1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học môn chính sách công đổi mới và nâng cao quy trình lập pháp của quốc hội

22 962 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 134,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. MỞ ĐẦU Trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới về mọi mặt: kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá…và để thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế, trong thời gian qua cũng như trong những năm tới, công tác lập pháp vẫn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà nước ta. Với mục đích nhằm hoàn thiện về cơ bản thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo nên mối quan hệ hài hoà giữa pháp luật trong nước và quốc tế. Chúng ta có thể thấy rằng trong thời gian gần đây thực tiễn hoạt động lập pháp ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cần phải quan tâm nghiên cứu. Chúng ta cần phải nâng cao chất lượng của quy trình lập pháp để phục vụ cho công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Mặc dù trong những năm qua chúng ta có tiến hành cải cách, đổi mới, thế nhưng kết quả mang lại vẫn còn ở mức khiêm tốn. Chính vì những kết quả còn khiêm tốn đó nên đã đặt ra một yêu cầu cho cơ quan lập pháp nhiệm vụ cải cách mạnh mẽ hơn nữa. Cải cách lập pháp phải là sự khởi đầu, song hành và thúc đẩy cải cách hành chính và tư pháp. Từ những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài “Đổi mới và nâng cao chất lượng quy trình Lập pháp của Quốc hội ở nước ta hiện nay” để nghiên cứu trong tiểu luận. Rõ ràng vấn đề nghiên cứu để đổi mới quy trình lập pháp của Quốc hội đã trở nên cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng để góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng công tác lập pháp của Quốc hội. Có thể nói đây là một việc làm ý nghĩa, quan trọng trong việc góp phần xây dựng và hoàn thiện ngành lập pháp ở nước ta. Cải cách lập pháp là cách đề cập tới tiến trình đổi mới toàn diện, sâu sắc, liên tục trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đồng thời xác định đúng vị trí, vai trò của tiến trình này trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trang 1

TIỂU LUẬNMôn học: CHÍNH SÁCH CÔNG Tên đề tài: ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUY TRÌNH

LẬP PHÁP CỦA QUỐC HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta tiếptục đẩy mạnh công cuộc đổi mới về mọi mặt: kinh tế, xã hội, chính trị, vănhoá…và để thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế, trong thời gian qua cũng nhưtrong những năm tới, công tác lập pháp vẫn là một trong những nhiệm vụtrọng tâm của nhà nước ta Với mục đích nhằm hoàn thiện về cơ bản thể chếkinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo nên mối quan hệ hài hoà giữa phápluật trong nước và quốc tế Chúng ta có thể thấy rằng trong thời gian gần đâythực tiễn hoạt động lập pháp ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề cấp báchcần phải quan tâm nghiên cứu Chúng ta cần phải nâng cao chất lượng củaquy trình lập pháp để phục vụ cho công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền

ở Việt Nam

Mặc dù trong những năm qua chúng ta có tiến hành cải cách, đổi mới,thế nhưng kết quả mang lại vẫn còn ở mức khiêm tốn Chính vì những kết quảcòn khiêm tốn đó nên đã đặt ra một yêu cầu cho cơ quan lập pháp nhiệm vụcải cách mạnh mẽ hơn nữa Cải cách lập pháp phải là sự khởi đầu, song hành

và thúc đẩy cải cách hành chính và tư pháp

Từ những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài “Đổi mới và nâng cao chất

lượng quy trình Lập pháp của Quốc hội ở nước ta hiện nay” để nghiên cứu

trong tiểu luận Rõ ràng vấn đề nghiên cứu để đổi mới quy trình lập pháp củaQuốc hội đã trở nên cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng để gópphần đổi mới và nâng cao chất lượng công tác lập pháp của Quốc hội Có thểnói đây là một việc làm ý nghĩa, quan trọng trong việc góp phần xây dựng vàhoàn thiện ngành lập pháp ở nước ta

Cải cách lập pháp là cách đề cập tới tiến trình đổi mới toàn diện, sâusắc, liên tục trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đồng thời xác địnhđúng vị trí, vai trò của tiến trình này trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động

