1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận cao học hoạch định chính sách công cơ sở hoạch định chính sách công (autosaved)

26 2,9K 18

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 54,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Đặt vấn đề. Xét tình hình thực tế, khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới thì sự phân hoà giàu nghèo diễn ra rất nhanh nếu không tích cực xoá đói giảm nghèo và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mục tiêu xây dựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh và tiến bộ của thời đại. Xoá đói giảm nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà nó còn là vấn đề kinh tế xã hội quan trọng, do đó phải có sự chỉ đạo thống nhất giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội. Thực hiện thành công chương trình xoá đói giảm nghèo không chỉ đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho người nông dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng trưởng và phát triển một nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước. Hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hội. Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăn sóc tốt sức khoẻ nhân dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với người nghèo, ổn định tinh thần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vào đường lối và chủ trương của đảng và Nhà nước. Đồng thời hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái. Với tầm quan trọng của việc xóa đói giảm nghèo hiện nay thì việc xây dựng một chính sách xóa đói giảm nghèo cụ thể sẽ cần phải được thực hiện một cách chu toàn hơn. Trong đó hoạch định chính sách chính là giai đoạn quyết định một chính sách có phù hợp và đúng đắn để áp dụng vào thực tiễn hay không. Muốn hoạch định một chính sách xóa đói giảm nghèo tốt thì cần phải có những căn cứ chủ yếu để dựa vào, từ đó sẽ xác định được rõ ràng mục tiêu và giải pháp mà chính sách đang hướng đến. 2. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi: Hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo cần dựa vào những căn cứ nào? Những căn cứ đó có ảnh hưởng như thế nào đến quá trình hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo? Những hạn chế khi hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo gặp phải là gì? Phương pháp giải quyết hạn chế? 3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu Đối tượng: Căn cứ để hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo Phạm vi nghiên cứu: Trong giai đoạn hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt nam hiện nay. 4. Phương pháp nghiên cứu. Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: + Phương pháp nghiên cứu lý thuyết : Thông qua giáo trình nghiên cứu những khái niệm chuyên ngành để hiểu sâu hơn về vấn đề đang cần giải quyết. + Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp kết hợp với phân tích mô tả, so sánh + Phương pháp phân tích tổng hợp...

Trang 2

Xoá đói giảm nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà nó còn làvấn đề kinh tế -xã hội quan trọng, do đó phải có sự chỉ đạo thống nhất giữachính sách kinh tế với chính sách xã hội Thực hiện thành công chương trìnhxoá đói giảm nghèo không chỉ đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thunhập chính đáng cho người nông dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá đóigiảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sựtăng trưởng và phát triển một nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệpđổi mới đất nước Hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xãhội Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăn sóc tốt sứckhoẻ nhân dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoànhập vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lànhmạnh, giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với người nghèo,

ổn định tinh thần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vào đường lối vàchủ trương của đảng và Nhà nước Đồng thời hạn chế và xoá bỏ được các tệnạn xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái

Với tầm quan trọng của việc xóa đói giảm nghèo hiện nay thì việc xâydựng một chính sách xóa đói giảm nghèo cụ thể sẽ cần phải được thực hiệnmột cách chu toàn hơn Trong đó hoạch định chính sách chính là giai đoạnquyết định một chính sách có phù hợp và đúng đắn để áp dụng vào thực tiễn

Trang 3

hay không Muốn hoạch định một chính sách xóa đói giảm nghèo tốt thì cầnphải có những căn cứ chủ yếu để dựa vào, từ đó sẽ xác định được rõ ràng mụctiêu và giải pháp mà chính sách đang hướng đến.

Nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi:

- Hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo cần dựa vào những căn

cứ nào?

- Những căn cứ đó có ảnh hưởng như thế nào đến quá trình hoạch địnhchính sách xóa đói giảm nghèo?

- Những hạn chế khi hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo gặp phải

là gì? Phương pháp giải quyết hạn chế?

3 Đối tượng & phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Căn cứ để hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo

- Phạm vi nghiên cứu: Trong giai đoạn hoạch định chính sách xóađói giảm nghèo ở Việt nam hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu.

- Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết : Thông qua giáo trình nghiên cứunhững khái niệm chuyên ngành để hiểu sâu hơn về vấn đề đang cần giảiquyết

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp kết hợp với phân tích mô tả,

so sánh

+ Phương pháp phân tích- tổng hợp

Trang 5

Phần II:

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 CHÍNH SÁCH CÔNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN

1.1 Khái niệm chính sách công

Chính sách: Là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhàquản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền củamình

Chính sách công: Là quyết định của các chủ thể quyền lực nhà nước, nhằmquy định mục đích, cách thức và chế định hành động của những đối tượng liênquan, để giải quyết những vấn đề nhất định mà xã hội đặt ra Đó là tổng thể cácchuẩn mực, biện phá mà nhà nước sử dụng để quản lý xã hội ( Khoa học chínhsách công- Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội 2008, tr 16)

1.2 Quy trình chính sách công.

Quy trình chính sách công là những bước đi cơ bản, tất yếu bao quát toàn

bộ đời sống của một chính sách, kể từ khi nảy sinh ý tưởng( vấn đề chính sách)tới việc định hình, hoàn chỉnh, thi hành, kiểm nghiệm, sửa đổi hoặc hủy bỏ.Quy trình chính sách công gồm:

- Hoạch định chính sách công

- Thực thi chính sách công

- Đánh giá, tổng kết chính sách công.

2 HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG

2.1 Khái niệm hoạch định chính sách công

Hoạch định chính sách công (Public Policy Making ) là giai đoạn đầutiên trong quy trình xây dựng một chính sách Là việc xây dựng một chínhsách mới theo yêu cầu quản lý, bao gồm việc nghiên cứu đề xuất ra một chínhsách và ban hành chính sách đó Quá trình hoạch định chính sách do nhiềukhâu hợp thành với ảnh hưởng tác động lẫn nhau tương đối phức tạp Thựcchất hoạch định chính sách cũng là một quy trình với các bước đi cụ thể

Trang 6

Sản phẩm của giai đoạn hoạch định chính sách không phải là nhữngkết quả của các hoạt động thực tế, mà ó thường được biểu hiện dưới dạngcác quyết định do các cấp có thẩm quyền ban hành để đưa vào áp dụngtrong thực tiễn.

2.2 Vị trí, vai trò của họach định chính sách công.

Hoạch định chính sách có vị trí quyết định đối với toàn bộ quy trìnhchính sách, vì:

- Thứ nhất, trên cơ sở cho ra đời một chính sách tồn tại thường xuyên vàliên hệ mật thiết với đời sống xã hội, hoạch định chính sách khởi đầu, mởđường cho một quy trình chính sách, bằng việc định ra mục tiêu, cách thức vàbiện pháp đạt tới mục tiêu đó

- Thứ hai, là giai đoạn quan trọng đầu tiên trong quy trình chính sách,sản phẩm của hoạch định chính sách vừa là điều kiện để tiến hành giai đoạntiếp theo, vừa là căn cứ để đánh giá toàn bộ quy trình chính sách

- Thứ ba, việc đề ra một chính sách phù hợp, đáp ứng yêu cầu của thực tế

sẽ đem lại kết quả tích cực trên thực tiễn Chính sách là những công cụ vĩ môcủa Nhà nước để điều tiết và quản lý các quá trình kinh tế- xã hội Chính sáchđúng đắn và phù hợp sẽ đảm bảo cho các hoạt động kinh tế có hiệu quả, thúcđẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và qua đó góp phần tíchcực vào việc củng cố quyền lực Nhà nước

Đối với một quốc gia cũng như một tổ chức, việc xác định chính sách là

vô cùng cần thiết bởi đó là xác định hướng đi gắn với lập kế hoạch dài hạn để

có thể phát triển bền vững Trong một thế giới đa dạng, phức tạp, thay đổinhanh chóng hiện nay thì sự lựa chọn và định hướng chính sách có ý nghĩaquyết định đến tương lai mỗi quốc gia; thể hiện tính chủ động của các chủ thểtrong việc lựa chọn con đường phát triển của mình

3 CÁC CĂN CỨ CHỦ YẾU ĐỂ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG 3.1 Căn cứ chính trị

Bất kỳ một chính sách nào của nhà nước đều mang tính chính trị, cónghĩa là nó căn cứ vào đường lối chính trị và tư tưởng chỉ đạo của Đảng cầm

Trang 7

quyền, phục vụ đường lối và tư tưởng đó Chính sách là công cụ quản lý củaNhà nước, hướng vào những mục tiêu của Nhà nước, mà những mục tiêu nàyluôn thể hiện bản chất và phương hướng của Đảng cầm quyền.

