Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên giữa người sử dụng báo cáo tài chính được kiểm
Trang 1-
TRẦN BÌNH TRỌNG
KHÁC BIỆT GIỮA MONG ĐỢI CỦA XÃ HỘI
VÀ NHẬN THỰC CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VỀ TRÁCH NHIỆM TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Trang 2-
TRẦN BÌNH TRỌNG
KHÁC BIỆT GIỮA MONG ĐỢI CỦA XÃ HỘI
VÀ NHẬN THỰC CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VỀ TRÁCH NHIỆM TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Trang 3Cán bộ hướng dẫn khoa học : Tiến sỹ Phan Thị Hằng Nga
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày 27 tháng 03 năm 2016
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
Trang 4TP HCM, ngày … tháng… năm 20 …
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Trần Bình Trọng Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 14 / 06 / 1990 Nơi sinh: Bình Dương
Chuyên ngành: Kế Toán MSHV: 1441850050
I- Tên đề tài:
KHÁC BIỆT GIỮA MONG ĐỢI CỦA XÃ HỘI VÀ NHẬN THỰC CỦA KIỂM
TOÁN VIÊN VỀ TRÁCH NHIỆM TRÊN BCTC ĐƯỢC KIỂM TOÁN
II- Nhiệm vụ và nội dung:
- Xác định sự khác biệt giữa mong đợi mong đợi của xã hội và nhận thức của Kiểm
toán viên về trách nhiệm trên BCTC được kiểm toán
- Nhận diện các nhân tố chính tạo ra sự khác biệt giữa mong đợi của xã hội và nhận
thức của Kiểm toán viên về trách nhiệm trên BCTC được kiểm toán
- Đề xuất những giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của
kiểm toán viên giữa kiểm toán viên và người sử dụng BCTC được kiểm toán tại
Việt Nam
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 15/01/2016
V- Cán bộ hướng dẫn: Tiến Sĩ Phan Thị Hằng Nga
NGÀNH
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
Trần Bình Trọng
Trang 6LỜI CÁM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu, với sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình của quý Thầy, Cô và sự ủng hộ, động viên của gia đình, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ với đề tài “Khác biệt giữa mong đợi của xã hội và nhận thức của Kiểm toán viên về trách nhiệm trên BCTC được kiểm toán”
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô trường Đại học Công Nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến TS Phan Thị Hằng Nga đã hết lòng hướng dẫn, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Cho phép tôi được gởi lời cám ơn đến các bạn học viên cao học của Trường đã nhiệt tình hỗ trợ, động viên và chia sẻ những kinh nghiệm, kiến thức trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị Kiểm toán viên và kế toán doanh nghiệp đã hỗ trợ tôi hoàn thành tốt phần khảo sát định lượng mô hình
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu đề tài này Trân trọng!
Trần Bình Trọng
Trang 7TÓM TẮT
Luận văn nghiên cứu “Khác biệt giữa mong đợi của xã hội và nhận thức của Kiểm toán viên về trách nhiệm trên BCTC được kiểm toán” Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên giữa người sử dụng báo cáo tài chính được kiểm toán và kiểm toán viên tại Việt Nam Để xây dựng thang đo khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên giữa người sử dụng báo cáo tài chính được kiểm toán và kiểm toán viên tại Việt Nam và thang đo của các yếu tố tác động đến khoảng cách này, tác giả sử dụng phương pháp chuyên gia – phỏng vấn tay đôi Sau khi xây dựng thang đo của vấn đề nghiên cứu tại Việt Nam, tác giả xây dựng bảng câu hỏi và tiến hành khảo sát các đối tượng là kiểm toán viên, trợ lý kiểm toán
và người sử dụng báo cáo tài chính Mẫu thu thập được là 137 bảng trả lời hợp lệ Tác giả sử dụng phương pháp định lượng gồm thống kê mô tả, đánh giá thang đo (Cronbach’s anpha), phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy: Có 5 yếu tố tác động đến khoảng cách mong đợi
về trách nhiệm của kiểm toán viên giữa người sử dụng báo cáo tài chính được kiểm toán và kiểm toán viên tại Việt Nam gồm: Trách nhiệm của kiểm toán viên khi đánh giá báo cáo tài chính của khách hàng ; Trách nhiệm của kiểm toán viên trong việc kiểm soát tình hình tài chính của khách hàng; Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính; Trách nhiệm của kiểm toán viên theo quy định của nghề nghiệp; Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên liên quan đến sơ suất trong quá trình kiểm toán Kết quả hồi quy cho thấy có các yếu tố trên tác động ngược chiều với khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên giữa người sử dụng báo cáo tài chính được kiểm toán và kiểm toán viên Kết quả này phù hợp với lý thuyết và các nghiên cứu trước đây trên thế giới
Trang 8ABSTRACT
Research thesis "The difference between social expectations and perceptions
of Auditors of responsibility on financial statements audited " Thesis using qualitative research methods to systematize the rationale of gap expectations of the auditor's responsibility among users of financial statements to be audited and the auditor in Vietnam To build the scale gap expectations of the responsibilities of auditors among users of financial statements to be audited and the auditor in Vietnam and the scale of the factors affecting this distance , author using professionals - interviewed by a couple After building the scale of the problem studied in Vietnam, the authors construct a questionnaire and surveyed the objects are auditors and users of financial statements Samples collected 137 valid replies The author uses quantitative methods included descriptive statistics, assessment scale (Cronbach's alpha), factor analysis to discover EFA and regression analysis The study results showed that in Vietnam: There are 5 factors that affect distance of responsibility expected of auditors among users of financial statements to be audited and the auditor in Vietnam include: Responsibility by auditors when assessing the financial statements of the client; Responsibilities of Auditors in controlling the financial situation of the client; Auditor's responsibility for misstatement in the financial statements; Responsibilities of the auditors as prescribed by profession; Liability of auditors related to negligence in the audit process The regression results show that the above factors with opposite effects expected distance of the responsibilities of auditors among users of financial statements to be audited and the auditor This result is consistent with theory and previous research in the world
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5.1 Phương pháp định tính 4
1.5.2 Phương pháp định lượng 4
1.6 Kết cấu của luận văn 5
1.7 Đóng góp của nghiên cứu 5
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 Định nghĩa kiểm toán 7
2.2 Trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên 7
2.3 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên 11
2.3.1 Nguyên nhân dẫn đến trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên 11
2.3.2 Quy định của luật về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở một số quốc gia tręn thế giới 12
2.3.2.1 Quy định của Mỹ 12
2.3.2.2 Quy định của Anh 15
2.3.2.3 Quy định của Úc 16
2.3.2.4 Quy định của Đức 17
2.3.2.5 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 17
2.4 Khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên giữa người sử dụng Báo cáo tài chính được kiểm toán và kiểm toán viên 18
2.4.1 Khái niệm về khoảng cách mong đợi 19
2.4.2 Các nghiên cứu trước đây về khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên giữa người sử dụng báo cáo kiểm toán và kiểm toán viên 21
Trang 102.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 28
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Nghiên cứu định tính 30
3.2 Nghiên cứu định lượng 31
3.3 Xây dựng thang đo 32
3.3.1 Đo lường thang đo các nhân tố tồn tại khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa KTV và người sử dụng BCTC được kiểm toán 32
3.3.2 Đo lường thang đo nhân tố khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa KTV và người sử dụng BCTC được kiểm toán 34
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Kết quả nghiên cứu 35
4.1.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 35
4.1.2 Đánh giá thang đo 37