Trang 3

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN

QUY TRÌNH LẬP PHÁP Ở NƯỚC TA

cơ bản nhất của đời sống nhà nước, của xã hội Theo điều 87, Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992, chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dântộc và các uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án Nhân dân Tối cao, ViệnKiểm sát Nhân dân Tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thànhviên của Mặt trận có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội Đại biểu Quốchội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật ra trước Quốc hội Thủ tụctrình Quốc hội dự án luật, kiến nghị về luật do luật định Theo quy định củaHiến pháp năm 1992, một dự án luật chỉ có thể được thông qua khi có quánửa tổng số đại biểu biểu quyết tán thành; việc sửa đổi hiến pháp phải được ítnhất 2/3 số đại biểu nhất trí

Sản phẩm của Lập pháp bao gồm hiến pháp và các luật Do tính chấtnày, hoạt động Lập pháp vừa giữ vai trò điều chỉnh, vừa là chuẩn mực đểđánh giá tính hợp pháp hay không hợp pháp của các bộ phận khác của hoạtđộng xây dựng pháp luật

Ở Việt Nam, pháp lệnh là Lập pháp ủy quyền, do Uỷ ban Thường vụQuốc hội ban hành, nó không thuộc lập quy do cơ quan hành pháp banhành

Trang 4

1.1.2 Khái niệm quy trình Lập pháp

Quy trình lập pháp là toàn bộ trình tự, thủ tục tiến hành các bước từ soạn thảo, thẩm định, thẩm tra đến xem xét, thông qua một dự án luật, thể hiện nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia vào hoạt động lập pháp

Các bước của quy trình lập pháp nói trên có quan hệ mật thiết và tác độngqua lại lẫn nhau Chất lượng của bước trước quy định chất lượng của bước sau Vìthế các giá trị mà xã hội có, xã hội cần, xã hội ủng hộ thể hiện ý chí và nguyệnvọng của đại đa số nhân dân từng bước được nhận thức và phản ánh ngày càngđầy đủ, đúng đắn qua các bước của quy trình lập pháp – về nguyên tắc, đại biểuQuốc hội đều có thể thực hiện vai trò đại diện của mình trong hầu hết các côngđoạn của quy trình lập pháp

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới, nâng cao chất lượng quy trình Lập pháp ở nước ta

Trước hết, về mặt lý luận, hoạt động lập pháp là hoạt động của cơ quanquyền lực nhà nước cao nhất Từ bản Hiến pháp đầu tiên của chính thể dânchủ cộng hoà năm 1946 đến các bản hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đều khảngđịnh một nguyên tắc hiến định là: trên đất nước Việt Nam tất cả quyền lựcthuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốchội và Hội đồng nhân dân - là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyệnvọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.Cũng theo Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơquan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam, chỉ có Quốc hội mới có quyền lập hiến và lập pháp Như vậy, quyền lậppháp là duy nhất và thuộc về Quốc hội

Một trong những nhược điểm lớn nhất của quy trình lập pháp hiện nay(mà cụ thể là theo các quy định về soạn thảo và thông qua một dự án luật)được thể hiện tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là chúng ta đã

Trang 5

đồng nhất quy trình hoạch định và xây dựng chính sách với quy trình làmluật Điều này được thể hiện ở những điểm dưới đây:

- Thứ nhất, về mặt pháp lý Quy trình xây dựng và thông qua một dự ánluật hiện nay được thể hiện cụ thể tại Luật Ban hành văn bản quy phạm phápluật năm 1996 và được sửa đổi, bổ sung năm 2002; trên cơ sở đó, Chính phủcũng đã ban hành Nghị định 101/1997 quy định chi tiết thi hành Luật trên vàsau đó được thay thế bởi Nghị định 161/2005 Theo Luật Ban hành văn bảnquy phạm pháp luật, các quy định về quy trình lập pháp được thể hiện gầnnhư trọn vẹn tại Chương III của Luật này và bao gồm các nội dung sau:

+ Lập chương trình xây dựng luật (kể cả pháp lệnh);

