MỞ ĐẦU Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Đảng ta đã khẳng định: Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển. Những năm qua, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta phát triển cả về quy mô, chất lượng và cơ cấu ngành nghề, góp phần đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Hệ thống trường học, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường ở các cấp học đều tăng. Cơ sở vật chất trường, lớp, trang thiết bị dạy học được tăng cường. Chất lượng giáo dục có chuyển biến tích cực, tỷ lệ học sinh khá, giỏi, học sinh trúng tuyển đại học, cao đẳng ngày càng cao. Cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở; thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Công tác xã hội hoá giáo dục được quan tâm chỉ đạo thực hiện.... Tuy nhiên, giáo dục và đào tạo vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém. Giáo dục toàn diện đạt kết quả chưa cao; giáo dục ở miền núi còn nhiều bất cập; tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan chậm được khắc phục. Chương trình đào tạo vẫn nặng lý thuyết, ít có sáng tạo các môn học mới. Có một bộ phận học sinh, sinh viên lười học, suy thoái về đạo đức, lối sống. Chưa thực hiện được thật tốt công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo. Đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng, đồng thời còn yếu về chất lượng. Cơ sở vật chất kỹ thuật của giáo dục và đào tạo bị xuống cấp và thiếu thốn nghiêm trọng.... Với những vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài “Giải pháp thực hiện tốt chính sách giáo dục và đào tạo ở nước ta trong điều kiện hiện nay để nghiên cứu, làm đề tài tiểu luận môn học: Chính sách công, nhằm nghiên cứu hệ thống giáo dục và đào tạo, thành tựu, những hạn chế, thách thức trong thời kỳ mới đối với giáo dục, đào tạo Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách giáo dục và đào tạo ở nước ta trong điều kiện hiện nay.
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN: CHÍNH SÁCH CÔNG
Tên đề tài:
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
1
Trang 2MỞ ĐẦU
Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồnnhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước,xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Đảng ta đã khẳng định:
"Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển"
Những năm qua, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta phát triển
cả về quy mô, chất lượng và cơ cấu ngành nghề, góp phần đáp ứng nhucầu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hệthống trường học, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường ở các cấp họcđều tăng Cơ sở vật chất trường, lớp, trang thiết bị dạy học được tăngcường Chất lượng giáo dục có chuyển biến tích cực, tỷ lệ học sinh khá,giỏi, học sinh trúng tuyển đại học, cao đẳng ngày càng cao Cơ bản hoànthành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở;thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi Công tác xã hộihoá giáo dục được quan tâm chỉ đạo thực hiện
Tuy nhiên, giáo dục và đào tạo vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém Giáodục toàn diện đạt kết quả chưa cao; giáo dục ở miền núi còn nhiều bấtcập; tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan chậm được khắc phục.Chương trình đào tạo vẫn nặng lý thuyết, ít có sáng tạo các môn họcmới Có một bộ phận học sinh, sinh viên lười học, suy thoái về đạo đức,lối sống Chưa thực hiện được thật tốt công bằng xã hội trong giáo dục
và đào tạo Đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng, đồng thời còn yếu vềchất lượng Cơ sở vật chất - kỹ thuật của giáo dục và đào tạo bị xuốngcấp và thiếu thốn nghiêm trọng
Với những vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài “Giải pháp thực hiện tốt chính sách giáo dục và đào tạo ở nước ta trong điều kiện hiện nay"
để nghiên cứu, làm đề tài tiểu luận môn học: Chính sách công, nhằm
nghiên cứu hệ thống giáo dục và đào tạo, thành tựu, những hạn chế,thách thức trong thời kỳ mới đối với giáo dục, đào tạo Việt Nam, trên cơ
sở đó đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách
giáo dục và đào tạo ở nước ta trong điều kiện hiện nay.
