TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2 HÀ NHẬT LINH NGHỆ THUẬT TẠO THỜI, LẬP THẾ TRONG KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CHỐNG QUÂN MINH XÂM LƯỢC DO LÊ LỢI VÀ N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
HÀ NHẬT LINH
NGHỆ THUẬT TẠO THỜI, LẬP THẾ TRONG KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CHỐNG QUÂN MINH XÂM LƢỢC DO LÊ LỢI VÀ NGUYỄN TRÃI
LÃNH ĐẠO 1418 - 1427
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Hà Nội - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
HÀ NHẬT LINH
NGHỆ THUẬT TẠO THỜI, LẬP THẾ TRONG KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CHỐNG QUÂN MINH XÂM LƯỢC DO LÊ LỢI VÀ NGUYỄN TRÃI
LÃNH ĐẠO 1418 - 1427
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Người hướng dẫn khoa học
Đại tá, ThS Phan Xuân Dũng
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn thầy Phan Xuân Dũng - Phó Giám đốc Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đã tận tình trực tiếp hướng dẫn, cung cấp tài liệu và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa tốt nghiệp này
Trong quá trình làm đề tài, tuy đã cố gắng hết sức nhưng do kiến thức
có hạn nên chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết Tôi rất mong các thầy, cô giáo và các bạn đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Tác giả đề tài
Hà Nhật Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
1 Những nội dung trong khóa luận này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Phan Xuân Dũng
2 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả đề tài
Hà Nhật Linh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TẠO THỜI, LẬP THẾ VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT TẠO THỜI LẬP THẾ TRONG KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CHỐNG QUÂN MINH XÂM LƯỢC DO LÊ LỢI VÀ NGUYỄN TRÃI LÃNH ĐẠO 1418 - 1427 4
1.1 Những vấn đề chung về nghệ thuật tạo thời lập thế 4
1.1.1 Quan niệm về nghệ thuật quân sự 4
1.1.2 Quan niệm “Thế” 4
1.1.3 Quan niệm “Thời” 5
1.1.4 Nghệ thuật tạo thời, lập thế 6
1.1.5 Quan niệm về tạo thời, lập thế của Lê Lợi và Nguyễn Trãi trong khởi nghĩa và chiến tranh chống quân Minh xâm lược 1418 - 1427 6
1.2 Cơ sở hình thành nghệ thuật tạo thời, lập thế trong khởi nghĩa và chiến tranh chống quân Minh xâm lược do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo 1418 - 1427 9
1.2.1 Bối cảnh lịch sử 9
1.2.2 Những kinh nghiệm trong sử dụng nghệ thuật quân sự của dân tộc ta trong lịch sử 11
1.2.3 Tài năng của Lê Lợi và Nguyễn Trãi 17
Chương 2:NGHỆ THUẬT TẠO THỜI, LẬP THẾ TRONG KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CHỐNG QUÂN MINH XÂM LƯỢC 1418 - 1427 VÀ BÀI HỌC HIỆN NAY 23
2.1 Nghệ thuật tạo thời, lập thế trong khởi nghĩa và chiến tranh chống quân Minh xâm lược 1418 - 1427 23
Trang 62.1.1 Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã bố trí cán cân lực lượng của ta một cáchkhoa
học và hiệu quả 23
2.1.2 Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã thực hiện thành công việc giữ vững tính chủ động; làm cho địch phải đánh theo cách đánh của ta 26
2.1.3 Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo các cách đánh khác nhau 28
2.2 Những bài học kinh nghiệm từ nghệ thuật “tạo thời, lập thế” trong khởi nghĩa và chiến tranh chống quân Minh xâm lƣợc năm 1418 - 1427 trong giai đoạn hiện nay 29
2.2.1 Mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới 29
2.2.2 Những bài học kinh nghiệm 30
KẾT LUẬN 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, Lê Lợi và Nguyễn Trãi
là những nhà chính trị, quân sự tài ba văn, võ song toàn và có ảnh hưởng to lớn đối với quân và dân ta trong công cuộc chống quân Minh xâm lược Trong cuộc kháng chiến này, hai ông đã nghiên cứu, suy xét mọi lẽ hưng vong của các triều đại, các trận đánh giành chiến thắng hay thất bại chống
quân Minh trước đó; phân tích sâu sắc “thời” và “thế” trong toàn bộ cục diện
của cuộc kháng chiến…
Trong điều kiện từ tay không mà xây dựng được lực lượng để chống một
kẻ thù mạnh gấp bội, có cả quân đội và chính quyền làm chỗ dựa, trong điều