+ Soạn thảo luật;

+ Trình Chính phủ xem xét, thông qua để trình Quốc hội (đối với các

dự án luật do Chính phủ chuẩn bị);

+ Thẩm tra dự án luật;

+ Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án luật;

+ Lấy ý kiến nhân dân; ý kiến của các đại biểu Quốc hội, các Đoàn đạibiểu Quốc hội về dự án luật;

+ Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật

Nếu nhìn vào quy trình lập pháp theo các bước nói trên thì có lẽ ít ai chorằng quy trình này là không hợp lý Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ nội dung côngviệc của các bước này được quy định như thế nào? có hợp lý hay không? Liênquan đến nhận xét trên, ở đây do giới hạn của bài Tiểu luận tôi chỉ đề cập đếnhai giai đoạn là lập chương trình xây dựng luật và soạn thảo luật, đây là haigiai đoạn thể hiện rõ nhất sự đồng nhất giữa hai quy trình: quy trình hoạchđịnh và xây dựng chính sách với quy trình xây dựng luật Cụ thể như sau:Đối với giai đoạn lập chương trình xây dựng luật Theo quy định tạiĐiều 22 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đã được sửa đổi) thìchương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc

Trang 6

phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ…; Cũng tạiđiều này quy định: đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đạibiểu Quốc hội có quyền trình dự án luật chỉ cần nêu rõ các vấn đề như: sự cầnthiết phải ban hành luật; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật; những quanđiểm, nội dung chính của luật; dự báo tác động kinh tế xã hội; dự kiến nguồnlực bảo đảm thi hành luật.

Những quy định trên đây có thể nói, chính là xác định những căn cứ choviệc lập chương trình xây dựng luật Tuy nhiên, đó là những căn cứ rất chung,rất cơ bản nhưng thiếu cụ thể, chỉ phù hợp với việc lập chương trình xây dựngluật, pháp lệnh của cả nhiệm kỳ Quốc hội chứ không đủ cơ sở cho việc lậpchương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm, khi chương trình hàng nămcần phải xác định rõ việc xây dựng và thông qua những đạo luật cụ thể nào.Đối với giai đoạn soạn thảo luật Tại Điều 26 Luật Ban hành văn bảnquy phạm pháp luật về nhiệm vụ của Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh cóquy định: Ban soạn thảo có nhiệm vụ tổng kết tình hình thi hành luật, đánhgiá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dự án; khảosát, đánh giá thực trạng các quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dựán; tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên quan và tiến hành biên soạn luật.Như vậy, với các quy định này, sau khi dự án luật đã được Quốc hội quyết địnhđưa vào chương trình xây dựng luật thì Ban soạn thảo vừa phải thực hiện các hoạtđộng tổng kết đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành luật; vừa phảikhảo sát thực tiễn, tham khảo kinh nghiệm, thu thập và đánh giá thông tin;vừa phải định hướng phạm vi, nội dung điều chỉnh về mặt chính sách; vừaphải xây dựng (thiết kế) các nội dung điều chỉnh thành các điều luật (cácquy phạm pháp luật) và thành một dự thảo luật Tất nhiên, nhà làm luậtkhông thể không nghiên cứu hay thực hiện các công việc nói trên, vấn đề màchúng tôi muốn nói là không nên lồng ghép tất cả những hoạt động đó trongmột quy trình, thậm chí là một giai đoạn

Trang 7

- Thứ hai, về mặt thực tiễn Từ cơ sở pháp lý nói trên dẫn đến một thựctiễn trong lập chương trình xây dựng luật cũng như soạn thảo luật là giaiđoạn xây dựng chính sách hầu như bị coi nhẹ Nói đúng hơn là việc lậpchương trình xây dựng luật hàng năm chưa được xây dựng trên những cơ sởthực sự khoa học và sát với thực tiễn Các cơ quan, tổ chức đưa ra đề nghịxây dựng luật không coi trọng việc nghiên cứu, đánh giá, tổng kết đầy đủthực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành cũng như chưa hình dung hết phạm

