Luận văn: TIỀN LƯƠNG VIÊN CHỨC TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP do sinh viên ưu tú của trường đại học hàng đầu về đào tạo pháp luật thực hiện, đề tài được đánh giá cao. (Có thể thực hiện đề tài theo yêu cầu) Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp lý về tiền lương của viên chức. Chương 2: Thực trạng về tiền lương của viên chức. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện tiền lương của viên chức.
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN – PHÁP LÝ VỀ TIỀN LƯƠNG VIÊN CHỨC 1
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài.
Việt Nam đang tham gia tích cực vào quá trình hội nhập với nền kinh tế thếgiới Bằng những sự kiện có tính chất và mang tầm quốc tế như sự kiện Việt Namgia nhập WTO đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc của nước ta trên con đường pháttriển và hội nhập kinh tế toàn cầu Đóng góp đáng kể trong tiến trình đó không thểkhông kể đến vai trò của Nhà nước trong quản lý, điều hành các chính sách vĩ môtheo định hướng của Nhà nước Tuy nhiên, chính sách tiền lương – một trong nhữngchính sách vĩ mô đang còn tồn tại nhiều bất cập, đứng trước đòi hỏi phải cải cách,phải đổi mới, phải thay đổi Cải cách tiền lương của viên chức nhằm đảm bảo tínhhiệu quả của công việc trong các lĩnh vực cung ứng dịch vụ công, đảm bảo mụcđích hoạt động của đơn vị sự nghiệp (ĐVSN), đảm bảo được tính cạnh tranh trongthị trường lao động chung Nguồn tiền để thực hiện chế độ tiền lương là một vấn đềtrọng tâm trong cải cách chế độ tiền lương cho viên chức Bởi vì, tiền lương củaviên chức một mặt chịu sự chi phối của nguồn ngân sách Nhà nước (NSNN) mộtmặt chịu tác động rất lớn từ sự phát triển của nền kinh tế
Chính sách tiền lương là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sáchkinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Chính sách tiền lương nước ta đã trải qua nhiềugiai đoạn phát triển với các đặc điểm khác nhau Tiếp theo những lần cải cách tiềnlương trong thập niên 1980 và 1990, trong 10 năm qua hệ thống tiền lương tiếp tụctrải qua hai giai đoạn cải cách 2003 -2007 và 2008 – 2012 Qua những lần cải cách
đó, hệ thống tiền lương của nước ta mang những đặc điểm của một hệ thống tiềnlương của một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường Cùng với quá trình cảicách, chính sách tiền lương trong khu vực sự nghiệp đã có những thay đổi căn bản,song vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải được giải quyết
Sự ra đời của Luật Viên chức là một điểm mốc lớn của chế định viên chứctrong hệ thống pháp luật Việt Nam Lần đầu tiên, có một văn bản mang giá trị pháp
lý cao được ban hành điều chỉnh riêng biệt dành cho viên chức Những quy định chi
Trang 3tiết về tiền lương của viên chức cũng nêu bật được sự khác biệt giữa tiền lương củaviên chức và tiền lương của các đối tượng lao động khác.
Tiếp tục thực hiện chính sách cải cách tiền lương đã được đề ra từ Đại hộiĐảng khóa VII, Đảng và Nhà nước ta đã định ra một lộ trình cụ thể để tiến hànhcông cuộc cải cách tiền lương theo hướng kinh tế thị trường trong giai đoạn 2013 –
2020 Nội dung chính của giai đoạn này xác định: Tiền lương là giá cả sức laođộng, được hình thành trên thị trường theo nguyên tắc thỏa thuận; Tiền lương trởthành động lực đối với người lao động, là điều kiện để doanh nghiệp hạch toánđúng; Tiền lương là công cụ điều chỉnh theo định hướng kinh tế thị trường của Nhànước Để đạt hiệu quả trong cải cách, tránh tình trạng tiến hành cải cách nhưngkhông giải quyết vấn đề cốt lõi, mâu thuẫn, cần có cái nhìn đúng bản chất về thực tếtiền lương, học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia có chế độ tiền lương tiên tiến, phùhợp với điều kiện kinh tế, xã hội của nước ta Đề ra được những giải pháp có tínhkhả thi để cải cách chính sách tiền lương đối với viên chức trong thời gian tới Đó là
lý do tác giả chọn đề tài này
2 Tình hình nghiên cứu
Tiền lương là một vấn đề dành được nhiều sự quan tâm từ rất nhiều góc độcủa người nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước Với nhiều đề tài thuộcnhiều cấp độ khác nhau vấn đề tiền lương của các đối tượng trong xã hội đã đượcnghiên cứu, phân tích rất nhiều Tuy nhiên, các đề tài chủ yếu là khái quát về chínhsách tiền lương của tất cả lao động trong xã hội như: Tiền lương của lao động khốidoanh nghiệp; Tiền lương của lao động trong khối nhà nước, nhưng lại đi sâu vàchủ yếu đề cập đến cán bộ, công chức; Hay là, những đề tài chỉ tập trung chủ yếuvào một vấn đề cụ thể của tiền lương mà chưa có đề tài nào nghiên cứu một cáchđầy đủ, toàn diện về tiền lương của viên chức Một số đề tài:
- Đề tài cấp Bộ năm 1998 “cơ chế quản lý tiền lương tiền côngđối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” PTS Nguyễn Quang Huề,Trưởng phòng Tiền lương – Tiền công – Mức sống – Viện Khoa học Laođộng và Xã hội làm chủ nhiệm
Trang 4- Đề tài cấp Bộ 1994 “Nghiên cứu tiền lương tối thiểu theovùng” do TS Nguyễn Thị Lan Hương, Phó Viện trưởng KHLD &XH làmchủ nhiệm.
- Đề tài cấp Bộ 2003 “Xác định mức lương tối thiểu trong thời
kỳ 2006 – 2010 và các biện pháp giám sát để điều chỉnh mức lương tối thiểuphù hợp với phát triển kinh tế xã hội, với thị trường lao động” do HoàngMinh Hào, Phó Vụ trưởng Vụ tiền lương – tiền công làm chủ nhiệm
- Đề tài cấp Bộ 2003 “Xác định những nguyên tắc xây dựngthang lương, bản điểm, định mức lao động trong các doanh nghiệp” do PhạmMinh Huân, Vụ trưởng Vụ Tiền lương – Tiền công làm chủ nhiệm, v v…Hơn nữa, Luật Viên chức số 58/2010/QH12 do Quốc Hội ban hành ngày15/11/ 2010 mới ra đời và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2012 được xem là mộ thayđổi lớn trong pháp luật điều chỉnh về viên chức Do đó, hệ thống tiền lương củaviên chức vẫn chưa hoàn toàn độc lập là riêng biệt với các lao động khác cùnghưởng lương từ NSNN
Như vậy, cần thiết có một đề tài nghiên cứu chính sách tiền lương của viênchức một cách tổng quát với đầy đủ ý nghĩa lý luận và thực tiễn Đề tài đi sâunghiên cứu những cơ sở lý luận liên quan đến chế độ tiền lương của viên chức, đánhgiá về các quy định pháp luật về tiền lương và thực trạng thực hiện chế độ tiềnlương của viên chức nằm trong chính sách tiền lương hiện hành ở khu vực Nhànước của Việt Nam Dựa trên những nhận định từ thực tiễn đó, đi sâu phân tích vàđánh giá những định hướng mới của Nhà nước ta đối với tiền lương của viên chứctrong thời gian tới Đồng thời, đưa ra một số giải pháp mang tính kiến nghị cho chế
độ tiền lương của viên chức trong thời gian tới
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chế độ tiền lương của viên chức, đề tài làm
rõ các nội dung liên quan đến quy định pháp luật về tiền lương cũng như thực trạngthực hiện chế độ tiền lương của viên chức Ngoài ra, đề tài cũng đưa ra và phân tíchmột số kiến nghị phù hợp cho việc xây dựng và thực hiện chế độ tiền lương choviên chức làm việc tại các ĐVSN
Trang 54 Nội dung và phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Khóa luận nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạngpháp lý cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về tiền lương của viên chứctheo quy định của Pháp luật Việt Nam
- Phạm vi: Vấn đề tiền lương của viên chức từ 1998 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên những nguyên tắc cơ bản của phép duy vật biện chứng và phép duyvật lịch sử, khóa luận sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như:Phương pháp phân tích tổng hợp, đối chiếu, so sánh, số liệu sử dụng trong khóaluận được trích từ các thống kê của Tổng cục thống kê và Bộ Lao động Thươngbinh và Xã hội Ngoài ra, những số liệu khác được sử dụng trong đề tài sẽ được chúthích nguồn đầy đủ
6 Dự kiến đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa những lý luận liên quan đến chế độ tiền lương vàviên chức
- Làm rõ thực trạng về tiền lương của viên chức
- Đề ra một giải pháp nhằm điều chỉnh và thực hiện chế độ tiềnlương dành cho viên chức làm việc trong các ĐVSN trong thời gian tới
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được chia thành 2 chương nhưsau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận - pháp lý về tiền lương của viên chức Chương 2: Thực trạng về tiền lương của viên chức Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện tiền lương của viên chức
Trang 6CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN – PHÁP LÝ VỀ TIỀN LƯƠNG VIÊN CHỨC
1.1 Khái quát về tiền lương viên chức
1.1.1 Khái niệm tiền lương và tiền lương của viên chức
a Khái niệm tiền lương
Lý luận về tiền lương đã được các nhà kinh tế đi sâu vào tìm tòi vànghiên cứu từ rất lâu William Petty là người đầu tiên trong lịch sử dựa trên lýluận giá trị - lao động đặt nềm móng cho tiền lương với lý thuyết “quy luật sắt
về tiền lương” Tiếp nối sau đó, các lý luận tiền lương của Adam Smith vàRicardo ra đời Ở thời kỳ này, với việc hiểu và quan niệm về tiền lương thì côngnhân, người lao động chỉ nhận được từ sản phẩm lao động của mình những tưliệu sinh hoạt tối thiểu để có thể duy trì sức lao động
Lý luận tiền lương của C.Mac là sự kế tục những lý luận trước đó Bêncạnh đó phát triển được lý luận đó theo hướng đúng bản chất nhất của tiềnlương Với lý luận của C.Mac, tiền lương không bị che đậy bởi lợi ích của giaicấp thống trị trong xã hội – giai cấp Tư bản Những luận điểm của C.Mac về tiềnlương vẫn còn giá trị đến ngày nay
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra khái niệm được đánh giá làkhái niệm có tính bao quát nhất về tiền lương, theo đó tiền lương được địnhnghĩa như sau:
“Tiền lương là sự trả công hay thu nhập, bất kể cách tính hay tên gọi như thế nào mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng tiền tệ giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật pháp quy của quốc gia; do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng miệng cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, cho những dịch vụ đã làm hay sẽ làm”.
Mặc dù, chưa phải là khái niệm hoàn chỉnh, toàn diện nhất nhưng đây làkhái niệm tổng hợp được những góc độ khác nhau trong cách hiểu về tiền lương
Từ góc độ kinh tế, tiền lương được coi là đại lượng thể hiện giá trị sức laođộng, là yếu tố làm cho sức lao động mang tính hàng hóa Từ đó, tiền lương trả
Trang 7cho sức lao động – một loại hàng hóa đặc biệt cũng chịu sự chi phối của các quyluật cung cầu của thị trường.