4.1.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 39
4.1.3.1 Phân tích EFA đối với các yếu tố tác động đến khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa KTV và người sử dụng BCTC được kiểm toán 39 4.1.3.2 Phân tích EFA đối với thang đo khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa KTV và người sử dụng BCTC được kiểm toán 41
4.1.4 Kết quả hồi quy đa biến 42
4.1.5 Phân tích phương sai Anova 44
4.1.5.1 So sánh khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa Kiểm toán viên và người sử dụng BCTC được kiểm toán của KTV theo giới tính 44
4.1.5.2 So sánh khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa Kiểm toán viên và người sử dụng BCTC được kiểm toán của KTV theo tiêu chí Bằng cấp liên quan đến kế toán 45
4.1.5.3 So sánh khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa Kiểm toán viên và người sử dụng BCTC được kiểm toán của KTV theo tiêu chí Kinh nghiệm liên quan đến kế toán 46
4.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 46
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1 Kết luận và kiến nghị 49
5.2 Hạn chế của đề tài 54
5.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 54
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp các nghiên cứu trước của các tác giả 26 Bảng 4.1 Phân loại mẫu khảo sát 36 Bảng 4.2 Bảng thống kê mô tả các biến định lượng 37 Bảng 4.3 Bảng kết quả Cronbach Alpha các thang đo yếu tố tác động khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa KTV và người sử dụng BCTC được kiểm toán 38 Bảng 4.4 Bảng kết quả Cronbach Alpha thang đo khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa KTV và người sử dụng BCTC được kiểm toán 39 Bảng 4.4 Bảng kết quả Cronbach's Alpha đối với thang đo trách nhiệm của kiểm toán viên theo quy định của nghề nghiệp sau khi loại biến D4 40 Bảng 4.5 Tổng hợp các nhân tố tác động đến khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa KTV và người sử dụng BCTC được kiểm toán 41 Bảng 4.6 Bảng kết quả EFA cho 3 biến quan sát đối với nhóm khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa KTV và người sử dụng BCTC được kiểm toán 41 Bảng 4.7 Mức độ tác động của các nhân tố 44
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu 28
Trang 14Chương 1 MỞ ĐẦU
Trên cơ sở tình hình thực tế tại Việt Nam, chương 1 của nghiên cứu sẽ giới thiệu khái quát lý do chọn đề tài và vấn đề nghiên cứu Nội dung của chương 1 bao gồm 7 phần: (1) Vấn đề nghiên cứu, (2) Mục tiêu nghiên cứu, (3) Câu hỏi nghiên cứu, (4) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, (5) Phương pháp nghiên cứu, (6) Kết cấu của luận văn, (7) Đóng góp của nghiên cứu
1.1 Vấn đề nghiên cứu
Thông tin tài chính của các công ty, đặc biệt là các công ty niêm yết được rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng, vì vậy thông tin tài chính có chất lượng giúp người sử dụng ra được những quyết định thích hợp
Các thông tin tài chính này không chỉ bị ảnh hưởng bởi các đối tượng bên trong công ty như người quản lý, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ban điều hành và kiểm toán nội bộ mà còn chịu sự ảnh hưởng các đối tượng bên ngoài công ty như UBCKNN, Hội nghề nghiệp, Bộ Tài chính, cơ quan thuế, kiểm toán nhà nước và một đối tượng rất quan trọng đó là kiểm toán độc lập Vì vậy, trong thời gian vừa qua Việt Nam đã ban hành các quy định về kiểm toán độc lập như hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, luật và nghị định về kiểm toán độc lập, trong đó cũng rất chú trọng đến các quy định về trách nhiệm của kiểm toán viên trong kiểm toán BCTC Cụ thể, VSA 200 “Mục đích và các nguyên tắc chi phối kiểm toán BCTC” (Bộ Tài chính, 1999a) trong đó nêu rõ mục đích kiểm toán, trách nhiệm của KTV cũng như giải thích các khái niệm hạn chế tiềm tàng, bảo đảm hợp lý VSA 240
“Gian lận và sai sót” (Bộ Tài chính, 2001) trong đó quy định KTV chỉ có trách nhiệm xem xét liệu gian lận hoặc sai sót có gây sai lệch trọng yếu trên BCTC, VSA
250 “Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các quy định trong kiểm toán BCTC” trong
đó quy địch trách nhiệm của KTV trong xem xét tính tuân thủ pháp luật và các quy định của đơn vị được kiểm toán, VSA “Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán” (Bộ Tài chính, 2005) trong đó quy định các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp mà KTV phải có trách nhiệm tuân thủ và một số chuẩn mực kiểm toán khác
Trang 15quy định trách nhiệm của KTV cụ thể cho từng phần hành Các quy định về luật liên quan đến trách nhiệm của KTV mà Bộ Tài chính cũng đã ban hành như nghị định 105/2004/NĐ-CP về kiểm toán độc lập ban hành ngày 30/03/2004, thông tư 64/2004/TT-BTC ban hành ngày 29/06/2004 hướng dẫn một số điều của nghị định 105/2004/NĐ-CP, Luật số 67/2011/QH12 Luật kiểm toán độc lập ban hành ngày 8/4/2011 và mới đây nhất vào ngày 13/03/2012 Chính phủ đã ban hành nghị định số 17/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của luật kiểm toán độc lập thay thế nghị định 105/2004/NĐ-CP cũng đã quy định rõ hơn về trách nhiệm của KTV trong kiểm toán BCTC Ngoài ra, Ủy ban chứng khoán nhà nước cũng đã ban hành nghị đị - ủa Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán trong đó
có quy định về xử lý vi phạm đối với KTV về kiểm toán tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua xã hội đang rất lo ngại đến chất lượng BCTC mặc dù những BCTC này đã được kiểm toán, điều này có thể bắt nguồn từ một số vụ tai tiếng liên quan đến kiểm toán như Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết, Công ty Cổ Phần Dược Viễn Đông và Công ty
Cổ Phần Bibica… Và một vấn đề được đặt ra là những sai phạm của những công ty này có trách nhiệm của KTV và công ty kiểm toán không, nếu có thì mức độ đến đâu, trách nhiệm của họ với cổ đông và nhà đầu tư thế nào? và gần đây trong tháng 1/2012 UBCKNN cũng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với một số kiểm toán viên vì không đưa ra một số sai phạm trên BCTC đã kiểm toán của một
số công ty niêm yết, trên cơ sở nghị định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và quy chế lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán cho các tổ chức niêm yết…Hậu quả của những sự kiện trên đã gây nhiều thiệt hại cho các nhà đầu
tư và họ đã nảy sinh nhiều nghi ngờ về chất lượng, tính trung thực của BCKT
Nhằm minh bạch hóa thông tin tài chính cho các công ty đặc biệt là các công
ty niêm yết, Bộ Tài chính cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống chuẩn mực kiểm toán, các quy định về luật liên quan đến kiểm toán độc lập trong đó vấn đề trách nhiệm của KTV cũng cần được chú trọng Để thực hiện tốt được điều này, chúng ta cũng
Trang 16cần xem xét hiện nay nhận thức của KTV về trách nhiệm của họ là gì? Nhận thức của người sử dụng BCTC được kiểm toán về trách nhiệm của KTV là gì? Và liệu có tồn tại sự khác biệt về nhận thức này giữa hai bên hay không? Nếu có thì cần phải
có những giải pháp để thu hẹp khoảng cách mong đợi về nhận thức của họ như thế nào?
Với những lý do nêu trên, tác giả giới thiệu đến độc giả một nghiên cứu về
“Khác biệt giữa mong đợi của xã hội và nhận thức của Kiểm toán viên về trách nhiệm trên BCTC được kiểm toán”, đây là vần đề mang tính thời sự nhằm ổn định
và phát triển thị trường chứng khoán trong tiến trình hội nhập vào khu vực và quốc
tế của Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định sự khác biệt giữa mong đợi mong đợi của xã hội và nhận thức của Kiểm toán viên về trách nhiệm trên BCTC được kiểm toán
Nhận diện các nhân tố chính tạo ra sự khác biệt giữa mong đợi của xã hội và nhận thức của Kiểm toán viên về trách nhiệm trên BCTC được kiểm toán
Đề xuất những giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên giữa kiểm toán viên và người sử dụng BCTC được kiểm toán tại Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Trách nhiệm nghề nghiệp và trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính là gì?
Các nhân tố nào tạo nên sự khác biệt giữa mong đợi xã hội và nhận thức của KTV?
Có tồn tại khoảng cách giữa mong đợi của xã hội và nhận thức của KTV về trách nhiệm của mình khi kiểm tra BCTC hay không?