Ở các nước tư bản chủ nghĩa, chính trị thể hiện mối quan hệ giữa các giaicấp, các đảng phái, bao gồm các đảng chính trị, các nhóm có áp lực Sự cạnhtranh giữa các đảng phái và cuộc đấu tranh mạnh mẽ cho sự thăng tiến, quyềnchỉ huy, kiểm soát ảnh cho ảnh hưởng và vị trí của đảng mình, tạo nên môitrường chính trị của những quốc gia này Song, quyền lực chính trị thực tế tậptrung vào tay đảng (hay liên minh đảng) chính trị đang cầm quyền trong giaiđoạn đó Ở nước theo chế độ đại nghị, thủ tướng và nội các là do đảng nắm đa

số ghế trong quốc hội lập nên, vì vậy đương nhiên nhà nước sẽ phục vụ chođường lối chính trị của đáng đó Trong các nước theo chế độ tổng thống, tuytổng thống là người đứng đầu quốc gia, nắm quyền hành pháp tối cao vàthành lập nên nội các, song các chính sách của chính phủ đề ra đều phải đượcquốc hội thông qua Do đó, ngay cả trong trường hợp tổng thống không phảingười của đảng chiếm đa số thì những chính sách của chính phủ vẫn phản ánhlợi ích của đảng này Như vậy, các chính sách của chính phủ luôn tuân theođường lối chính trị của đảng (hoặc liên minh đảng) cầm quyền trong giai đoạn

đó Có thể nói, chính trị quyết định nội dung của chính sách cũng như quyếtđịnh việc lựa chọn giữa các phương án chính sách đưa ra Vì vậy, khi hoạchđịnh một chính sách, cần xác định rõ: chính sách dự định ban hành chịu tácđộng của những yếu tố chính trị nào, chịu ảnh hưởng của những lực lượngchính trị nào và những tác động chính trị nào có thể nảy sinh khi thực hiệnchính sách

Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhànước ta thực hiện những mục tiêu chiến lược của đất nước Đảng lãnh đạoNhà nước thông qua việc vạch ra cương lĩnh, chiến lược và định hướng vềchính sách Nhà nước thể chế hóa những đường lối, chủ trương của Đảngbằng pháp luật và thực thi những đường lối chủ trương đó trong thực tiễn Vì

Trang 8

vậy, những chính sách do Nhà nước đề ra phải căn cứ vào đường lối chủtrương và những định hướng chính sách của Đảng Trong giai đoạn hiện nay,các chính sách của Nhà nước phải được định hướng và đẩy mạnh công cuộcđổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao

và bền vững, đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm anninh, quốc phòng, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

3.2 Căn cứ pháp luật

Trong mỗi quốc gia đều tồn tại những chuẩn mực chung bắt buộc mọingười phải tuân thủ Những chuẩn mực chung đó được cơ quan quyền lực tốicao của nhà nước thông qua và ban hành dưới hình thức văn bản pháp luật

Hệ thống pháp luật tạo nên những khuôn khổ pháp lý quy định và điều chỉnhtất cả các quan hệ xã hội Các chính sách công cũng phải căn cứ vào hệ thốngpháp luật hiện hành

Bản thân các thể chế pháp luật không gây ra hành động Chúng tác độngđến các chính sách bằng cách định hình sự hiện diện của vấn đề và các giảipháp, cũng như các phương pháp để thực hiện các giải pháp đó Các thể chếpháp luật cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những quy tắc hànhđộng, tiêu chuan xây dựng chính sách, những ràng buộc và khuôn khổ đối vớichính sách Nói cách khác, các chính sách không được trái với những quyđịnh pháp luật hiện hành Điều đó có nghĩa là khi hoạch định một chính sáchcần nắm được tất cả các quy định pháp luật đang điều tiết lĩnh vực liên quanđến chính sách đó

Đồng thời, chính sách lại là một nguồn tạo ra những thể chế pháp luậtmới Thông thường, sau khi nhà nước ban hành một chính sách, để thực thichính sách đó trong cuộc sống, nhà nước thường phải thể chế hóa chính sách

đó thành các quy phạm pháp luật vừa khuyến khích, vừa cưỡng chế đối vớiviệc thi hành chính sách đó

Trang 9

Ở nước ta, pháp luật Nhà nước là một hệ thống pháp luật thống nhất,phản ánh ý chí, nguyện vọng và lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dânlao động, được phát triển từng bước phù hợp với định hướng XHCN mà Đảng

đã đề ra Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam Hiến pháp mới nhất của nước ta là Hiến pháp được ban hànhvào năm 1992 Cho đến nay, nhà nước ta đã ban hành được một hệ thốngpháp luật bao quát và điều chỉnh các qua hệ xã hội trong nhiều lĩnh vực đờisống Những văn bản pháp luật này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thànhnền kinh tế thị trường ở nước ta và việc quản lý kinh tế theo cơ chế thị trườngngày càng đi vào nề nếp