Từ góc độ xã hội, tiền lương là nguồn thu nhập nhằm tái tạo sức lao độngcon người, là yếu tố tác động trực tiếp đến đời sống người lao động
Từ góc độ quản lý nhà nước, tiền lương được coi là đại lượng biểu hiệncho hiệu quả quản lý và sự phát triển lớn mạnh của một quốc gia
Trong quy định pháp luật của nước ta, chưa có văn bản nào đưa ra mộtkhái niệm cụ thể về tiền lương nhưng vấn đề về tiền lương đã được quan tâm từrất sớm Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa nêu “lương là tiền lương chính, không kể các khoản phụ cấp
mà chủ đã hứa trả theo hợp đồng hay đã ghi trong khế ước, không thể lấy cớ đã trả các khoản phụ cấp như phụ cấp thâm niên, phụ cấp gia đình … quy định trong sắc lệnh này mà trừ một phần tiền lương đó”.
Như vậy, tiền lương được hiểu là khoản thu chủ yếu, cơ bản, thuờngxuyên và không bao hàm các khoản phụ cấp khác ngoài lương Tiền lương là sốtiền mà chủ sử dụng lao động trả cho người lao động tương ứng với số lượng vàchất lượng lao động tiêu hao trong quá trình làm việc
Bộ luật Lao động sửa đổi bổ sung được Quốc hội nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 02/4/2002 (BLLĐ 2002) đã xây dựng đượckhái niệm tiền lương tương đối hoàn chỉnh Theo đó,
“Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác” 1
Mặc dù, chưa phải là một khái niệm chính xác và hoàn chỉnh về kháiniệm tiền lương, nhưng thông qua khái niệm về mức lương tối thiểu ta có thểhiểu về bản chất của tiền lương
BLLĐ 2002 dành một chương riêng quy định về chế độ tiền lương và các
1 Điều 56 BLLĐ 2002.
Trang 8chế độ liên quan về tiền lương cho người lao động2 Trong từng lĩnh vực, ngànhnghề, tiền lương luôn là chế định được quan tâm xây dựng mang tính đặc thù,phù hợp cho từng loại hình lao động của lĩnh vực, ngành nghề đó.
Nước ta đang ra sức học hỏi kinh nghiệm lập pháp của các nước tiên tiếntrên thế giới nhằm tìm ra, xây dựng, hoàn chỉnh chế độ tiền lương, phù hợp vớitình hình của đất nước trong từng giai đoạn và góp phần tích cực vào thúc đẩy
sự phát triển bền vững của kinh tế, chính trị, xã hội nước ta Có thể đào sâunghiên cứu các quy định về tiền lương có trước và tiến bộ của các nước pháttriển Từ đó, vận dụng vào bản chất và thực tế của chính trị, xã hội của nước ta
để thúc đẩy sự phát triển kinh tế
b Khái niệm tiền lương của viên chức.
đó điểm d khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh này nêu rõ, viên chức là “Những người
được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm
vụ thường xuyên trong ĐVSN của Nhà nước, tổ chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội”
Cụ thể hóa Pháp lệnh 2003, Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày10/10/2003 quy định về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ công chứctrong các ĐVSN của Nhà nước (Nghị định 116), đưa ra quy định về viên chức
tại Điều 2 với nội dung: “Viên chức nói tại Nghị định này là công dân Việt
Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong ĐVSN của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đuợc quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 của pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29/4/2003,
2 Chương VI BLLĐ 2002.
Trang 9hưởng lương theo quy định của pháp luật” Tuy nhiên, với quy định tại Pháp
lệnh 2003, Nghị định 116 thì viên chức được hiểu là một loại của cán bộ, côngchức
Luật Viên chức ra đời, chứa đựng những nội dung quy định chi tiết vềviên chức, một trong những nội dung quan trọng là xác định rõ khái niệm viênchức, tạo ra một môi trường pháp lý riêng cho đối tượng viên chức Lúc này,viên chức mới được mặc chính cái áo của mình
Tại Điều 2 Luật Viên chức, viên chức được định nghĩa “là công dân Việt
Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” với các tiêu chí xác định, có thể
đưa ra các đặc điểm về viên chức như sau:
Là công dân Việt Nam
Được tuyển dụng theo vị trí việc làm
Làm việc tại các ĐVSN công lập3 theo chế độ hợp đồng làm việc
Hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSN, gồm: nguồn từ NSNN và
từ nguồn thu sự nghiệp (NTSN)
Được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp, không thực hiệnnhiệm vụ quản lý nhà nước
Viên chức là một loại lao động đặc biệt, với những đặc trưng sau:
Là loại lao động mà hoạt động chủ yếu là chuyên môn nghiệp vụ
Nơi làm việc của viên chức là các ĐVSN của Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước, Tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện4
3 Điều 10 Luật Viên chức.
4 Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/ 5/ 2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong ĐVSN công lập.
Trang 10 Quan hệ lao động của viên chức được thiết lập dựa trên hình thức tuyểndụng theo vị trí làm việc, dưới hình thức hợp đồng làm việc5.
Từ những đặc trưng đó, chế độ tiền lương của viên chức cũng cónhưng đặc điểm khác biệt nhất định với tiền lương của người lao động nóichung
Tiền lương của viên chức.
Trong hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh về viên chức nói riêngcũng như đối với người lao động nói chung vẫn chưa có văn bản nào đưa ra mộtkhái niệm về tiền lương một cách chính thống Từ những phân tích về tiền lươngtối thiểu và ý nghĩa của nó kết hợp với góc nhìn khoa học về bản chất của tiềnlương, khái niệm về tiền lương của viên chức có thể được nêu như sau:
“Tiền lương của viên chức là khoản tiền mà viên chức nhận được từ NSNN và NTSN khi thực hiện các công việc mang tính chuyên môn trong các ĐVSN theo quy định của pháp luật”
Tiền lương của viên chức cũng được hình thành và dựa trên hai hình thứclương cơ bản dành cho người lao động là hình thức tiền lương theo thời gian vàtiền lương theo sản phẩm
Hình thức tiền lương theo thời gian:
Tiền lương trả cho người lao động tính theo thời gian làm việc, cấp bậc,chức danh và thang lương được xác định theo hai cách: Lương thời gian đơngiản và lương thời gian có thưởng
- Lương thời gian đơn giản được chia thành:
+ Lương tháng: Tiền lương trả cho viên chức theo thang bậc lương quyđịnh gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp (nếu có) Lương thángthường được áp dụng một cách tuyệt đối và mức cao hơn đối với các viên chứclàm công tác quản lý và các viên chức làm việc trong các ngành không có tínhchất sản xuất
+ Lương ngày: Được tính bằng cách lấy lương tháng chia cho số ngàylàm việc theo chế độ Lương ngày làm căn cứ để tính trợ cấp BHXH phải trả cho
5 khoản 5 Điều 3 Luật Viên chức.
Trang 11viên chức, tính trả lương cho viên chức trong những ngày hội họp, học tập, trảlương theo hợp đồng.
+ Lương giờ: Được tính bằng cách lấy lương ngày chia cho số giờ làmtrong ngày theo chế độ Lương giờ thường làm căn cứ để tính phụ cấp làm thêmgiờ cho viên chức
- Lương thời gian có thưởng: Là hình thức tiền lương thời gian đơn giảnkết hợp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất
Tiền lương tính theo thời gian mặc dù đã tính đến thời gian làm việc thực
tế Tuy nhiên, nó vẫn còn hạn chế nhất định khi tiền lương chưa gắn với kết quảlao động Do đó, ĐVSN cần kết hợp với các biện pháp khuyến khích vật chất,kiểm tra chấp hành kỷ luật lao động nhằm tạo cho người lao động tự giác làmviệc có kỷ luật và năng suất cao
Hình thức tiền lương theo sản phẩm:
Hình thức tiền lương theo sản phẩm là tiền lương trả cho viên chức tínhtheo số lượng, chất lượng của sản phẩm hoàn thành hoặc khối lượng công việc
đã làm xong được nghiệm thu
Để tiến hành trả lương theo sản phẩm cần phải xây dựng được định mứclao động, đơn giá lương hợp lý trả cho từng loại sản phẩm, công việc được cơquan có thẩm quyền phê duyệt, phải kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ.Theo đó, ta có các loại hình trả lương theo sản phẩm như: theo sản phẩm trựctiếp, theo sản phẩm có thưởng, theo sản phẩm lũy tiến, theo sản phẩm gián tiếp,theo khối lượng công việc
1.1.2 Đặc điểm tiền lương của viên chức.
Chế độ tiền lương của viên chức cũng có nhiều thay đổi qua từng lần cảicách tiền lương của nước ta Và hiện nay, chế độ tiền lương của viên chức đượcđiều chỉnh khá cụ thể tại Điều 12 Luật Viên chức:
“1 Được trả lương tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao; được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi trong trường hợp làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc làm việc trong ngành nghề có
Trang 12môi trường độc hại, nguy hiểm, lĩnh vực sự nghiệp đặc thù.
2 Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và chế độ khác theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập.
3 Được hưởng tiền thưởng, được xét nâng lương theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập.”
Theo đó, tiền lương viên chức nhận được phụ thuộc vào: vị trí việc làm,kết quả thực hiện công việc, khả năng chi trả tiền lương của ĐVSN và các yếu tốtác động từ thị trường lao động
Viên chức được trả lương theo vị trí việc làm.
Luật Viên chức có bước chuyển biến mạnh dạn trong quy định Luật nàytạo điểm nhấn với nội dung chuyển từ trả lương theo hệ thống ngạch, bậc haychức danh nghề nghiệp sang trả lương theo vị trí việc làm Trước đây, chế độquản lý viên chức căn cứ vào chỉ tiêu biên chế và trả lương theo ngạch, bậc đãbộc lộ những bất hợp lý, thiếu khoa học và thiếu tính tự chủ trong công tác tổchức, quản lý nhân sự tại các ĐVSN Hơn nữa, việc trả lương còn mang tính càobằng Với phương án này, việc trả lương cho viên chức sẽ phụ thuộc vào vị trícông việc mà viên chức ký hợp đồng làm việc6 với ĐVSN Cũng dựa trên vị tríviệc làm này, hai bên thỏa thuận với nhau về mức tiền lương mà viên chức yêucầu và ĐVSN chấp thuận trả với mức lương đó và mức lương này phải nằmtrong điều kiện trả lương và khuôn khổ của Quy chế chi tiêu nội bộ (QCCTNB)
và phần quỹ lương của ĐVSN
Viên chức được trả lương tương xứng với kết quả lao động.
Trả lương cho viên chức tuân theo nguyên tắc gắn với kết quả thực hiệnnhiệm vụ đã được đề cập đến trong Nghị định 204 Tại khoản 2 Điều 3 quy định
cụ thể “Việc trả lương phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ,công chức, viên chức và nguồn trả lương của đơn vị.”