Trang 3Chương 1 Một số vấn đề có liên quan đến chính sách công, chính sách giáo dục và đào tạo
1.1 Sơ lược về lịch sử ra đời, phát triển của chính sách công
Nghiên cứu tiến trình phát triển của lịch sử cho thấy chính sáchđược ra đời cùng với sự ra đời của nền dân chủ Hi Lạp, từ thế kỷ thứ I(TCN) Những vấn đề chính sách mới được tập trung nghiên cứu từ giữathế kỷ 19 khi mà các nhà khoa học chính trị chuyển sang nghiên cứunhững hành vi, những chuẩn mực của Chính phủ để thỏa mãn các nhucầu của đời sống nhân dân
Đặc biệt, sau các cuộc chiến tranh giành giật thuộc địa đầu thế
kỷ 20, các giá trị về công bằng về bình đẳng cũng được nhìn nhận lại,
tổ chức bộ máy nhà nước và thể chế cũng được thay đổi Nhà nước xãhội chủ nghĩa Xô viết Liên Bang Nga ra đời, vì vậy khoa học chínhsách đã phát triển mạnh hơn, các nhà khoa học đã tập trung nghiêncứu nhằm tìm ra những chính sách để phù hợp với tình hình kinh tế -
xã hội trong thời kỳ mới
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, chính phủ các nước tư bản đãdùng những chính sách kinh tế can thiệp vào hoạt động của thị trườngnhằm làm cho nền kinh tế phát triển theo ý muốn của nhà nước, chốnglại sự đổ vỡ của nền kinh tế tự do
Chẳng hạn, nhà kinh tế học người Anh J.M Keynes đã khẳng định:Nhà nước cần dùng chính sách trợ cấp tài chính và tín dụng để khuyếnkhích khu vực kinh tế tư nhân đầu tư vào nền kinh tế, qua đó tăng nguồntài chính bổ sung cho ngân sách
Hoặc "Nhà nước cần có chính sách để khuyến khích sản xuất kinh doanh và tiêu dùng nhằm tạo lập sự cân đối giữa cung và cầu".
Trang 4Sau này Paul (nhà kinh tế học người Mỹ) đã đề ra lý thuyết "Haibàn tay" Trong đó nhấn mạnh về sự kết hợp giữa nhà nước và thị trườngbằng một số chính sách để phát triển kinh tế - xã hội.
Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường đã phát triểnmạnh cả bề rộng lẫn bề sâu, nên nhà nước tư bản đã có nhiều chính sách
để tác động tới các thành phần kinh tế trong và ngoài nước Các nhà kinhdoanh đều cho rằng chính sách tác động rất lớn tới hoạt động sản xuấtkinh doanh Các tập đoàn kin tế của các nước tư bản luôn quan tâm tớivấn đề chính sách trong nước và ngoài nước để tìm kiếm lợi nhuận
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa vấn đề chính sách cũng đã được
đặc biệt chú trọng, để củng cố liên minh công nông: Lênin đã nói: "Giai
cấp vô sản phải biết hướng chính sách của mình để phục hồi những lực lượng sản xuất của nền kinh tế nông dân".
Sau Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 thành công, Lênin luônluôn nhấn mạnh tới các chính sách kinh tế, đã ban hành nhiều chínhsách kinh tế mới Sau này, Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Xôviết đã tiếp tục ban hành các chính sách để huy động các nguồn nhânlực, vật lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn đề cao vấn đề chínhsách Cụm từ chính sách được đề cập nhiều lần trong Hiến pháp 46, 59, 80
và 92 Chẳng hạn Hiến pháp 1980 ghi "Mục đích chính sách kinh tế củaNhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thỏa mãn ngày càng tốthơn nhu cầu vật chất và văn hóa của toàn thể nhân dân (Điều 15)
Chính sách được hiến định tại Điều 26 Hiến pháp 1992, sửa đổi năm2001: "Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật,
kế hoạch, chính sách " "Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước làlàm cho dân giàu nước mạnh" (Điều 16) Hoặc "Nhà nước thực hiệnchính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc" (Điều 5 Hiếnpháp 1992) "Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từngbước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu
Trang 5số" "Nhà nước có chính sách bảo hộ quyền lợi của người sản xuất vàngười tiêu dùng" (Điều 28) Hoặc "Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủnghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình hữu nghị mở rộng hợp tácquốc tế.
