1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

phuong phap luan trong nckh y hoc y thai nguyen by phuhmtu

92 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với mỗi một cán bộ thực hiện công tác nghiên cứu và phục vụ trong lĩnh vực Y học đều cần thiết phải có những kiến thức cơ bản về phươngpháp luận nói chung trong nghiên cứu khoa học

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA

PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y HỌC

(Giáo trình sau đại học)

NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC

HÀ NỘI, 2007

Trang 2

Chủ biên:

PGS.TS ĐỖ HÀM

Tham gia biên soạn:

PGS.TS ĐỖ HÀM PGS.TS NGUYỄN THÀNH TRUNG PGS.TS NGUYÊN VĂN SƠN

Thư ký biên soạn:

PGS.TS NGUYỄN VĂN SƠN

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Nghiên cứu khoa học luôn là vấn đề không thể thiếu ở mọi ngành, mọi nghề, đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong Y học, nghiên cứu khoa học vừa mang tính chất khai phá, đúc kết các vấn đề vừa có tính lý thuyết vừa mang tính chất thực tiễn cao Ngoài những vấn đề chung, cơ bản về phương pháp luận ngày nay toán học đã xâm nhập vào hầu hết các ngành kinh tế xã hội Toán thống kê ứng dụng trong Y học là một minh chứng rõ rệt Thông qua ứng dụng toán thống kê các vấn đề Y học đã được lượng giá hoặc khái quát hoá một cách chuẩn xác Các kết quả nghiên cứu khoa học của các nhà chuyên môn nhờ đó mà đáng tin cậy hơn, giá trị khoa học được nâng lên cả về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn Đối với mỗi một cán

bộ thực hiện công tác nghiên cứu và phục vụ trong lĩnh vực Y học đều cần thiết phải

có những kiến thức cơ bản về phươngpháp luận nói chung trong nghiên cứu khoa học đồng thời cũng phải biết xử lý, kiểm định được các kết quả nghiên cứu và phục vụ của mình Trải qua nhiều năm giảng dạy và nghiên cứu khoa học, phục vụ sự nghiệp bảo

vệ sức khoẻ nhân dân, đặc biệt là qua nhiều khoá đào tạo sau đại học từ năm 1997

đến nay, chúng tôi đã từng bước rút kinh nghiệm để hoàn chỉnh cuốn “Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học Y học” Cuốn sách bao gồm hai phần:

Phần I: Là những vấn đề chung về phương pháp luận trong nghiên cứu Y học Phần II: Gồm các thuật toán thống kê cơ bản ứng dụng trong nghiên cứu và

kiểm định các kết quả nghiên cứu Y học ở các mức độ khác nhau

Trong tương lai, cùng với sự phát triển về mọi mặt của nền kinh tế nước nhà, công tác nghiên cứu khoa học sẽ ngày càng phát triển, trong đó có nghiên cứu Y học

Cuốn “Phương pháp luận trong nghiên cứu Y học” cùng với các tư liệu được minh

chứng có thể hỗ trợ ít nhiều cho các bạn đồng nghiệp những kiến thức cơ bản ứng dụng trong thực tiễn nghiên cứu khoa học Do đặc điểm của các vấn đề khoa học là rộng lớn, với kinh nghiệm của nhóm tác giả ít nhiều còn nhiều hạn chế nên cuốn sách chắc chắn sẽ còn nhiều khiếm khuyết và chưa đầy đủ Kính mong các quý vị độc giả, các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến để lần biên soạn sau cuốn sách sẽ được hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn!

THAY MẶT NHÓM TÁC GIẢ

PGS.TS ĐỖ HÀM

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

Phần I: ĐẠI CƯƠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 4

KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 5

1 Khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong quá trình phát triển 5

2 Các lĩnh vực, phương pháp nghiên cứu 7

3 Đặc thù của nghiên cứu y học 10

CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THÔNG DỤNG 12

1 Nghiên cứu mô tả 12

2 Nghiên cứu phân tích 15

XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 20

1 Đặt vấn đề 20

2 Nội dung của đề cương nghiên cứu 20

3 Một số điểm cần lưu ý 21

CÁC BIẾN TRONG NGHIÊN CỨU 22

1 Phân loại các biến số 22

2 Các yếu tố nhiễu 23

3 Ý nghĩa của việc phân loại biến số 23

CHỌN MẪU TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 26

1 Các loại mẫu trong nghiên cứu 26

2 Ước lượng mẫu nghiên cứu mô tả thông qua tỷ lệ 32

3 Ứớc lượng mẫu nghiên cứu mô tả thông qua số trung bình và độ lệch chuẩn 33

4 Ước lượng cỡ mẫu cho nghiên cứu bệnh chứng 35

5 Tính cỡ mẫu cho nghiên cứa thuần tập (Cohort study) 35

6 Chọn mẫu cho nghiên cứu can thiệp 36

CÁCH THU THẬP VÀ TRÌNH BÀY SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU 37