kiện phải“lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều” Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam
Sơn đã biết tạo thời, lập thế, từng bước chuyển hóa lực lượng, xoay chuyển tình thế, sự phát triển của nghĩa quân gắn liền với nghệ thuật từng bước chuyển thế
trận Nghĩa quân càng đánh càng mạnh“mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn”, còn quân địch càng đánh càng thua “mạnh hóa ra yếu, yếu lại thành nguy”
Với việc lựa chọn rất đúng đắn phương hướng và mục tiêu của các cuộc tiến công chiến lược, khéo kết hợp giữa vây thành với diệt viện, bộ chỉ huy nghĩa quân đã dẫn giải cuộc chiến tranh giải phóng đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, cuối cùng đi đến thắng lợi hoàn toàn Bằng nghệ thuật và phương thức tác chiến ấy, nghĩa quân Lam Sơn đã liên tiếp tiêu diệt kẻ thù, làm hoang mang
quân địch, tạo nên những chiến thắng vang dội như “Trận Bồ Đằng sấm vang
chớp giật”, trận “Trà Lân trúc chẻ cho bay”, trận “Lạng Sơn, Lạng Giang xác chất đầy đường”, trận “Ninh Kiều máu chảy thành sông, hôi tanh vạn dặm”,
trận “Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước”
Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc trong tình hình mới; trước thực tiễn, đặc điểm, tình hình của đất
Trang 8nước…đã đặt ra yêu cầu chúng ta cần phải nghiên cứu nghệ thuật quân sự trong quá khứ của cha ông ta nói chung, nghệ thuật tạo thời, lập thế của Lê Lợi và Nguyễn Trãi trong kháng chiến chống quân Minh 1418-1427 nói riêng Trên cơ sở đó, kế thừa những kinh nghiệm có giá trị, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào trong bối cảnh mới để quân và dân ta có thể chiến thắng được mọi kẻ thù khi có chiến tranh xảy ra, góp phần bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ
quốc Xuất phát từ vấn đề trên, tác giả lựa chọn“Nghệ thuật tạo thời, lập thế
trong khởi nghĩa và chiến tranh chống quân Minh xâm lược do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo1418 - 1427” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống quân Minh do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo 1418 -1427
- Phân tích, làm rõ nghệ thuật “tạo thời, lập thế” trong cuộc kháng chiến chống quân Minh do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo 1418 -1427
- Rút ra những bài học kinh nghiệm từ việc sử dụng nghệ thuật “tạo thời, lập thế” của Lê Lợi và Nguyễn Trãi trong kháng chiến chống quân Minh
1418 -1427 để áp dụng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc giai đoạn hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghệ thuật tạo thời, lập thế trong khởi nghĩa và chiến tranh chống quân Minh xâm lược do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo 1418 - 1427
Trang 94.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống quân Minh xâm lược
1418 - 1427
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc, so sánh, tổng hợp, phân tích và phương pháp chuyên gia
6 Kết cấu của khóa luận
Gồm phần mở đầu, 2 chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TẠO THỜI, LẬP THẾ
VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT TẠO THỜI, LẬP THẾ TRONG KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CHỐNG QUÂN MINH XÂM LƯỢC DO LÊ LỢI VÀ NGUYỄN TRÃI LÃNH ĐẠO 1418- 1427 1.1 Những vấn đề chung về nghệ thuật tạo thời, lập thế
1.1.1 Quan niệm về nghệ thuật quân sự
Nghệ thuật quân sự có vị trí hết sức quan trọng trong chỉ đạo chiến tranh
Nó là một trong những nhân tố quyết định thành bại của chiến tranh Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam “Nghệ thuật quân sự là lý luận và thực tiễn chuẩn bị, tổ chức và tiến hành đấu trang vũ trang Nó nghiên cứu các quy luật của chiến tranh và đấu tranh vũ trang , xác định những ng uyên tắc và phương pháp tiến hành các hoạt động quân sự trong chiến tranh Nghệ thuật quân sự được hình thành từ ba bộ phận : Chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật Ba bộ phận nghệ thuật quân sự là một thể thống nhất có quan hệ biện chứng chặt chẽ, trong đó chiến lược quân sự đóng vai trò chủ đạo”
1.1.2 Quan niệm“Thế”
“Thế” là một khái niệm quân sự được đề cập từ lâu trong nghệ thuật