vi và nội dung điều chỉnh của dự luật Tức là chưa hình thành nên những đề

án chính sách - cơ sở vật chất cho việc hình thành một dự án luật Các đềnghị xây dựng luật nhiều khi mới chỉ là cảm tính, thậm chí có trường hợp mớichỉ được thuyết minh trong vẻn vẹn một vài trang giấy Đối với giai đoạnsoạn thảo luật thì các Ban soạn thảo có nhiệm vụ quá nặng nề, phải thực hiệncùng đồng thời quá nhiều việc như nói ở trên, nên mất nhiều thời gian và côngsức để soạn thảo một dự án luật, nhưng điều quan trọng hơn là thiếu một trình

tự lô gíc, khoa học và bài bản trong nghiên cứu và soạn thảo một dự án luật.Tóm lại, cơ sơ pháp lý cũng như thực tiễn của quy trình lập pháp xét ởmột vài khía cạnh trên đây cho thấy, chúng ta đang lồng ghép, đang đồng nhấthai quy trình, cũng có thể nói là hai giai đoạn: xây dựng chính sách và xâydựng luật Thực trạng này cùng với nhiều vấn đề tồn tại đáng bàn khác củaquy trình lập pháp theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm phápluật hiện nay đã đem đến hệ quả là: việc soạn thảo luật kéo dài, không đápứng được yêu cầu đẩy nhanh tiến độ cũng như đòi hỏi ngày càng nhiều hơn sốlượng các luật cần phải được ban hành, sửa đổi đáp ứng yêu cầu của thực tiễn;tình trạng luật khung còn khá phổ biến; những mâu thuẫn, chồng chéo của hệthống pháp luật còn nhiều; tình trạng cục bộ lợi ích chưa bị xoá bỏ; đặc biệt là

có khi luật được ban hành nhưng không đi vào cuộc sống do việc nghiên cứuxây dựng chính sách còn yếu, cũng tức là chưa đưa được cuộc sống vào luật

Rõ ràng là ở đây, chúng ta cần phải nhận thức và phân biệt rõ về bản chấtcủa vấn đề tổ chức quyền lực và thực thi quyền lực ở Việt Nam Nguyên tắc tổchức quyền lực là thống nhất, không phân chia nhưng các cơ quan Nhà nước thìđược phân công thực hiện các chức năng và nhiệm vụ nhất định nhằm thực thiquyền lực Nhà nước

Trang 8

Từ những phân tích trên cho thấy, cần phân biệt rõ hai khái niệm quyền lậppháp và hoạt động lập pháp Quyền lập pháp là duy nhất và chỉ thuộc Quốc hội,nhưng khái niệm hoạt động lập pháp cần phải được hiểu theo cả nghĩa rộng lẫnnghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp, hoạt động lập pháp là hoạt động của Quốc hội gắn vớiquyền lập pháp duy nhất của Quốc hội, nhưng nếu hiểu rộng hơn thì tham gia hoạtđộng lập pháp còn có các cơ quan Nhà nước khác theo cơ chế lập pháp uỷ quyềnhoặc được Quốc hội giao (chúng tôi nói là các cơ quan khác cũng tham gia vàohoạt động lập pháp chỉ dưới khía cạnh là tham gia soạn thảo, đệ trình mà khôngphải và hoàn toàn không phải là tham gia quyết định về luật và Quốc hội cũngkhông chia sẻ quyền này).

Qua tìm hiểu khái lược về quyền lập pháp và hoạt động lập pháp nói trêncho chúng ta cơ sở để kết luận rằng, quy trình lập pháp là quy trình làm luậtcủa Quốc hội Đó là trình tự, thủ tục tiến hành các bước để soạn thảo và thôngqua một dự án luật của Quốc hội Tuy nhiên, nếu hiểu hoạt động lập pháptheo nghĩa rộng nói trên thì quy trình lập pháp cũng cần phải được hiểu theonghĩa rộng của khái niệm này Tức là, trong quy trình lập pháp, ngoài Quốchội còn có sự tham gia của nhiều cơ quan Nhà nước khác với tư cách là các

cơ quan được giao chủ trì soạn thảo dự án luật, các cơ quan thẩm định, thẩmtra dự án luật trước khi Quốc hội thảo luận thông qua, thậm chí cả Chủ tịchnước cũng tham gia vào việc hoàn tất các hoạt động này khi ký lệnh công bốcác luật đã được thông qua bởi Quốc hội

