN - HÀ NỘI
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ KIM DUNG
Chuyên ngành đào tạo : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : TS NGUYỄN THANH LÂM
Địa điểm thực tập : LÀNG NGHỀ HẠ THÁI – XÃ DUYÊN
THÁI THƯỢNG TÍN – HÀ NỘI
Trang 3Hà Nội – Năm 2015
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận do chính tôi thực hiện, được nghiên cứu độclập Các số liệu thu thập được là các tài liệu được sự cho phép công bố của cácđơn vị cung cấp số liệu, các tài liệu tham khảo đều có nguồn gốc rõ ràng Cáckết quả được nêu trong bài hoàn toàn trung thực và chưa từng công bố trong bất
kỳ tài liệu nào
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2015
Sinh viên Nguyễn Thị Kim Dung
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện khóa luận này em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ,quan tâm, tạo điều kiện từ mọi phía Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn sâu sắc đến:Thầy giáo TS Nguyễn Thanh Lâm, giảng viên khoa Môi trường- bộ mônQuản lý Môi trường trường học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tận tình chỉ bảo,hướng dẫn tôi trong quá trình lựa chọn, triển khai thực hiện đề tài để hoàn thànhkhóa luận một cá tốt nhất
Xin gửi lời cảm ơn tới các nghệ nhân, nhân dân trong làng nghề thủ công mỹnghệ Sơn mài Hạ Thái đã không ngần ngại bớt chút thời gian chia sẻ ý kiến, cungcấp thông tin, số liệu cần thiết góp phần quan trọng để tôi hoàn thành khóa luận.Xin cảm ơn chân thành tới các cán bộ của UBND xã Duyên Thái, cán bộquản lý làng nghề Hạ Thái đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp các số liệu trong quátrình làm khóa luận
Xin gửi lời cảm ơn tới các chú, các anh chị cán bộ phòng Tài nguyên vàMôi trường huyện Thường Tín đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp số liệu quantrọng để tooi có thể hoàn thành bài khóa luận này
Xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới gia đình đã luôn động viên, nuôi nấng tôihọc tập trong suốt những năm qua
Xin gửi lời cảm ơn tới các bạn bè đã động viên, giúp đỡ em nhiệt tình trongquá trình làm khóa luận
Trong quá trình làm khóa luận do điều kiện về thời gian, tài chính và trình
độ còn hạn chế vì vậy không thể tránh khỏi những sai sót Vì vậy tôi rất mongnhận được ý kiến đóng góp của thầy cô để bài khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2015
Sinh viên Nguyễn Thị Kim Dung
Trang 6MỤC LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Nguyên liệu sử dụng cho quá trình sản xuất sơn mài 33
Bảng4.2: Thành phần rác thải và nguồn gốc phát sinh: 36
Bảng 4.3: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt trên địa bàn làng nghề 42
Bảng 4.4: Kết quả phân tích nước ngầm tại làng nghề 45
Bảng 4.5: Kết quả phân tích mẫu không khí xung quanh làng nghề 48
Bảng 4.6: Kết quả phân tích môi trường không khí tại các CSSX của làng nghề 50
Bảng 4.7 Thống kê tình hình sức khỏe tại làng nghề (N=70) 57
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Quy trình sơn mài với các công đoạn chính 4
Hình 4.1: bản đồ xã Duyên Thái 28
Hình 4.2: Sơ đồ công nghệ kèm dòng thải 34
Hình 4.3: Sơ đồ thu gom rác tại làng nghề 37
Hình 4.4: Gía trị COD trong môi trường nước mặt tại làng nghề 42
Hình 4.5: Hàm lượng SS và TS trong môi trường nước mặt của làng nghề 43
Hình 4.6: Hàm lượng độ cứng trong nước ngầm 45
Hình 4.7: Hàm lượng bụi và SO2 tại môi trường không khí xung quanh làng nghề 48
Hình 4.8 Hàm lượng Benzen trong không khí xung quanh tại làng nghề 49
Hình 4.9 Hàm lượng TSP và SO2 tại môi trường sản xuất của làng nghề 51
Hình 4.10 Hàm lượng Benzen tại môi trường sản xuất của làng nghề 51
Hình 4.11: Biểu đồ những bệnh thường gặp ở làng nghề 57
Trang 10PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, cả thế giới đang hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Vừaphát triển kinh tế hiện đại song song với bảo vệ môi trường Tuy nhiên, cùng với
sự đi lên về kinh tế thì vấn đề môi trường đang trở thành vấn nạn, thách thức vàcần cả thế giới chung tay bảo vệ Ai cũng có thể thấy rằng chất lượng môitrường càng ngày càng đi xuống với sự biến đổi khí hậu mang tính chất toàncầu, tầng ozon bị phá hủy, các tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt,diện tích samạc tăng lên, nhưng không phải ai cũng nhận thấy mình đang trực tiếp hoặcgián tiếp tàn phá mầm sống của chính mình
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây chính sách phát triển kinh tế- xãhội và định hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn củađảng và nhà nước đã tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các làng nghề,nhiều làng nghề được khôi phục và nhiều làng nghề mới được ra đời Điều nàygóp phần đổi mới bộ mặt nông thôn và đem lại đóng góp lớn cho nền kinh tếViệt Nam
Do tính chất linh hoạt trong sản xuất, quy mô sản xuất nhỏ, sản phẩm đadạng và luôn thay đổi theo nhu cầu thị trường, các làng nghề đang là bộ phậnquan trọng cấu thành nền kinh tế và được chú trọng trong các định hướng pháttriển kinh tế thị trường
Làng nghề sơn mài Hạ Thái (xã Duyên Thái- Thường Tín- Hà Nội) có lịch
sử hơn 200 năm Hạ Thái có đến 60% hộ dân làm nghề truyền thống, đóng góp75% tổng thu nhập của xã Duyên Thái, được Thành phố quy hoạch là 1 trong 6điểm làng nghề gắn với du lịch đến nay sản phẩm của Hạ Thái đang dần khẳngđịnh được vị trí và chỗ đứng trong nền kinh tế nhờ thương hiệu và chất lượngsản phẩm cao Tuy nhiên mặt trái của sự phát triển này là ngòai một số rất cơ sởsản xuất lớn chuyển ra ngoài vùng quy hoạch 12 ha tuân thủ các quy định vềđảm bảo về sinh môi trường, đa số các hộ, các cơ sở sản xuất còn lại với quy mô