Luật Viên chức đã khẳng định lại một lần nữa theo hướng mở rộng hơnkhi hướng đến kết quả lao động của viên chức Khoản 1 Điều 12 Luật này quy
định: “Viên chức được trả lương tương xứng với vị trí việc làm, chức danh
nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ
6 Khoản 5 Điều 3 Luật Viên chức.
Trang 13Thứ nhất, tiền lương tương xứng với công tác mà viên chức đảm nhiệm,
chịu trách nhiệm thực hiện Việc trả lương phải đánh giá dựa vào công việc, tùythuộc từng vị trí công việc và năng lực của từng cá nhân viên chức Tiền lươngphải đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của viên chức đủ đảm bảo việc có thểtái sản xuất sức lao động và đảm bảo duy trì cuộc sống của viên chức
Thứ hai, tiền lương phải tương xứng với mức độ trách nhiệm mà viên
chức quản lý đảm nhiệm ở vị trí của của mình Để đảm bảo cho việc hoàn thànhcông việc và thực hiện tốt công tác quản lý được giao phải có một chế độ lươnghợp lý, để đảm bảo yếu tố đòn bẩy của tiền lương
Thứ ba, tính tương xứng của tiền lương còn được thể hiện thông qua việc
trả lương dựa vào kết quả công việc và hiệu quả của công việc của viên chức.Điều đó có nghĩa là tiền lương trả cho viên chức không chỉ căn cứ vào vị trí làmviệc của viên chức khi được tuyển dụng mà còn phải dựa vào mức độ hoànthành công việc được giao đối với ví trí đang đảm nhiệm Đây là một quan điểmmới trong luật viên chức, khi đưa kết quả công việc mà viên chức thực hiện trởthành một căn cứ quan trọng để tính tiền lương cho viên chức
Tính tương xứng trong chính sách tiền lương của viên chức trước hết thểhiện sự công bằng trong phân phối thu nhập, điều phối công việc, và công bằngtrong việc xem xét đánh giá kết quả công việc, chấm dứt tình trạng tiền lươngbình quân và mang tính cào bằng, không thể hiện được giá trị sức lao động Khivấn đề tiền lương không được giải quyết một cách ổn thỏa, chính đáng, có thểdẫn đến tình trạng chán nản không chuyên tâm trong công tác, trở nên chây lườitrong lao động hoặc tìm mọi cách để tìm kiếm thu nhập từ các nguồn khác Xét
từ góc độ tâm lý, khi được trả lương một cách tương xứng với phần công sức bỏ
ra sẽ khuyến khích, tạo động lực cho viên chức làm việc và trau dồi chuyên môn
Trang 14của mình Tiền lương là lợi ích xã hội của một người lao động nhận được, chonên việc đánh giá đúng sức lao động bỏ ra còn có ý nghĩa là sự công nhận, tôntrọng của xã hội đối với những đóng góp đó.
Khả năng chi trả tiền lương cho viên chức của ĐVSN.
Nguồn tiền lương thực hiện việc trả lương cho viên chức mà ĐVSN sửdụng bao gồm, lương từ NSNN, lương từ NTSN
Nguồn từ NSNN là nguồn của phần lương cứng trong tiền lương của
viên chức phản ánh năng lực, trình độ, kỹ năng của viên chức Việc sử dụngNSNN để trả lương luôn nằm trong dự toán kinh phí hoạt động của ĐVSN
NSNN không phải là loại nguồn duy nhất được quan tâm hàng đầu vớivai trò là nguồn kinh phí cải cách tiền lương Tuy nhiên, NSNN lại là nguồn lớnnhất và quyết định nhất để cải cách tiền lương đối với người lao động nói chung
và với viên chức nói riêng
Xét về mặt bản chất, đây là khoản tiền lương được người sử dụng laođộng mà cụ thể ở đây là ĐVSN trả lương cho viên chức theo hình thức tiềnlương tính theo thời gian Khi viên chức đảm bảo thời lượng quy định cho côngviệc của mình
tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chínhđối với đơn vị sự nghiệp công lập (Thông tư 71)
Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có);
Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân
Trang 15ĐVSN có quyền sử dụng nguồn thu này để thực hiện chế độ trả lươngcho viên chức khi tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp lương là khoản chihoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyềngiao, phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí, hoạt động dịch vụ8
Tùy vào từng loại hình ĐVSN, khoản thu từ sự nghiệp sẽ được trích một
tỷ lệ thích hợp để chi trả lương cho viên chức Các ĐVSN đảm bảo hoặc đảmbảo mộ phần tài chính được giữ lại 40% nguồn thu theo chế độ quy định (nếucó) để bổ sung nguồn điều chỉnh tiền lương tăng thêm (Y tế 35%)
Về mặt bản chất, tiền lương từ NTSN trả cho viên chức là hình thức trảlương hỗn hợp bao gồm trả lương theo thời gian và trả lương theo sản phẩm.Điều này thể hiện rất rõ trong phân phối hệ số lương của viên chức làm việctrong mảng hành chính và viên chức hoạt động trong mảng chuyên môn, nghiệp
vụ Tuy nhiên, trong phần lương mềm vẫn tồn tại phần cứng đối với tiền lương
từ NTSN được tính theo thời gian và phần mềm tính theo sản phẩm, phụ thuộcvào khối lượng công việc mà viên chức thực hiện được Viên chức tham gianhiều và có hiệu quả trong hoạt động chuyên môn của mình thì tương ứng sốtiền lương mà viên chức được nhận sẽ càng cao Thông qua phần lương mềm,yếu tố năng lực của viên chức được đánh giá rất rõ, phản ánh thông qua lượngtiền lương mà họ nhận được Thông qua đó, tiền lương của viên chức tiến gầnhơn đến việc tính đúng, tính đủ Sự đa dạng của nguồn tiền lương và khoảnlương mà viên chức được nhận đã làm tăng tính cạnh tranh của các ĐVSN sovới khu vực ngoài Nhà nước, đẩy mạnh hơn nữa công cuộc xã hội hóa cácĐVSN
Từ những phân tích cụ thể về các đặc điểm của tiền lương viên chức cũngcho ta cách nhìn rõ nét hơn về sự khác biệt về tiền lương của viên chức và tiềnlương của cán bộ công chức Vốn dĩ, trước khi có sự ra đời và công nhận củaLuật Viên chức thì các đối tượng này luôn tồn tại sự nhập nhằng Dưới đây lànhững điểm cơ bản để phân biệt giữa tiền lương của viên chức và tiền lươngcông chức:
7 khoản 2, Điều 14 Nghị định số 43.
8 khoản 2.1 mục VIII Thông tư 71.
Trang 16Căn cứ trả lương: Đối với công chức, căn cứ vào ngạch, bậc, chức vụ mà
công chức nắm giữ khi được bổ nhiệm vào một chức vụ và hưởng lương tươngứng với ngạch, bậc phù hợp với chức vụ đó Trong khi viên chức lại căn cứ vào
vị trí việc làm, kết quả công việc mà viên chức thực hiện
Nguồn kinh phí đảm bảo thực hiện việc trả lương: Tiền lương của công
chức tuân theo thang, bảng lương với những hệ số lương tương ứng với căn cứtrả lương của công chức được đảm bảo toàn bộ bởi nguồn NSNN Viên chức làđối tượng lao động làm việc trong các ĐVSN Do đó, tiền lương của viên chứcđược đảm bảo bởi NSNN và từ NTSN
Cơ sở thực hiện chế độ tiền lương: Chế độ tiền lương của viên chức được
thực hiện thông qua các quyết định chính sách, trong khi đối với viên chức đểthực hiện chế độ tiền lương, thủ trưởng ĐVSN phải xây dựng QCCTNB riêngcho đơn vị của mình trên cơ sở quy định của pháp luật
Tác động từ các yếu tố của thị trường lao động.
Việc trả lương cho viên chức phải căn cứ vào quy định pháp luật tiềnlương mà nhà nước áp dụng cho viên chức và hợp đồng làm việc mà ĐVSN kýkết với viên chức Bên cạnh đó, tiền lương của viên chức và việc trả lương viênchức phải đặt trong bối cảnh tương quan giữa mức sống của dân cư địa phươngnới ĐVSN có trụ sở; Tập quán sinh hoạt và tiêu dùng của dân cư; Mức lươngtrung bình trên thị trường lao động của các công việc tương tự
1.1.3 Ý nghĩa của tiền lương viên chức
Dưới góc độ kinh tế chính trị, cũng như kinh tế phát triển, trong bối cảnhđổi mới, hội nhập và phát triển toàn diện đất nước theo yêu cầu hiện đại và bềnvững, gắn với bảo đảm an sinh xã hội Trong đó, con người luôn là mục tiêu caonhất và động lực mạnh nhất của phát triển như tinh thần của Nghị quyết Đại hội
XI Đảng đề ra, thì tiền lương ngày càng trở thành một chính sách có ảnh hưởnglớn đến các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội Thể hiện vai trò ngày càng quantrọng trong vấn đề tạo động lực phát triển xã hội cả ở góc độ vĩ mô và vi mô
Ở góc độ kinh tế, tiền lương được coi là đại lượng thể hiện giá trị của sứclao động, là yếu tố làm cho sức lao động mang tính hàng hóa Cũng như các loạihàng hóa khác, tiền lương chịu sự chi phối của quy luật cung cầu Có thể hiểu
Trang 17một cách đơn giản, tiền lương là quyền lợi chính đáng mà viên chức được hưởngsau khi đã thực hiện công việc thông qua các hoạt động chuyên môn của mình
Về mặt chính trị xã hội, một chế độ tiền lương tốt là chế độ tiền lươnggiúp cho xã hội ổn định và tạo điều kiện cho viên chức được làm việc, cống hiếnnhiều hơn nữa cho ĐVSN, cho toàn xã hội Ý nghĩa của tiền lương được pháthuy mạnh mẽ khi tiền lương của viên chức được xây dựng trên nền tảng quan hệtiền lương đúng đắn Theo đó, sẽ tạo ra một lợi thế cạnh tranh so với các đơn vịkhác trong khu vực ngoài Nhà nước
Một chế độ tiền lương tốt dành cho viên chức phải phát huy được sứcsáng tạo và năng lực, hiệu quả công tác, cũng như thu hút được nguồn viên chức
có chất lượng cao, các chuyên gia giỏi, nhân tài Đối với viên chức, vấn đềnăng lực càng quan trọng Khi mà, giá trị sức lao động của viên chức mang vàotham gia là chuyên môn của mình Việc đánh giá hoạt động chuyên môn nàythực sự không đơn giản như việc trả lương cho công nhân dựa vào thời gian họtham gia lao động và số lượng sản phẩm họ làm ra
Tiền lương có ý nghĩa lớn đối với viên chức thể hiện ở một số nội dung
cơ bản sau:
Thứ nhất, tiền lương có ý nghĩa trong tái sản xuất sức lao động Khi mà,
tiền lương được trả cho viên chức là dựa vào giá trị sức lao động mà viên chức
đó tiêu hao khi tham gia lao động Tái sản xuất sức lao động của viên chứckhông chỉ được hiểu theo cách đơn giản là bảo đảm các nhu cầu vật chất chocuộc sống của chính người lao động ở điều kiện bình thường nhất và ở mức bìnhthường nhất, mà tiền lương của viên chức phải đảm bảo cho viên chức đó có thểnuôi sống gia đình, tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ, đảm bảo đời sốngvật chất và cải thiện đời sống tinh thần
Thứ hai, tiền lương góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của viên
chức Vì, viên chức tham gia lao động, không chỉ để duy trì cuộc sống của họ
mà phải hướng đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân và gia đình
họ Ngoài việc đáp ứng nhu cầu đến việc cải thiện nâng cao về vật chất, yếu tốchất lượng cuộc sống của viên chức còn phải được đề cập và đề cao đến yếu tốphi vật chất trong cuộc sống của viên chức và gia đình họ Mục tiêu mà chínhsách cải cách tiền lương đặt ra là để viên chức có thể sống bằng lương ở mức
Trang 18trung bình khá trong xã hội.