Và như vậy, đổi mới quy trình lập pháp hiện nay là đổi mới quy trìnhnói trên, đổi mới từ các vấn đề về trình tự, thủ tục đến các quy định vềnhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức tham gia vào hoạt động lậppháp

Nói đổi mới quy trình lập pháp có lẽ có rất nhiều vấn đề cần bàn, và điềutất yếu trước hết phải xuất phát từ sự phân tích, đánh giá thực trạng quy trìnhnày hiện nay, chỉ ra được những ưu điểm, những tồn tại cũng như nguyênnhân của nó, từ đó cần phải đưa ra được những giải pháp tổng thể để đổi mới

cơ bản và toàn diện quy trình này, đáp ứng yêu cầu hiện nay

Trang 9

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY TRÌNH LẬP PHÁP Ở VIỆT

NAM HIỆN NAY

2.1 Quy trình lập pháp và những điểm tồn tại

Quy trình lập pháp được xem như công nghệ làm luật Công nghệ lạchậu hay hiện đại, phù hợp hay không phù hợp với khả năng vận hành là mộttrong những yếu tố quyết định năng lực lập pháp của bộ máy nhà nước, củaQuốc hội

Hệ thống luật, pháp lệnh hiện hành đã có đóng góp đáng kể trong tiếntrình đổi mới nhưng cũng đứng trước những bất ổn lớn là : Chưa đồng bộ,thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống, tồn tại nhiều quyđịnh khung, nhiều quy định thiếu cụ thể, thiếu minh bạch về quyền và nghĩa

vụ của các bên tham gia quan hệ xã hội, khả năng phản ứng với những thayđổi của thực tiễn còn chậm chạp, việc giải thích luật, pháp lệnh hầu nhưkhông được tiến hành, tỷ lệ văn bản pháp lệnh trong hệ thống còn quá lớn, tỷ

lệ văn bản hướng dẫn quá nhiều, ban hành chậm, thâm chí còn trái với luật,Hiến pháp Những điểm tồn tại, cùng với xu hướng ban hành luật với cácquy định cụ thể, giảm dần việc ban hành pháp lệnh, tỷ lệ luật sửa đổi bổ sungmột số điều ngày càng nhiều, các luật về lĩnh vực kinh tế ,dân sự chiêm vịtrong tâm Chính là vấn đề đặt ra cho công tác lập pháp những nhiệm kỳ tớiPhải thừa nhận những đóng góp đáng kể của Luật Ban hành văn bản quyphạm pháp luật góp phần đưa công tác lập pháp vào nền nếp, nâng cao chấtlượng và số lượng luật được Quốc hội thông qua Vai trò của đạo luật này đặcbiệt có ý nghĩa ở trong giai đoạn đầu đổi mới tổ chức hoạt động của Quốc hội.Tuy nhiên, sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung thì có một tình trạng yếu kém vẫnlặp đi lặp lại, đó là: Chất lượng chuẩn bị dự thảo luật, pháp lệnh còn hạn chế,nhiều dự án không được gửi đến cơ quan thẩm tra, Ủy ban Thường vụ Quốchội, Quốc hội, đại biểu Quốc hội đúng thời hạn quy định Luật, pháp lệnh đã

Trang 10

được thông qua vẫn còn nhiều quy định mang tính nguyên tắc, thiếu cụ thểnên phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành, chậm đi vào cuộc sống

Tại sao vẫn tồn tại tình trạng này? Nguyên nhân do đâu? Liệu việc sửađổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có khắc phục đượctồn tại dai dẳng này hay không? Để làm rõ hơn vấn đề này cần phải xem vaitrò của các cơ quan tham gia quy trình xây dựng luật