1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến khoảng cách mong đợi của
xã hội về trách nhiệm của KTV và nhận thức của KTV trên BCTC được kiểm toán
Trang 17Phạm vi nghiên cứu: Bài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi nghiên cứu các khảo sát của một số kiểm toán viên, trợ lý kiểm toán đang làm việc tại các công ty
về kiểm toán lớn tại Hồ Chí Minh và các kế toán trưởng, phó tại 1 số doanh nghiệp tại địa bàn Hồ Chí Minh và Bình Dương
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Với mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu trên, nghiên cứu trên được thực hiện thông qua các phương pháp nghiên cứu sau:
1.5.1 Phương pháp định tính
Dựa vào các lý thuyết và các công trình nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện
về sự tồn tại khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên giữa kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo kiểm toán; dựa vào tình hình của Việt Nam, đề tài hình thành các chỉ tiêu, các biến trong mô hình nghiên cứu Cụ thể:
- Tổng quan lý thuyết và các công trình nghiên cứu trước, từ đó đề ra mô hình nghiên cứu dự kiến
- Bằng phương pháp thảo luận nhóm và tham thảo ý kiến của các chuyên gia giúp hoàn thiện các thang đo cho các yếu tố tác động vào biến mục tiêu trong mô hình nghiên cứu
- Thiết kế bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu
- Điều tra thí điểm nhằm kiểm tra tính tương thích của bảng câu hỏi và các biến đã xác định bằng phương pháp định tính
1.5.2 Phương pháp định lượng
Đây là giai đoạn nghiên cứu chính thức, kiểm định mô hình nghiên cứu đã đề
ra
- Thực hiện điều tra không toàn bộ
- Phân tích dữ liệu: Sử dụng các kỹ thuật phân tích sau:
+ Thống kê mô tả: mô tả sơ bộ các đặc điểm của mẫu
+ Kiểm định độ tin cậy của các thang đo: bằng hệ số Cronbach Alpha để phát hiện những chỉ báo không đáng tin cậy trong quá trình nghiên cứu
+ Phân tích nhân tố khám phá EFA
Trang 18+ Sử dụng phân tích hồi quy để xác định mức độ cũng như chiều tác động của các yêu tố tác động đến khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên giữa người sử dụng báo cáo tài chính được kiểm toán và kiểm toán viên tại Việt Nam
+ Sử dụng ANOVA để phân tích phụ trợ biến nhân khẩu học
1.6 Kết cấu của luận văn
Kết cấu dự kiến của đề tài gồm có 5 chương:
Chương 1: Mở đầu
Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả và thảo luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
1.7 Đóng góp của nghiên cứu
Đóng góp về mặt lý luận
Nghiên cứu sẽ bổ sung thêm mô hình lý thuyết về các nhân tố có tồn tại khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa Kiểm toán viên và người sử dụng BCTC được kiểm toán, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên quan
Đóng góp về mặt thực tiễn
Trên cơ sở kiểm định mô hình về các nhân tố có tồn tại khoảng cách mong đợi
về trách nhiệm của KTV giữa Kiểm toán viên và người sử dụng BCTC được kiểm toán làm cơ sở khoa học cho việc đưa ra các giải pháp nhằm thu hẹp khoảng các mong đợi này
Giả định qua kết quả của nghiên cứu, các giả thiết trong mô hình nghiên cứu đều đúng, ngoài ra qua kết qủa phân tích cũng có tồn tại khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa Kiểm toán viên và người sử dụng BCTC được kiểm toán giữa những người có kiến thức kế toán và không có kiến thức kế toán, giữa những người thời gian kinh nghiệm về kế toán khác nhau Nghiên cứu đề xuất một số giải
Trang 19pháp sau nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa Kiểm toán viên và người sử dụng BCTC được kiểm toán như sau:
Bộ Tài chính sớm hoàn thiện và ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam trong đó bao gồm các chuẩn mực liên quan đến trách nhiệm của KTV) mới hội nhập với hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế
Chính phủ cần tiếp tục bổ sung và hoàn thiện luật kiểm toán độc lập, các nghị định hướng dẫn luật, Bộ Tài chính cần sớm ban hành thông tư hướng dẫn các nghị định này nhằm quy định cụ thể hơn nữa trách nhiệm của KTV, các hình thực xử phạt đối với KTV trong trường hợp họ bị vi phạm
UBCKNN cũng tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các quy định liên quan đến xử phạt KTV liên quan đến vi phạm trách nhiệm của mình trong kiểm toán BCTC
Bộ Tài chính tiếp tục tăng cường đào tạo , tập huấn cho đội ngũ KTV trong việc nâng cao tách nhiệm của mình trong khi thực hiện công việc kiểm toán Ngoài
ra Bộ tài chính cũng cần có những chương trình đào tạo cho các đối tượng sử dụng BCTC được kiểm toán những kiến thức cơ bản về kiểm toán, kiến thức cơ bản đọc
và hiểu được BCTC và BCKT
Các Công ty kiểm toán cần thực hiện kỹ việc đánh giá, lựa chọn khách hàng trước khi ký kết hợp đồng kiểm toán, quy định rõ trách nhiệm của công ty kiểm toán đối với khách hàng trong hợp đồng
Người sử dụng BCTC được kiểm toán cần ý thức được việc tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết sử dụng trong việc đọc, phân tích BCTC và BCKT phục vụ trong việc quyết định đầu tư cũng như việc đánh giá trách nhiệm kiểm toán viên trong kiểm toán BCTC
Trang 20Chương 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 sẽ tập trung trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến kiểm toán và trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên, các quy định về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở một số nước trên thế giới và tại Việt Nam Chương 2 cũng đề cập đến khái niệm về khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên và các nghiên cứu trước đây về khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên Cuối cùng, đề xuất về mô hình nghiên cứu cho nghiên cứu tại Việt Nam
2.1 Định nghĩa kiểm toán
Về phương diện lịch sử, từ “kiểm toán” có nguồn gốc từ chữ Latin “audire” có nghĩa là “nghe” (Mahdi Salehi & Mahadevaswamy, 2008) Thuật ngữ đó diễn tả cách ứng xử của kiểm toán trong thời cổ đại Tuy nhiên, qua một thời gian, cách ứng xử của kiểm toán đã trải qua nhiểu thay đổi lớn Theo (Adeniji, 2010); (Semiu
& Johnson, 2011), kiểm toán là:
“ Sự đánh giá độc lập và diễn đạt ý kiến về sự tuân thủ những quy định của báo cáo tài chính của một tổ chức bởi một kiểm toán viên được chỉ định”
Cùng quan điểm đó, theo (Semiu Babatunde & John Kolawole Olookere, 2011), (Mahdi Salehi & Mahadevaswamy, 2008) cho rằng kiểm toán báo cáo tài chính là kiểm toán viên trình bày ý kiến của mình là liệu báo cáo tài chính được lập
có tuân thủ theo khuôn mẫu đã quy định về báo cáo tài chính không Đồng thời, kiểm toán viên cũng trình bày ý kiến của mình về sự chính xác, độ tin cậy, không gian lận trong trình bày thông tin trên báo cáo tài chính của một tổ chức Ý kiến này của kiểm toán hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài Như vậy, mục tiêu chính của kiểm toán là đưa ra ý kiến về sự trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính
2.2 Trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên
Trước năm 1840: Trong giai đoạn này, kiểm toán viên bắt buộc phải kiểm tra tất cả các giao dịch của đơn vị và trách nhiệm chủ yếu của kiểm toán viên là xác minh tính trung thực của người chịu trách nhiệm tài chính
Trang 21Giai đoạn từ những năm 1840-1920: (Porter & et al , 2005) phân tích, trong giai đoạn này trách nhiệm chính của kiểm toán viên chỉ là xác nhận tình trạng tài chính, khả năng thanh toán và thu nhập có thật của đơn vị Kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện và ngăn chặn gian lận Ngược lại, những người sử dụng báo cáo kiểm toán đòi hỏi kiểm toán viên phải có trách nhiệm ngăn chặn và phát hiện gian lận khi hàng loạt các vụ phá sản của nhiều công ty xảy ra trong những năm
1860 đến 1870
Giai đoạn từ 1920- 1960: Quan điểm khác nhau về trách nhiệm liên quan đến ngăn chặn và phát hiện gian lận giữa kiểm toán viên và xã hội vẫn tiếp tục tiếp diễn cho đến giữa thế kỷ 20 Tuy nhiên, sau vụ gian lận của McKesson & Robbin vào năm 1938, xã hội mới đồng ý là trách nhiệm ngăn chặn và phát hiện gian lận không phải là trách nhiệm chính của kiểm toán viên
Sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn đã làm thay đổi quan điểm về trách nhiệm của kiểm toán viên Theo (Porter & et al, 2005) trong giai đoạn này, kiểm toán viên được yêu cầu cung cấp ý kiến xác minh độ tin cậy của báo cáo tài chính cho các cổ đông của công ty Vì vậy, trách nhiệm chính của kiểm toán viên là đánh giá sự trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính hơn là ngăn chặn và phát hiện gian lận và sai sót
Sau đó, cho đến những năm 1940, nhiều tranh cãi về trách nhiệm của kiểm toán viên vẫn tiếp diễn Vấn đề tranh cãi chủ yếu là liệu một quy trình kiểm toán có phải bắt buộc thiết lập để phát hiện và ngăn chặn gian lận hay không và cho rằng kiểm toán viên không yêu cầu phải phán đoán xem gian lận có xuất hiện hay không khi thực hiện kiểm toán Nếu kiểm toán viên tuân thủ đầy đủ yêu cầu của GAAP trong thực hiện kiểm toán nhưng vẫn không phát hiện được gian lận thì cuộc kiểm toán vẫn xem là thành công mặc dù báo cáo tài chính vẫn còn tồn tại sai sót
Trong những năm 1970, nhiều vụ gian lận liên quan đến gian lận tại các công
ty như Westec, Yale Express, Bar Chris; Beverly Hills Bancorp…đã làm gia tăng nghi vấn về trách nhiệm phát hiện gian lận của kiểm toán viên Vụ việc này đã gây
áp lực mạnh đối với kiểm toán viên về nghĩa vụ phải phát hiện gian lận Cho nên từ
Trang 22những năm này, nhiều nghiên cứu xem xét việc thiết lập định nghĩa về trách nhiệm của kiểm toán viên phù hợp hơn bắt đầu gia tăng
Theo nghiên cứu của (Young, 1997), ông ta cho rằng trong thời điểm này kiểm toán viên không phải chịu trách nhiệm về phát hiện gian lận, có nghĩa là đẩy toàn bộ gánh nặng ngăn chặn gian lận cho kế toán viên và yêu cầu nhanh chóng xây dựng chuẩn mực kiểm toán Trong bài nghiên cứu của mình, ông ta đã viết “Chúng tôi tin rằng ở công ty cổ phần đại chúng niêm yết, kế toán hoàn toàn có thể trở thành chuyên gia phát hiện về khai khống tài sản và lợi nhuận cho dù có phải là gian lận hay không” Nhiều chuyên gia cũng đồng ý với ý kiến này và củng cố và phát triển quan điểm về trách nhiệm của kiểm toán viên khi kiểm toán báo cáo tài chính như những năm 1930 Họ nhất trí là trách nhiệm của kiểm toán viên là xác nhận tính đáng tin cậy của báo cáo tài chính và đảm bảo rằng báo cáo tài chính trình bày trung thực hợp lý
Trong thời gian này, các kiểm toán viên vẫn cho rằng họ có thể gia tăng tính đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà không cần tìm kiếm và phát hiện gian lận khi thực hiện cuộc kiểm toán Trái lại, công chúng không đồng ý với quan điểm đó và mong đợi gian lận trọng yếu sẽ được phát hiện trong cuộc kiểm toán Khảo sát của công ty Arthur Andersen năm 1974 chỉ ra rằng hơn 66% nhà đầu tư công chúng tin rằng chức năng quan trọng nhất của cuộc kiểm toán là phát hiện gian lận Trong một nghiên cứu của mình được tiến hành ở Mỹ đã đánh giá việc mở rộng trách nhiệm của kiểm toán viên khi cho rằng kiểm toán có trách nhiệm phát hiện sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính và các hành vi bất hợp pháp Họ đã tiến hành kiểm định
và kết luận có sự khác biệt đáng kể về nhận thức giữa người sử dụng báo cáo tài chính và kiểm toán viên về trách nhiệm phát hiện và công bố gian lận cùng các hành
vi không hợp pháp của doanh nghiệp
Như vậy, kiểm toán viên và công chúng có quan điểm khác nhau về trách nhiệm của kiểm toán viên khi thực hiện cuộc kiểm toán Nguyên nhân là do công chúng có sự giới hạn về kiến thức kiểm toán nên họ đã không hiểu được vai trò và trách nhiệm của kiểm toán một cách hợp lý và nhấn mạnh là công chúng cần phải
Trang 23có sự hiểu biết nhất định về kiểm toán Để giải quyết sự khác biệt về quan điểm giữa kiểm toán viên và công chúng, các chuyên gia đã nỗ lực xem xét lại đầy đủ hơn về vai trò và trách nhiệm của kiểm toán viên khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính nhằm thuyết phục công chúng chấp nhận giá trị của cuộc kiểm toán
Để đánh giá đầy đủ hơn về trách nhiệm của kiểm toán viên, các chuyên gia đã tập trung vào các khía cạnh như vai trò của quản lý, chức năng thông tin của kiểm toán, giá trị văn hóa và cuối cùng là chuyên môn nghề nghiệp (Young, 1997) Trong giai đoạn này, chuẩn mực kiểm toán được ban hành nhằm đề cập rõ hơn về trách nhiệm của kiểm toán viên
Giai đoạn từ sau 1990 đến nay: Trong giai đoạn này, trách nhiệm của kiểm toán viên vẫn như giai đoạn trước Trách nhiệm của kiểm toán viên là đưa ra ý kiến liệu thông tin trình bày trên báo cáo tài chính có đảm bảo phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính của công ty hay không Tuy vậy, vụ bê bối của Enron & WorldCom đã dẫn đến những tranh luận xem xét thay đổi trong hành nghề kiểm toán Các phương pháp kiểm toán được dự kiến sẽ tập trung hơn vào phát hiện nguy
cơ gian lận để làm hài lòng nhu cầu của người sử dụng báo cáo kiểm toán
Theo các giai đoạn phát triển về định nghĩa trách nhiệm của kiểm toán viên cho thấy rõ có sự khác biệt về nhận thức giữa các đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán và kiểm toán viên về trách nhiệm chính của kiểm toán viên khi kiểm toán báo cáo tài chính Điều này đã khuyến khích các tổ chức nghề nghiệp ở các nước xây dựng chuẩn mực để giới hạn lại trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến trách nhiệm ngăn chặn và phát hiện gian lận Cụ thể như AICPA ban hành SAS 53 năm
1998 quy định về “Trách nhiệm của kiểm toán viên trong việc phát hiện và báo cáo các sai sót”, SAS 82 năm 1997 “Đánh giá gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính” và cuối cùng là SAS 99 năm 2002
Nhằm tăng cường sự phối hợp của ngành nghề một cách hài hòa trên toàn thế giới, IFAC ủy nhiệm cho IAASB ban hành hệ thống chuẩn mực quốc tế về kiểm toán (ISA) Hệ thống chuẩn mực về kiểm toán được ban hành bao gồm những hướng dẫn và giải thích về các nguyên tắc cơ bản để các kiểm toán viên có thể áp
Trang 24dụng trong thực tế cũng như đo lường và đánh giá chất lượng kiểm toán (Vũ Hữu Đức & các tác giả, 2005) Việc đánh giá trách nhiệm của kiểm toán viên được xem xét dựa trên các chuẩn mực ISA 200 “Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính”, ISA 240 “ Trách nhiệm kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót khi kiểm toán báo cáo tài chính”, ISA 250 “Xem xét tính tuân thủ pháp luật
và các quy định trong kiểm toán báo cáo tài chính”…
Theo ISA 200, kiểm toán viên phải tuân thủ quy định của pháp luật tại từng quốc gia, tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, tuân thủ chuẩn mực kiểm toán
Cụ thể, kiểm toán viên phải có thái độ hoài nghi nghề nghiệp đúng mực và phải thực hiện các xét đoán chuyên môn, phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để giảm thiểu rủi ro kiểm toán tới một mức thấp có thể chấp nhận được Theo ISA 240, kiểm toán viên có trách nhiệm phát hiện sai sót và gian lận trọng yếu Nhưng kiểm toán viên không thể hoàn toàn đảm bảo rằng toàn bộ sai sót và trọng yếu trong báo cáo tài chính được phát hiện
2.3 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên
2.3.1 Nguyên nhân dẫn đến trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên
Kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm với khách hàng, cổ đông, chủ nợ và bên thứ ba có liên quan (Overview of auditor’s legal liability) Các đối tượng này để thắng kiện phải đưa ra được một số bằng chứng chứng tỏ kiểm toán viên có sai phạm do thiếu thận trọng đúng mức như:
- Kiểm toán viên không tôn trọng các chuẩn mực nghề nghiệp
- Kiểm toán viên đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính không xác đáng gây thiệt hại cho các đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán thực hiện các giao dịch với doanh nghiệp
- Bên thứ ba bị thiệt hại về tài sản
Trang 252.3.2 Quy định của luật về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở một
số quốc gia tręn thế giới
2.3.2.1 Quy định của Mỹ