Thứ ba, tiền lương khuyến khích viên chức tích cực lao động, cống hiến
cho ĐVSN, nâng cao trình độ chuyên môn của viên chức Một chế độ tiền lươngvới mức lương hợp lý mà viên chức nhận được sau quá trình đóng góp, tiêu haosức lao động của mình sẽ giúp cho viên chức chuyên tâm hơn trong hoạt động,khuyến khích tinh thần học tập, lao động của viên chức nhằm nâng cao chuyênmôn, nghiệp vụ của mình để đóng góp nhiều hơn nữa cho đơn vị nói riêng vàcho xã hội nói chung
Thứ tư, tiền lương là yếu tố quan trọng trong việc giữ nguồn viên chức
làm việc hiệu quả, thu hút nhân tài, tăng cường nguồn lực chất xám cho ĐVSN.Một chế độ tiền lương hấp dẫn trong tổng thể chế độ đãi ngộ thỏa đáng khôngchỉ để “tái sản xuất sức lao động” mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thuhút nguồn nhân lực trẻ, nhân lực tốt phục vụ cho hoạt động với yêu cầu ngàycàng cao hơn ở các ĐVSN đối với xã hội Định hướng xã hội hóa các ĐVSN,loại bỏ dần vỏ bọc của Nhà nước để tham gia hoạt động trong nền kinh tế thịtrường Chế độ tiền lương là yếu tố tạo nên sự cạnh tranh đó giữa các đơn vị sửdụng lao động Do tâm lý truyền thống, rất nhiều người trong giới trẻ khi bắt đầu
đi làm, mang trong mình nhiệt huyết tuổi trẻ, họ vẫn muốn đóng góp, tham gialao động trong các ĐVSN Họ sẵn sàng bỏ ra giá trị sức lao động lớn để nhận lạimột giá trị không tương xứng, nhưng điều này chỉ tồn tại trong thời gian đầu, vềsau, khi lợi ích kinh tế được xét đến, số lượng viên chức này có xu hướng yêucầu tăng thu nhập của mình lên trên căn cứ mức lương tương xứng với giá trịchất xám Do đó, việc xem xét để điều chỉnh một mức lương phù hợp có tính thuhút nhân tài rất quan trọng
Khi tiền lương thực hiện được chức năng của mình thì lúc đó quan hệ tiềnlương mới ổn định Chức năng toàn diện của tiền lương được thực hiện sẽ manglại ý nghĩa đầy đủ nhất cho người lao động nói chung và viên chức nói riêng Do
đó, phát huy ý nghĩa của tiền lương về nền tảng là phải dựa vào bản chất và chứcnăng của tiền lương
Trang 191.2 Lịch sử hình thành và phát triển của chế định tiền lương viên chức nước ta.
1.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1985.
Giai đoạn từ 1945 - 1954
Từ năm 1945 hệ thống tiền lương ở Việt Nam đã chính thức tồn tại Từsau Cách mạng tháng Tám, những năm đầu của thời kỳ kháng chiến chống Pháp,trong hoàn cảnh chiến tranh nên bộ phận người làm việc, lao động trong các cơquan có đơn vị chủ quản là chính quyền lâm thời ở nước ta Mọi hoạt động đềudồn vào mục tiêu “tất cả hướng ra tiền tuyến” Chế độ, chính sách đãi ngộ banđầu chỉ là chính sách tự túc, tự cấp về sau mới có chế độ phụ cấp cho bộ phậnngười hoạt động trong các cơ quan, bộ phận thuộc chính quyền ở dạng phụ cấphàng tháng và áp dụng đồng loạt cho tất cả mọi người
Từ năm 1948, hình thành chế độ tiền lương dưới dạng phụ cấp “sinh hoạtphí” áp dụng chung cho cán bộ công nhân viên của mọi cơ quan Đặc điểm tiềnlương của đối tượng là viên chức thời kỳ này mang tính bình quân, việc đề bạttăng lương, phân cấp quản lý chỉ dựa vào chỉ tiêu phân bổ giản đơn không theomột công thức nào hay theo một phương thức thống nhất quản lý nào mà chỉđơn thuần là phân bổ theo chỉ tiêu
Giai đoạn 1954 đến 1985
Trong nền kinh tế bao cấp, với sự độc quyền của kinh tế quốc doanh vàkinh tế tập thể, Nhà nước chính là người sử dụng lao động, trực tiếp trả lươngcho công nhân, viên chức nên tiền lương của công chức không phải là giá cả sứclao động mà được hiểu là một phần thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hình thứctiền tệ, được Nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân, viên chức cho phùhợp với số lượng và chất lượng lao động của mỗi người đã cống hiến
Thời kỳ đầu của chế độ bao cấp là mô hình xây dựng xã hội chủ nghĩa ởmiền Bắc và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam Do ảnh hưởngnhiều của tư tưởng và mô hình của chủ nghĩa xã hội từ Liên Xô (cũ) nên chếđịnh về tiền lương cũng được xây dựng theo khuôn mẫu tiền lương được xâydựng ở Liên Xô lúc bấy giờ
Trang 20Giai đoạn này, do đang từng bước xây dựng đất nước, xây dựng mớitrong tất cả các lĩnh vực của đời sống, giai đoạn thử nghiệm để tìm ra phương ánđiều chỉnh phù hợp nhất cho xã hội Đây là giai đoạn có nhiều cải cách, điềuchỉnh nhất trong vấn đề chính sách tiền lương, nhằm tìm ra cách thức điều chỉnhphù hợp nhất Lần thứ nhất vào năm 1956, lần thứ 2 vào năm 1958, lần thứ 3vào năm1960 Trong một khoảng thời gian chưa đầy 5 năm đã có đến 3 lần cảicách tiền lương Điều này cho ta thấy ở thời kỳ này mặc dù tiền lương đượcquan niệm là sự phân phối lợi ích của Nhà nước, nhưng tiền lương đã thể hiệntầm quan trọng của mình khi chỉ ra được sức mạnh của nó ảnh hưởng đến kinh
tế, xã hội như thế nào Trong 3 lần cải cách này thì lần cải cách thứ 3 vào năm
1960 là cải cách có những bước tiến mới và tiến bộ hơn so với 2 lần trước đó
Trong giai đoạn này, lần đầu tiên quy định về tiền lương có sự phân biệttheo vị trí ngành của nền kinh tế, khoảng cách các bậc lương được mở rộng,nguyên tắc phân phối theo lao động được thể hiện một cách rõ nét Tuy nhiên,khái niệm viên chức vẫn chưa được tách ra khỏi thuật ngữ “cán bộ công nhânviên chức” Do nhu cầu phân biệt viên chức và cán bộ công chức không đượcđặt ra trong cơ chế của nền kinh tế tập trung, bao cấp Việc quản lý tiền lươngcủa cán bộ công nhân viên và hành chính sự nghiệp thuộc ngành nào, cơ quannào thì do ngành của cơ quan đó tự quản trên cơ sở dựa vào hệ thống trong bảnglương chung quy định ở cải cách năm 1960 Việc áp dụng tiền lương theo bảnglương năm 1960 có hiệu lực áp dụng cho đến khi Nghị định 235/HĐBT ngày18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng về cải cách chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang có hiệu lực (Nghị định 235)
Năm 1964, hệ thống tiền lương của Việt Nam được sửa đổi, bổ sung vớiquy định chế độ tiền lương bằng hiện vật trong hệ thống tiền lương Đây đượcxem là điểm nổi bật nhất của chế độ tiền lương trong thời kỳ bao cấp Tiềnlương gồm 2 phần: Phần tiền mặt do Nhà nước phân phối theo thang, bảnglương; Phần bằng hiện vật do Nhà nước phân phối theo tiêu chuẩn cán bộ
Trong hoàn cảnh chiến tranh và giai đoạn đầu hình thành nên tiền lươngnói chung và tiền lương của viên chức nói riêng chịu sự chi phối mạnh mẽ củahoàn cảnh đất nước và điều kiện kinh tế Chưa có một chế định hợp lý, hoànchỉnh, đủ sức điều chỉnh quan hệ tiền lương và những quan hệ liên quan đến tiềnlương Một điều đáng nói là tiền lương trong giai đoạn này không thể hiện được
Trang 21bản chất cũng như chưa thực hiện được chức năng của tiền lương mà còn chịu
sự chi phối mạnh mẽ bởi ý chí của Nhà nước
1.2.2 Giai đoạn từ 1985 đến nay
Giai đoạn 1985 đến 1993
Trong điều kiện đất nước thống nhất và chế độ xã hội chủ nghĩa được xâydựng trên phạm vi cả nước, Nhà nước thực hiện chức năng của mình thông quacác chính sách vĩ mô để định hướng xây dựng đất nước Chính sách tiền lương
là một chính sách lớn, nhận thức được tầm quan trọng của chính sách này, Đảng
và Nhà nước ta đã quan tâm và dốc sức để xây dựng một chính sách tiền lươnghợp lý Do đó, giai đoạn này chế định tiền lương có nhiều biến động lớn và có ýnghĩa định hướng cho cả quá trình cải cách chính sách tiền lương của nước ta
Nghị định 235 là văn bản quy định tiền lương cho viên chức đầu tiênmang tính chính thức và phổ biến về tiền lương trong giai đoạn này Nghị định
235 là văn bản cải tiến chế độ tiền lương của công nhân viên chức và các lực
lượng vũ trang bằng biện pháp “bãi bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá bù lỗ,
chuyển sang chế độ trả lương bằng tiền quỹ hàng hóa bảo đảm nhằm quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, xóa bỏ bao cấp, bảo đảm thính thống nhất của chế độ tiền lương trong cả nước …” 9 Đây là nghị định có giá trị tạo nềntảng pháp lý hoàn chỉnh về chế độ tiền lương của viên chức, đánh giá bước tiếnquan trọng trong quá trình xây dựng một chế độ tiền lương cho công nhân, viênchức theo hướng hạn chế ý chí chủ quan của Nhà nước áp đặt lên chế độ tiềnlương và để tiền lương phản ánh được giá trị sức lao động Thông qua Nghị định
này, thuật ngữ “mức lương tối thiểu” được nêu lên một cách chính thức tại Điều
2 Nghị định 235 với mức lương tối thiểu là 220.000 đồng/tháng và các nội dungliên quan đến chế độ lương được đề cập cụ thể và chi tiết như thang lương, bảnglương, các chế độ phụ cấp … Ban hành kèm với Nghị định này là Quyết định
số 134/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng về cải cách chế độ tiềnlương của công nhân viên chức và các lực lượng vũ trang
Giá trị lớn nhất của Nghị định 235 là tạo nền tảng pháp lý hoàn chỉnh vềchế độ tiền lương của viên chức nói riêng trong hệ thống người lao động hưởng
9 Điều 1 Nghị định 235.