Trang 11nhỏ lẻ xen lẫn với các khu dân cư, thiếu vốn, cơ sở vật chất nghèo nàn, chắp vá,thiếu đồng bộ, cùng với đó là sự đầu tư cho việc xây dựng các hệ thống cơ sở hạtầng rất ít được quan tâm [20,21]
Xuất phát từ những lí do trên, nhằm đánh giá được mức độ ô nhiễm hiệntại đồng thời đề xuất các biện pháp khắc phục và quản lí ô nhiễm tại làng nghề
nên tôi thực hiện đề tài “ Đánh giá chất lượng môi trường làng nghề sơn mài
Hạ Thái - xã Duyên Thái- Thường Tín- Hà Nội”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá hiện trạng môi trường và hệ thống quản lí môi trường làng nghề
Hạ Thái- xã Duyên Thái- Thường Tín- Hà Nội nhằm đề xuất các giải pháp quản
lí môi trường
Trang 12Phần II TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 ĐẶC ĐIỂM LÀNG NGHỀ SƠN MÀI
Nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam đã xuất hiện, tồn tại và phát triểnkhá lâu đời Rất nhiều nghề thủ công của ta đã trở nên nổi tiếng, nhất là các nghềthủ công mỹ nghệ Ngành nghề truyền thống và sản phẩm của nó tạo nên bảnsắc riêng của mỗi ngành kinh tế Kế thừa, giữ gìn và phát triển nâng cao phẩmchất về kỹ thuật và mỹ thuật cho ngành nghề truyền thống có ý nghĩa cả về kinh
tế và văn hóa Tại Việt Nam, những làng nghề truyền thống đã tồn tại hàng trămnăm với nhiều loại sản phẩm nổi tiếng bởi tính độc đáo và độ tinh xảo cao.Trong đó sơn mài từ lâu đã được xem như một trong những truyền thống tiêubiểu đậm nét văn hóa Việt Nam được giới mỹ thuật thế giới biết đến
Sơn mài được coi là một trong những chất liệu hội họa ở Việt Nam Đây là
sự tìm tòi và phát triển kỹ thuật của nghề sơn thủ công truyền thống thành kỹ thuậtsơn mài Kỹ thuật mài là điểm khác biệt lớn nhất giữa đồ thủ công mỹ nghệ vàtranh sơn mài Việt Nam Ở nước ta có nhiều làng nghề sơn mài truyền thống, có bềdày lịch sử lâu đời như làng nghề sơn mài truyền thống Huế( các làng Triều Sơn,Địa Linh, Tiên Nộn), làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp( thị xã Thủ Dầu Một-tỉnh Bình Dương), làng nghề Cát Đằng( huyện Ý Yên- tỉnh Nam Định), làng nghềsơn mài Hạ Thái( Duyên Thái- Thường Tín- Hà Nội), [23]
Khi mới ra đời sơn mài chỉ có 3 màu là sơn then( sơn đen), sơn son( sơn đỏ),sơn cánh gián( màu vàng nâu) Ngày nay các nghệ nhân sơn mài đã phát hiện ranhiều màu sơn mới với các sắc độ khác nhau, lộng lẫy mà đằm thắm [23]
Chất liệu chính của sơn mài là gỗ, tre, nứa, song, mây, gần đây có thêm cácchất liệu mới như composite, gốm sứ… càng tạo nên sự độc đáo cho sản phẩm Cóthể nói công nghệ sơn mài có nguyên lý chung nhưng khác biệt trong kinh nghiệmcủa từng cá nhân nên mỗi làng nghề sơn mài đều có những sản phẩm mang nét đặctrưng, độc đáo riêng nhờ “bí quyết” các tổ nghề truyền lại.[23]
Trang 13Quy trình sơn mài chung tại các làng nghề sơn mài ở Việt Nam bao gồm 3công đoạn chính như sau:
Hình 2.1: Quy trình sơn mài với các công đoạn chính
Để bó hom vóc, trước kia các nghệ nhân dùng đất phù sa (hoặc bột đá)trộn với sơn ta giã nhuyễn cùng giấy bản rồi hom, chít các vết rạn nứt của sảnphẩm, còn ngày nay người ta sử dụng sơn công nghiệp trộn với đất phù sa( hoặcbột đá) Mỗi lớp sơn lại lót một lớp giấy bả hoặc vải màn Nếu là sản xuất tranhsơn dầu thì các nghệ nhân còn phải đục mộng mang cá để cài và gắn sơn cho cácnẹp gỗ ngang ở sau tấm gỗ nhằm chống các vết rạn Sau đó, để gỗ khô kiệt mớihom sơn kín cả mặt trước, mặt sau Công đoạn này chủ yếu để bảo vệ sản phẩmkhông bị mối mọt, không thấm nước và không bị co lại do tác động của môitrường [23]
Mài và đánh bóng
màiĐánh bóng, phủ bóng
Trang 14Khi có được sản phẩm nói trên, các nghệ nhân tiến hành trang trí bằngcách gắn, dán các chất liệu tạo mầu như vỏ trứng, mảnh xà cừ, vàng, bạc…,sau
đó phủ sơn rồi mài phẳng Sơn mài có những điểm khác lạ như: muốn làm khôlớp sơn vừa vẽ, sản phẩm phải được ủ trong tủ kín gió và có độ ẩm cao, muốnnhìn thấy họa tiết trang trí phải mài mòn đi mới thấy Công đoạn cuối cùng làđánh bóng vì sản phẩm sơn mài không được phép phủ dầu bóng Sự thành côngcủa một sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào công đoạn này Có một số thứ đượcdùng để mài và đánh bóng như: than củi xoan nghiền nhỏ, tóc rối, đá gan gà…Bên cạnh đó, để sản phẩm có được màu sắc tươi tắn, một công đoạn khác có tínhquyết định là công đoạn pha sơn Mỗi gia đình, mỗi cơ sở sản xuất có một bíquyết pha sơn riêng Công đoạn này đòi hỏi người thợ sơn phải có kinh nghiệm
từ khâu nấu sơn, cô sơn đặc cho đến khâu thử sơn chín Hiện nay, làng nghề HạThái đã áp dụng nhiều kỹ thuật hiện đại vào việc pha chế, thay đổi công đoạnphủ sơn, tạo cho sản phẩm có độ bóng, bền, đẹp Mỗi sản phẩm sơn mài phải có
từ 15 đến 16 lớp.[23]
Người ta thường lưu ý rằng sơn mài có những điểm "ngược đời": muốnlớp sơn vừa vẽ khô, tranh phải ủ trong tủ ủ kín gió và có độ ẩm cao Muốn nhìnthấy tranh lại phải mài mòn đi mới thấy hình Hầu hết họa sĩ đồng ý rằng: kỹthuật vẽ sơn mài khó và có tính ngẫu nhiên nên nhiều khi các họa sĩ dày dặnkinh nghiệm cũng bất ngờ trước một hiệu quả đạt được sau khi mài tranh
Sản phẩm sơn mài Việt Nam nói chung và sơn mài Hạ Thái nói riêng đãđược trưng bày tại nhiều hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ trong và ngoài nước.Bên cạnh những sản phẩm sơn mài truyền thống như tranh sơn mài, hoành phihay câu đối, các nghệ nhân còn tạo ra nhiều sản phẩm hấp dẫn, đáp ứng nhu cầucủa du khách trong và ngoài nước như: bát, đĩa, lọ hoa, khay, bàn ghế, giườngtủ Đặc biệt, gốm sơn mài Hạ Thái hiện đang là mặt hàng được ưa chuộng tạinhiều nước trên thế giới như: Anh, Pháp, Nga , Mỹ, Tây Ban Nha, Australia, Ý,Nhật Bản, Hàn Quốc.[17,18]