Ở Mỹ, luật pháp giữa các bang khác nhau, ngoài ra chính phủ liên bang cũng
có một hệ thống luật riêng (Baker & Quick 1996) cho rằng kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm pháp lý theo sự điều chỉnh của “common law” (luật chung) và
“statutory law” (luật riêng)
- Trách nhiệm đối với khách hàng
Theo quy định của “common law”, khách hàng có thể kiện kiểm toán viên do
sự bất cẩn nếu khách hàng chứng minh được kiểm toán viên thiếu thận trọng và ý kiến của kiểm toán viên về báo cáo tài chính gây ra thiệt hại cho khách hàng Kiểm toán viên chỉ phải chịu trách nhiệm với bên thứ ba nếu kiểm toán viên có hành vi gian lận Vụ kiện Ultramares Corporation- 1923 là một trường hợp điển hình
Đầu năm 1924, công ty kiểm toán Touche, Niven & Co được thuê để kiểm toán báo cáo tài chính năm tài chính 1923 cho công ty Fred Stern & Co, một công
ty chuyên về nhập khẩu cao su Touche đã cung cấp cho Fred Stern 32 bản copy báo cáo tài chính đã được chấp nhận vào tháng 3 năm 1924 Các bản báo cáo này đã được cung cấp cho các chủ nợ và cổ đông của công ty Căn cứ vào báo cáo kiểm toán đã được chấp nhận, công ty Ultramares đã chấp nhận cho Fred Stern được nợ một khoản tiền lớn Tháng 1/1925, Fred Stern phá sản Ultramares đã kiện công ty kiểm toán Touche ra tòa vì cho rằng kiểm toán thực hiện cuộc kiểm toán thiếu thận trọng đúng mức nên đã làm họ bị thiệt hại
Tòa án ở NewYork đã bác bỏ yêu cầu của Ultramares về việc yêu cầu kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp này Theo quy định của
“Common law”, Tòa cho rằng, kiểm toán viên cũng phải chịu trách nhiệm đối với bên thứ 3 Tuy nhiên, bên thứ ba không thể kiện kiểm toán viên do lỗi bất cẩn không cố ý vì nguyên tắc bí mật, kiểm toán chỉ phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với khách hàng khi mắc sai sót này Kiểm toán viên sẽ phải chịu trách nhiệm đối với bên thứ ba chỉ khi có lỗi do bất cẩn nghiêm trọng
Trang 26- Trách nhiệm đối với những người sử dụng thông tin biết trước
Năm 1965, Hạ viện Mỹ đã ban hành “Restatement (2nd) of the Law of the Tort” mở rộng trách nhiệm của kiểm toán viên do thiếu thận trọng khi kiểm toán đối với những bên liên quan được biết trước, những đối tượng mà dựa vào báo cáo kiểm toán để ra những quyết định kinh doanh Vụ kiện của Rusch Factors, Inc v Levin
đã áp dụng luật này và tạo nên một tiền lệ quan trọng cho quyền lợi của bên thứ ba đối với kiểm toán viên
Tòa án địa phương đã căn cứ theo đoạn 552 của Restatement (Second) of Torts và cho rằng kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với bên thứ 3 nếu co sai sót do bất cẩn trong khi thực hiện kiểm toán
- Trách nhiệm đối với những người sử dụng thông tin chưa được biết trước
Từ những năm 1980, trách nhiệm của kiểm toán viên đối với bên thứ ba không được biết trước đã được triển khai ở một số bang của Mỹ (New Jersey) Đây là những đối tượng mà kiểm toán không biết trước nhưng họ có quyền trông mong và đưa ra những quyết định dựa trên sự tin tưởng vào báo cáo của kiểm toán
Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với bên thứ ba tiếp tục được mở rộng, điển hình như vụ kiện của Rosenblum Trong vụ kiện này, nhà đầu tư Harry và Barry Rosenblum đã kiện Touche Ross, kiểm toán viên cho Giant Stores Touche Ross đã cho ý kiến chấp nhận toàn phần báo cáo tài chính của Giant Stores để cho Giant Stores chào bán chứng khoán năm 1972 mặc dù Giant Stores đã ghi nhận một
số tài sản không thuộc sở hữu của mình và bỏ qua không ghi nhận một số khoản phải trả quan trọng vào năm 1971, 1972 Giant Stores tuyên bố phá sản vào năm
1973 Tòa án của bang New Jersey đã kết luận là kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm do bất cẩn khi thực hiện kiểm toán đối với tất cả các đối tượng mà kiểm toán viên cho là họ có sử dụng báo cáo kiểm toán Tuy nhiên, trách nhiệm chỉ mở rộng đối với những đối tượng mà dựa vào báo cáo kiểm toán để ra những quyết định kinh doanh thích hợp cho họ
Trang 27Tuy nhiên, từ giữa những năm 1980, một số bang như New York, Illinois, Kansas, Michigan… đã quay ngược lại khuynh hướng này, các bang này hướng tới một phạm vị hẹp hơn về trách nhiệm của kiểm toán viên Tòa án của bang này cho rằng bên thứ ba chỉ có thể kiện kiện kiểm toán viên nếu họ có thể chứng minh được kiểm toán viên có một mối liên quan gần với họ Vụ kiện của Credit Alliance kiện công ty kiểm toán Arthur Andersen là một ví dụ (1985) Sau đó, AICPA đã ban hành một dự thảo về điều lệ thích hợp liên quan đến sự thiếu thận trọng dẫn đến phát sinh trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên
Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên được quy định ở Luật chứng khoán
1933 (Security Act) và Luật giao dịch chứng khoán 1934 (Security Exchange Act- SEC) Các công ty cổ phần đại chúng phải phát hành báo cáo tài chính tuân thủ theo quy định của các Luật này để bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư cổ phiếu Vì thế, một số đoạn trong Luật này quy định về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên, như đoạn 10, 11 cho rằng các nhà đầu tư có quyền kiện kiểm toán viên nếu kiểm toán viên thiếu thận trọng khi thực hiện cuộc kiểm toán và dẫn đến đưa ra ý kiến không đúng về báo cáo tài chính gây thiệt hại cho nhà đầu tư- bên thứ ba (Overview
of auditor’s legal liability) Từ năm 1960 đến giữa những năm 1970, tòa án đều căn
cứ vào đoạn 10b của SEC để buộc kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm theo (Hung- Chao Yu, 1996) Tuy nhiên, vụ kiện của Hochfelder kiện Ernst & Young lại
có sự thay đổi Tòa án tối cao của Mỹ đã giới hạn trách nhiệm của kiểm toán viên
Họ cho rằng kiểm toán viên sơ sót khi thực hiện kiểm toán không phải chịu trách nhiệm dân sự như quy định của đoạn 10b, trừ khi kiểm toán viên cố tình lừa dối hoặc gian lận gây thiệt hại cho bên thứ ba
Luật chứng khoán 1933 (Security Act) và Luật giao dịch chứng khoán 1934 (Security Exchange Act- SEC) được sửa đổi vào năm 1995 Nội dung sửa đổi cho rằng kiểm toán viên chỉ chịu trách nhiệm nếu có sai sót trọng yếu gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng hoặc bên thứ ba Ngoài ra, nội dung Luật cải cách (1995) còn quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường khi gây ra thiệt hại
Trang 28Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên còn được quy định theo RICO 1970 (Racketeer Influenced and Corrupt Organizations Act)
2.3.2.2 Quy định của Anh
Nước Anh chỉ có một hệ thống luật thống nhất trong cả nước Trước năm
1964, Luật pháp của Anh quy định các bên thứ ba sử dụng thông tin của báo cáo tài chính có thể kiện kiểm toán viên nếu có sơ sót do bất cẩn Điều này thay đổi bắt đầu
từ năm 1964 từ vụ kiện của công ty Hedle Byrne & công ty kiểm toán Heller & Parners (Carl Pacini & et al, 2000) Tòa án tối cao của Anh đã bác bỏ đơn kiện của bên thứ ba kiện kiểm toán có sơ suất gây thiệt hại Tòa đã cho rằng kiểm toán viên chỉ chịu trách nhiệm với bên thứ ba nếu họ có mối quan hệ đặc biệt hiện hữu Xem mối quan hệ đặc biệt ở đây là quan hệ hợp đồng Tuy vậy, thời điểm đó, pháp luật của Anh không có quy định cụ thể nào về việc xác định thế nào là một mối quan hệ đặc biệt
Sau vụ kiện Hedle Byrne, khuynh hướng mở rộng trách nhiệm của kiểm toán viên đã được xem xét Đầu tiên là “giả định tự nguyện” về trách nhiệm của kiểm toán viên, thứ hai là sự tin cậy của bên thứ ba, và cuối cùng là đối với những đối tượng chưa được biết trước Theo xu hướng này, kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm đối với tất cả các đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán để ra những quyết định Tiền lệ của quy định này là vụ kiện của Anns và London Borough of Merton năm 1978