Trang 22lương từ NSNN từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đánh dấu bướcphát triển quan trọng về kinh tế xã hội của nước ta khi mạnh dạng xóa bỏ cơ chếbao cấp, trả lương bằng hiện vật chuyển sang chế độ trả lương bằng tiền, khắcphục được hạn chế lớn của chế độ tiền lương của hiện vật Những cuộc cải cáchtrong giai đoạn này là một minh chứng cho nỗ lực của Nhà nước ta trong việctìm ra một chính sách phù hợp với định hướng, chủ trương, đường lối của Đảng
và Nhà nước ta đồng thời phải phù hợp với sự phát triển của xã hội Tuy nhiên,như đã phân tích, hạn chế của Nghị định 235 là chưa phân biệt chế độ lươngtrong khu vực hành chính sự nghiệp và khu vực kinh doanh
Nghị định 235 ra đời trong thời kỳ bao cấp Tuy nhiên, Nghị định này đã
có những bước tiến mới trong quy định của mình khi mang hơi hướng của nềnkinh tế thị trường về cách nhìn nhận vấn đề tiền lương Nó được xem là bướcchuyển tiếp tạo đà trong quá trình chuyển hóa từ một nền kinh tế phi thị trườngsang xây dựng nền kinh tế thị trường
Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chế độ tiền lương của viên
chức càng nhận được sự quan tâm hơn theo hướng “giải phóng sức lao động, ổn
định đời sống cán bộ công nhân viên chức, …”; “đảm bảo tiền lương khu vực hành chính sự nghiệp không chênh lệch quá so với khu vực sản xuất kinh doanh, phải gắn tiền lương với kết quả lao động và hiệu quả sản xuất, bảo đảm tiền lương thực tế …” 10 Trên tinh thần này, Nghị định 202/1988/NĐ-HĐBT về tiền
lương công nhân viên chức hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang và các đốitượng chính sách ra đời Với Nghị định này, lương của công nhân viên chứctrong đơn vị hành chính sự nghiệp đã được tách ra khỏi chế độ tiền lương củakhu vực sản xuất kinh doanh Mức tiền lương tối thiểu cũng được nâng lên mức
22 500 đồng/tháng mức này được áp dụng cho đến năm 1993 khi pháp luật tiềnlương có những chuyển biến lớn
Giai đoạn 1993 đến 1998
Năm 1993, cùng với việc đổi mới nền kinh tế từ tập trung bao cấp sangnền kinh tế thị trường, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII đã đưa ra quanđiểm, chủ trương mới về tiền công, tiền lương Theo đó, cải cách chính sách tiền
công và tiền lương theo nguyên tắc “dựa trên số lượng và chất luợng lao động,
10 Nghị quyết kỳ họp thứ 4 khóa VIII, tháng 12/1988
Trang 23đảm bảo tái sản xuất sức lao động, tiền tệ hóa tiền lương, xóa bỏ chế độ bao cấp ngoài lương dưới hình thức hiện vật, thực hiện môi trường tương quan hợp
lý về tiền lương và thu nhập của bộ phận lao động xã hội”
Mức tiền lương tối thiểu duy trì trong thời gian trước đó không còn phùhợp với mức sống hiện tại khi mà mức tăng trưởng kinh tế đang tăng nhanh, giá
cả hàng hóa dịch vụ cũng kéo theo tăng rất nhanh Để đáp ứng cho nhu cầu thực
tế đó, ngày 23/5/1993 Chính phủ ban hành Nghị định 25/CP quy định tạm thờichế độ tiền lương mới của cán bộ công nhân viên chức hành chính sự nghiệp vàlực lựng vũ trang thay thế Nghị định 235 Bên cạnh việc nâng mức lương tốithiểu lên 120.000 đồng/tháng, Nghị định 25/CP cũng ban hành kèm theo một hệthống thang lương, bảng lương mới cùng các chế độ phụ cấp cho cả khu vựchành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang Bên cạnh đó còn có Quyết định số69/QĐ-TW ngày 17/5/1993 của Ban Bí thư Trung ương Đảng quy định tạm thời
về chế độ tiền lương mới của cán bộ công nhân viên chức ở cơ quan Đảng, đoànthể
Kinh tế càng phát triển, yêu cầu của việc tháo gỡ những vướng mắc do sựtăng giá không ngừng và dựa trên cơ sở tiền đề của Nghị quyết kỳ họp thứ 10
Quốc hội khóa IX, ngày 21/1/1997 nêu lên vấn đề “từng bước bù tiền lương cho
trượt giá, quan tâm thỏa đáng cho cán bộ công nhân viên chức, lập lại trật tự trong lĩnh vực tiền lương, tiếp tục thực hiện đề án cả cách tiền lương vào năm
1998 và những năm sau …” 11 Trên tinh thần Nghị quyết này Chính phủ banhành Nghị định 06/CP về giải quyết tiền lương và trợ cấp năm 1997 đối với cán
bộ công nhân viên chức hành chính sự nghiệp, người nghỉ hưu, người mất sứclao động trong khu vực Nhà nước Theo quy định của Nghị định này tiền lươngtối thiểu của viên chức được tăng lên 144.000 đồng/tháng
Cải cách chính sách tiền lương năm 1993 thực sự là một cuộc cáchmạng12 với sự chuẩn bị có tính bước đệm về chính sách tiền lương và các chínhsách liên quan từ năm 1992, 01/4/1993 chính sách này chính thức đi vào thựchiện Cải cách chính sách tiền lương và các chính sách có liên quan năm 1993
11 Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX, năm 1996.
12 http://www.daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=240714 Đặng Như Lợi – Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội – Bài viết “20 năm nhìn lại chính sách cải cách tiền lương”, đăng ngày 15/03/2012.
Trang 24thực sự là một cuộc cách mạng với những thay đổi rất cơ bản, quan trọng: Mởđầu cho chuyển đổi chính sách tiền lương và các chính sách có liên quan sang cơchế thị trường; Cơ bản tính đúng, tính đủ tiền lương, xóa bỏ bao cấp; Giảm khálớn tính bình quân, cào bằng trong chính sách và phân phối tiền lương, giaonhiều quyền chủ động về tiền lương hơn cho các ĐVSN có thu, doanh nghiệpnhà nước, giảm bớt mức độ can thiệp cụ thể, trực tiếp của Nhà nước đối với khuvực doanh nghiệp nhà nước và ĐVSN.
Như vậy, chỉ trong thời gian chưa đầy 5 năm, mức tiền lương tối thiểucủa viên chức tăng đáng kể, điều này chứng tỏ sự quan tâm của Đảng, Nhà nướcđối với đời sống của lao động hưởng lương từ NSNN và cũng thể hiện sự tăngtrưởng mạnh của nền kinh tế Cũng trong giai đoạn này chế độ tiền lương củacán bộ công nhân viên chức làm việc trong đơn vị hành chính sự nghiệp, lựclượng vũ trang đã có sự phân biệt với cán bộ công nhân viên trong cơ quanĐảng, đoàn thể Tuy nhiên, ở giai đoạn này khái niệm về viên chức vẫn chưahình thành, viên chức vẫn được hiểu trong tổng thể khái niệm “cán bộ công nhânviên chức”
Giai đoạn 1998 đến 2003
Lao động trong khu vực Nhà nước hưởng lương từ nguồn NSNN ngàycàng tăng, đối tượng là cán bộ công nhân viên chức nhận được nhiều sự quantâm từ nhiều tầng lớp khác nhau khi họ có vai trò ngày càng quan trọng trongviệc tạo ra và thực hiện những cuộc cải cách lớn trong quản lý nhà nước Pháplệnh lệnh số 01/1998/PL-UBTVQH10 ngày 28/02/1998 của Ủy ban Thường vụQuốc hội về Cán bộ công chức (Pháp lệnh 1998) khẳng định và minh chứng chotầm quan trọng đó Pháp lệnh 1998 không chỉ là văn bản đầu tiên có giá trị pháp
lý cao mà còn là văn bản điều chỉnh một cách toàn diện về đối tượng cán bộcông nhân viên chức Hơn thế nữa, lần đầu tiên trong văn bản pháp lý này, viênchức được tách ra khỏi cụm từ cán bộ công nhân viên chức vốn luôn được nhắcđến khi hàm ý chỉ đối tượng làm việc trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, cơquan Đảng, Đoàn thể Cũng từ đây, đối tượng viên chức được đặt lên tầm củamột vấn đề thường xuyên được nêu ra trong công cuộc cải cách hành chính nước
ta Cũng trong quy định của Pháp lệnh này, vấn đề tiền lương được nêu như mộtquyền lợi thiết thân gắn liền với viên chức khi tiền lương gắn với nhiệm vụ,công vụ được giao và được biểu thị bởi một giá trị tương xứng Ngoài tiền
Trang 25lương, viên chức còn được hưởng các chế độ, chính sách về nhà ở, về điều kiệnlàm việc … và tùy từng đối tượng sẽ được hưởng các chế độ phụ cấp Pháp lệnh
1998 là cơ sở vững chắc cho những đổi mới mang tính hệ thống về tiền lươngđối với viên chức trong tổng thể đối tượng làm việc trong các đơn vị hành chính
sự nghiệp, cơ quan Đảng, Đoàn thể Trên cơ sở nền tảng ban đầu này hàng loạtcác văn bản điều chỉnh liên quan đế chế độ lương được ban hành, giúp hoànthiện và đầy đủ hơn nữa những quy định điều chỉnh tiền lương đối với viênchức
Nghị định 175/1999/NĐ-CP ngày 15/12/1999 của Chính phủ về điềuchỉnh mức tiền lương tối thiểu và mức trợ cấp sinh hoạt phí từ nguồn kinh phíthuộc NSNN Tiếp đó là Nghị định 77/2000/NĐ-CP ngày 15/12/2000 của Chínhphủ về việc điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu, mức trợ cấp và sinh hoạt phí đốivới các đối tượng hưởng lương, phụ cấp, trợ cấp và sinh hoạt phí theo hướngtiếp tục tăng mức tiền lương tối thiểu Tiếp theo là Nghị định 03/2003/NĐ-CPngày 15/1/2003 của Chính phủ về điều chỉnh tiền lương, trợ cấp xã hội và đổimới một bước cơ chế quản lý tiền lương đã nâng mức tiền lương tối thiểu thêmmột nấc mới Trong giai đoạn này, với mức tiền lương tối thiểu nằm ở mức kháhợp lý khi đã có bước tiến trước sự lạm phát và trượt giá của hàng hóa, khối Nhànước đã thu hút được nguồn lao động trẻ, giàu năng lực
Giai đoạn 2003 đến nay
Liên tục trong giai đoạn này là hàng loạt văn bản điều chỉnh về tiềnlương tối thiểu được ban hành mang tính hệ thống:
Nghị định số 203/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ quyđịnh tiền lương tối thiểu (Nghị định 203)
Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ vềchế độ tiền lương đối với cán bộ công chức, viên chức và lực lượng vũ trang(Nghị định 204)
Nghị định số 118/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ về điềuchỉnh mức lương tối thiểu chung
Nghị định số 94/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về điềuchỉnh mức lương tối thiểu chung
Trang 26Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 16/11/2007 của Chính phủ quyđịnh mức lương tối thiểu chung.