Như vậy, chính sách công là một trong những công cụ cơ bản đượcNhà nước sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước.Song hiện nay đang tồn tại cụm từ "chính sách của Đảng và Nhà nước".Thực tế, ở nước ta, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua việc vạch
ra các cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách - đó chính lànhững căn cứ chỉ đạo để nhà nước ban hành các chính sách công Các chínhsách công là do Nhà nước ban hành Các chính sách này là sự cụ thể hóađường lối, chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng (do vậy, việc
đề cập tới chính sách công ở đây được hiểu là các chính sách công do Nhànước ban hành) Chính sách công ở Việt Nam thường được thể chế hóathành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo căn cứ pháp lý cho việc thihành, song nó bao gồm những phương án hành động không mang tính bắtbuộc, mà có tính định hướng, kích thích phát triển
Trong hơn 25 năm đổi mới vừa qua, Nhà nước Việt Nam có nhiềuchính sách, như: Chính sách đối với người có công với cách mạng; chínhsách dân số kế hoạch hóa gia đình; chính sách đồng bào dân tộc; chínhsách miễn giảm thuế nông nghiệp cho nông dân; chính sách giáo dục vàđào tạo…
1.2 Khái niệm và đặc điểm chính sách công, chính sách giáo dục và đào tạo
Hiện nay, còn có một số quan niệm khác nhau về chính sách TheoPaul một nhà kinh tế học người Mỹ "Chính sách là sự thỏa hiệp củaChính phủ đối với nền kinh tế ngay cả khi không ban hành chính sách".Còn James cho rằng: "Chính sách là những hành động nên hay khôngnên mà Nhà nước lựa chọn"
Trang 6Chính sách gồm nhiều chủ thể ban hành, như chính sách của Nhànước, chính sách của các tổ chức xã hội, chính sách của tổ chức kinh tế,chúng ta chỉ nghiên cứu các chính sách do Nhà nước ban hành (gọi làchính sách công) Vậy chính sách công là gì?
Để quản lý nhà nước, quản lý xã hội và thực hiện các mục tiêu vềchính trị xã hội mà Nhà nước đã định ra Ngoài việc ban hành các vănbản quy phạm pháp luật Thì Nhà nước còn phải ban hành một số vănbản khác, để tác động vào các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, hoặctừng nhóm người cụ thể, hoặc từng cộng đồng người riêng rẽ hoặc các tổchức pháp nhân khác nhau để định hướng các quyền và nghĩa vụ cũngnhư cách ứng xử của các chủ thể này Các chủ thể bị tác động có thể trênphạm vi toàn quốc, hoặc trên một vùng hoặc từng lĩnh vực khác nhau Các văn bản này: định hướng trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạncách ứng xử của Nhà nước trong mối quan hệ với các đối tượng tácđộng; quy định các quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong mốiquan hệ với đối tượng thụ hưởng chính sách; thể hiện ý chí của Nhànước, là công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý kinh tế, quản lý xã hộinhằm thực hiện mục tiêu mà Nhà nước đã định ra Các văn bản nói trênđược gọi là chính sách công
Từ sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm chính sách công như
sau: Chính sách công là định hướng hành động được nhà nước lựa chọn phù hợp với đường lối chính trị để giải quyết một (hoặc một số) vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội trong một thời kỳ nhất định.
Vì thế, chính sách công có các đặc điểm:
- Chính sách phải thể hiện bằng các văn bản Các văn bản do các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành (đại diện cho Nhà nước).Trong các văn bản có những quy định mang tính định hướng cho hoạtđộng của các cơ quan nhà nước và các đối tượng tác động
- Chính sách công thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, ý chí củaNhà nước
Trang 7- Chính sách công chủ yếu mang lại lợi ích về vật chất, về tinhthần cho đối tượng thụ hưởng.
- Chính sách công có mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,
y tế giáo dục và giữ vững ổn định xã hội
- Chính sách công có thể có tính vĩ mô, có thể có tính vi mô
- Chính sách công được bảo đảm thực hiện bằng giáo dục thuyếtphục, động viên khuyến khích
Từ sự phân tích khái niệm và đặc điểm chính sách công trên có thể
rút ra khái niệm chính sách giáo dục và đào tạo như sau: Chính sách giáo dục và đào tạo là những văn bản do Nhà nước ban hành trong
đó quy định các nhiệm vụ, quyền hạn, cách ứng xử của Nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đồng thời quy định các quyền, nghĩa
vụ cũng như cách ứng xử của các đối tượng tác động, các lợi ích mà
họ được thụ hưởng và được bảo đảm thực hiện bằng biện pháp giáo dục, thuyết phục, động viên, khuyến khích với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh, chính trị, xã hội.