Sau đó, đến vụ kiện của Caparo thì trách nhiệm của kiểm toán viên được giới hạn lại Vụ kiện của Caparo Industries plc kiện kiểm toán viên bất cẩn khi thực hiện kiểm toán cho công ty Fidelity plc dẫn đến cho ý kiến không xác đáng về báo cáo tài chính, gây thiệt hại cho Caparo Tòa án đã cho rằng (theo Luật công ty 1985 của Anh), kiểm toán viên chỉ có trách nhiệm với khách hàng do lỗi thiếu thận trọng đúng mức và chỉ có trách nhiệm đối với các cổ đông khi kiểm toán viên cố tình làm sai, hay gian lận Tòa đã bác bỏ quan điểm kiểm toán viên cần nhận thấy trước thiệt hại cho các cổ đông của công ty khách hàng do sự thiếu cẩn trọng khi thực hiện cuộc kiểm toán
Trang 29Từ sau vụ kiện của Caparo, tòa án Anh tiếp tục giới hạn trách nhiệm của kiểm toán viên đối với bên thứ ba do bất cẩn Tòa án Anh cho rằng kiểm toán viên không phải chịu trách nhiệm đối với các nhà đầu tư, cổ đông, những đối tượng mà dựa vào báo cáo kiểm toán để quyết định mua cổ phiếu do sự bất cẩn khi kiểm toán
2.3.2.3 Quy định của Úc
Từ năm 1968, Úc không xem xét đến trách nhiệm pháp lý của kiểm toán đối với bên thứ ba do lỗi bất cẩn khi kiểm toán Trách nhiệm này chỉ được mở rộng xem xét từ năm 1983 theo phán quyết của tòa án tối cao bang New South Wale, từ
vụ kiện của Home Pty Ltd Tòa án cho rằng kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm đối với bên thứ ba nếu như kiểm toán viên có sai sót trọng yếu khi kiểm toán vì bên thứ ba đã dựa vào các báo cáo đã được kiểm toán để mua cổ phiếu và bị thiệt hại về kinh tế
Xu hướng thu hẹp phạm vi trách nhiệm của kiểm toán viên ở Úc bắt đầu từ năm 1992 với vụ kiện của R Lowe Lippman Figdor & Franck Tòa án của bang Victoria đã chỉ ra rằng kiểm toán viên chỉ chịu trách nhiệm đối với bên thứ ba do lỗi bất cẩn khi kiểm toán nhận thức chắc chắn bên thứ ba cụ thể nào sẽ sử dụng báo cáo kiểm toán cho một mục đích cụ thể trong một giao dịch được xác định
Đến năm 1997, tòa án của Úc đã ra phán quyết đầu tiên về trách nhiệm của kiểm toán viên đối với bên thứ ba do sơ suất khi thực hiện kiểm toán trong vụ kiện của tập đoàn tài chính Esanda và Peat Marwick Hungerfords Phán quyết của tòa án trong vụ kiện này đã cho thấy xu hướng rõ ràng trong luật pháp của Úc về phạm vi giới hạn trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên đối với bên thứ ba cho các sai sót trọng yếu do bất cẩn Tòa án Úc đã đưa ra một số yếu tố cần xem xét để đánh giá liệu là kiểm toán viên có phải chịu trách nhiệm đối với bên thứ ba không như “bên thứ ba có kiến thức nhất định khi đọc và dựa vào báo cáo kiểm toán để ra quyết định không?”, “kiểm toán viên có giảm bớt các thủ tục khi kiểm toán để giảm mức phí nhằm tăng khả năng cạnh tranh không?”, “trách nhiệm của kiểm toán viên chỉ được xem xét khi nhà đầu tư, chủ nợ là bên nguyên đơn và bị thiệt hại về kinh tế”…
Trang 302.3.2.4 Quy định của Đức
Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với khách hàng được quy định ở phần 323 trong Luật thương mại của Đức (German Commercial Code) Kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm về pháp lý đối với khách hàng do cố ý hoặc thiếu thận trọng và làm khách hàng thiệt hại Nếu kiểm toán viên thực hiện kiểm toán một cách cẩu thả, trách nhiệm bồi thường thiệt hại giới hạn khoảng DM 500.000- 1.000.000 cho mỗi cuộc kiểm toán
Tóm lại, các quốc gia được trình bày ở trên có những điểm khá tương đồng trong quy định trách nhiệm đối với kiểm toán viên đối với khách hàng và bên thứ ba
có liên quan Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên đã những mở rộng trong khoảng thời gian từ những năm 1960 đến giữa những năm 1980 Nhưng sau đó, các quốc gia này đều hướng đến một xu hướng chung là trách nhiệm kiểm toán viên đối với bên thứ ban thu hẹp hơn khi kiểm toán viên có sai sót do bất cẩn
2.3.2.5 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200:
- Kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến về việc số liệu báo cáo tài chính có được lập và trình bày trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được
áp dụng hay không
- Một cuộc kiểm toán theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được thực hiện với giả thiết rằng Ban Giám đốc và Ban quản trị đơn vị được kiểm toán (trong phạm vi phù hợp) đã thừa nhận những trách nhiệm nhất định làm cơ sở cho việc tiến hành cuộc kiểm toán Việc kiểm toán báo cáo tài chính không làm giảm nhẹ trách nhiệm của Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị đơn vị được kiểm toán
- Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam yêu cầu kiểm toán viên phải đạt được
sự đảm bảo hợp lý về việc liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện
Trang 31tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn hay không
- Trách nhiệm của kiểm toán viên là đưa ra ý kiến đối với tổng thể báo cáo tài chính về việc có tồn tại các sai sót mang tính trọng yếu hay không
- Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam yêu cầu kiểm toán viên phải thực hiện xét đoán chuyên môn và luôn duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt quá trình lập kế hoạch cũng như thực hiện kiểm toán
2.4 Khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên giữa người sử dụng Báo cáo tài chính được kiểm toán và kiểm toán viên
Như vậy, trách nhiệm của kiểm toán viên bao gồm trách nhiệm nghề nghiệp
và trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm nghề nghiệp tập trung chủ yếu là đưa ra nhận định về tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, đồng thời trách nhiệm phụ
là phát hiện các sai phạm trọng yếu và thông báo cho nhà quản lý về các gian lận
mà kiểm toán viên phát hiện được trong tiến trình thực hiện kiểm toán Bên cạnh trách nhiệm về nghề nghiệp, kiểm toán viên còn phải chịu trách nhiệm pháp lý với các đối tượng sử dụng thông tin của kiểm toán như khách hàng, chủ nợ, nhà đầu tư… theo quy định của luật pháp của mỗi nước Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên phát sinh chủ yếu do thiếu thận trọng, chưa làm hết trách nhiệm của mình khi thực hiện kiểm toán cũng như các quy định về nghề nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu
Trên thế giới, trong những năm gần đây, những chỉ trích và số lượng những vụ kiện về kết quả kiểm toán báo cáo tài chính đối với kiểm toán viên đều gia tăng Điều đó cho thấy dường như có sự mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa yêu cầu của
xã hội và khả năng đáp ứng của ngành nghề kiểm toán Các nhà nghiên cứu đã đưa
ra khái niệm “ Khoảng cách giữa yêu cầu của xã hội và khả năng đáp ứng của ngành nghề” (audit expectation gap) Nhiều nghiên cứu thực nghiệm về khoảng cách mong đợi đã cho thấy một trong những nguyên nhân chính gây ra khoảng cách này là do
sự khác nhau trong nhận thức giữa xã hội, cụ thể là những đối tượng sử dụng báo
Trang 32cáo kiểm toán và kiểm toán viên về trách nhiệm của kiểm toán viên khi kiểm toán báo cáo tài chính (Mahdi Salehi & Mahadevaswamy, 2008)
2.4.1 Khái niệm về khoảng cách mong đợi
Mong đợi cao của xã hội về ngành nghề kiểm toán đã tạo ra khoảng cách giữa nhận thức của kiểm toán và người sử dụng báo cáo kiểm toán về chức năng của kiểm toán Thuật ngữ khoảng cách mong đợi (audit expectation gap) chỉ sự mong đợi khác nhau về chức năng kiểm toán giữa kiểm toán viên và xã hội, chủ yếu là những người sử dụng báo cáo tài chính (Liggio,1974; Cohen Commission, 1978) Liggio (1974), (theo Mahdi Salehi & Mahadevaswamy, 2008), người đầu tiên đưa ra khái niệm thế nào là khoảng cách mong đợi cho rằng, khoảng cách mong đợi
là sự khác nhau giữa mức độ nhận thức về khả năng thực hiện giữa kiểm toán viên
và xã hội Đó là mong đợi của xã hội và khả năng đáp ứng của kiểm toán viên theo (Semiu & Johnson, 2011) Ủy ban Cohen của Mỹ đã nói đến khoảng cách này là sự khác nhau về quan điểm giữa (a) xã hội nhận thức về trách nhiệm của kiểm toán viên là gì và (b) kiểm toán viên nhận thức trách nhiệm của mình là gì Họ cho rằng
có tồn tại khoảng cách giữa cái mà xã hội cần và yêu cầu và cái mà kiểm toán viên
có thể và có khả năng đáp ứng hợp lý
Theo (Semiu & Johnson, 2011) mô tả khoảng cách mong đợi là mong đợi của