Hệ thống pháp luật do Nhà nước ban hành ở nước ta là sự thể chế hóaCương lĩnh, Chiến lược và định hướng chính sách… của Đảng ta Vì vậy, cácchính sách không những phải căn cứ vào những quan điểm, đường lối củaĐảng, mà còn phải tuân thủ những quy phạm pháp luật được thể chế hóa từđường lối chính trị đó Mặt khác, một chính sách mới được ban hành đồngthời lại tạo ra một lĩnh vực điều tiết mới của hệ thống pháp luật Có thể nói,chính sách gắn bó chặt chẽ với hệ thống luật pháp, có mối quan hệ nhân quả

Trang 10

Ở nước ta, công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu quan trọng

về kinh tế Tuy nhiên, cho đến nay,nước ta vẫn là một trong những nướcnghèo, trình độ phát triển kinh tế, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinhdoanh còn thấp, cơ sở lạc hậu,… Trong môi trường kinh tế đó, các giải phápcủa chính sách phải phù hợp với những điều kiện kinh tế hiện có

3.4 Căn cứ xã hội

Việc đề ra một chính sách phải xuất phát từ những căn cứ xã hội Đó là:mức sống của dân cư, tình trạng công ăn việc làm, sự công bằng xã hội, trình

độ dân trí, chất lượng giáo dục, y tế,…

Nếu các căn cứ xã hội ở mức tiến bộ thì việc đề ra các giải pháp của mộtchính sách công có thể dựa vào ý thức tự giác của nhân dân, được sự ủng hộcủa nhiều người , ít bị những yếu tố xã hội tiêu cực cản trở Các căn cứ xã hội

là điều kiện rất quan trọng, đảm bảo cho sự thành công của một chính sách

Vì vậy, khi hoạch định chính sách, luôn phải xác định rõ các yếu tố xã hội nàotác động đến lĩnh vực chính sách đó và ảnh hưởng xã hội có thể xuất hiện khithực thi chính sách

Ở nước ta, điều kiện xã hội có nhiều mặt tiến bộ đời sống vật chất củađại bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt, trình độ dân trí và hưởng thụ vănhóa được nâng cao,…Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tiêu cực và những vấn đề xãhội bức bách đang đặt ra như nạn tham nhũng, buôn lậu chưa ngăn chặn được,việc làm đang là vấn đề gay gắt, sự phân hóa giàu nghèo tăng nhanh, tệ nạn

xã hội phát triển,…

3.5 Căn cứ khoa học- công nghệ.

Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin pháttriển nhảy vọt, làm biến đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và hìnhthành nên kinh tế tri thức Các nước đang phát triển có cơ hội để thu hẹpkhoảng cách, cải thiện vị thế của mình, đồng thời cũng đứng trước nguy cơ tụthậu xa hơ và bị phụ thuộc nếu không tranh thủ được cơ hội và khắc phục cácyếu kém để vươn lên Khoa học- công nghẹ là chiếc chìa khóa mở đường đua

Trang 11

nước ta bước vào thời kỳ CHN-HĐH Khoa học- công nghệ ở đây bao gồm cảkhoa học tự nhiên và khoa học xã hội Do đó, mọi chính sách đề ra đều phảitiếp thu và tận dụng những thành tựu hiện có của khoa học và công nghệ.Chính những yếu tố khoa học- công nghệ tác động rất lớn đến sự thành côngcủa một chính sách.

3.6 Bối cảnh quốc tế

Trong suốt những thập kỷ qua, bối cảnh quốc tế đã có nhiều thay đổi.Chủ nghĩa xã hội hiện thực tạm thời lâm vào thoái trào nhưng vẫn có điềukiện và khả năng phục hồi và phát triển Thế giới đang thay đổi nhanh chóngvới những biểu hiện tuy rất đa dạng nhưng rất nhất quán về chiều hướng: toàncầu hóa và kinh tế tri thức Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, ngày càng

có nhiều nước tham gia, đang bị một số nước phát triển và một số tập đoànkinh tế xuyên quốc gia chi phối, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực.Toàn cầu hóa trở thành một động lực chính thúc đẩy tương tác giữa các quốcgia trên mọi lĩnh vực Toàn cầu hóa dẫn đến sự thay đổi về chính sách liênquốc gia cũng như chính sách của từng quốc gia nhằm tăng tính hiệu quả kinh

tế thông qua việc hội nhập kinh tế, nới lỏng sự kiểm soát các thị trường quốcgia Trong bối cảnh đó, các chính sách của nhà nước ta phải tập tính đếnnhững yếu tố quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế, song phải trên nguyên tắcgiữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa

Tóm lại, các chính sách của Nhà nước phải được xác lập dựa trên nhữngcăn cứ nhất định Những căn cứ này làm cho chính sách đề ra trở thành một

bộ phận thống nhất của hệ thống chính sách Vừa giải quyết mục tiêu riêngcủa từng chính sách, vừa góp phần thực hiện mục tiêu chung của quốc gia

Trang 12

 Bên cạnh những thách thức về giảm nghèo ở nhóm dân tộc thiểu số vànhững vùng khó khăn, quá trình đô thị hoá nhanh chóng và sự tăng lên ồ ạtcủa dòng người di cư từ nông thôn về các thành phố lớn cũng làm tăng áp lựcgiảm nghèo ở khu vực thành thị Nghèo đói ở khu vực thành thị không chỉ thểhiện ở thu nhập thấp, mà còn thể hiện trong thiếu hụt về tiếp cận các dịch vụ y

tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh, nhà ở, các mạng lưới an sinh xã hội, cơ hộitham gia vào thị trường lao động và các hoạt động của cộng đồng Đặc biệt,đặc tính không ổn định và hay di chuyển của những đối tượng di cư tạm thờihoặc không có đăng ký hộ khẩu, cũng khiến cho họ khó tiếp cận với các trợgiúp và dịch vụ công

 Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo tạiViệt Nam 10 năm qua đã đạt được những kết quả nổi bật Đã có hơn 500nghìn lượt hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở, 542 triệu lượt người được hỗ trợbảo hiểm xã hội Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện

Thông qua Chương trình 135 giai đoạn 2, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, thôn,bản đặc biệt khó khăn giảm từ 47% năm 2006 xuống còn 28,8% năm 2010;

Trang 13

thu nhập bình quân đầu người là 4,2 triệuđồng/người/năm;…Tỷ lệ hộ nghèogiảm nhanh, hoàn thành vượt mục tiêu Quốc hội đề ra từ 14,2% năm 2010xuống còn 9,6% năm 2012.

 Mục tiêu Việt Nam đặt ra đến cuối năm 2013 là tỷ lệ nghèo của cả nướcgiảm 2%/năm, từ 9,6% xuống còn 7,6% Riêng tỷ lệ hộ nghèo ở các huyệnnghèo giảm bình quân 5%/năm, từ 43,89% năm 2012 xuống còn 38,89% năm

2013 Đến cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm còn dưới 5% theochuẩn nghèo hiện hành; tỷ lệ nghèo ở các huyện nghèo còn dưới 30%;…   Tuy nhiên, Chương trình xoá đói, giảm nghèo vẫn còn một số hạn chế :

tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhưng chưa bền vững; tốc độ giảm nghèo có xuhướng chậm lại, nguy cơ tái nghèo cao khi có những biến động về kinh tế nhưkhủng hoảng, thất nghiệp cũng như những rủi ro về dịch bệnh, ốm đau, thiêntai khốc liệt và bất thường do biến đổi khí hậu; khoảng cách giàu-nghèo giữacác vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là khu vực miền núi, có vùngcòn trên 50% hộ nghèo, cá biệt có vùng còn 60-70% hộ nghèo;…Nguyênnhân cơ bản của tình trạng trên là nhiều cơ chế, chính sách còn chồng chéodẫn đến việc phân bổ, hiệu quả sử dụng các nguồn lực chưa cao; Nhiều địaphương còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, chưa tự lực vươn lênthoát nghèo; bên cạnh đó vẫn còn một số cơ chế, chính sách chưa phù hợp vớithực tiễn nhưng việc sửa đổi, bổ sung còn chậm; công tác tuyên truyền, vậnđộng nâng cao nhận thức về giảm nghèo chưa được tổ chức thường xuyên;…

   Để xoá đói, giảm nghèo bền vững, không chỉ cần có các chính sáchgiúp các hộ nghèo thoát nghèo mà còn phải có các chính sách phù hợp và thoảđáng để những hộ không nghèo không bị rơi vào nghèo đói; cần tiếp tục xâydựng và triển khai đồng bộ Chương trình, trong đó tập trung các biện phápxóa đói, giảm nghèo tại các vùng và các tỉnh có số hộ nghèo lớn nhất so với

cả nước, nhất là ở các vùng đặc biệt khó khăn; đa dạng hoá huy động nguồnlực trong nước và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, và đổi mới phương thức thựchiện; giảm nghèo gắn với dạy nghề và giải quyết việc làm, nâng cao trình độ

Ngày đăng: 17/11/2016, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w