Trang 8Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay 2.1 Hệ thống giáo dục và đào tạo ở Việt Nam
Khi đánh giá về nền giáo dục đào tạo ở Việt Nam hiện nay Ngânhàng thế giới (WB) đã nhận xét: “Việt Nam có một thành tích đầy ấntượng về giáo dục, ngay cả khi so sánh với nhiều nền kinh tế khác có mứcthu nhập cao hơn Tuy nhiên, khi cộng đồng quốc tế đang từ giữa thế kỷ
XX và bước vào thiên niên kỷ mới đang đặt ra những thách thức mới rấtquan trọng đối với hệ thống giáo dục đào tạo của Việt Nam”
Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, Việt Nam đã không ngừngphát triển nền giáo dục của mình Ngay cả trong hoàn cảnh chiến tranhđứng trước những khó khăn rất lớn Việt Nam vẫn chăm lo cho giáo dụcđào tạo Điển hình là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời
kỳ Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước: “ dù khókhăn đến mấy, thầy và trò vẫn phải dạy tốt học tốt”
Hiện nay, hệ thống giáo dục và đào tạo ở Việt Nam kể từ lớp l
lên đến đại học là một hệ thống 5 - 4 - 3 - 4 gồm các cấp và các loại
hình sau đây:
- Giáo dục mầm non: Nhà trẻ: không bắt buộc, tối thiểu là 03 tháng
tuổi, thời gian tối đa là 03 năm Mẫu giáo: không bắt buộc, tối thiểu từ 03tuổi; thời gian tối đa là 03 năm
- Giáo dục phổ thông: Tiểu học bắt buộc, tuổi vào học chính thức
là 06, thời gian là 05 năm Tiếp đến là trung học cơ sở 04 năm, phổthông trung học 03 năm
- Giáo dục đào tạo dạy nghề và chuyên nghiệp: Đào tạo nghề 0,5
đến 02 năm; trung học nghề 03 đến 04 năm hoặc trung học chuyên
nghiệp 2,5 đến 04 năm
Trang 9- Giáo dục bậc ba hoặc đại học: Cao đẳng 03 năm; đại học 04 đến
06 năm, tiếp theo là sau đại học.
Hệ thống giáo dục và đào tạo này về cơ bản có thể đáp ứng đượcnhu cầu học tập của nhân dân trong cả nước Tuy nhiên, trước yêu cầucủa công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hệ thống đó cần tiếp tục tựhoàn thiện hơn Có nhiều vấn đề đang đặt ra cho hệ thống giáo dục vàđào tạo Việt Nam trong thời gian đến như:
- Chất lượng giáo dục đào tạo
- Giáo dục đào tạo gắn bó với nhu cầu về nguồn nhân lực của thịtrường lao động
- Cải cách giáo dục ở bậc tiểu học
- Phân luồng học sinh sang đào tạo nghề, đối với phổ thông cơ sở
và trung học phổ thông (sau khi học xong năm cuối ở mỗi cấp học)
- Mạng lưới các trường cao đẳng, đại học
- Đầu tư vào giáo dục và đào tạo
- Tài chính, chi tiêu của giáo dục và đào tạo
- Hiệu quả của giáo dục và đào tạo
- Đội ngũ giáo viên của hệ thống giáo dục và đào tạo
- Cơ sở vật chất của giáo dục và đào tạo
- Giáo dục và đào tạo ở miền núi
2.2 Một số thành tựu về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam
Luật Giáo dục được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ tư từ ngày25/10 đến ngày 02/12/1998 thông qua, Chủ tịch nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam đã ký lệnh công bố ngày 11/12/1998 là bộ
Trang 10luật có nội dung rất tiến bộ, đặt cơ sở pháp lý cho hoạt động dạy vàhọc của các cấp học, nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ giáo dụcđào tạo ở nước ta trong thời kỳ mới Các chính sách về giáo dục đàotạo phải dựa và bộ luật này.