Trang 152.2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TẠI LÀNG NGHỀ SƠN MÀI
2.2.1 Nguồn gây ô nhiễm môi trường tại làng nghề sơn mài
Sản phẩm sơn mài ngày càng được ưa chuộng tại thị trường trong nướccũng như quốc tế, do đó càng làng nghề Sơn mài truyền thống ngày càng theo
đà phát triển và đóng góp phần lớn vào kinh tế của địa phương cũng như đónggóp một phần vào diện mạo văn hóa quốc gia Tuy nhiên bên cạnh đó vấn đề
ô nhiễm môi trường tại các làng nghề Sơn Mài trong những năm gần đâyngày càng tăng do sản xuất phát triển không đồng bộ với hệ thống xử lý chấtthải nhìn chung vẫn chưa được quan tâm đầu tư xây dựng và kéo theo nhiều
hệ lụy về sức khỏe
Nguồn gây ô nhiễm chủ yếu do hoạt động sản xuất sơn mài Từ việc sửdụng nguyên nhiên liệu có độc tính cao, như sơn các loại, máy móc trang thiết bịcòn thô sơ, quy trình sản xuất có nhiều khâu gây phát sinh ô nhiễm[10,19]:
- Nước thải sản xuất Sơn mài chứa các chất ô nhiễm do quá trình pha sơn,làm đất phù sa, mài nước, nhuộm, nhúng bóng sản phẩm với hàm lượng cặncao, dung môi, dầu bóng,
- Ô nhiễm đất: cặn mài do nước sơn mài thải ra đổ chảy tràn, phế thải hữu
cơ vứt bừa bãi, do nước thải ngấm xuống đất,
- Ô nhiễm không khí: bụi mài, hơi xăng, tiếng ồn và dung môi hữu cơ tạicác xưởng sản xuất
Nguồn gây ô nhiễm do hoạt động sinh hoạt, giao thông vận tải: Sản xuấtphát triển kéo theo cơ sở hạ tầng phát triển hơn, mật độ các phương tiện giaothông tăng cao, ngoài người dân tại các làng nghề còn có người từ nơi khác tớilưu trú để làm việc và giao thương buôn bán Do đó các hộ dân tại đây trong quátrình sinh hoạt gia đình, còn phát sinh một lượng lớn rác thải, nước thải chứahàm lượng chất hữu cơ cao, hoạt động giao thông đi lại của người dân cũng gópphần làm ô nhiễm không khí do bụi và khói [10,19]
Trang 16Nguồn gây ô nhiễm do hoạt động chăn nuôi, buôn bán: Mặc dù chủ yếungười dân sinh sống bằng hoạt động sản xuất sơn mài nhưng có một số hộkhông làm nghề, do đó hoạt động chăn nuôi, buôn bán cũng là một trong nhữngnguyên nhân gây ô nhiễm tại các làng nghề này Nước thải, phế thải chăn nuôichưa qua xử lí và rác thải từ các khu chợ tập trung với số lượng lớn hầu hếtkhông được thu gom ngay gây mùi hôi thối khó chịu.[10,19]
2.2.2 Chất lượng môi trường đất, nước, không khí tại làng nghề sơn mài
Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, chất thải phát sinh tại cáclàng nghề đã và đang gây ô nhiễm và làm suy thoái môi trường nghiêm trọng Ônhiễm môi trường tại các làng nghề mang đậm nét đặc thù của hoạt động sảnxuất theo ngành nghề và loại hình sản phẩm, tác động trực tiếp tới chất lượngmôi trường đất, nước, không khí trong khu vực cũng như sức khỏe người dân
Chất lượng môi trường nước: Nước thải sản xuất sơn mài chứa bụi màinhỏ mịn làm tăng hàm lượng cặn Nước thải từ quá trình nhuộm và nhúng bóngsản phẩm chứa nhiều chất gây ô nhiễm như dung môi, dầu bóng, dư lượng cáchóa chất nhuộm… Hàm lượng COD và BOD5 trong nước thải của làng nghềvượt tiêu chuẩn cho phép từ 2-5 lần và 5,5-8,5 lần.[1]
Chất lượng môi trường đất: môi trường đất tại các làng nghề nói chung bị
ô nhiễm do chất thải rắn thải ra bừa bãi, ngoài ra còn do các phế thải hữu cơ vànước thải ngấm xuống đất gây ô nhiễm Trong quá trình sản xuất, làng nghề thải
ra một lượng lớn chất thải rắn như xỉ than, phế liệu, cặn hóa chất… Mặc dù đã
có đội ngũ chuyên thu gom rác thải, nhưng với phương tiện còn thô sơ nên chưagiải quyết được dứt điểm những bức xúc về việc tràn lan chất thải ở các khu vựcdân cư [1]
Chất lượng môi trường không khí: Ô nhiễm môi trường không khí tại cáclàng nghề hầu hết có nguồn gốc chủ yếu do đốt nhiên liệu và sử dụng nguyênvật liệu, hóa chất trong dây chuyền sản xuất Than là nhiên liệu chính được sửdụng phổ biến và thường là than chất lượng thấp Do đó khí thải ở các làng nghề
Trang 17thường chứa nhiều thành phần ô nhiễm không khí như: bụi, CO2, CO, NOX, chấthữu cơ bay hơi, Nồng độ bụi mài, hơi xăng và dung môi hữu cơ đo được tạicác xưởng sản xuất cao gấp nhiều lần so với quy định của Tổng cục Tiêu chuẩn
đo lường chất lượng (Bộ Khoa học và Công nghệ) Trong thành phần của cácdung môi pha sơn có các chất gây ung thư, giảm trí nhớ, giảm thị lực và đặc biệt
là các bệnh liên quan đến đường hô hấp Chất lượng môi trường không khí xungquanh các xưởng sản xuất của làng nghề sơn mài cho thấy có hàm lượng bụivượt quá tiêu chuẩn cho phép, bụi PM10 từ 3,35 - 3,8 lần, bụi TSP vượt TCCP2,04 lần[1]
2.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
2.3.1 Khái niệm chung về chất lượng môi trường
Theo Ðiều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên."
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoáhọc, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tácđộng của con người Ðó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động,thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xâydựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyênkhoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chấtthải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêmphong phú.[11]
- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Ðó lànhững luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như:Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ
Trang 18tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xãhội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nênsức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con ngườikhác với các sinh vật khác.
- Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất
cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống,như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cầnthiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên,không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội [11]
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉbao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộcsống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo,bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường,
tổ chức xã hội như Ðoàn, Ðội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm vớinhững quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận,thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư,quy định.[11]
Chất lượng môi trường là một tập hợp các thuộc tính và đặc điểm của môitrường, hoặc khái quát hoặc địa phương, khi họ đụng chạm đến con người vàcác sinh vật khác Nó là điều kiện của một môi trường tương đối so với các yêucầu của một hoặc nhiều loài và hoặc với bất kỳ nhu cầu hay mục đích của conngười [11]
Chất lượng môi trường là một thuật ngữ chung mà có thể tham khảo đểthay đổi đặc điểm có liên quan đến môi trường tự nhiên cũng như môi trườngxây dựng, chẳng hạn như không khí và độ tinh khiết nước hoặc ô nhiễm, tiếng
ồn và các tác động tiềm năng và tác động có thể có đối với sức khỏe thể chất vàtinh thần [12]
Trang 192.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường làng nghề Sơn Mài
Để đánh giá chất lượng môi trường, hiện nay thực hiện đánh giá dựatheo những chỉ tiêu đã được quy định trong tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trườnghiện hành
Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quyđịnh dùng làm căn cứ để quản lý môi trường Để đánh giá được chất lượng môitrường phải dựa vào các chỉ tiêu môi trường đo đạc được và so sánh với tiêuchuẩn môi trường đã quy định
Dựa vào đặc tính của nghề sản xuất sơn mài, quy trình sản xuất với nhữngnguyên nhiên liệu và hóa chất được sử dụng ta có:
* Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước:[6,10]
- Chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước mặt như: pH, độ màu, dầu mỡ, TS,
SS, COD, BOD5, DO, NO3-, NH4+, PO43-, Tổng coliform
- Chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước ngầm: Độ cứng, pH, COD, NH4+ (tính theo N), NO3-(tính theo N), Fe, Mn, SS, Coliform
- chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước thải: chất rắn lơ lửng, pH, COD, BOD5,
Cu, Pb, Mn, As
- Ý nghĩa các chỉ tiêu này trong nước:[10, 20]
+ DO: hàm lượng DO trong nước phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như ápsuất, nhiệt độ, thành phần hóa học của nguồn nước, số lượng vi sinh, thủy sinhvật, hàm lượng DO là một chỉ số đánh giá tình trạng của nguồn nước
Hàm lượng DO có quan hệ mật thiết đến các thông số COD và BOD củanguồn nước Nếu trong nước hàm lượng DO cao, các quá trình phân hủy cácchất hữu cơ sẽ phân hủy hiếu khí, còn nếu hàm lượng DO thấp, thậm chí khôngcòn thì quá trình phân hủy các chất hữu cơ sẽ theo chiều hướng yếm khí Nếuhàm lượng DO quá thấp, hoặc không còn, nước sẽ có mùi và trở nên đen dotrong nước lúc này diễn ra chủ yếu là các quá trình phân hủy yếm khí, các sinhvật không thể sống được Khi DO xuống đến khoảng 4-5 mg/l, số sinh vật có thể
Trang 20sống trong nước giảm mạnh Vì vậy DO được sử dụng như một thông số đểđánh giá mức độ ô nhiễm hữu cơ của các nguồn nước DO có ý nghĩa lớn đốivới sự làm sạch của sông.
+ pH: Nguồn nước có pH > 7 thường chứa nhiều ion nhóm carbonate vàbicarbonate (do chảy qua nhiều tầng đất đá) Nguồn nước có pH < 7 thườngchứa nhiều ion gốc axit
Bằng chứng dễ thấy nhất liên quan giữa độ pH và sức khỏe của người sửdụng là nó làm hỏng men răng
pH của nước có liên quan đến tính ăn mòn thiết bị, đường ống dẫn nước
và dụng cụ chứa nước Đặc biệt, trong môi trường pH thấp, khả năng khửtrùng của Clo sẽ mạnh hơn Tuy nhiên, khi pH > 8,5 nếu trong nước có hợpchất hữu cơ thì việc khử trùng bằng Clo dễ tạo thành hợp chất trihalomethanegây ung thư
Theo tiêu chuẩn, pH của nước sử dụng cho sinh hoạt là 6,0 – 8,5 và củanước uống là 6,5 – 8,5
+ BOD5: Nhu cầu oxy sinh hóa là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật oxyhóa các chất hữu cơ trong một khoảng thời gian xác định và được ký hiệu bằngBOD được tính bằng mg/L Chỉ tiêu BOD phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ củanước thải BOD càng lớn thì nước thải (hoặc nước nguồn) bị ô nhiễm càng cao
và ngược lại
Thời gian cần thiết để các vi sinh vật oxy hóa hoàn toàn các chất hữu
cơ có thể kéo dài đến vài chục ngày tùy thuộc vào tính chất của nước thải,nhiệt độ và khả năng phân hủy các chất hữu cơ của hệ vi sinh vật trong nướcthải Để chuẩn hóa các số liệu người ta thường báo cáo kết quả dưới dạngBOD5 (BOD trong 5 ngày ở 20oC) Mức độ oxy hóa các chất hữu cơ khôngđều theo thời gian Thời gian đầu, quá trình oxy hóa xảy ra với cường độmạnh hơn và sau đó giảm dần
Trang 21+ COD: Chỉ tiêu BOD không phản ánh đầy đủ về lượng tổng các chất hữu
cơ trong nước thải, vì chưa tính đến các chất hữu cơ không bị oxy hóa bằngphương pháp sinh hóa và cũng chưa tính đến một phần chất hữu cơ tiêu hao đểtạo nên tế bào vi khuẩn mới Do đó để đánh giá một cách đầy đủ lượng oxy cầnthiết để oxy hóa tất cả các chất hữu cơ trong nước thải người ta sử dụng chỉ tiêunhu cầu oxy hóa học Để xác định chỉ tiêu này, người ta thường dùng potassiumdichromate (K2Cr2O7) để oxy hóa hoàn toàn các chất hữu cơ, sau đó dùngphương pháp phân tích định lượng và công thức để xác định hàm lượng COD.Chỉ số COD được sử dụng rộng rãi để gián tiếp đo khối lượng các hợp chất hữu
cơ có trong nước Phần lớn ứng dụng của COD xác định hàm lượng chất ônhiễm hữu cơ tìm thấy trong nước bề mặt làm cho COD là một phép đo hữu ích
về chất lượng nước
+ Coliform: Vi khuẩn Coliform (phổ biến là Escherichia Coli) thường có
trong hệ tiêu hóa của người Sự phát hiện vi khuẩn Coli cho thấy nguồn nước đã
có dấu hiệu ô nhiễm
Tiêu chuẩn nước uống và nước sạch đều quy định hàm lượng E Coliform bằng
0 Riêng Coliform tổng số trong nước sạch được cho phép 50 vi khuẩn / 100 ml