quân sự phương Đông Ở nước ta , do đặc điểm chiến tranh chống xâm lược thường phải lấy ít địch nhiều , lấy nhỏ thắng lớn , nên việc nghiên cứu và vận dụng “thế” trong nghệ thuật quân sự để đánh thắng địch ngày càng được quan tâm đặc biệt
Trong Sách Bin h thư yếu lược Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn
khẳng định: “Người đánh giỏi vì có thế mà thắng” và “Biết xem thế đất, biết
lập thế quân, khéo dùng kỹ thuật, đánh không đâu là không lợi”
Cũng đề cập về “thế” trong quân sự, trong thư gửi Vương Thông , chủ tướng quân Minh , Nguyễn Trãi có viết: “Người dùng binh giỏi là ở chỗ biết
dùng thời thế mà thôi Được thời được thế thì mất biến thành còn , nhỏ hóa ra
Trang 11lớn; mất thời không thế thì mạnh hóa ra yếu , yên lại thành nguy, sự thay đổi
ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay” Đồng thời, trong thư gửi Lương Minh , phó
tướng của Liễu Thăng, ông tiếp tục vạch rõ: “Nay các ngươi đem quân đi sâu
vào, chính là bị hãm vào thế trong miệng cọp , muốn tiến không được, muốn lui không xong Còn ta thì nhân thế chẻ tre , sau khi chẻ được mấy đốt , cứ tọng lưỡi dao mà chẻ đi, thực không khó gì”
Từ khái niệm về “thế”, cho thấy, “thế” phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố
như: địa hình địa vật, sự ủng hộ của quần chúng nhân dân, tinh thần của binh sĩ… Tuy nhiên, trong đó, thế trận là một yếu t ố rất cơ bản để tạo ra thế có lợi nhằm đánh bại đối phương , giành thắng lợi về mình Thế trận là hình thá i bố trí, triển khai lực lượng và thiết bị chiến trường theo mưu kế và cách đánh đã lựa chọn, nhằm tạo thế có lợi để phát huy cao nhất sức mạnh chiến đấu của các lực lượng tham chiến, giành thắng lợi trên chiến trường
1.1.3 Quan niệm “Thời”
“Thời” có nghĩa là thời cơ, thời cơ là một yếu tố quan trọng trong mọi
hoạt động của con người Vấn đề thời cơ trong chiến tranh , trong tác chiến được các nhà lãnh đạo và chỉ huy quân sự hết sức coi trọng
Nguyễn Trãi nói : “Thời cơ, thời cơ chớ nên để lỡ” và trong thực tiễn ,
ông luôn chỉ đạo nghĩa quân Lam Sơn nắm đúng thời cơ mà hành động Bác
Hồ cũng thường căn dặn bộ đội : “Phải luôn luôn có sán g kiến để lợi dụng
thời cơ” Thời cơ bao gồm rất nhiều yếu tố, bản chất là khẳng định mọi vấn
đề về “thiên”, “địa”, “nhân” đều ủng hộ và tạo thuận lợi cho ta, nhưng bất
lợi cho kẻ địch
“Thời” và “thế”, mà cốt lõi là thế trận và thời cơ luôn có quan hệ mật
thiết với nhau, không bao giờ tách rời nhau Trong bất kỳ một trận đánh hay
một cuộc chiến nhất định, nếu bên nào nắm bắt sâu sắc “thời” và “thế” thì
nhất định thắng; nếu không sẽ bị thất bại
Trang 12Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã nhấn mạnh:“Được thời , có thế thì
mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn, mất thời không thế thì mạnh lại h óa yếu, yên lại thành nguy” Có thế, có thời thì: “Sức dùng một nửa công thành được gấp đôi” Ông còn lấy ví dụ “Lỗ kiến rỗng làm toang đê v ỡ, ngọn gió rung quét sạch lá khô”
1.1.4 Nghệ thuật tạo thời, lập thế
Từ cách tiếp cận trên, có thể khẳng định: Nghệ thuật tạo thời, lập thế trong các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh là quá trình nắm bắt, lựa chọn đúng thời điểm (thời gian, không gian, lực lượng…) dùng binh, kết hợp chặt chẽ với việc xây dựng được thế trận vững chắc dựa trên cơ sở điều kiện tự nhiên, con người… đảm bảo khai thác tối ưu sở trường, hạn chế tối thiểu sở đoản của ta; đồng thời hạn chế tối đa sở trường của địch, tập trung đánh vào chỗ hiểm, chỗ yếu của chúng nhằm mục đích giành chiến thắng trong từng trận đánh cho đến toàn bộ cuộc chiến tranh
1.1.5 Quan niệm về tạo thời, lập thế của Lê Lợi và Nguyễn Trãi trong khởi nghĩa và chiến tranh chống quân Minh xâm lược 1418 - 1427
Một trong những đặc điểm nổi bật và cũng là một trong những nguyên nhân thắng lợi chủ yếu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là cuộc khởi nghĩa này
có một bộ tham mưu sáng suốt tiêu biểu cho lực lượng tiến bộ trong xã hội, có
uy tín rộng rãi trong nhân dân Bộ tham mưu đó đã phát huy được sự nỗ lực chủ quan trong việc chỉ đạo và thực hành chiến tranh với những đường lối lãnh đạo đúng đắn