1 Thu thập số liệu 37

2 Điều tra bằng phiếu hỏi 37

3 Trình bày các số liệu nghiên cứu 45

Phần II: THỐNG KÊ ỨNG DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU Y HỌC 49

VAI TRÒ CỦA TOÁN THỐNG KÊ TRONG NGHIÊN CỨU Y HỌC 50

CÁC KHÁI NIỆM THỐNG KÊ CƠ BẢN 52

Trang 5

1 Tập hợp 52

2 Xác suất 53

3 Quần thể và mẫu 54

CÁC ĐẠI LƯỢNG VÀ CHỈ SỐ THỐNG KÊ 55

1 Số trung bình và các giá trị trung tâm khác 55

2 Các tham số, số đo chỉ sự phân tán 58

KIỂM ĐỊNH CÁC GIẢ THIẾT THỐNG KÊ VÀ CÁC QUY LUẬT PHÂN PHỐI TRONG NGHIÊN CỨU 64

1 Kiểm định bằng test “t” 64

2 Kiểm định bằng test “χ2” 66

3 Số đo kết hợp nhân quả 68

PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN VÀ HỒI QUY 72

1 Một số khái niệm 72

2 Phân tích tương quan và hồi quy cặp 73

KHOẢNG TIN CẬY 83

SAI SỐ QUAN TRẮC 84

1 Ba loại sai số 84

2 Phân phối của sai số ngẫu nhiên trong các quan trắc 84

3 Phương pháp khử sai số thô 85

PHẦN PHỤ LỤC 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 6

Phần I

ĐẠI CƯƠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Trang 7

KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1 Khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong quá trình phát triển

Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là trong thời đại ngày nay nghiên cứu khoa học luôn là một vấn đề rất phổ biến và cần thiết Nghiên cứu khoa học là việc mà con người tìm cách để hiểu rõ bản chất sự việc, hiện tượng hoặc phương pháp giải quyết vấn đề nào đó sao cho hiệu quả đạt được ở mức cao nhất theo mong muốn hoặc

ý tưởng của nhà nghiên cứu Qua đó, hệ thống tri thức của loài người về các sự vật, hiện tượng và các quy luật phát triển, tồn tại của tự nhiên, xã hội cũng như tư duy được nâng lên một tầm cao mới theo quan điểm chung của ý thức hệ cộng đồng

Vấn đề khoa học là những vấn đề trong hiện thực của vũ trụ, đời sống đã được

khái quát hoá, tuy nhiên về mặt này hay mặt khác nó đã và đang đòi hỏi chúng ta có những quan tâm nhất định Lúc này nhà nghiên cứu cần xem xét để giải quyết những vấn đề này sao cho thoả mãn được các yêu cầu về khoa học và thực tiễn nhằm phục vụ tốt cho cá nhân hoặc cộng đồng Thông thường thì vấn đề khoa học không phải lúc nào cũng có thể bộc lộ một cách dễ dàng, do vậy những người hiểu thấu đáo các sự vật, hiện tượng hoặc là tự nhiên hay xã hội mới có thể nhìn nhận được những vấn đề khoa học chắc chắn đặc biệt là những vấn đề ưu tiên, cần thiết phải giải quyết một cách cấp bách

Khoa học, kỹ thuật và công nghệ luôn là vấn đề mang tính thời đại và phù hợp với quy luật phát triển tự nhiên cũng như xã hội loài người Quy luật phát triển tự nhiên thường diễn biến khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Thông thường, con người nên lợi dụng tính khách quan này để có thể tận dụng

nó theo hướng có lợi cho mình Nếu hiểu thấu đáo tự nhiên thì con người mới tìm ra được những quy luật của tự nhiên và sử dụng những quy luật đó vào trong đời sống

khoa học Trong nghiên cứu khoa học đặc biệt là khoa học cơ bản, nếu làm tốt ta có

thể có những cơ sở vững chắc cho những thành công sau này Về logic mà nói thì quốc gia nào có nền khoa học cơ bản vững mạnh thì ở đó các vấn đề khoa học khác mới mong vượt lên và phát triển được ở trình độ cao Qui luật tự nhiên có những đặc điểm riêng của nó do vậy trong nghiên cứu chúng ta nên tìm cách bắt chước tự nhiên, tuân theo quy luật của tự nhiên hơn là cải tạo tự nhiên theo hướng duy ý trí hoặc gò ép theo một hướng nào đó