Thứ nhất là chất lượng nội dung dự thảo luật, pháp lệnh và thời gian gửi dự

thảo hoàn toàn phụ thuộc vào cơ quan soạn thảo, cơ quan trình dự án Vì vậykhắc phục tồn tại này phải xác định đúng vai trò to lớn của cơ quan soạn thảo vàkiến nghị đưa các dự án luật, pháp lệnh vào chương trình Các cơ quan này thựchiện đúng các yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì nhữngtồn tại trên sẽ được khắc phục rất nhiều Nếu không thể thực hiện đúng thì tồn tạinày kéo dài

Thứ hai là nhiều quy định còn dừng ở nguyên tắc, thiếu cụ thể hay nói

cách khác là vẫn còn việc ban hành luật ống, luật khung Có 2 yếu tố chi phốitồn tại này: Cơ quan soạn thảo có xu hướng cầu toàn, xây dựng dự án luật cóphạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh rộng, bao quát hết các lĩnh vực domình đảm nhận, muốn đưa vào luật nhiều vấn đề mà chính mình cũng chưa quy định cụ thể hết Và mâu thuẫn trong quá trình dự thảo là nếu đưa ra nhiềuquy định cụ thể thì nội dung dự luật rất lớn, đòi hỏi công phu trong xây dựng

và khó khăn trong thực hiện khi muốn điều chỉnh

Mặt khác, với các cơ quan của Quốc hội dù đại biểu muốn luật phải quyđịnh cụ thể nhưng cách thức xây dựng luật và thời gian họp chưa thể đáp ứngđược Có thể thấy dự án Luật Thuế thu nhập cá nhân mà Quốc hội thảo luận

là một thí dụ Có đại biểu cho rằng có tới 30% số điều luật để Chính phủ quyđịnh chi tiết Nếu đưa cả 30% quy định chi tiết vào thì thảo luận, quyết định sẽ kéo

Trang 11

dài thời gian và đòi hỏi có sự đầu tư nghiên cứu sâu về chính sách, về chuyên môn

mà không phải đại biểu Quốc hội nào cũng sẵn sàng

Những tồn tại nêu trên không hoàn toàn tại lỗi của quy trình mà ở việcxác lập vai trò đảm bảo thời gian và chất lượng dự án luật của cơ quan soạnthảo và trình dự án trước Quốc hội là rất quan trọng Ở đây vai trò của cơquan thẩm tra là quyết định đưa dự án vào chương trình, bảo đảm dự án phảituân thủ các quy định Trong quá trình Quốc hội xem xét, thông qua thì nhiệm

vụ chủ yếu của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban là thẩm định chính sách đượcthiết kế trong dự luật; Hoàn thiện kỹ thuật văn bản, hình thức thể hiện cácchính sách cho chặt chẽ phối hợp tiếp thu, chỉnh lý dự án Việc đề xuất, xâydựng, tiếp thu, điều chỉnh chính sách chủ yếu vẫn phải do cơ quan soạn thảo

và trình dự án thực hiện Như vậy, vấn đề vai trò và trách nhiệm của cơ quansoạn thảo, cơ quan trình dự án trước Quốc hội phải được phát huy và nângcao hơn nữa Đặc biệt là giai đoạn đưa ra sáng kiến lập pháp trước khi trìnhQuốc hội đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh Tránh tình trạngmột số dự án“ đánh trống, ghi tên” vào chương trình và kéo dài thời gianchuẩn bị qua nhiều nhiệm kỳ

2.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và yêu cầu lập pháp

Quy trình, công nghệ làm luật dù hiện đại đến đâu cũng phải được vậnhành bởi tổ chức, con người cụ thể Nếu tổ chức, con người cụ thể khôngtương xứng thì không thể vận hành trơn tru và đem lại hiệu quả như mongmuốn

Trong quy trình lập pháp thì giai đoạn ở các cơ quan của Quốc hội là giaiđoạn cuối cùng, rất quan trọng Để thông qua được nhiều luật có chất lượng vàquy định của luật cụ thể, dễ nhớ, dễ thực hiện thì bản thân hoạt động của các

Ngày đăng: 17/11/2016, 15:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w