Nghị định số 33/2009/NĐ-CP ngày 06/4/2009 của Chính phủ quyđịnh mức lương tối thiểu chung
Ngh n h s 28/2010/N - Cp ngày 25/3/2010 c a Chính phủ quy
định mức lương tối thiểu chung
Nghị định số 22/2011/NĐ-CP ngày 04/4/2011 của Chính phủ quyđịnh mức lương tối thiểu chung
Nghị định số 31/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ quyđịnh về mức lương tối thiểu chung
Về mức tiền lương tối thiểu được quy định trong các Nghị định liên tụcđược điều chỉnh tăng lên và tăng nhanh qua các giai đoạn
Về hệ thống thang, bảng lương, trong giai đoạn này đã có sự thu gọnđáng kể từ hàng chục thang bảng lương (năm 1993) xuống còn 8 bảng lương ápdụng chung đối với các đối tượng hưởng lương từ NSNN Tách riêng bảnglương viên chức ra khỏi bảng lương công chức, rút bớt một số ngạch Ban hànhnhiều quy định mới về nâng bậc, nâng ngạch đối viên chức, áp dụng các chế độphụ cấp chức vụ đối với các viên chức quản lý, phụ cấp ưu đãi cho viên chứcngành Giáo dục, Y tế, Văn hóa … từ 15% đến 70%, phụ cấp trách nhiệm nhằmnâng cao hơn nữa tinh thần của viên chức trong hoạt động chuyên môn
Trong hệ thống các nghị định điều chỉnh chế độ tiền lương của viên chứcnhư đã thống kê trong giai đoạn này - giai đoạn có nhiều văn bản điều chỉnhnhất cho đến thời điểm hiện tại, Nghị định 203 và Nghị định 204 được đánh giá
là hai Nghị định có tầm nhìn mới và bao quát hơn, khi không trực tiếp làm thayđổi mức tiền lương tối thiểu, nhưng đã tạo nên một cơ chế điều chỉnh mức lươngtối thiểu cụ thể, rõ ràng thông qua việc xây dựng những căn cứ quy định mứclương tối thiểu cùng những nội dung liên quan đến chế độ tiền lương Hai Nghịđịnh này đã tạo nên một cơ sở pháp lý mang tính khoa học, là một nền tảng đểxây dựng được một hệ thống các quy định điều chỉnh mức lương tối thiểu thôngqua các Nghị định điều chỉnh tiền lương tối thiểu chung trong từng thời kỳ
Như vậy, xuất phát từ mốc ra đời của Nghị định 235, sau gần 30 năm đã
Trang 27hình thành nên một hệ thống các văn bản tiền lương tối thiểu với mức tiền lươngtối thiểu tăng lên qua các thời điểm Chế định tiền lương của viên chức đã cónhiều biến đổi lớn về cả chất và lượng Thông qua tiền lương đời sống của viênchức cũng dần được cải thiện hơn, việc quan tâm của Nhà nước khi đẩy mạnhviệc thay đổi mức lương tối thiểu chung tạo được những ưu thế nhất định chođối tượng là viên chức.
Thông qua các văn bản pháp luật này, viên chức dần được tách ra và có
sự phân biệt nhất định so với cán bộ, công chức vốn là những đối tượng laođộng thường được “vơ chùm” để xem như một đối tượng lao động đặc thù trongkhối Nhà nước nắm giữ các quyền hạn, nhiệm vụ, chức năng không giống nhau
Từ năm 2003 đến nay, Nhà nước tiếp tục thực hiện cải cách chính sáchtiền lương Tuy nhiên, cải cách về chế độ tiền lương cho viên chức trong giaiđoạn này chủ yếu là nâng mức lương tối thiểu do áp lực của giá cả và nới rộngquan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đa, bỏ bớt một số bậc lương và bổsung thêm các chế độ phụ cấp, dần dần hợp lý hóa hơn chế độ tiền lương choviên chức Tuy nhiên, so với chế độ tiền lương năm 1993, những thay đổi vềchính sách tiền lương cho đến thời điểm hiện nay chưa thực sự lớn và thực trạng
là tiền lương viên chức luôn nằm ở thế chạy theo bù trượt giá Mức tiền lươngcủa viên chức vẫn chưa có thể đáp ứng được mục tiêu để viên chức có thể sốngbằng tiền lương ở mức trung bình khá trong xã hội
Trang 28Bảng 1: Mức tiền lương tối thiểu theo quy định pháp luật từ 1985 đến nay
(năm)
Mức tiềnlương tốithiểu (đồng)
Tỷ lệtăng (%)
Trang 291.3 Hệ thống quy định pháp luật hiện hành về tiền lương của viên chức.
Luật Viên chức ra đời đã đánh dấu một mốc quan trọng trong hệ thốngpháp luật Việt Nam dành cho đối tượng viên chức Với quy định của Luật Viênchức, vấn đề về tiền lương của viên chức đã có những điểm mới tiền bộ về cảmặt hình thức thông qua các quy định về tiền lương, phụ cấp lương, chế độ nângbậc lương Song, không phải sự ra đời của Luật Viên chức là điểm dừng củanhững văn bản trước đó điều chỉnh chế độ tiền lương của viên Trực tiếp điềuchỉnh các vấn đề liên quan đến tiền lương của viên chức nói chung hiện nay baogồm những văn bản sau:
Luật số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010 của Quốc Hội về Viên chức.Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độtiền lương đối với cán bộ công chức, viên chức và lực lượng vũ trang (hết hiệulực một phần)
Nghị định số 203/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về tiềnlương tối thiểu (hết hiệu lực một phần)
Nghị định 76/2009/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 204/2004/NĐ-CP
về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức
Nghị định 14/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 204/2004/NĐ-CP về chế
độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang vàBảng phụ cấp chức vụ lãnh đạo trong cơ quan Nhà nưóc, ĐVSN, cơ quan, đơn
vị thuộc Quân đội và Công an (Nghị định 14)
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy địnhquyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biênchế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 của Bộ Tài Chính hướngdẫn thực hiện Nghị định 43
Thông tư số 113/2007/TT-BTC ngày 24/9/2007 của Bộ Tài Chính sửa đổi
bổ sung Thông tư số 71
Có thể nói, chế độ tiền lương của viên chức hiện nay được điều chỉnh bởi
Trang 30các văn bản rất cụ thể và khá đầy đủ và nhận được sự quan tâm rất lớn của toàn
xã hội, bởi tầm quan trọng của đối tượng này
Tuy nhiên, qua thời gian áp dụng các quy định về tiền lương dành choviên chức Quy định này đã tỏ ra lạc hậu, không bắt kịp sự phát triển của vấn đề
về tiền lương hiện nay Khi mà, ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường tác độngrất lớn đến giá cả và đời sống của viên chức ngày càng lớn Quy định pháp luậthiện hành về tiền lương của viên chức và thực trạng về tiền lương của viên chức
đã để lại một bức tranh với nhiều nét tương phản với sự tác động của các quyđịnh được Nhà nước ta quy định và đặc điểm kinh tế ở nước ta
Trang 31CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG VỀ TIỀN LƯƠNG CỦA VIÊN CHỨC - MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ
TIỀN LƯƠNG CỦA VIÊN CHỨC.
2.1 Pháp luật hiện hành về tiền lương của viên chức.
2.1.1 Những ưu điểm trong pháp luật hiện hành điều chỉnh về chế độ tiền lương của viên chức.
Vấn đề tiền lương viên chức được điều chỉnh một cách khá toàn diện khi
mà các yếu tố ảnh hưởng, cấu tạo nên tiền lương của viên chức đều được quyđịnh một cách cụ thể và có sự hướng dẫn rõ ràng giúp quá trình thực hiện chế độtiền lương được thuận lợi và thống nhất trong các ĐVSN Quy định về viên chứcnói chung và tiền lương của viên chức nói riêng đã nhận được sự quan tâm đúngmức khi nằm trong tổng thể công cuộc cải cách chế độ tiền lương của nước ta.Vấn đề cải cách tiền lương bắt đầu từ năm 1993 Qua gần 20 năm thực hiện, quyđịnh về tiền lương của viên chức hiện hành đạt được những điểm tiến bộ quantrọng, định hướng rõ ràng hơn nữa ý chí của Nhà nước trong việc phát triển và
xã hội hóa các lĩnh vực hoạt động của ĐVSN
a Mức lương tối thiểu.
Điều 4 Nghị định 204 quy định về mức lương tối thiểu chung theo hướng
mở khi mức tiền lương tối thiểu được hiểu thông qua Nghị định của Chính phủquy định về mức tiền lương tối thiểu Việc quy định một cách gián tiếp này đãđảm bảo cho Nghị định 204 luôn đáp ứng được tính phù hợp và kéo dài sức sốngcủa Nghị định này hơn Và theo đó tiền lương tối thiểu vẫn được hiểu là tiền
được trả cho “người lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao
động bình thường” 13
Lương tối thiểu ngoài ý nghĩa là khoản tối thiểu viên chức được nhận còn
là căn cứ để tính các khoản thu nhập khác ngoài lương cho viên chức như: Mứclương trong hệ thống thang lương, bảng lương; Mức phụ cấp lương; Các chế độ
13 Khoản 1 Điều 1 Nghị định 203.
Trang 32khác cho người lao động Ngoài ra tiền lương tối thiểu là yếu tố ảnh hưởng lớnđến tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế14.
Tiền lương tối thiểu là khung pháp lý nền tảng cho việc bảo vệ người laođộng trong quan hệ lao động và tiền lương đối với người sử dụng lao động Cụthể, trong ĐVSN là giữa của viên chức và người đứng đầu ĐVSN Một ưu thếcủa mức lương tối thiểu chung theo quy định pháp luật là nó được điều chỉnh tùythuộc vào mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá sinh hoạt và cung cầu lao độngtheo từng thời kỳ15
Lương tối thiểu không chỉ liên quan đến đời sống quyền lợi của người laođộng mà còn tác động mạnh mẽ đến quan hệ lao động, vấn đề đầu tư, tình hìnhkinh tế xã hội Nhận thức được tầm quan trọng này theo như dự kiến Bộ Laođộng Thương binh và Xã hội sẽ trình Quốc hội thông qua Luật về tiền lương tốithiểu vào năm 2014
b Bảng lương và chế độ phụ cấp lương.