Bộ tham mưu nghĩa quân mà đầu não là Lê Lợi và Nguyễn Trãi, đã tỏ
ra sáng suốt và hoàn toàn thành công trong việc tổ chức và lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa nói chung và chỉ đạo chiến lược, chiến thuật nói riêng Đó là một cống hiến to lớn đối với thắng lợi của cuộc chiến tranh giành độc lập đầu thế
kỷ XV và đối với nền khoa học quân sự của nước nhà
Trang 13Trong chỉ đạo chiến tranh, bộ tham mưu của nghĩa quân Lam Sơn đã nghiên cứu lịch sử các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta thời
Lý, Trần, Hồ trước kia, biết động viên tinh thần yêu nước quật cường của nhân dân ta thành sức mạnh to lớn chống quân xâm lược Đặc biệt Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã rút ra những nguyên nhân thành công và thất bại của thời đại trước, rút ra bài học kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh Tuy vậy, nghệ thuật quân sự của nghĩa quân Lam Sơn cũng có những bước phát triển và sáng tạo khác với nghệ thuật quân sự thời Lý, Trần, Hồ
Trong khi chỉ đạo cuộc chiến tranh, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã từng
“nghiền kỹ những pho thao lược” và đã “ngẫm nay suy trước”, “xét cùng mọi lẽ hưng vong” Điều đó chứng tỏ rằng các nhà lãnh đạo của nghĩa quân
Lam Sơn đã từng dày công nghiên cứu binh pháp thời xưa, những cuộc chiến tranh trước đây để rút ra những bài học kinh nghiệm, vận dụng vào công cuộc bình Ngô
Trong Quân trung từ mệnh tập, Nguyễn Trãi nhiều lần bàn đến việc nắm thời thế: “Người dùng binh giỏi là ở chỗ hiểu biết thời thế mà thôi Được
thời và có thế thì biến mất thành còn, hóa nhỏ thành lớn Mất thời và không thế thì trở mạnh làm nguy chỉ trong khoảng trở bàn tay mà thôi…”
Vậy thế nào là hiểu thời thế và được thời thế? “Hiểu thời thế” là biết
phân tích tình hình một cách khách quan và nắm vững phương hướng phát
triển tất yếu và theo quy luật của sự vật “Có thời thế” là đứng về phía đi lên
của sự vật và biết hành động tuân theo quy luật phát triển của chúng Được thời và có thế thì tất thắng Nguyễn Trãi chính là con người biết nắm vững thời thế
Nguyễn Trãi coi nhân dân là người tạo nên lịch sử, tạo nên thời thế Cho nên muốn được thời thế, trước nhất phải đứng về phía nhân dân Đứng về phía nhân dân là đứng về phía đi lên của lịch sử và mặc dù trước mắt có khó
Trang 14khăn đến mấy nhưng sớm muộn sẽ thắng lợi Ngược lại, kẻ nào đem cường bạo chống lại nhân dân, thì dù trước mắt có vẻ vững vàng đến mấy cũng là bước vào con đường tự chuốc lấy bại vong Nguyễn Trãi suốt đời mình đã biết lấy tư tưởng nhân nghĩa để tranh thủ lòng dân, cho nên ông đã làm nên sự nghiệp vĩ đại
Mặt khác, muốn nắm vững thời thế còn phải biết ta, biết địch, biết phân tích một cách tỉnh táo chiều hướng phát triển của tình hình từng lúc từng nơi
để xác định được phương châm hành động cho chính xác Nguyễn Trãi đã phân tích tương quan lực lượng một giữa nghĩa quân và quân Minh một cách thực biện chứng
Vì nắm chắc thời thế và khả năng phân tích tình hình một cách biện chứng, nên Nguyễn Trãi hoàn toàn tiên liệu được kết quả tất thắng của cuộc
Ông còn biết nhìn tình hình một cách tĩnh: “Bậc trí giả thường biết
trước từ khi sự việc chưa thành hình” Khi ta còn yếu ông vẫn trông thấy con
đường “tự chuốc lấy bại vong” của địch và tiền đồ to lớn của nghĩa quân, khi
toàn thắng lại không say sưa mà vẫn nhớ đến cái thế lâu dài của nước ta bao giờ cũng vẫn là một nước nhỏ, yếu tồn tại bên một nước lớn hùng mạnh nên phải có một đối sách thích đáng
Từ việc đánh giá tương quan lực lượng chung như vậy, cho đến việc đối phó với những chuyển biến tình hình đột ngột từng thời kỳ, từng lúc, từ việc vận dụng đường lối tiến hành chiến tranh giải phóng nói chung, đem tư tưởng nhân nghĩa mà tranh thủ lòng người, cho đến việc chỉ đạo tác chiến cụ
Trang 15thể… Nguyễn Trãi cùng với Bộ thống soái nghĩa quân đã tỏ ra là hiểu thời thế, nắm vững và vận dụng được quy luật của chiến tranh giải phóng để đi đến toàn thắng
1.2 Cơ sở hình thành nghệ thuật tạo thời, lập thế trong khởi nghĩa vàchiến tranh chống quân Minh xâm lƣợc do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo 1418 - 1427