+ NH4+ (tính theo N), NO3-(tính theo N): đây là các dạng thường gặp trong nước củahợp chất Nitơ, là kết quả của quá trình phân hủy các chất hữu cơ hoặc do ônhiễm từ nước thải Trong nhóm này amoni gây độc nhiều nhất cho cá và cácloài thủy sinh Nitrit được hình thành từ phản ứng phân hủy Nitơ hữu cơ vàAmoni với sự tham gia của vi khuẩn, sau đó Nitrit sẽ được oxy hóa thành Nitrat.Ngoài ra nitrat còn có trong nguồn nước thải ra từ hoạt động sản xuất có sử dụnghóa chất, nước rỉ bãi rác và nước mưa chảy tràn Sự có mặt của hợp chất Nitotrong nước cho thấy dấu hiệu ô nhiễm nguồn nước
+ Độ màu: Nước nguyên chất không có màu, vì vậy màu sắc của nước
cho biết mức độ nhiễm bẩn của nước bởi các chất hữu cơ, ion vô cơ, hóa chấtnhuộm, Độ màu đánh giá phần nào mức độ ô nhiễm của nước
Trang 22+ Độ cứng: Độ cứng là đại lượng đo tổng các cation có trong nước, nhiềunhất là ion Canxi và Magie Nước mặt thường không có độ cứng cao như nướcngầm Tùy theo độ cứng của nước người ta chia thành các loại sau:
bị Theo tiêu chuẩn nước sạch, độ cứng được quy định nhỏ hơn 350mg/l, đốivới nước ăn uống độ cứng nhỏ hơn 300mg/l Tuy nhiên khi độ cứng vượt quá50mg/l trong các thiết bị đun nấu đã xuất hiện cặn trắng Trong thành phần của
độ cứng, Canxi và Magie là 2 yếu tố quan trọng thường được bổ sung cho cơ thểqua đường thức ăn
+ Sắt( Fe): Sắt ít tồn tại trong nguồn nước mặt do ion Fe(II) dễ bị oxy hóathành hydroxit Fe(III) Đối với nước ngầm trong điều kiện thiếu khí, Sắt thườngtồn tại ở dạng Fe2+ và hòa tan trong nước Trong trường hợp nguồn nước cónhiều chất hữu cơ, Sắt có thể tồn tại ở dạng keo rất khó xử lý Ngoài ra nước có
độ pH thấp sẽ gây nên hiện tượng ăn mòn đường ống và dụng cụ chứa, làm tănghàm lượng Sắt trong nước
Khi hàm lượng sắt trong nước cao sẽ làm cho nước có vị tanh, màu vàng,
độ đục và độ màu tăng nên khó sử dụng Tiêu chuẩn nước uống và nước sạchđều quy định hàm lượng Sắt nhỏ hơn 0,3mg/l
+ Mangan: Mangan thường tồn tại trong nước cùng với Sắt nhưng hàmlượng ít hơn Khi trong nước có Mangan thường tạo thành cặn màu đen và đóngbám vào thành, đáy bồn chứa
Trang 23Mangan có độc tính rất thấp và không gây ung thư Ở hàm lượng cao hơn0,15mg/l có thể tạo ra vị khó chịu, làm hoen ố quần áo Tiêu chuẩn nước uống
và nước sạch đều quy định hàm lượng Mangan nhỏ hơn 0,5mg/l
+ Asen: Do thấm qua nhiều tầng địa chất khác nhau nên nước ngầmthường chứa Asen nhiều hơn nước mặt Khi sử dụng nước bị nhiễm Asen có thểgây ung thư da và phổi Tiêu chuẩn nước sạch quy định hàm lượng Asen nhỏhơn 0,05mg/l Tiêu chuẩn nước uống quy định Asen nhỏ hơn 0,01mg/l
+ Đồng( Cu): Đồng không tích lũy trong cơ thể đến mức gây độc, ở hàmlượng 1-2 mg/l đã làm cho nước có vị khó chịu và không thể uống được khinồng độ cao từ 5-8mg/l Tiêu chuẩn nước uống và nước sạch đều quy định hàmlượng đồng nhỏ hơn 2mg/l
+ Chì(Pb): Trong nước tự nhiên chỉ phát hiện hàm lượng chì từ 0,8mg/l Tuy nhiên do ô nhiễm nước thải hoặc do hiện tượng ăn mòn đường ốngnên có thể phát hiện nồng độ Pb trong nước ở mức độ cao hơn, tiêu chuẩn nướcuống và nước sạch đều quy định hàm lượng Pb nhỏ hơn 0,01mg/l
0,4-*Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng không khí: độ ẩm, tốc độ gió, nhiệt độ,
độ ồn, bụi lơ lửng, CO, SO2 và Benzen
2.3.3 Các phương pháp tiếp cận nghiên cứu chất lượng môi trường tại các làng nghề Sơn Mài
2.3.3.1 Phương pháp lựa chọn điểm nghiên cứu
2.3.3.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích
Trang 242.4 Tình hình quản lí nhà nước về môi trường làng nghề Sơn Mài
2.4.1 Hệ thống ISO và QCVN về chất lượng môi trường
2.4.1.1 Hệ thống QCVN đã ban hành
- Căn cứ xây dựng TC/ QCVN:
Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm
chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường
và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chấtlượng và hiệu quả của các đối tượng này
Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện
áp dụng
- Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và
yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối
tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệsinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và
an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác
Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dướidạng văn bản để bắt buộc áp dụng
Quy chuẩn kỹ thuật môi trường được xây dựng trên cơ sở:
- Đáp ứng mục tiêu bảo vệ môi trường; phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái và
sự cố môi trường;
- Ban hành kịp thời, có tính khả thi, phù hợp với mức độ phát triển kinh tế
- xã hội, trình độ công nghệ của đất nước và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tếquốc tế;
- Phù hợp với đặc điểm của vùng, ngành, loại hình và công nghệ sản xuất,kinh doanh, dịch vụ
Quy chuẩn chất lượng môi trường được xây dựng nhằm phục vụ yêu cầuquản lý chất lượng môi trường xung quanh đảm bảo cuộc sống an toàn, làm căn
cứ để xác định mức độ ô nhiễm môi trường
Trang 25Điều 4 của Nghị định số 21/2008/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều củaNghị định số 80/2006/NĐ-CP quy định chuyển tiếp, rà soát, chuyển đổi tiêuchuẩn môi trường do Nhà nước công bố bắt buộc áp dụng thành quy chuẩn kỹthuật môi trường, gồm:
- Tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh chuyển đổi thành quychuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường xung quanh;
- Tiêu chuẩn về chất thải được chuyển đổi thành quy chuẩn kỹ thuật vềchất thải
2.4.1.2 Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng môi trường
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng môi trường xung quanh
Trang 26Luật môi trường năm 2005 là văn bản luật có giá trị pháp lý cao nhất trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường Trong đó, điều 38 quy định về vấn đề bảo vệ môitrường làng nghề và các điều khoản liên quan
TT46/2011/TT-BTNMT quy định về bảo vệ môi trường làng nghề Thông
tư bao gồm 4 chương, 19 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2012 Đây đượcxem như là “gậy” xử lý trách nhiệm của người gây ra ô nhiễm làng nghề Theo
đó, việc khắc phục ô nhiễm là trách nhiệm của người gây ra ô nhiễm Các cơ sởsản xuất trong làng nghề bắt buộc phải tuân thủ các quy định luật pháp về môitrường và chính quyền cấp xã có trách nhiệm đôn đốc việc thực hiện nội dungcủa công tác bảo vệ môi trường
Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Thủ tướng Chính phủ về
Phát triển ngành nghề nông thôn có đề cập tới vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề trong điều 7, điều 8 của nghị định Tuy nhiên chưa có quy định cụ thể và riêng biệt về bảo vệ môi trường tại các làng nghề
Trang 27Thông tư 113/ TT-BTC ngày 28/12/2006 của Bộ Tài chính về việc hướng
dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông
thôn theo Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006, trong đó có quy định
một trong các nội dung được hưởng hỗ trợ bao gồm “Đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng và xử lý môi trường cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn”
Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 do Thủ tướng Chính phủ
ban hành về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn
Thông tư số 116/2006/TT- BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số
66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn
Nhiều văn bản quy phạm pháp luật tuy không quy định cụ thể đối với làngnghề nhưng phạm vi điều chỉnh bao gồm cả đối tượng làng nghề, trong đó quan
trọng phải kể đến là: Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải; Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày
08/01/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2003/NĐ-CP ngày
13/06/2003 của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải; Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/12/2003 của liên Bộ Tài chính - Bộ TN&MT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải; Thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT/BTCBTNMT ngày 06/09/2007; Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 về quản lý chất thải rắn; Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số điều của Nghị định số 59/2007/NĐ-CP; Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ
về phí BVMT đối với chất thải rắn; Thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày
19/05/2008 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí BVMT đối với chất thải rắn; Thông tư số 12/2011/TT- BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ TN&MT quy định về quản lý chất thải nguy hại; Thông tư số 07/2007/TT-BTNMT ngày 03/07/2007 của Bộ TN&MT hướng dẫn
Trang 28phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường cần phải xử lý.Tuy nhiên, do các quy định không xét đến tính đặc thù riêng của làng nghề nên đếnnay, tại các làng nghề việc thu phí BVMT đối với chất thải, quản lý chất thải nguyhại,… không được thực hiện
Việc thực thi các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại cáclàng nghề ở Việt Nam hiện đang là vấn đề hết sức khó khăn đòi hỏi phải kết hợpnhiều yếu tố như: tuyên truyền, giáo dục để các chủ thể liên quan nhận thứcđược và nâng cao ý thức tự giác trong bảo vệ môi trường; thực hiện chức năng,vai trò quản lý nhà nước trong việc triển khai giám sát thực thi pháp luật bảo vệmôi trường tại làng nghề; vấn đề đầu tư vốn, phương tiện xử lý chất thải; việcxác định mức độ phạm vi và các chế tài xử phạt,
2.3.3 Các hình thức quản lý môi trường làng nghề Sơn Mài tại Việt Nam
2.4.3.1 Khái niệm hình thức quản lý môi trường
Là các phương sách trong quản lý môi trường nhằm đem lại những lợi ích
to lớn cho con người, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia
Hiện nay chưa có hình thức quản lý môi trường riêng cho từng ngànhnghề cụ thể Ở Việt Nam, hiện nay đã có các quy định về quản lý môi trườngdành riêng cho quản lý môi trường chung tại các làng nghề mặc dù chưa đầy đủ
2.4.3.2 Các hình thức quản lý môi trường làng nghề [12]
2.4.3.2.1 Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là quản lý môi trường thông qua công cụ luật pháp,chính sách về môi trường trên phương diện quốc tế và quốc gia Trong phạm viquốc gia Việt Nam, luật môi trường năm 2005 và một số văn bản dưới luật Tuynhiên, quản lý nhà nước về môi trường làng nghề được thực thi tại các làng nghề
cụ thể chưa thực sự nghiêm túc và chưa có người quản lý đúng chuyên môn.Hiện nay tại các làng nghề mặc dù vấn đề ô nhiễm môi trường đang trở thànhvấn nạn nhưng hầu hết việc quản lý chỉ dừng lại ở mức độ quản lý hành chínhtrên giấy tờ Bên cạnh đó việc xử lý vi phạm gần như là không được thực hiện
Trang 29Thuận lợi và khó khăn của việc quản lý nhà nước về môi trường làng nghề:
Thuận lợi
- Có thể áp dụng các chế tài đã có sẵn trong các văn bản luật
- Quản lý môi trường trên phạm vi vĩ mô, có thể xin trợ giúp từ các cơ quancấp cao hơn khi gặp các vấn đề khó khăn
- Đánh giá được hiệu quả quản lý một cách tổng hợp
- Định hướng được mục tiêu, chương trình hành động
- Quản lý tại làng nghề có thể dễ dàng phát hiện các vấn đề môi trường và
vi phạm pháp luật về môi trường để kịp thời kiến nghị lên cơ quan cấp trên xử lý
và ngăn chặn
Khó khăn
- Người quản lý chưa thực sự được làm đúng trách nhiệm và chuyên môn,bên cạnh đó nhân sự cũng kiêm nhiều việc khác nhau nên sự giám sát chưa đượcchặt chẽ dẫn đến hiệu quả quản lý không cao, còn nhiều bất cập
- Việc quản lý nhà nước chủ yếu dựa trên công cụ luật pháp, các chế tàithực hiện cứng nhắc, chưa đồng bộ và phù hợp với nhu cầu của cộng đồng Dovậy vấp phải khó khăn từ phía người dân khi áp dụng vào thực hiện cho cáctrường hợp cụ thể
- Các hình thức xử phạt còn mang tính chiếu lệ, chưa đủ sức răn đe, ngănngừa
- Việc quản lý chưa thực sự mang lại hiệu quả đối với chất lượng cuộc sốngcủa người dân
- Do nhận thức về bảo vệ môi trường của lãnh đạo các cấp địa phương vàngười dân còn yếu kém, chưa đầy đủ, một số trường hợp vi phạm nhưng do nểnang hoặc ngại tố cáo nên không bị xử phạt gây nên tâm lý không sợ pháp luật
- Việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống tổ chức quản lý nhà nước
về môi trường còn chậm, chưa đồng bộ
Trang 30- Nguồn vốn đầu tư và chi thường xuyên cho bảo vệ môi trường chưa đápứng được yêu cầu Nhiều nơi chỉ quan tâm tới các chỉ tiêu về kinh tế, coi nhẹ cácyêu cầu bảo vệ môi trường, có biểu hiện buông lỏng công tác quản lý nhà nước,thiếu kiên quyết trong việc xử lý các vi phạm và chưa giải quyết dứt điểm cácđiểm nóng, bức xúc về môi trường.