Các vấn đề xã hội, đặc biệt là môi trường xã hội nhiều khi quyết định mạnh mẽ

hơn các quy luật tự nhiên ở một số trường hợp Với chế độ xã hội khác nhau việc thanh toán nhiều bệnh dịch có hiệu quả rất khác nhau Nếu tổng kết cả quá trình phát triển xã hội loài người thì con người phá huỷ tự nhiên còn ít hơn và yếu hơn rất nhiều

so với thiên nhiên tự phá huỷ và tự thay đổi Nền y học thảm hoạ có thể chứng minh

Trang 8

điều này Tuy nhiên, trong những phạm vi hẹp, tầm khu vực hoặc cộng đồng thì các vận động mang tính chất xã hội các quy luật vận động xã hội thường có vai trò quan trọng mà ta dễ dàng nhận thấy hiệu quả cũng như những khả năng tác động của nó Con người cũng không nên ỷ lại hoặc không dám tác động vào tự nhiên để nhằm mục đích tìm ra những khía cạnh có lợi cho mình Trong chừng mực nào đó con người vẫn

có thể cải tạo tự nhiên bằng những tiến bộ khoa học

Ngày nay các nghiên cứu về công nghệ đang đặt ra cho các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý những nhiệm vụ rất cụ thể và cấp thiết Công nghệ là tất cả những phương pháp, quy trình kỹ thuật, công cụ thực hiện, kỹ năng thực hành của con người làm sao cho ra những sản phẩm mới và tốt hơn để có thể đáp ứng được thực tiễn hoặc

ý tưởng của nhà nghiên cứu hoặc cộng đồng Ở những nước đang phát triển như chúng

ta thì cả việc nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng công nghệ tiến bộ đều luôn là cấp thiết Những hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ, phát huy những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá các quy trình kỹ thuật và đặc biệt là áp dụng những tiến bộ về khoa học - công nghệ vào thực tiễn ở các nước chậm phát triển luôn là cần thiết Chúng ta không nên coi những hoạt động này chỉ là công việc độc quyền chỉ dành riêng cho những nhà bác học ở trình độ cao và chỉ họ mới làm được Ví dụ về các phát minh của nhà bác học thiên tài Edison là một ví dụ Edison đã phát minh ra nhiều vấn

đề vĩ đại khi còn là một học sinh kém, một người thợ

Nhiệm vụ của hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ hiện nay tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau đây:

- Hoạch định được chính sách, chiến lược cho các hoạt động khoa học và công

nghệ phù hợp với từng khu vực hoặc đơn vị sao cho phù hợp với sự phát triển chung của quốc gia và quốc tế song vẫn có những vấn đè đặc thù của đơn vị mình, tỉnh, khu vực mình Vấn đề khoa học và công nghệ phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội khu vực, quốc gia luôn là định hướng mang tính thực tiễn cao Hiện nay mỗi tỉnh, mỗi huyện đều phải có chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội riêng của mình song phải phù hợp, theo kịp với tình hình chung của đất nước và quốc tế

- Tăng cường nhân lực và các phương tiện cho hoạt động khoa học công nghệ

nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự phát triển và hoà nhập quốc tế luôn là vấn

đề sống còn của đất nước Nếu không giải quyết tốt vấn đề này thì không thể nói đến phát triển khoa học và công nghệ Việc đào tạo con người, đào tạo nguồn nhân lực luôn luôn được các quốc gia đặt lên trên hết

- Kế thừa và phát huy những thành tựu khoa học và công nghệ tiến bộ của các

nước tiên tiến trên thế giới là con đường tiết kiệm và hiệu quả nhất đối với các nước chậm phát triển, đang phát triển như chúng ta vì qua đó chúng ta sẽ rút ngắn được nhiều quãng đường cam go mà những quốc gia đi trước đã trải qua

Về nguyên tắc trong hoạt động khoa học và công nghệ chúng ta cần lưu ý những

Trang 9

điểm sau đây:

- Hoạt động khoa học và công nghệ phải phục vụ cho lợi ích quốc gia trong quá

trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội Đối với địa phương cũng theo đó mà ứng dụng sao cho phù hợp

- Hoạt động khoa học và công nghệ có tính đặc thù, chuyên ngành nên mỗi khu

vực, mỗi ngành phải có khả năng đáp ứng cao nhất đối với xu thế tiến bộ của thế giới bao gồm cả về nhân lực và các vấn đề khác

- Hoạt động khoa học và công nghệ phải luôn cập nhật để không bị tụt hậu so

với khu vực và quốc tế quá nhiều

Ngoài ra các hoạt động khoa học và công nghệ cũng luôn phải tuân theo pháp luật và vì sự nghiệp của quần chúng lao động, vì lợi ích của cộng đồng Trong hoạt động khoa học và công nghệ vấn đề bản quyền, chuyển giao công nghệ cũng luôn là những vấn đề nóng mà chúng ta cần lưu tâm

2 Các lĩnh vực, phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khoa học là công việc của các nhà khoa học nhằm tìm hiểu bản chất của các sự vật, hiện tượng cùng với những liên quan tới chúng trong quá trình hoạt động và tồn tại, phát triển theo những quy luật hoặc không theo quy luật nào đó, đồng thời cũng tìm tòi, phát hiện qua tư duy để tìm ra những vấn đề mới có thể ứng dụng trong thực tiễn phục vụ cộng đồng Trên thực tế có 3 loại hình nghiên cứu thường được ứng dụng là các nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng hoặc triển khai Tuỳ thuộc vào nhu cầu thực tiễn mà lúc này hoặc lúc khác có loại hình nghiên cứu hoạt động khoa học và công nghệ nào đó được ưu tiên

Tuỳ theo các lĩnh vực khoa học khác nhau mà có các phương pháp nghiên cứu hoặc hoạt động khoa học và công nghệ có những đặc trưng sao cho phù hợp Trên thực

tế người ta phân chia các lĩnh vực nghiên cứu khoa học ra ít nhất 7 nhóm sau đây:

- Khoa học môi trường

Về ý nghĩa thực tiễn thì ở nước ta cả 3 loại hình nghiên cứu: Cơ bản, ứng dụng

và Triển khai vẫn thường được áp dụng cho tất cả các lĩnh vực Do điều kiện chậm phát triển và nghèo nàn cả về nguồn nhân lực và vật lực nên các nghiên cứu cơ bản của

Trang 10

chúng ta chưa thể phát triển tốt, song những vấn đề đời thường, trực tiếp lại là thứ dễ nhìn thấy nên việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật tạo ra của cải vật chất thường được coi trọng hơn Ở các địa phương nếu đặt vấn đề nghiên cứu lý thuyết sẽ không được ủng

hộ nhiều vì vấn đề họ cần ngay là làm sao cho tỉnh, khu vực có sự tăng trưởng kinh tế nhanh và mau giàu lên

Nghiên cứu y học thường bắt đầu bằng các nghiên cứu mô tả Trên cơ sở các

nghiên cứu mô tả chúng ta có thể xác định được bản chất, thực trạng những vấn đề sức khoẻ cơ bản cũng như các vấn đề liên quan Đây là loại nghiên cứu dễ thực hiện hơn các phương pháp khác vì công việc chính là mô tả thực trạng thông qua những số liệu

cơ bản mà người làm công tác nghiên cứu đã thu thập được qua khảo sát tìm hiểu bằng các phương pháp khác nhau Ví dụ: mô tả sự phân bố quần thể theo các yếu tố Con người - Không gian - Thời gian Khi đi sâu vào tìm hiểu căn nguyên, phân tích các giả thuyết nghĩa là công việc của nhà nghiên cứu đã chuyển sang giai đoạn nghiên cứu phân tích

Quá trình nghiên cứu phân tích là cách xem xét các vấn đề theo nhiều chiều khác

nhau, nhiều bình diện khác nhau cùng với sự tác động của ít hoặc nhiều yếu tố đối với vấn đề và sự kiện đó để rồi có thể đưa ra những giả thuyết, những vấn đề mang tính quy luật hơn, qua đó xác định được mối liên quan có tính nhân quả hoặc sự logic trong bản thân các sự kiện Kết quả nghiên cứu do vậy mà có khả năng ứng dụng rộng rãi hơn, hiệu quả đích hơn Như vậy trong y học, các hoạt động khoa học và công nghệ thường hướng theo hai phương pháp nghiên cứu chính mà chúng ta thường dùng là:

- Phương pháp nghiên cứu mô tả với các loại hình khác nhau

- Phương pháp nghiên cứu phân tích với các loại hình và mức độ khác nhau

Ngoài ra còn có các phương pháp nghiên cứu đặc thù, có cơ sở dựa trên nền tảng

của các nghiên cứu mô tả kết hợp với phân tích : nghiên cứu can thiệp, thực nghiệm cũng được sử dụng nhiều trong nghiên cứu y học hiện nay Trên thực tế nghiên cứu theo phương pháp nào cũng đều quan trọng và có ý nghĩa nên tuỳ vào mục đích nghiên cứu mà chúng ta chọn phương pháp nào cho phù hợp Một số nghiên cứu đòi hỏi sự phối hợp nhiều phương pháp, ví dụ kết hợp giữa mô tả và phân tích hoặc kết hợp giữa

mô tả và thực nghiệm để rồi sau đó dựa trên một kết quả tổng hợp, toàn diện đã thu được người ta mới có thể giải quyết được vấn đề đã đặt ra một cách trọn vẹn

Ngày nay vấn đề tác động đa chiều được nhiều tác giả quan tâm nên không thể

có phương pháp nghiên cứu nào thoả mãn được đầy đủ các yêu cầu thực tiễn thì việc kết hợp nhiều phương pháp trong hoạt động khoa học và công nghệ khi tiến hành một nghiên cứu là rất thường gặp, do vậy mô hình nghiên cứu cũng phong phú để phù hợp theo

Sự kết hợp trong các hoạt động khoa học và công nghệ đang là xu hướng tất yếu trong thời đại ngày nay vì không mấy khi có một sản phẩm nào lại giản đơn, quá ít sự

Trang 11

tham gia của các ngành khoa học, kỹ thuật Hàm lượng khoa học càng nhiều càng chứng tỏ giá trị của sản phẩm đó Bằng sự kết hợp, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau chúng

ta có thể kế thừa các thành quả khoa học của nhau và rút ngắn được thời gian, công sức và kinh phí cho quá trình nghiên cứu mà như vậy các hoạt động khoa học và công nghệ vẫn thực hiện tốt song vẫn có hiệu quả kinh tế cao

Các đề tài nghiên cứu khoa học hay nhiệm vụ nghiên cứu thường có quy mô khác

nhau phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu và năng lực của nhà nghiên cứu Do vậy khi đặt vấn đề cho các hoạt động khoa học và công nghệ nhà nghiên cứu cần lưu ý vấn đề này để xây dựng lộ trình cũng như mô hình nghiên cứu sao cho phù hợp và có tính khả thi

Trong quá trình hoạt động khoa học và công nghệ, các nhà nghiên cứu cũng nên lưu ý một số vấn đề sau để nghiên cứu của mình đảm bảo thành công

- Hoạt động khoa học và công nghệ phải nhằm tìm kiếm hoặc phát minh ra những

vấn đề mới, có tác động tốt hơn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, có giá trị về khoa học hoặc thực tiễn

- Hoạt động khoa học và công nghệ đòi hỏi tính chính xác cao và cần được kiểm

chứng nghiêm túc ở trình độ cao để có đủ độ tin cậy

- Hoạt động khoa học và công nghệ phải được truyền bá, thông tin để trở thành

sản phẩm chung của nhân loại Dù ở dạng này hay dạng khác thì thông tin cũng phải được mang đến tới mọi người để được ứng dụng và qua đó sẽ được kiểm chứng thêm

- Hoạt động khoa học và công nghệ luôn phải mang tính khách quan Các áp đặt

chủ quan sẽ bóp chết nền khoa học chân chính, không thúc đẩy được sự tiến bộ đi vào cuộc sống Nhà nghiên cứu cần xem xét kỹ lưỡng những vấn đề đã đặt ra theo trình tự vẫn có của sự vật tự nhiên hoặc xã hội với những quy luật riêng và trong sự vận động, tác động nhiều chiều

- Hoạt động khoa học và công nghệ vẫn thường có tính rủi ro xen lẫn vào làm

cho nhà nghiên cứu bị thất bại Nhà nghiên cứu nên kiên trì xem xét để rút ra bài học cần thiết nhằm đáp ứng tốt hơn nữa trong những nghiên cứu tiếp theo để có được những thành công mới