1.2.1 Bối cảnh lịch sử
Vào cuối thế kỉ XIV , triều đình nhà Trần ruỗng nát Hồ Quý Ly , một quý tộc có thanh thế đã phế truất vua Trần lập ra vương triều mới : triều Hồ (1400-1407)
Là một người táo bạo , Hồ Quý Ly đã thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực, hy vọng cứu vãn nguy cơ sụp đổ của nhà nước phong kiến và củng cố vương quyền của mình Trên lĩnh vực quân sự, ông cho xét định lại binh chế , tăng cường quân số, cải tiến vũ khí trang bị, xây dựng các thành lũy để chống thù trong giặc ngoài
Bấy giờ, ở Trung Quốc là thời kỳ thống trị của nhà Minh (1368-1644) Sang thế kỉ XV, dưới triều Minh Thanh Tổ (1402-1420) nhà Minh đạt đến giai đoạn cường thịnh và trở thành một quốc gia phong kiến giàu mạnh trên thế giới Lợi dụng sự sụp đổ của nhà Trần , nhà Hồ mới lên chưa ổn định , Minh Thành Tổ thực hiện âm mưu xâm lược Đại Việt
Nhà Hồ chống đỡ với quân xâm lược được nửa năm Đất nước ta một lần nữa bị phong kiến phương Bắc đô hộ
Dưới sự đô hộ của nhà Minh, sự phát triển của xã hội ta đã bị ngăn chặn bởi sự kìm hãm gay gắt của ách thống trị ngoại bang và sự bảo tồn của những quan hệ lạc hậu trong nước Với bản chất phản động của một chính quyền đô hộ, những chính sách thống trị của nhà Minh đã gây ra nhiều hậu quả tai hại đối với sự phát triển của xã hội
Trang 16Trong hai mươi năm đô hộ của nhà Minh, nền kinh tế nước ta bị đình đốn và phá hoại nghiêm trọng
Về nông nghiệp, chính sách cướp ruộng đất để lập đồn điền và cấp chức
điền cho bọn quan lại làm cho nhiều nơi nông dân bị mất ruộng đất và phá sản Những hành động cướp bóc, vơ vét của địch, nhất là việc cướp trâu bò,
đã gây ra rất nhiều khó khăn trong sản xuất, làm cho nền kinh tế nông nghiệp
có khi bị phá hoại Những cuộc đàn áp khủng bố liên miên của địch còn làm mùa màng bị tàn phá, đồng ruộng phải bỏ hoang Trong lúc đó thì đê điều và các công trình thủy lợi bỏ bê trễ nên thiên tai hoành hành dữ dội Do đó, trong thời thuộc Minh, những nạn lụt lội, đê vỡ và mất mùa đói kém, dịch tễ…xảy
ra liên tiếp Năm 1407, do sự tàn phá của cuộc chiến tranh xâm lược của quân
Minh nên nạn đói và dịch xảy ra nghiêm trọng, “nhân dân không trồng trọt,
cầy cấy được, người chết đói rất nhiều” Hai năm sau, 1408 và 1409 đều có
nạn đói, dịch và nạn đói, dịch năm 1409 lại lớn hơn năm trước Năm 1411, lụt lớn, đê sông đáy bị vỡ, nhà cửa của dân bị trôi dạt Năm 1412, cả khu vực từ Diễn Châu trở vào, đồng ruộng bỏ hoang, dân không cày cấy được
Về công thương nghiệp, chính sách thuế khóa nặng nề cùng với những
thủ đoạn vơ vét tài nguyên, lùng bắt thợ thủ công, hạn chế sự đi lại buôn bán
và cấm chỉ về ngoại thương của giặc Minh là những trở lực nghiêm trọng Do những chính sách và thủ đoạn đó, nhiều nghề thủ công bị phá sản, việc buôn bán trong nước và ngoài nước bị sa sút hẳn
Đời sống của nhân dân lâm vào một tình trạng rất lầm than, cơ cực Ngoài thuế khóa, phú dịch, nhân dân còn phải chịu đựng biết bao nhiêu cảnh
chém giết, cướp bóc và tàn phá của quân địch Trong Bình Ngô đại cáo,
Nguyễn Trãi đã từng kịch liệt tố cáo tội ác tày trời của quân Minh Theo Nguyễn Trãi, tội ác của quân địch đã chất cao như núi, mà dù:
Tát khô nước Đông Hải, khôn rửa sạch tanh hôi Chẻ hết trúc Nam Sơn, khó ghi đầy tội ác
Trang 17XV đã hoàn thành vẻ vang sứ mạng ấy, ghi vào lịch sử dân tộc những trang sử vàng chói lọi.Hai mươi năm đô hộ của nhà Minh là hai mươi năm đấu tranh ngoan cường và liên tục của nhân dân ta để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc
Từ năm 1417, nhiều cuộc đấu tranh mới lại bắt đầu xuất hiện ở nhiều nơi, báo hiệu trước một cao trào đấu tranh quyết liệt sắp bùng nổ Cao trào đó thực sự bắt đầu từ năm 1418 với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và lấy cuộc khởi nghĩa Lam Sơn làm trung tâm Và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã gắn liền với tên tuổi của Lê Lợi, Nguyễn Trãi và những người anh hùng đất Lam Sơn
1.2.2 Những kinh nghiệm trong sử dụng nghệ thuật quân sự của dân tộc ta trong lịch sử