Bảng lương: Là bảng gồm một số hệ số (hoặc mức lương) được thiết
kế cho chức danh hoặc nhóm chức danh nghề, công việc Nghị định 204 cũng đãdành riêng cho đối tượng làm việc trong các ĐVSN một bảng lương riêng Theo
đó, viên chức được chia thành 6 nhóm ngạch chính và chia thành 12 bậc lươngcho từng nhóm ngạch.16 Hệ số mức lương được xác định theo hai nhóm yếu tố(mức độ phức tạp lao động và điều kiện lao động đặc trưng của từng ngành,nghề) Phương pháp xác định hệ số mức lương này đã thể hiện được tính lý luậntrong việc bù đắp hao phí lao động cho các công việc, nhóm công việc khácnhau
Trong thực tế, viên chức thường được phân loại theo nghề Việc phânloại này tùy thuộc vào sự phát triển của khoa học và công nghệ, trình độ phâncông và hợp tác lao động trong xã hội Trên cơ sở phân loại này mỗi loại viênchức bao gồm một số chức danh viên chức nhất định Mỗi chức danh viên chứcđược quy định phải thực hiện, hoàn thành một số nhiệm vụ, công việc cụ thể căn
14 Khoản 1, Điều 2 Nghị định 203.
15 Khoản 2 Điều 1 Nghị định 203.
16 Bảng 3, Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các ĐVSN Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định 204.
Trang 33cứ theo tính phức tạp của công việc và mức tiêu hao sức lao động, tùy thuộc vàođiều kiện và môi trường lao động cụ thể Do đó, sẽ giúp viên chức xác định rõhơn nữa trách nhiệm khi tham gia hoạt động phải tương xứng với chức danh,ngạch, bậc của mình.
Phụ cấp lương: Là khoản tiền lương bổ sung cho lương cấp bậc, chức
vụ, cấp hàm khi điều kiện lao động, mức độ phức tạp của công việc và điều kiệnsinh hoạt có các yếu tố không ổn định Phụ cấp lương được biểu hiện bằng tiền,hiện vật hoặc hình thức khác, dưới dạng hữu hình hay vô hình
Hiện nay, hệ thống phụ cấp lương được quy định một cách chi tiết với 8nhóm chế độ phụ cấp chủ yếu17 Vai trò của các khoản phụ cấp là bù đắp hao phílao động mà trong lương cấp bậc, chuyên môn, chức vụ, nghiệp vụ chưa thể hiệnđầy đủ như điều kiện lao động, mức độ phức tạp của công việc, điều kiện sinhhoạt Phụ cấp lương còn là một trong những công cụ để Nhà nước điều chỉnhquan hệ tiền lương và thu nhập giữa các ngành nghề, công việc, vùng miền vàkhu vực, nhằm khuyến khích viên chức làm việc ở những nơi có điều kiện kinh
tế khó khăn, làm việc trong những môi trường khắc nghiệt về công việc và điềukiện sinh hoạt
c Chế độ nâng bậc lương.
Chế độ nâng bậc lương được xem là công tác thường xuyên tại ĐVSN,trên cơ sở dựa vào mức độ hoàn thành nhiệm vụ của viên chức và thời giam đảmnhiệm công việc, nắm giữ chức danh Vấn đề này quy định chi tiết tại Điều 10Nghị định 204
Bên cạnh đó, cũng có những quy định cụ thể về việc nâng bậc lươngtrước thời hạn dành cho viên chức trong những trường hợp đặc biệt theo quy
định tại Điều 1 Nghị định 14 thì “…viên chức đã có thông báo nghỉ hưu theo
quy định của Nhà nước, hoàn thành nhiệm vụ được giao chưa xếp bậc lương cuối cùng trong ngạch hoặc trong chức danh và chưa đủ điều kiện thời gian giữ bậc để được nâng bậc lương thường xuyên tại thời điểm có thông báo nghỉ hưu, thì được nâng một bậc lương trước thời hạn 12 tháng so với thời gian quy định” Đây là quy được được đánh giá là rất tiến bộ, thể hiện sự ưu việt trong
17 Điều 6 Nghị định 204.
Trang 34quy định pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Quy định này đã tạo điềukiện thuận lợi cho viên chức khi tham gia làm việc tại các ĐVSN đạt được mứctiền lương cao nhất có thể hưởng mức trợ cấp lương hưu cao nhất có thể khi đếntuổi nghỉ hưu Quy định này sẽ góp phần giữ được viên chức làm việc và gắn bóhơn đối với viên chức trong các ĐVSN.
d Nguồn kinh phí thực hiện chế độ tiền lương.
Nguồn kinh phí để thực hiện chế độ tiền lương viên chức được quy định
và áp dụng một cách linh hoạt và rất hiệu quả Cùng với quy định chung tạiNghị định 204 thì việc đề cao chế độ tự chủ về tài chính của ĐVSN với một hệthống các nghị định, thông tư đảm bảo thực hiện và hướng dẫn thực hiện mộtcách đúng hướng nhất đối với cơ chế tự chủ tài chính tại các ĐVSN Do đó, vấn
đề về nguồn kinh phí thực hiện chế độ tiền lương theo quy định Nhà nước vềtiền lương tối thiểu và tăng lương cho viên chức trong khả năng của ĐVSN
Kinh phí thực hiện việc tăng lương đối với viên chức được đảm bảo từcác nguồn sau:
- Tiết kiệm 10% chi thường xuyên (trừ tiền lương và các khoản cótính chất lương) theo dự toán đã được cấp có thẩm quyền giao đối vớitừng ĐVSN thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan Trung ương vàthuộc các Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ năm 2012của các cơ quan hành chính, ĐVSN có thu Riêng đối với các ĐVSNthuộc ngành Y tế, sử dụng tối thiểu 35% số thu để lại theo chế độ (saukhi trừ chi phí thuốc, máu, dịch truyền hóa chất, vật tư tiêu hao, vật tưthay thế)
Để cụ thể hơn cho việc tạo nguồn kinh phí để thực hiện chế độ trả lươngtrong trường hợp nâng mức tiền lương tối thiểu lên như hiện nay, ngày15/4/2012 Thông tư số 74/2012/TT – BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn xác địnhnhu cầu, nguồn và phương thức chi thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểuchung (Thông tư 74) Xác định nguồn để đảm bảo nhu cầu kinh phí thực hiệnđối với các ĐVSN bao gồm:
Sử dụng nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên dự toán năm thực hiện
Trang 35 Sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ năm thực hiện;riêng ngành y tế 35%, sau khi trừ chi phí thuốc, máu, dịch truyền, hoá chất, vật
tư thay thế, vật tư tiêu hao, kinh phí tăng thêm để thực hiện chế độ phụ cấpthường trực, phụ cấp phẫu thuật, thủ thuật của cơ sở khám, chữa bệnh
Các nguồn thực hiện cải cách tiền lương chưa sử dụng của năm trước
đó (nếu có)
Thông tư 74 một lần nữa xác định nguồn kinh phí thực hiện chế độ trảlương cho viên chức Điều này giúp các ĐVSN không phải lúng túng khi xácđịnh nguồn để thực hiện chế độ tiền lương cho viên chức cho đơn vị mình
Nguồn tiền để trả lương tăng thêm để thực hiện việc tăng tiền lương tốithiểu chung không phải từ nguồn NSNN rót xuống cho ĐVSN mà Nhà nước yêucầu các ĐVSN trích từ quỹ lương của đơn vị mình trả tăng thêm theo đúng quyđịnh về mức lương tối thiểu cho viên chức Do đó, gánh nặng từ việc tăng tiềnlương tối thiểu cho viên chức không đặt nặng lên vai nguồn NSNN mà sẽ đượcgiải quyết tốt dựa trên nguồn thu của ĐVSN khi mà ĐVSN thực hiện tốt hoạtđộng tự chủ về tài chính Quy định này càng thúc đẩy việc tối ưu hóa vấn đề tựchủ trong tài chính và và trong hoạt động cung cấp dịch vụ của ĐVSN
e Quản lý tiền lương và thu nhập.
Nhà nước đã tiến hành sửa đổi, hoàn chỉnh và ban hành nhiều chính sáchlao động và tiền lương phù hợp với tình hình thực tế Bên cạnh đó, còn tổ chứctập huấn, tuyên truyền và kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ tiền lươngmới
Đối với những hoạt động thực hiện theo đơn đặt hàng của Nhà nước, hoạtđộng thu phí, lệ phí và từ hoạt động dịch vụ của viên chức thì tiền lương củaviên chức trong ĐVSN thực hiện các hoạt động đó được tính theo tiền lương cấpbậc, chức vụ theo quy định của Nhà nước.18
Căn cứ vào kết quả tiết kiệm kinh phí chi cho hoạt động hành chính vàmức thu từ các hoạt động sự nghiệp, các ĐVSN có thu được quyền quyết địnhđiều chỉnh tăng thêm tiền lương so với mức lương tối thiểu chung Bên cạnh đó,tăng mức trích lập các Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi để tăng thu nhập cho đối
18 Khoản 3.1 mục 6 Thông tư 71.
Trang 36tượng viên chức thuộc biên chế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Người đứng đầu ĐVSN có quyền quyết định việc xếp lương, nâng bậclương thường xuyên, nâng bậc lương trước thời hạn, phụ cấp thâm niên vượtkhung đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý theo phân cấp của cơ quan cóthẩm quyền
Nội dung này được nêu rất cụ thể tại Điều 10 Nghị định 204 và hướngdẫn cụ thể hơn tại Nghị định 43 và Thông tư 71
f Thẩm quyền ban hành quy định về chế độ tiền lương.
Tiền lương của viên chức tồn tại những điểm khác biệt nhất định so vớicác đối tượng lao động khác trong xã hội khi mà tiền lương của viên chức đượcnhận từ hai nguồn: NSNN và NTSN Do đó, vấn đề thẩm quyền xây dựng chế
độ tiền lương cũng thể hiện sự khác biệt đó
Thứ nhất, phần tiền lương viên chức nhận được từ nguồn NSNN Là đối
tượng hưởng lương từ NSNN, chế độ tiền lương của viên chức được các cơquan, cá nhân có thẩm quyền xây dựng và đặt trong mối quan hệ chung với cáclao động khác trong khuôn khổ chi lương của NSNN cho tiền lương danh cholao động trong khu vực Nhà nước Do đó, thẩm quyền xây dựng chế độ trảlương và quy trình xây dựng chế độ tiền lương cho viên chức được thực hiệntheo trình tự như đối với các đơn vị dự toán ngân sách Tùy thuộc vào cơ quanchủ quản của mình là cơ quan nào, thuộc cấp thẩm quyền nào mà ĐVSN đó thựchiện việc lập bản dự toán ngân sách cho đơn vị mình Chế độ tiền lương cũng làmột nội dung trong dự toán ngân sách đó theo đúng trình tự lập, trình, phê duyệtcủa một đơn vị dự toán ngân sách ĐVSN thực hiện theo đúng quy định tại Mục
X Thông tư 71
Trách nhiệm hướng dẫn thi hành và tổ chức thực hiện chế độ tiền lươngcho viên chức, được quy định trong Nghị định 204 Theo quy định của Nghị địnhnày, trách nhiệm chính thuộc về Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính phối hợp với các Bộngành liên quan khác trong việc xây dựng và thực hiện chế độ tiền lương chotừng Bộ, ngành Nhiệm vụ cụ thể của mỗi Bộ, ngành được quy định một cáchchi tiết tại Điều 11 Nghị định 204
Thứ hai, đối với nguồn lương hưởng từ NTSN của ĐVSN, thẩm quyền
Trang 37ban hành, xây dựng chế độ tiền lương được giao cho người đứng đầu ĐVSN.