- Điều kiện lao động của người dân làng nghề còn hạn chế rất nhiều như:diện tích chật hẹp, công nghệ và kỹ thuật ở làng nghề còn lạc hậu
2.4.3.2.2 Quản lý tư nhân
Quản lý tư nhân là hình thức quản lý thấp nhất về quy mô Trong đó, mỗi
cá thể là một chủ thể được giao trách nhiệm quản lý chất lượng môi trường ởmột khu vực trong một lĩnh vực nào đó Tại các làng nghề, quản lý tư nhân vềmôi trường tại các cơ sở sản xuất hầu hết không được chú trọng do ý thức vànhận thức chưa đầy đủ về lợi ích của môi trường cũng như hậu quả của việcmôi trường bị suy thoái, do lợi ích kinh tế trước mắt luôn được hầu hết cácchủ doanh nghiệp đặt lên hàng đầu, coi nhẹ công tác bảo vệ môi trường cònphổ biến
Trang 31PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Hiện trạng môi trường tại làng nghề sơn mài Hạ xã Duyên huyện Thường Tín- Hà Nội Tuy nhiên do hạn chế về thời gian, trình độ cũngnhư kinh phí nên đề tài chỉ thực hiện nghiên cứu tập trung về chất lượng môitrường nước và môi trường không khí trên địa bàn làng nghề
Thái-3.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi không gian: Làng nghề sơn mài Hạ Thái - xã Duyên Thường Tín- Hà Nội
Thái Phạm vi thời gian: 5 tháng( 5/1/2015Thái 5/5/2015)
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu đặc điểm sản xuất, kinh tế- xã hội và nguồn thải phát sinh tại
làng nghề Hạ Thái
- Đánh giá hiện trạng các thành phần môi trường đất, nước, không khí củalàng nghề Hạ Thái
- Đánh giá hiện trạng quản lí môi trường của làng nghề Hạ Thái
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý môi trường làng nghề Hạ Thái
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập từ các công trình nghiên cứu đã công bố và các số liệu thống kêcủa các cơ quan liên quan:
- Các thông tin liên quan tới hiện trạng môi trường làng nghề Hạ Thái
- Các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, của xã Duyên Thường Tín- Hà Nội
Thái Tình hình phát triển làng nghề trong những năm gần đây
Trang 32- Các vấn đề môi trường làng nghề chung
- Tình hình phát triển của làng nghề Hạ thái
- Thông tin y tế thống kê hàng năm của xã Duyên Thái
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Điều tra bằng bảng hỏi:
Do điều kiện thời gian và kinh phí nên tôi đã tiến hành điều tra 70 phỏngvấn các đối tượng như sau: cán bộ quản lí làng nghề: 1 phiếu; hộ sản xuất theoquy mô lớn, vừa, nhỏ: 50 phiếu; hộ không sản xuất: 20 phiếu với các loại phiếu
về phát sinh khí thải, nước thải và chất thải rắn Nhằm mục đích điều tra ảnhhưởng của sản xuất nghề tới sức khỏe cộng đồng làng nghề (dùng cho các hộ giađình, cá nhân sản xuất tại làng nghề ở xã Duyên Thái), sự đánh giá của ngườidân địa phương về vấn đề môi trường làng nghề Hạ Thái, lượng chất thải phátsinh, với những nội dung sau:
- Số thành viên trong gia đình tham gia sản xuất
- Thời gian sản xuất
- Những bệnh gia đình thường mắc phải trong quá trình sản xuất
- Ý kiến của người dân về vấn đề môi trường
- Hiểu biết của người dân trong vấn đề bảo vệ môi trường
Hình thức: Phỏng vấn trực tiếp, phát phiếu điều tra.
- Tiến hành phỏng vấn điều tra hộ gia đình, cá nhân theo tiêu chí ngẫunhiên, đồng thời có sự cân đối về trình độ học vấn, thu nhập, lứa tuổi, đa dạng
về nghề nghiệp
Khảo sát thực địa bằng cách quan sát, chụp ảnh, thu thập thông tin
3.4.3 Phương pháp lấy mẫu và phân tích
a Phương pháp lấy mẫu
- Thu thập một số mẫu nước trong khu vực làng nghề Hạ Thái và phân tích
theo QCVN 24: 2009/BTNMT và các quy định tương ứng:
Trang 33+ Mẫu nước mặt:
Vị trí lấy mẫu:
- Mẫu 1: Mẫu nước tại mương đoạn chảy qua làng nghề
- Mẫu 2: Mẫu nước tại ao Đình
- QCVN 08:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước mặt
+ Mẫu nước ngầm:
Vị trí lấy mẫu :
Vị trí lấy mẫu khí đánh giá chất lượng không khí xung quanh:
K1 Mẫu tại sân bóng làng nghề 20046’494N-105046’700E
K2 Mẫu tại trước cổng làng nghề 20046’629N-105047’202E
K3 Mẫu tại nhà trẻ xã Duyên Thái 20046’053N-105043’931E
K4 Mẫu tại ao đình làng nghề 20045’596N-105044’764E
K5 Mẫu tại ngã ba của cụm 1 làng nghề 20047’115N-105043’182E
Trang 34Vị trí lấy mẫu khí xác định chất lượng không khí tại xưởng sản xuất:
b Phương pháp phân tích
- Phương pháp phân tích COD: Phương pháp Kalipemanganat
+ Nguyên tắc: Dựa trên việc oxi hoá các chất hữu cơ có mặt trong nước bằng
dung dịch Kalipemanganat 0,1N trong môi trường axit ở nhiệt độ sôi Lượng dư
Kalipemanganat được chuẩn độ bằng axit ascorbic 0,1N
= 0,79 (g)
* 250 ml dung dịch H2C2O4.2H2O 0.1N -> m =
2
126 25 , 0 1 , 0
= 1,575 (g)
* Axit H2SO4 đậm đặc
Dụng cụ : Bình tam giác, bình định mức, pipet, bình tia, quả bóp.
+ Tiến hành:
Trang 35* Hút 100 ml mẫu cho vào bình tam giác dung tích 250 ml, cho thêm 3 viên bi thuỷ tinh Sau đó thêm 1 ml H2SO4 đặc, 10 ml KMnO4 0,1N.Sau đó đem đun sôi dung dịch trên bếp điện và để sôi 10 phút.
* Lấy bình ra khỏi bếp điện, nhanh chóng thêm vào đó chính xác 10 ml axit
H2C2O4 0,1N Lắc đều, chuẩn độ ngược lượng axit dư bằng KMnO4 đến khi dung dịch xuất hiện màu hồng nhạt ( bền 10s ) thì dừng chuẩn độ
3.4.4 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
- Tham khảo lấy ý kiến của những nghệ nhân sản xuất làm nghề và nhữngngười dân địa phương: 10 nghệ nhân, 10 người dân địa phương
3.4.5 Phương pháp phân loại và tổng hợp chất thải rắn
- Phân loại chất thải rắn theo tính chất, ước tính tải lượng thải/ ngày bằng
cách đếm xe rác và tính toán theo thể tích của xe
Trang 36- QCVN 05- 2013/BTNMT: quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượngkhông khí xung quanh
- QCVN 06: 2008/BTNMT: quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chấtđộc hại trong không khí xung quanh
- QCVN 26: 2010/ BTNMT: quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn
- QCVN 20: 2009/BTNMT: quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải côngnghiệp đối với bụi và các chất hữu cơ
3.4.7 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu điều tra, thu thập được tổng hợp và xử lí bằng phần mềm excel:
- Sử dụng các thuật toán, các hàm cơ bản trong Excel để xử lý số liệu từcác kết quả thu thập được Sử dụng biểu đồ, sơ đồ giúp các nội dung trình bàymang tính trực quan hơn, thể hiện rõ hơn mối liên hệ giữa các yếu tố đượctrình bày
Trang 37PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA
XÃ DUYÊN THÁI