Từ thực tiễn chống giặc ngoại xâm, dân tộc ta đã hình thành nghệ thuật chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, nghệ thuật lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông Trong quá trình đó, nghệ thuật quân sự Việt Nam từng bước phát triển và được thể hiện rất sinh động trong khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh giải phóng, trên các phương diện tư tưởng chỉ đạo tác chiến, mưu kế đánh giặc
Về tư tưởng chỉ đạo tác chiến: Giải phóng, bảo vệ đất nước là nhiệm vụ
quan trọng, là mục tiêu cao nhất của các triều đại phong kiến trong chiến
Trang 18tranh giữ nước Do đó, cha ông ta luôn nắm vững tư tưởng tiến công, coi đó như một quy luật để giành thắng lợi trong suốt quá trình chiến tranh Thực hiện tiến công liên tục mọi lúc, mọi nơi, từ cục bộ đến toàn bộ, để quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi Tư tưởng tiến công được xem như sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình chuẩn bị và thực hành chiến tranh giữ nước Tư tưởng đó thể hiện rất rõ trong đánh giá đúng kẻ thù, chủ động để ra kế sách đánh, phòng, khẩn trương chuẩn bị lực lượng kháng chiến, tìm mọi biện pháp làm cho địch suy yếu, tạo ra thế và thời cơ để tiến hành phản công, tiến công
Sử sách còn ghi lại, thời nhà Lý đã chủ động đánh bại kẻ thù ở phía Nam (quân Chiêm Thành), phá tan âm mưu liên kết của nhà Tống với Chiêm Thành Trước nguy cơ xâm lược của nhà Tống, Lý Thường Kiệt đã sử dụng biện pháp “tiên chế phát nhân” chủ động tiến công trước để xây dựng tuyến phòng thủ sông Như Nguyệt, thực hiện trận quyết chiến chiến lược, chủ động chặn và đánh địch từ xa để bảo vệ Thăng Long
Vào thế kỷ XIII, các quốc gia châu Âu, châu Á đang run sợ trước vó ngựa của giặc Nguyên Mông, thì cả ba lần tiến quân xâm lược Đại Việt vào các năm 1258, 1285, 1288, giặc Nguyên Mông đều bị thất bại thảm hại, mặc
dù có số quân lớn hơn nhiều lần quân đội nhà Trần Có được thắng lợi đó là
do ta đã thực hiện toàn dân đánh giặc, “cả nước chung sức, trăm họ là binh”,
trong đó, tích cực chủ động tiến công giặc là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong các cuộc chiến tranh
Trước đối tượng tác chiến là giặc Nguyên Mông có sức mạnh lớn hơn, ông cha ta đã kịp thời thay đổi phương thức tác chiến, tránh quyết chiến với địch khi chúng còn rất mạnh, chủ động rút lui chiến lược, tạm nhường Thăng Long cho giặc trong một thời gian nhất định, là để bảo toàn lực lượng và đó là một nét độc đáo trong nghệ thuật tác chiến, chứ không phải là tư tưởng rút lui
Quân địch tạm chiến được Thăng Long mà không chiếm được “Thủ đô” của kháng chiến, bởi vì chỉ chiếm được “thành không, nhà trống” Trong khoảng
Trang 19thời gian đó, quân đội nhà Trần và nhân dân cả nước đã tích cực tác chiến nhỏ
lẻ, tiêu hao nhiều lực lượng địch, làm cho chúng rơi vào trạng thái “tiến thoái
lưỡng nan”, tạo thời cơ tốt nhất để phản công chiến lược, quét sạch quân thù
ra khỏi đất nước (lần thứ nhất sau 9 ngày tính từ khi giặc Nguyên vào Thăng Long, lần thứ hai sau 5 tháng, lần thứ ba sau 3 tháng)
Về mưu kế đánh giặc: Mưu là để lừa địch, đánh vào chỗ yếu, chỗ sơ hở,
chỗ ít phòng bị, làm cho chúng bị động, lung túng đối phó Kế là để điều địch theo ý định của ta, giành quyền chủ động, buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta Trong các cuộc chiến tranh giải phóng, với ý chí kiên cường của dân tộc, triều đại nhà Lý, Trần…đã tạo được thế trận chiến tranh nhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc, kết hợp các cách đánh, các lực lượng cùng đánh Trong chống giặc ngoại xâm để bảo vệ đất nước, của ông cha ta đã kết hợp chặt chẽ giữa quân triều đình, quân địa phương và dân binh, thổ binh các làng xã cùng đánh địch, làm cho lực lượng địch luôn bị phân tán, không thực hiện được hợp quân tại Thăng Long Để bảo vệ Thăng Long, Lý Thường Kiệt
đã xây dựng tuyến phòng ngự sông Cầu để chặn giặc, khi quân nhà Tống tiến công vượt sông không thành công phải chuyển vào phòng ngự Ông đã dùng quân địa phương và dân binh liên tục quấy rối, làm cho địch mệt mỏi, căng thẳng, tạo thời cơ cho quân đội nhà Lý chuyển sang phản công giành thắng lợi hoàn toàn
Kế sách đánh giặc của ông cha ta không những sáng tạo, mà còn hết