Quy định cơ cấu khung của hệ thống giáo dục: bậc học, thờigian đào tạo, tuổi chuẩn vào lớp đầu từng cấp học điều kiện học lực,văn bằng tốt nghiệp
Quy định mạng lưới các trường, danh mục các ngành nghề đào tạo,mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo
Ban hành các quy chế tuyển sinh, quản lý học sinh, sinh viên,nghiên cứu sinh
Ban hành tiêu chuẩn và phong các chức danh, học vị, học hàm chocác thày giáo, cô giáo; đồng thời quy định tiền lương và các loại phụ cấpcho giáo dục, đào tạo
Xây dựng và ban hành các định mức về thống thiết bị và cơ sở vậtchất của các trường
Xét duyệt và cho phép in, phát hành sách giáo khoa và các ấnphẩm giáo dục đào tạo
Với những chính sách hợp lý của Nhà nước, đã tác động tích cựcđến nay quy mô của giáo dục và đào tạo Việt Nam Hàng năm, số người
đi học các cấp học từ mẫu giáo đến cao đẳng, đại học và sau đại học ởcác loại hình đào tạo (chính quy, tại chức) tới hơn 20 triệu Lượng họcsinh, sinh viên mỗi năm đều tăng từ 1,8 triệu đến 02 triệu người So sánhnăm học 1996 - 1997 với năm học 2012 - 2013 đã tăng gần 05 triệu em,trong đó trung học cơ sở tăng gần 02 lần; trung học phổ thông tăng hơn
02 lần; cao đẳng, đại học tăng 3,5 lần
Việt Nam có một mạng lưới giáo dục phát triển rộng khắp toànquốc từ thành thị đến nông thôn, miền núi, hải đảo Điều đó đã tạo cơ
Trang 11hội cho con em các gia đình ở khắp các miền được đến trường (đặc biệt
là ở cấp tiểu học) và do đó tạo ra sự công bằng được hưởng thụ, đượctiếp cận với giáo dục
Có sự thống nhất trong cả nước về chương trình và nội dung giảngdạy, về sách giáo khoa, về thế giới của từng cấp học Đặc biệt là việcdùng tiếng Việt và chữ quốc ngữ trong giảng dạy, học tập, kể cả viếtluận án thạc sĩ và tiến sĩ khoa học
Các hình thức tổ chức trong giáo dục và đào tạo cũng ngày càng đadạng và mở rộng hơn (trường công lập, trường bán công, trường tư thục,trường dân lập)
Các hình thức giáo dục và đào tạo cũng như vậy, gồm có nhiềuloại: chính quy, tại chức, giáo dục thường xuyên, giáo dục từ xa với sựhợp tác đắc lực của các phương tiện truyền thông: phát thanh và vôtuyến truyền hình; các lớp học buổi tối theo yêu cầu của người học(ngoại ngữ, tin học, kế toán, quản trị doanh nghiệp )
Có một đội ngũ đông đảo giáo viên, giảng viên, giáo sư vàcán bộ quản lý ở các cấp học rất tận tuỵ, hy sinh vì tương lai củathế hệ trẻ Họ đã khắc phục khó khăn, chịu đựng một cuộc sốngcòn thiếu thốn, do đó, họ đã là động lực chủ yếu cho sự phát triểncủa giáo dục đào tạo Nhà nước và nhân dân luôn luôn đánh giá cao
sự đóng góp của họ Sự tăng tưởng của kinh tế và những tiến bộ xãhội mà Việt Nam đạt được trong hơn 25 năm đổi mới có phần đónggóp to lớn của những cán bộ quản lý, nhà khoa hoch, nhà giáo, viênchức hoạt động trong ngành giáo dục đào tạo
3 Một số hạn chế và thách thức trong thời kỳ mới đối với giáo dục và đào tạo
Trang 12Đứng trước nhu cầu của thời kỳ mới về nguồn nhân lực có chấtlượng cao, giáo dục và đào tạo đang phải vượt qua những thách thức,khắc phục những yếu kém:
So với sự đòi hỏi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giáo dụcđào tạo còn nhiều bất cập trên các mặt quy mô, cơ cấu chất lượng,hiệu quả
Chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp về kiến thức,
kỹ năng, phương pháp tư duy khoa học Chẳng hạn, về hiệu quả cần tínhđến ảnh hưởng của lưu ban và bỏ học Theo điều tra, ở Việt Nam, bìnhquân đối với một học sinh:
- Tốt nghiệp tiểu học cần 6,8 năm (cho 05 năm)
- Tốt nghiệp trung học cơ sở cần 5,l năm (cho 04 năm)
- Tốt nghiệp trung học phổ thông cần 3,5 năm (cho 03 năm)
Những năm thêm ra là không có hiệu quả vì đã làm tăng chi phígiáo dục đào tạo
Ngoài ra, còn nói đến hiệu quả ngoài của giáo dục và đào tạo thôngqua mối liên hệ giữa giáo dục đào tạo và khả năng tăng thu nhập khi cóviệc làm; đặc biệt là giữa giáo dục đào tạo với nhu cầu về nhân lực củathị trường lao động (số lượng, cơ sở trình độ chuyên môn) Giữa đào tạo
và sử dụng (gia nhập thị trường lao động) còn có khoảng cách; nhất làkhi so sánh với trình độ quốc tế, với yêu cầu của hội nhập vào buôn bán,cạnh tranh trên thị trường thế giới
Những năm gần đây, xuất hiện hiện tượng thiếu kỷ cương tronghoạt động giáo dục đào tạo đã và đang sẽ còn phải khắc phục (dạy thêmhọc thêm tràn lan gây nên lo lắng cho các gia đình có con em đi học; thunhiều khoản vượt quá quy định và chi tiêu không công khai minh bạch ởmột số cơ sở giáo dục đào tạo)