Người đứng đầu ĐVSN sau khi trao đổi với Ban Chấp hành Công đoàncùng cấp có trách nhiệm xây dựng, ban hành quy chế trả lương để thực hiện vớiviên chức của ĐVSN Quy chế trả lương phải được gửi cơ quan quản lý cấp trêntrực tiếp để quản lý, kiểm tra và thực hiện công khai trong ĐVSN.19
ĐVSN được tự xây dựng QCCTNB cho đơn vị của mình Dựa trên quyđịnh chung, để định ra một tỷ lệ hợp lý để trích nguồn thu từ ĐVSN đưa vào quỹlương và thực hiện chế độ tiền lương cho viên chức Cụ thể, trích tối thiểu 40%NTSN (Y tế 35%) của các ĐVSN để trả lương cho viên chức Căn cứ vào chế độtiền lương, ngạch, bậc và các khoản phụ cấp theo lương, hệ số lương theo tiêuchuẩn chức danh viên chức, hiệu quả của từng viên chức để xây dựng quy chếchi trả tiền lương cho từng viên chức20 đối với các ĐVSN tự đảm bảo được chiphí hoạt động, đơn vị đảm bảo được một phần chi phí hoạt động Ngoài khoảntiền lương, phụ cấp cho viên chức từ NTSN, ĐVSN ban hành quy định về trảthu nhập tăng thêm cho viên chức Căn cứ vào kết quả tài chính năm trước vàkhả năng của kế hoạch, xây dựng phương án chi trả thu nhập tăng thêm cho viênchức Nguyên tắc người nào có hiệu quả công tác cao, có đóng góp nhiều choviệc tăng thu, tiết kiệm chi được hưởng cao hơn và ngược lại, song vẫn phải dựatrên cấp bậc lương, cấp bậc chức vụ, hiệu suất công tác của từng đơn vị
2.1.2 Những bất cập từ những quy định pháp luật về tiền lương của viên chức.
Mặc dù đã có một hệ thống những quy định cụ thể về tiền lương của viênchức và chế độ tiền lương viên chức khá đầy đủ, tuy nhiên, vẫn tồn tại rất nhiềunhững bất cập trong quy định pháp luật về tiền lương của viên chức Những bấtcập này đang ngày càng biểu hiện đậm nét hơn Trong đó những bất cập từnhững quy định pháp luật về tiền lương viên chức xoay quanh những vấn đề sau:
a Khó khăn trong việc xác định cơ sở pháp luật về tiền lương viên chức.
19 Điều 8 Nghị định 204.
20 Phụ lục 01 hướng dẫn nội dung xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị sự nghiệp thực hiện chế độ tự chủ, ban hành kèm Thông tư 71.
Trang 38Luật số 22/2008/QH12 ngày 13/8/2008 của Quốc hội về Cán bộ côngchức (Luật CBCC) ra đời, nêu rõ đối tượng điều chỉnh đã giải phóng viên chức,
để viên chức trở thành một đối tượng người lao động độc lập như bản chất vốn
có của nó Trước đây, các văn bản pháp luật tham gia điều chỉnh viên chức hầuhết là các văn bản quy định chung cho cán bộ, công chức, viên chức Luật Viênchức ra đời, đồng nghĩa với việc viên chức được mặc cái áo của chính mình.Tuy nhiên, một thực tế đang tồn tại là các văn bản pháp luật đang áp dụng choviên chức hiện nay hầu hết vẫn là các văn bản được ban hành và có hiệu lựctrước thời điểm Luật Viên chức ra đời Dó đó, về vấn đề cơ sở pháp luật điềuchỉnh vấn đề tiền lương đã phát sinh những bất cập chủ yếu sau:
Thứ nhất, hiệu lực áp dụng của các văn bản pháp luật tham gia điều
chỉnh vấn đề tiền lương viên chức còn nhập nhằng Hiện nay, về chế độ tiềnlương, Nghị định 204 đang có giá trị điều chỉnh lớn nhất Trong khi khái niệmviên chức trong quy định của Nghị định 204 tại thời điểm ban hành lại đượchiểu theo cách hiểu viên chức là một loại công chức được quy định trong Pháplệnh 2003 và nêu cụ thể Nghị định 116 Theo Luật Viên chức, viên chức đãđược định nghĩa lại dưới góc độ là một đối tượng lao động độc lập, mang nhữngnét đặc thù riêng biệt Tuy nhiên, vẫn không có văn bản pháp luật mới nào canthiệp về nội dung tiền lương viên chức do Nghị định 204 điều chỉnh Do đó, chođến thời điểm này các nội dung cụ thể về quan hệ tiền lương của viên chức vấnđược dẫn chiếu đến Nghị định 204 để áp dụng
Tuy không phải là văn bản hướng dẫn trực tiếp Pháp lệnh 2003 nhưngNghị định 204 chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi những quy định có tính nền tảngcủa Pháp lệnh này Do đó, khi Pháp lệnh 2003 hết hiệu lực một phần đối với đốitượng cán bộ công chức khi Luật CBCC và hoàn toàn chấm dứt hiệu lực vàothời điểm Luật Viên chức phát sinh hiệu lực thì về mặt nguyên tắc, những quyđịnh của Nghị định này cũng hết giá trị điều chỉnh trên thực tế Tuy nhiên, tồntại cho đến bây giờ Nghị định 204 vẫn có giá trị lớn trong việc điều chỉnh vấn đềtiền lương của viên chức Đây là điều bất hợp lý không chỉ về mặt thời gian phátsinh hiệu lực mà còn về giá trị pháp lý của Nghị định 204 và Luật Viên chức
Kể từ thời điểm Luật Viên chức được ban hành, mặc dù, không nhanhchóng nhưng cũng đã có văn bản pháp luật được ban hành dưới hình thức cácvăn bản dưới Luật để hướng dẫn thực hiện Luật này Về chế độ tiền lương có
Trang 39Nghị định 14 Tuy nhiên, Nghị định 14 này ban hành chỉ để sửa đổi Điều 7 vàsửa đổi Mục I Bảng phụ cấp chức vụ lãnh đạo ban hành kèm Nghị định 204.Nghị định này cũng chỉ yêu cầu những cơ quan chức năng và liên quan thi hànhNghị định này về những điều sửa đổi bổ sung mà không có hướng dẫn gì đối vớiviệc có áp dụng tiếp hay không những điều còn lại và những vấn đề liên quancủa Nghị định 204.
Thứ hai, thiếu quy định cụ thể hướng dẫn một cách thống nhất những
quy định về thực hiện chế độ tiền lương
Điều 62 Luật Viên chức quy định “Chính phủ quy định chi tiết, hướngdẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật này; hướng dẫn chi tiếtnhững nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý” ĐượcQuốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15/11/2010 đến 01/01/2012mới phát sinh hiệu lực thi hành Từ 2010 đến 2012 là thời gian chuyển tiếp đểcác ĐVSN có một khoảng thời gian hợp lý để chuẩn bị cho việc áp dụng các quyđịnh mới đối với viên chức làm việc trong đơn vị mình theo quy định mới Tuynhiên, trong khoản thời gian này, vẫn vắng bóng những văn bản dưới luật đượcban hành với mục đích hướng dẫn quy định cụ thể trong luật viên chức nóichung và quy định về tiền lương của viên chức nói riêng Luật Viên chức phátsinh hiệu lực nhưng dường như không có thay đổi tạo sự chuyển biến lớn đốivới viên chức trên thực tế Các văn bản hướng dẫn chi tiết về thực hiện chế độtiền lương cho viên chức vẫn tiếp tục tuân theo các văn bản trước đây để thựchiện Việc thiếu những văn bản mới ban hành kèm theo để hướng dẫn làm choLuật Viên chức ra đời trong sự kỳ vọng về những thay đổi mới chỉ dùng lại ởgóc độ hình thức, mà không có chuyển biến mới về nội dung các quy định phápluật áp dụng về viên chức nói chung và vấn đề tiền lương của viên chức nóiriêng
Đối với việc thực hiện chế độ tự chủ, hiện nay chỉ có một số Bộ có thông
tư hướng dẫn cụ thể việc thực hiện Nghị định 43 và thực hiện QCCTNB mộtcách thống nhất trong phạm vi quản lý của Bộ, ngành mình gồm: Bộ Y tế, BộTài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Còn lại,các Bộ, ngành khác vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tựchịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với cácĐVSN thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, ngành
Trang 40Việc thiếu các quy định cụ thể và văn bản hướng dẫn để có một cáchchung thống nhất trong việc áp dụng, đã dẫn đến tính trạng mỗi nơi áp dụng mỗikhác khi tự giải thích luật để áp dụng Điều này dẫn đến tính trạng tùy tiện, thiếunguyên tắc và vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc pháp chế trong áp dụng phápluật.
b Những bất cập trong quy định cụ thể của pháp luật tiền lương của viên chức.
Mức lương tối thiểu và quan hệ tiền lương tối thiểu – trung bình –
tối đa.
Mức lương tối thiểu.
Hiện nay, vấn đề mức lương tối thiểu nhận được sự quan tâm lớn, thườngxuyên có sự điều chỉnh mức lương tối thiểu theo hướng tăng Tuy nhiên, tiềnlương tối thiểu ở nước ta chưa hợp lý Tiền lương tối thiểu chưa thực hiện đượcchức năng đáp ứng nhu cầu tối thiểu cho người lao động Mức tiền lương tốithiểu mới chỉ bảo đảm bù trượt giá Mức tăng của tiền lương để đảm bảo tiềnlương để viên chức sống tốt, phù hợp với giá trị lao động là không đáng kể khitiền lương tối thiểu luôn nằm trong tình trạng “cố bám theo” giá cả hàng hóađang ngày một leo thang
Theo điều tra mới nhất của Bộ Nội vụ, hơn 98% ý kiến cho rằng mứclương tối thiểu chỉ đáp ứng 30 – 40% nhu cầu tối thiểu của viên chức, khó khăntrong việc thu hút nhân tài làm việc trong các ĐVSN Bên cạnh đó, mức lươngthấp còn tác động đến tính kỷ luật, thứ bậc và không tạo được tính cạnh tranhtrong ĐVSN
Đối với người lao động, mục đích của việc tham gia vào quan hệ laođộng là tiền lương thực tế chứ không phải là mức lương danh nghĩa nhận được.Tiền lương thực tế quyết định đến khả năng tái sản xuất sức lao động, quyết địnhtrực tiếp lợi ích của người lao động Tiền lương thực tế của viên chức chịu tácđộng rất lớn từ giá cả hàng hóa Trong khi đó, tiền lương danh nghĩa của viênchức lại được thỏa thuận dựa trên mức lương tối thiểu và tiền lương tối thiểu lạikhông thật sự phản ứng một cách linh hoạt với các động thái của nền kinh tếtrong thời kỳ lạm phát cao (giá hàng hóa tăng không dựa trên giá trị sức laođộng và lượng tiền lưu thông) Do đó, để bảo vệ cho người lao động viên chức