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Duyên Thái là xã nằm ở phía Bắc huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội,cách trung tâm huyện 3,5km, với tổng diện tích tự nhiên 388,43 ha Duyên Thái
có đường quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam và đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽchạy qua là các tuyến đường giao thông huyết mạch nối liền Bắc Nam, tạo điềukiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế - xã hội của xã
Xã Duyên Thái có ranh giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp hai xã của huyện Thanh Trì, Hà Nội
- Phía Đông giáp xã Ninh Sở huyện Thường Tín, Hà Nội
- Phía Nam giáp xã Văn Bình huyện Thường Tín, Hà Nội
- Phía Tây giáp xã Nhị Khê huyện Thường Tín, Hà Nội
Hình 4.1: bản đồ xã Duyên Thái
Trang 38Đặc điểm địa hình và dân số
Xã có diện tích hành chính là 388,3 ha có 9 cụm dân cư với tổng số hộ là
3097 và số nhân khẩu 11060 nhân khẩu Địa hình toàn xã tương đối bằng phẳng,
có xu thế nghiêng từ tây bắc xuống đông nam Độ cao trung bình 2,5m - 3,0m sovới mặt nước biển, nơi cao nhất 5m, nơi thấp nhất 1,4m Tuy nhiên địa hình kháphức tạp, các chân ruộng cao thấp liền kề nhau, gây khó khăn trong khâu tướitiêu nước
Khí hậu và thời tiết
Duyên Thái thuộc đồng bằng Bắc Bộ nên mang đặc trưng của khí hậu nhiệtđới gió mùa, có mùa hè nắng nóng, mùa đông khô và lạnh Nhiệt độ trung bìnhnăm là 23,50C Độ ẩm không khí trung bình năm là 82 - 84%
Duyên Thái chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính là gió Đông Nam thổivào mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9 và gió Đông Bắc thổi từ tháng 11 đếntháng 3 năm sau, thường kéo theo không khí lạnh và sương muối Nhìn chungkhí hậu của xã Duyên Thái tương đối thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nôngnghiệp đa dạng và có thể bố trí nhiều vụ trong năm
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội:
a Điều kiện kinh tế:
Theo báo cáo kinh tế- tài chính xã Duyên Thái năm 2014, tình hình tăngtrưởng kinh tế còn chậm, song nền kinh tế có xu hướng dịch chuyển tăng cơ cấukinh tế tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ và giảm cơ cấu kinh tế ngànhnông nghiệp Cụ thể, Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng: Tốc độ tăngtrưởng chậm, giá trị sản phẩm sản xuất cả năm tăng 6,6 % so với năm 2013 với162,2 tỷ đồng ; Thương mại, dịch vụ: Ngành thương mại, các loại hình dịch vụtrên địa bàn tuy có ảnh hưởng, tác động phát triển chậm của nền kinh tế nhưngnhìn chung vẫn tăng trưởng, phát triển ổn định, giá trị tăng trưởng ước đạt 16 %
so với năm 2013, tổng sản phẩm cả năm ước đạt 122,6 tỷ đồng( Trong đó dịch
vụ khác từ tiền công, tiền lương, lao động ngoài địa bàn ước đạt 33,5 tỷ đồng)
Trang 39b Văn hóa- giáo dục- y tế
* Giáo dục: Xã có 05 trường mầm non khang trang sạch đẹp, một trường
tiểu học, một trường trung học cơ sở, tạo điều kiện tốt cho các em học tập
* Y tế: Xã có một trạm y tế với 03 y sỹ, 01 bác sỹ, 2 dãy nhà cấp 4 cung cấp
đầy đủ giường bệnh cho bệnh nhân và trang thiết bị phục vụ cho khám chữabệnh
Năm 2012 trạm đã khám cho 12.652 lượt người, quản lý tốt mạng lưới y tếthôn, đảm bảo phục vụ tốt sức khỏe cho nhân dân
* Văn hóa: Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy, HĐND - UBND xã
Duyên Thái, ban chỉ đạo nếp sống văn hóa, văn nghệ các đoàn thể đã đề raphương hướng hoạt động và thực hiện các mục tiêu để xây dựng một nền vănhóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Làng nghề thủ công truyền thống sơn mài Hạ Thái nằm ngay trục quốc lộ1A cũ và nằm giữa nhiều làng nghề nổi tiếng như làng nghề sừng mỹ nghệ ThụyỨng, làng nghề bánh dầy Thượng Đình, làng nghề tiện gỗ Nhị Khê, làng nghềvàng mã Phúc Am và Duyên Trường, Làng có số hộ là 803 với số nhân khẩu
3061 người Làng được UBND tỉnh Hà Tây( nay là thành phố Hà Nội) côngnhận làng nghề truyền thống năm 2002 và phát triển cho tới ngày nay
Mặc dù có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xong số hộ làmnghề tính đến nay so với những năm trước giảm đáng kể Theo thông tin do ông
Đỗ Hùng Chiêu- chủ tịch hiệp hội làng nghề Hạ Thái cung cấp thì tính đến cuốitháng 12 năm 2014 số hộ làm nghề còn khoảng 560 hộ, giảm 20% so với năm
2010 Nguyên nhân được nhận định là do cạnh tranh về giá cả trên thị trườngdẫn tới thu nhập của người dân không cao, với những hộ sản xuất nhỏ lẻ khôngthể cạnh tranh được nên đã dừng hoạt động và chuyển sang nhận khoán côngcho những doanh nghiệp lớn trong làng Nguyên nhân thứ hai là do ảnh hưởngcủa suy thoái kinh tế toàn cầu, sản phẩm tiêu thụ được không nhiều, số lượngđơn đặt hàng giảm, đầu ra không được đảm bảo nên có nhiều hộ quy mô nhỏ và
Trang 40không có chỗ đứng trên thị trường bắt buộc phải bỏ nghề Mặc dù làng có hiệphội làng nghề, tuy nhiên hoạt động của hội dựa trên cơ sở trao đổi giúp đỡ lẫnnhau về kinh nghiệm, là tiếng nói chung của người dân làm sơn mài Hạ Thái, lànơi giao lưu văn hóa giữa các hộ làm nghề và hội có nguyên tắc là không canthiệp về kinh tế Vì vậy, đầu ra của sản phẩm không có bất kì đơn vị nào chịutrách nhiệm quản lý mà hoàn toàn do các doanh nghiệp và người dân tự liên hệ
và chịu trách nhiệm cho sản phẩm của mình Vì vậy mặc dù đã tích cực thay đổi
đa dạng về mẫu mã, chủng loại sản phẩm nhưng sơn mài Hạ Thái vẫn chịukhông ít thăng trầm
4.1.3 Đặc điểm sản xuất và sản phẩm Sơn mài Hạ Thái
4.1.3.1 Đặc điểm sản xuất
Hiện nay, các hộ trong làng nghề sơn mài hầu hết đã được quy hoạch tậptrung để tiện quản lý và kinh doanh Theo thông tin do ông Đỗ Hùng Chiêucung cấp, cho tới thời điểm hiện tại, làng có khoảng 560 hộ làm nghề Sơn màitruyền thống với sản phẩm ngày càng đa dạng về mẫu mã và chủng loại mangtính ứng dụng thực tế cao chứ không còn chỉ dùng trang trí như trước kia, cácsản phẩm như khay đựng, bát, lọ hoa, cốc chén, đã có chỗ đứng nhất định trênthị trường Sản phẩm sơn mài Hạ Thái hiện có mặt trên thị trường của hầu hếtcác nước trên thế giới như Anh, Mỹ, pháp, Nga, Nhật, Hàn Quốc, và rất được
ưa chuộng Mặt khác, sự thay đổi về chất liệu làm sơn mài cũng một phần tạonên sự khác biệt của Sơn mài ngày nay so với sơn mài truyền thống
Các sản phẩm chính của làng nghề là hàng sơn mài và vẽ, khảm trai
a Nguyên vật liệu.
Với đặc thù của làng nghề là các sản phẩm dạng tranh, đĩa, bát,, lọhoa nên các nguyên liệu chủ yếu là: tre, nứa, gỗ, sơn, đất sét, phù sa, vỏtrứng ngày nay còn có thêm các loại chất liệu mới như composit, bột đá,MDF, nhựa tổng hợp,