sức mềm dẻo, khôn khéo đó là “biết tiến, biết thoái, biết công, biết thủ” Biết
kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với binh vận, ngoại giao, tạo thế mạnh cho ta, biết phá thế mạnh của giặc, trong đó tiến công quân sự luôn giữ vai trò quyết định
Ông cha ta đã phát triển mưu, kế đánh giặc, biến cả nước thành một
chiến trường, tạo ra một “thiên la, địa võng” để diệt địch Làm cho “địch
đông mà hóa ít, địch mạnh mà hóa yếu”, đi đến đâu cũng bị đánh, luôn bị tập
Trang 20kích, phục kích lực lượng bị tiêu hao, tiêu diệt, rơi vào trạng thái “tiến thoái
lưỡng nan” Trong tác chiến, ông cha ta đã triệt để khoét sâu điểm yếu của
địch là tác chiến ở chiến trường xa, tiếp tế khó khăn, nên đã tập trung triệt phá lương thảo, hậu cần của địch Ngoài thực hiện kế “thanh dã”, làm cho kẻ thù
rơi vào trạng thái “người không có lương ăn, ngựa không có nước uống”,
quân đội nhà Trần tổ chức lực lượng đón đánh các lực lượng vận chuyển lương thực, hậu cần và đánh phá kho tàng của địch Điển hình như đội quân của Trần Khánh Dư đã tiêu diệt toàn bộ đoàn thuyền lương của giặc do Trương Văn Hồ chỉ huy ở bến Vân Đồn, làm cho giặc Nguyên ở Thăng Long
vô cùng hoảng loạn
Nghệ thuật chiến tranh nhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc: Thực
hiện toàn dân đánh giặc là một trong những nét độc đáo trong nghệ thuật quân
sự của tổ tiên ta, được thể hiện cả trong khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng Nét độc đáo đó xuất phát từ lòng yêu nước thương nòi của nhân dân ra, từ tính chất tự vệ, chính nghĩa của các cuộc kháng chiến Hễ kẻ thù đụng đến nước
ta, thì “Vua tôi đồng lòng, anhem hòa mục, cả nước chung sức, trăm họ là
binh”, giữ vững quê hương, bảo vệ xã tắc
Từ lời thề của Hai Bà Trưng và nghĩa quân: “Một xin rửa sạch nước
thù; Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng, Ba kéo oan ức lòng chồng; Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này”, đến Hịch tướng sĩ, nghệ thuật “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, nghệ thuật quân sự Việt Nam
đã liên tục phát triển dựa trên nền tảng của chiến tranh nhân dân, thực hiện tốt đổi yếu thành mạnh, kết hợp lực, thế, thời, mưu, để đạt mục đích là cùng
giành lại và giữ vững chủ quyền đất nước với tư tưởng “dập tắt muôn đời
chiến tranh”, “đem lại thái bình muôn đời” Nội dung cơ bản của thực hiện
toàn dân đánh giặc là: “Mỗi người dân là một người lính, đánh giặc theo
cương vị, chức trách của mình Mỗi thôn, xóm, bản, làng là một pháo đài diệt
Trang 21giặc Cả nước là một chiến trường, tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân liên hoàn, vững chắc làm cho địch đông mà hóa ít, mạnh mà hóa yếu, rơi vào trạng thái bị động, lung túng và bị sa lầy” Trong đánh giặc, ông cha ta đã tận
dụng địa hình, xây dựng thế trận làng, nước vững chắc, vận dụng sáng tạo cách đánh của nhiều lực lượng, nhiều thứ quân Vận dụng rộng rãi, sáng tạo nhiều hình thức đánh giặc để đạt hiệu quả cao như: phòng ngự ở sông Cầu, phản công ở Chương Dương, Hàm Tử,…
Nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh:
Đây là nét đặc sắc và tất yếu trong nghệ thuật quân sự của ông cha ta, khi dân tộc ta luôn phải chống lại các đội quân xâm lược có quân số, vũ khí, trang bị lớn hơn nhiều lần Nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu
chống mạnh chính là sản phẩm của lấy “thế” thắng “lực” Quy luật của chiến
tranh là mạnh được, yếu thua, nhưng từ trong thực tiễn chống giặc ngoại xâm, cha ông ta đã sớm xác định đúng về sức mạnh trong chiến tranh, đó là: sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, chứ không thuần túy là sự so sánh, hơn kém
về quân số, vũ khí của mỗi bên tham chiến
Để chống lại 30 vạn quân xâm lược Tống (1077), nhà Lý trong khi chỉ
có khoảng 10 vạn quân, Lý Thường Kiệt đã tận dụng được ưu thế địa hình và các yếu tố khác để tạo ra sức mạnh hơn địch và đánh thắng địch
Thời nhà Trần có khoảng 15 vạn quân, chống lại giặc Nguyên - Mông,
lần thứ 2 là có 60 vạn, lần 3 là khoảng 50 vạn Nhà Trần đã “lấy đoản binh để
chế trường trận”, hạn chế sức mạnh của giặc, để đánh thắng giặc