xã hội về vai trò và trách nhiệm của kiểm toán viên độc lập khác với trách nhiệm và vai trò của kiểm toán viên theo quy định của luật và chuẩn mực Ngoài ra còn nhiều quan điểm khác nhau về khoảng cách mong đợi Tuy nhiên, mô hình diễn đạt khoảng cách mong đợi hiện nay được sử dụng phổ biến ở nhiều nước để kiểm tra sự hiện hữu và khám phá nguyên nhân gây ra khoảng cách mong đợi là theo nghiên cứu của (Porter, 1993) Porter chỉ trích khái niệm của Liggio và Cohen về khoảng cách mong đợi là quá hẹp Vì vậy, Porter đã đưa ra mô hình để phân tích khoảng cách mong đợi, mô hình này gồm hai nhân tố: khoảng cách do yêu cầu quá cao của
xã hội về nghề nghiệp kiểm toán và khoảng cách do cách thức thực hiện kiểm toán chưa hoàn hảo
Trang 33Theo mô hình này, khoảng cách do yêu cầu quá cao của xã hội đối với nghề nghiệp kiểm toán là sự khác nhau giữa “cái mà xã hội yêu cầu kiểm toán viên phải đạt được và cái mà kiểm toán viên có thể hoàn thành một cách hợp lý” (Porter, 1993) Khoảng cách này luôn luôn hiện hữu vì kiểm toán viên chỉ đưa ra ý kiến là báo cáo tài chính trung thực và hợp lý, đầy đủ và phù hợp theo chuẩn mực kế toán, nhưng nhiều người lại cho rằng khi đã nhận xét báo cáo tài chính trung thực và hợp
lý nghĩa là kiểm toán viên phải bảo đảm các báo cáo tài chính là chính xác, đơn vị không còn có gian lận… Kiểm toán viên không thể đáp ứng được yêu cầu này do khía cạnh kinh tế và những hạn chế tiềm tàng của kiểm toán (Kiểm toán, 2005, 44) Khoảng cách do việc thực hiện dịch vụ kiểm toán chưa hoàn hảo được đề cập
là sự khác nhau về nhận thức giữa “cái mà xã hội mong chờ kiểm toán có thể hoàn thành hợp lý và cái mà kiểm toán viên nhận thức được để hoàn thành” (Porter, 1993) Khoảng cách này chia làm hai phần:
- Khoảng cách do thiếu hụt chuẩn mực (chuẩn mực hợp lý và chuẩn mực hiện tại): khoảng cách giữa trách nhiệm xác định theo các quy định của luật và chuẩn mực nghề nghiệp ban hành
- Khoảng cách do thiếu sót khi thực hiện kiểm toán: là khoảng cách giữa quy định của chuẩn mực dự kiến mà kiểm toán phải thực hiện khi tiến hành kiểm toán theo trách nhiệm của mình và nhận thức thực tế của kiểm toán viên khi thực hiện các công việc này
Theo nghiên cứu của Fadzly & Ahmad (2004), sự tồn tại của khoảng cách mong đợi là do sự khác nhau về nhận thức giữa xã hội bao gồm khách hàng, ngân hàng, nhà đầu tư… và kiểm toán viên về: (1) vai trò và trách nhiệm thực sự hoặc không chắc chắn của kiểm toán viên liên quan đến việc ngăn chặn và phát hiện gian lận, liên quan đến việc lập báo cáo tài chính; (2) sự hài lòng của khách hàng về dịch
vụ cung cấp, (3) khác nhau về nhận thức liên quan đến mục tiêu kiểm toán Ngoài
ra, khoảng cách này còn là nhận thức khác nhau của kiểm toán viên về chuẩn mực
và khác nhau trong việc tuân thủ chuẩn mực khi thực hiện kiểm toán, sự khác nhau
Trang 34giữa mức độ đánh giá trọng yếu của kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo tài chính…
2.4.2 Các nghiên cứu trước đây về khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm toán viên giữa người sử dụng báo cáo kiểm toán và kiểm toán viên
Nguyên nhân gây ra khoảng cách mong đợi đã được nhiều nghiên cứu thực hiện trong suốt thời gian qua Theo nghiên cứu (Odia James & Izedonmi 2010), những nhân tố có thể xem là nguyên nhân gây ra sự tồn tại của khoảng cách mong đợi là:
- Sự phức tạp của chức năng kiểm toán
- Sự lạc hậu của nghề nghiệp không đáp ứng theo kịp sự thay đổi mong muốn của xã hội
- Sự chủ quan của kiểm toán viên trong quá trình thực hiện kiểm toán
- Những quy định chuyên môn của kiểm toán
Nghiên cứu của (Mahdi Salehi & Mahadevaswamy, 2008) xác định sự độc lập của kiểm toán là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khoảng cách mong đợi Nghiên cứu cũng xác định các nhân tố chính ảnh hưởng đến khoảng cách mong đợi
là sự độc lập của kiểm toán viên, kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm với ai, khả năng thực tế của kiểm toán viên, khía cạnh kinh tế của kiểm toán và trách nhiệm của kiểm toán viên đối với việc phát hiện gian lận
Một nhân tố khác ảnh hưởng đến khoảng cách mong đợi theo nghiên cứu của (Semiu & Johnson, 2011) là sự hiểu không đúng về chức năng kiểm toán của những người sử dụng báo cáo kiểm toán Nói cách khác, sự thiếu kiến thức của những người sử dụng báo cáo kiểm toán đã dẫn đến mong đợi của xã hội quá cao Quan điểm này cũng nhất quán với kết quả nghiên cứu của Porter & Gowthorpe theo (Semiu & John, 2011) Họ thực hiện nghiên cứu ở Anh và kết quả khảo sát cho thấy
sự thiếu kiến thức của xã hội là nhân tố chính gây ra sự kỳ vọng quá cao của xã hội
về chức năng của kiểm toán Công chúng quá phóng đại những thiếu sót của kiểm
Trang 35toán và kỳ vọng nhiều vào những dịch vụ mà nghề nghiệp kiểm toán đang nỗ lực thực hiện để đáp ứng yêu cầu của công chúng
(Vitalija, 2011) cho rằng các nghiên cứu về khoảng cách mong đợi được thực hiện trên thế giới trong giai đoạn đầu chủ yếu là khám phá nhận thức của những người sử dụng báo cáo kiểm toán về vai trò và trách nhiệm của kiểm toán viên Sau
đó, nhiều nghiên cứu khác khám phá sự hiện hữu của khoảng cách mong đợi, nguyên nhân gây ra khoảng cách này và đề xuất giải pháp để hạn chế Mặc dù, các nghiên cứu sử dụng nhiều công cụ nghiên cứu đa dạng và tiến hành ở các nước khác nhau, nhưng cách thực hiện chiếm ưu thế là sử dụng bảng câu hỏi để điều tra khảo sát
Nghiên cứu của Humphrey và et al năm 1993 (Semiu & John, 2011) cho rằng các tranh cãi về khoảng cách mong đợi tập trung chủ yếu vào các vấn đề liên quan đến vai trò và trách nhiệm của kiểm toán viên, bản chất và nhận thức về báo cáo kiểm toán, chất lượng kiểm toán, cấu trúc và hướng dẫn của các quy định chuyên môn nghề nghiệp Tương tự, Best & et al., năm 2001 tiến hành khảo sát các kiểm toán viên và đối tượng chính sử dụng báo cáo tài chính như ngân hàng, nhà đầu tư Nghiên cứu đã chia các vấn đề liên quan đến khoảng cách mong đợi thành 3 nhóm: trách nhiệm của kiểm toán viên, độ tin cậy và tính hữu ích của báo cáo kiểm toán Cũng cùng quan điểm như Best & et al., thực hiện 2002, nghiên cứu của Siddiqui & Nasreen thực hiện năm 2004 ( Salehi & Rostami, 2009) tập trung vào việc xác định
có sự hiện hữu của khoảng cách mong đợi ở Bangladesh Đối tượng khảo sát điều tra của nghiên cứu này các các sinh viên chuyên ngành kế toán được chọn như là một nhóm đại điện cho nhận thức của xã hội Bảng câu hỏi của nghiên cứu này bao gồm 3 vấn đề, đó là trách nhiệm của kiểm toán viên, độ tin cậy và tính hữu ích của báo cáo kiểm toán Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và sử dụng t-test để so sánh giữa hai nhóm đối tượng Kết quả cho thấy khoảng cách mong đợi tồn tại ở các 3 khía cạnh và khác biệt lớn nhất giữa
2 nhóm trong 3 khía cạnh đó là nhận thức về trách nhiệm của kiểm toán viên Kết luận của nghiên cứu này cũng giống nghiên cứu của (Dixon và et al., 2006) theo
Trang 36(Salehi & Rostami, 2009) thực hiện ở Ai Cập khi điều tra khảo sát thông qua bảng câu hỏi gồm 16 biến quan sát liên quan đến 3 vấn đề như nghiên cứu trên
Thật vậy, trách nhiệm của kiểm toán viên và khoảng cách mong đợi luôn đi cùng với nhau Khoảng cách mong đợi của xã hội vượt quá chức năng của kiểm toán Nghề nghiệp của kiểm toán luôn bị thách thức để đáp ứng yêu cầu này vì kiểm toán được thực hiện để bảo đảm báo cáo tài chính của đơn vị phù hợp với chuẩn mực và trách nhiệm ngăn chặn gian lận và sai sót nên là trách nhiệm của người quản
lý của đơn vị, vì người quản lý chính là người chịu trách nhiệm pháp lý về tính trung thực của báo cáo tài chính (Martens & McEnore, 1991) theo (Mahdi Salehi & Mahadevaswamy, 2008)
Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận là vấn đề được tranh cãi thường xuyên Xã hội kỳ vọng kiểm toán viên phải có trách nhiệm ngăn chặn và phát hiện gian lận và xã hội cũng thường không hài lòng về trách nhiệm này của kiểm toán viên Vì thế, các nỗ lực của nghề nghiệp kiểm toán là cố gắng tránh trách nhiệm liên quan đến phát hiện gian lận đã bị xã hội thúc đẩy thực hiện và làm hạn chế áp lực của công chúng liên quan đến vấn đề này đồng thời làm giảm trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên, theo (Mahdi Salehi & Mahadevaswamy, 2008) Những nghiên cứu thu thập bằng chứng thực nghiệm ở các nước khác nhau trên thế giới về sự hiện hữu của khoảng cách mong đợi thường dựa vào sự nhận thức khác nhau giữa kiểm toán viên và các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính về trách nhiệm của kiểm toán viên như ngân hàng, nhà đầu tư, sinh viên… Tất cả các nghiên cứu này đều cho ra kết quả như nhau về sự hiện hữu của khoảng cách mong đợi Cụ thể như, nghiên cứu của Baron & các tác giả năm 1977 (Vatalija, 2011) tiến hành khảo sát ở Mỹ giữa 2 nhóm là kiểm toán viên và những đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán như chuyên gia phân tích tài chính, chuyên gia tín dụng của ngân hàng và giám đốc tài chính của các công ty cổ phần; nghiên cứu của Low năm 1980 (theo Vatalija, 2011) tiến hành ở Úc với đối tượng khảo sát chia
2 nhóm là nhóm kiểm toán viên và nhóm không phải là kiểm toán viên Hai nghiên cứu này đều có mục tiêu là đánh giá sự hiện hữu của khoảng cách mong đợi Kết
Trang 37quả nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau đáng kể trong nhận thức của hai nhóm về trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến việc phát hiện, công bố gian lận và các hành vi bất hợp pháp và những người sử dụng báo cáo kiểm toán đều muốn kiểm toán viên có trách nhiệm hơn những gì mà kiểm toán viên có thể chấp nhận một cách hợp lý
Monroe & Woodliff (1993), (theo Mahdi Salehi & Mahadevaswamy, 2008) khảo sát hiệu quả giáo dục về nhận thức liên quan đến trách nhiệm của kiểm toán viên Đối tượng họ thực hiện khảo sát là sinh viên chuyên ngành kiểm toán và sinh viên chuyên ngành marketing Kết quả nghiên cứu đã cho thấy không có sự khác biệt về nhận thức liên quan đến trách nhiệm của kiểm toán viên giữa hai nhóm sinh viên này ở giai đoạn trước khi học Cả hai nhóm đều tin rằng kiểm toán viên phải có trách nhiệm nhiều hơn nhà quản trị doanh nghiệp trong việc ngăn chặn và phát hiện gian lận và bảo vệ tài sản của đơn vị Vào cuối kỳ học, quan điểm của nhóm sinh viên kiểm toán đã thay đổi Họ tin là kiểm toán viên có trách nhiệm ít hơn nhà quản trị trong vấn đế này nhưng đối với nhóm sinh viên Marketing thì sự thay đổi trong nhận thức là rất ít Nghiên cứu của (Lin & Chen, 2004) tiến hành ở Trung Quốc cũng cho kết luận giống nghiên cứu này Họ khảo sát nhận thức của những người sử dụng báo cáo kiểm toán và cho thấy những đối tượng này đều tin là kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm nhiều hơn nhà quản lý về tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, về việc phát hiện và báo cáo gian lận, sai sót, kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu có hành vi gian lận hoặc thông tin sai lệch trong bản cáo bạch và báo cáo kiểm toán
Một nghiên cứu khác đáng chú ý của (McEnroe et al., 2001) về trách nhiệm của kiểm toán viên Nghiên cứu khảo sát đối tượng là nhà đầu tư và kiểm toán viên Kết quả cho thấy nhà đầu tư có mong đợi cao hơn kiểm toán viên đối với các sự kiện khác nhau và đảm bảo của kiểm toán trong các lĩnh vực liên quan đến công bố,
hệ thống kiểm soát nội bộ, gian lận và hành vi bất hợp pháp Cũng đồng quan điểm như (McEnroe et al., 2001), nghiên cứu của (Fadzly et al., 2004) cũng xác định trách nhiệm của kiểm toán viên là một trong những nhân tố gây ra khoảng cách
Trang 38mong đợi giữa kiểm toán viên và nhà đầu tư Trong nghiên cứu này, họ đã xây dựng
8 vấn đề khác biệt trong nhận thức giữa hai nhóm đối tượng này về trách nhiệm của kiểm toán viên, đó là các vấn đề về ngăn chặn và phát hiện gian lận, về lập báo cáo tài chính, về sự khách quan của kiểm toán, về hệ thống kiểm soát nội bộ, phạm vi kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm pháp lý, sự phạm tội của kiểm toán viên và sự thất bại trong kinh doanh của đơn vị liên quan đến gian lận Nghiên cứu cũng đã chứng minh những người sử dụng thông tin tin chắc là kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm cho tất cả các vấn đề nêu trên, khoảng cách khác biệt lớn nhất là về quan điểm liên quan đến việc lập báo cáo tài chính Cả ngân hàng và nhà đầu tư đều
kỳ vọng rằng kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm về việc lập và trình bày báo cáo tài chính thay vì trách nhiệm đó thuộc về của nhà quản trị doanh nghiệp Một nghiên cứu khác đã có quan điểm khác so với nghiên cứu trên về trách nhiệm của kiểm toán viên Nghiên cứu được thực hiện bởi (Dixon et al., 2006) tiến hành ở Ai Cập Nhóm nghiên cứu đã khảo sát nhận thức giữa xã hội và kiểm toán viên liên quan đến các khía cạnh trách nhiệm của kiểm toán viên như trách nhiệm ngăn chặn
và phát hiện gian lận, trách nhiệm lập và trình bày báo cáo tài chính, trách nhiệm thực hiện cuộc kiểm toán khách quan, trách nhiệm thực hiện đầy đủ các thủ tục kiểm toán Kết quả khảo sát đã cho thấy ở Ai Cập xã hội đều tin rằng trách nhiệm của nhà quản lý chỉ là trách nhiệm liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính, còn các trách nhiệm còn lại đều thuộc về kiểm toán viên
Như vậy, những nghiên cứu trên cho thấy các tranh luận vẫn xoay quanh vấn
đề về trách nhiệm liên quan đến ngăn chặn và phát hiện gian lận có phải là trách nhiệm chính của kiểm toán viên không, mặc dù các quy định nghề nghiệp xác định
rõ trách nhiệm ngăn chặn và phát hiện gian lận không phải là trách nhiệm chính của kiểm toán viên Trách nhiệm này chỉ đứng sau trách nhiệm đưa ra ý kiến báo cáo tài chính trung thực và hợp lý (SAS 82) Nhưng những người sử dụng báo cáo tài chính vẫn nhận thức rằng đây là trách nhiệm chính của kiểm toán viên và họ kỳ vọng kiểm toán viên phải thực hiện đầy đủ và hoàn chỉnh trách nhiệm này
Trang 391 - Sự phức tạp của chức năng
kiểm toán
- Sự lạc hậu của nghề nghiệp
không đáp ứng theo kịp sự thay
đổi mong muốn của xã hội
- Sự chủ quan của kiểm toán viên
trong quá trình thực hiện kiểm
toán
- Những quy định chuyên môn
của kiểm toán
Không được đề cập Odia James &
Izedonmi (2010)
2 - Sự thiếu kiến thức của những
người sử dụng báo cáo kiểm
toán đã dẫn đến mong đợi của
xã hội quá cao
Kiểm toán viên Nghiên cứu
của Boyd năm 2001, theo Semiu & John, 2011)
3 - Sự thiếu kiến thức của xã hội là
nhân tố chính gây ra sự kỳ vọng
quá cao của xã hội về chức
năng của kiểm toán
Kiểm toán viên và công chúng tại nước Anh nói chung
Nghiên cứu của Porter & Gowthorpe năm 2004, theo Semiu & John, 2011)
4 - Vai trò và trách nhiệm của
kiểm toán viên
- Bản chất và nhận thức về báo
cáo kiểm toán
- Chất lượng kiểm toán
- Cấu trúc và hướng dẫn của các
quy định chuyên môn nghề
nghiệp
Kiểm toán viên và đối tượng chính sử dụng BCTC như Ngân hàng, nhà đầu
tư
Nghiên cứu của
Humphrey và các tác giả năm 1993, theo Semiu & John, 2011)
Trang 405 - Trách nhiệm của kiểm toán
viên
- Độ tin cậy và tính hữu ích của
báo cáo kiểm toán
Kiểm toán viên và Sinh viên chuyên ngành kế toán là nhóm đại diện cho nhận thức của xã hội
Nghiên cứu của Siddiqui
& Nasreen năm 2004, theo Salehi & Rostami, 2009)
6 - Trách nhiệm của kiểm toán
viên, đó là các vấn đề về ngăn
chặn và phát hiện gian lận
- Trách nhiệm của kiểm toán
viên về lập báo cáo tài chính
- Sự khách quan của kiểm toán
- Hệ thống kiểm soát nội bộ
- Phạm vi kiểm toán viên phải
chịu trách nhiệm pháp lý
- Sự phạm tội của kiểm toán viên
và sự thất bại trong kinh doanh
của đơn vị liên quan đến gian
lận
Kiểm toán viên và nhà đầu tư
Fadzly & các tác giả (2004)
7 - Trách nhiệm ngăn chặn và phát
hiện gian lận
- Trách nhiệm lập và trình bày
báo cáo tài chính
- Trách nhiệm thực hiện cuộc
kiểm toán khách quan
- Trách nhiệm thực hiện đầy đủ
các thủ tục kiểm toán
Kiểm toán viên và sinh viên chuyên ngành kế toán
Dixon & các tác giả (2006)
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các nghiên cứu trước của các tác giả