Nghệ thuật kết hợp đấu tranh giữa các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao và binh vận: Chiến tranh là sự thử thách toàn diện đối với mỗi
quốc gia trong tham chiến Trong chống giặc ngoại xâm, ông cha ta đã biết kết hợp chặt chẽ các mặt trận nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để đánh thắng
Trang 22kẻ thù Mỗi mặt trận có vị trí, tác dụng khác nhau nhưng cùng thống nhất ở mục đích tạo ra sức mạnh để giành thắng lợi trong chiến tranh
Mặt trận chính trị nhằm cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân, quy tụ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, là cơ sở để tạo ra sức mạnh quân sự
Mặt trận quân sự là mặt trận quyết liệt nhất, thực hiện tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh của địch, quyết định thắng lợi trực tiếp của chiến tranh, tạo đà, tạo thế cho các mặt trận khác phát triển
Mặt trận ngoại giao có vị trí rất quan trọng, đề cao tính chính nghĩa của nhân dân ta, phân hóa, cô lập kẻ thù, tạo thế có lợi cho cuộc chiến Mặt khác, mặt trận ngoại giao kết hợp với mặt trận quân sự, chính trị tạo ra thế có lợi để kết thúc chiến tranh càng sớm càng tốt
Mặt trận binh vận để vận động làm tan rã hàng ngũ của giặc, góp phần quan trọng để hạn chế thấp nhất tổn thất của nhân dân ta trong chiến tranh
Về nghệ thuật tổ chức và thực hành các trận đánh lớn: Trong các triều
đại phong kiến, ông cha ta đã tổ chức và thực hành các trận đánh lớn để giải phóng đất nước, kết thúc chiến tranh Thời nhà Lý có phòng ngự đánh lớn để giải phóng đất nước, kết thúc chiến tranh Thời nhà Lý có phòng ngự sông Cầu (Như Nguyệt), đây là một điển hình về kết hợp chặt chẽ hai hình thức tác chiến phòng ngự và phản công trên cả quy mô chiến lược, chiến thuật Tác chiến phòng ngự ở Như Nguyệt không chỉ chặn đứng 30 vạn quân Tống mà còn làm thất bại ý đồ đánh nhanh, thắng nhanh để chiếm Thăng Long của chúng, khiến quân địch phải chuyển từ chủ động tiến công sang bị động phòng ngự
Thời nhà Trần, lần chống giặc Nguyên thứ 2, Trần Quốc Tuấn đã tổ chức một cuộc rút lui chiến lược, làm thất bại kế hoạch hợp vây của địch Trong cuộc truy đuổi, giặc Nguyên không thực hiện được những đòn quyết định với chủ lực ta, trái lại, chúng vấp phải một cuộc chiến tranh của toàn dân
Trang 23Đại Việt Do vậy, quân Nguyên đã sa vào tình trạng muốn đánh mà không
đánh được, “lực càng yếu, thế càng suy”, điều đó đã tạo ra thời cơ phản công
cho quân ta
1.2.3 Tài năng của Lê Lợi và Nguyễn Trãi
Trong tất cả những cuộc chiến đấu ở thời xưa, tổ tiên chúng ta đều đã chiến thắng và trải qua mấy nghìn năm đấu tranh liên tục chống thù trong giặc ngoài, nhân dân Việt Nam đã có một truyền thống quân sự rất vẻ vang Truyền thống đánh thắng mọi kẻ thù ở mọi thời đại Cũng từ muôn vàn cuộc đấu tranh thắng lợi vẻ vang ấy, đã lần lượt xuất hiện trong lịch sử nhiều bậc tướng lĩnh kiệt xuất, nhiều nhà quân sự lỗi lạc, đứng ngang hàng với những tướng lĩnh và những nhà quân sự danh tiếng trên thế giới Những chiến công oanh liệt của các bậc anh hùng như Ngô Quyền, Lê Hoàn, Nguyễn Trãi, Lê Lợi,…còn mãi ghi sâu trong tâm trí người dân Việt Nam
Trước cuộc khởi nghĩa Lam Sơn,một trong những nguyên nhân thất bại chủ yếu của phong trào kháng Minh là sự bất lực và sai lầm của những người lãnh đạo Hoặc do năng lực chủ quan, hoặc do hạn chế của điều kiện giai cấp, những người lãnh đạo lúc đó đã không phát huy được đầy đủ sự nỗ lực chủ quan, tính năng động tự giác trong chiến tranh để đưa cuộc chiến tranh giải phóng có tính chất yêu nước, chính nghĩa do họ lãnh đạo đến thắng lợi
Một trong những đặc điểm nổi bật và cũng là một trong những nguyên nhân thắng lợi chủ yếu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là cuộc khởi nghĩa này
có một bộ tham mưu sáng suốt tiêu biểu cho lực lượng tiến bộ trong xã hội, có
uy tín rộng rãi trong nhân dân Bộ tham mưu đó đã phát huy được sự nỗ lực chủ quan trong việc chỉ đạo và thực hành chiến tranh với những đường lối lãnh đạo đúng đắn
Chỉ với vài nghìn nghĩa quân lúc ban đầu, Lê Lợi đã tiến tới đánh thắng hàng mấy chục vạn quân Minh giành lại độc lập cho Tổ quốc