- Hoạt động khoa học và công nghệ cần có tính kế thừa Có như vậy ta mới có

nền tảng vững chắc khi xây dựng một lộ trình nghiên cứu mới mà không gặp nhiều sai lầm hoặc rủi ro không đáng có Kế thừa là cách tiết kiệm nhất để đạt được hiệu quả mong muốn của nhiều lĩnh vực trong đó có khoa học và công nghệ

- Hoạt động khoa học và công nghệ có thể mang đặc tính cá nhân tuy đa số là

thành tựu của tập thể Vai trò của cá nhân thể hiện rất rõ trong khoa học vì các cá nhân thường nảy sinh ra các ý tưởng và cách làm phù hợp sau khi đã đầu tư nhiều tri thức vào vấn đề đó Ngày nay khoa học rộng lớn hơn bao giờ hết do vậy không có nhiều

Trang 12

người biết quá nhiều lĩnh vực nên cá nhân càng đóng vai trò quan trọng Tập thể thường tham gia góp ý kiến để cho vấn đề được hoàn thiện hơn và mang tính tích cực hơn

- Hoạt động khoa học và công nghệ phải đem lại hiệu quả kinh tế Đây chính là

thể hiện tính thực tiễn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, phục vụ nhân dân,

phục vụ tổ quốc

Trong quá trình nghiên cứu, đặc biệt là những người còn ít kinh nghiệm nên đi từ những vấn đề giản đơn đến những vấn đề phức tạp Mỗi giai đoạn nghiên cứu cần có một lộ trình phù hợp tuỳ thuộc vào các lĩnh vực khác nhau

Quá trình nghiên cứu có thể mô tả theo một quy trình sau đây:

3 Đặc thù của nghiên cứu y học

Nghiên cứu Y học có đặc điểm riêng là gắn liền với sự sống của con người Bất

cứ nghiên cứu nào trong y học đều phải quan tâm đến mục đích tạo ra một hiệu ứng kinh tế - xã hội, đặc biệt là sự sống tốt đẹp hơn do đó các nhà nghiên cứu Y học cần hết sức thận trọng trong quá trình tác nghiệp

Nghiên cứu Y học thường mang tính đa dạng và phức tạp do vậy các nhà nghiên

cứu thường chỉ có thể đi sâu vào lĩnh vực hoạt động nào mà mình có kinh nghiệm mới

có thể đạt được hiệu quả mong muốn và có thể hữu ích nhiều

Nghiên cứu Y học thường phải quan tâm đến một sự tồn tại hiển nhiên của sự sống là các quy luật tồn tại, phát sinh, phát triển trong một liên quan và sự tác động của rất nhiều yếu tố bên ngoài trong đó có sự tác động qua lại của cả môi trường tự

nhiên và xã hội

Nghiên cứu Y học bao gồm cả hai lĩnh vực lâm sàng và cộng đồng Mỗi loại hình

có đặc thù riêng tuy nhiên chúng lại thường có những kết hợp, đan xen lẫn nhau và nhiều khi ảnh hưởng đến nhau rất mạnh mẽ Cả hai lĩnh vực này đều cần có sự hợp tác

Trang 13

ở tầm quốc gia hoặc quốc tế

Nghiên cứu Y học cần có sự tham gia, phối hợp của nhiều ngành khoa học mới

có thể đạt được hiệu quả cao Khoa học Y học có sự đan xen, tác động của rất nhiều ngành khoa học do vậy trong quá trình hoạt động các nhà nghiên cứu cần lưu ý để giải quyết những vấn đề có liên quan

Nghiên cứu Y học cần đặt vấn đề đạo đức trong nghiên cứu ở một vị trí quan

trọng vì nó có mối liên hệ đến con người và những vấn đề xã hội có thể không theo một quy luật nào

Trang 14

CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THÔNG DỤNG

1 Nghiên cứu mô tả

Nghiên cứu mô tả là loại hình nghiên cứu mà nhà nghiên cứu tiến hành, thực hiện nhằm xác định rõ bản chất các sự vật và hiện tượng trong những điều kiện đặc thù về không gian cũng như thời gian Nghiên cứu mô tả thông thường bao gồm việc thu thập

và trình bày số liệu một cách có hệ thống nhằm đưa ra một bức tranh rõ nét, đầy đủ về một tình hình, vấn đề sức khoẻ cụ thể Nghiên cứu mô tả giống như người hoạ sỹ vẽ một bức tranh ký hoạ hoặc ta chụp nhanh một bức ảnh tại một thời điểm có không gian

cố định Đây là một trong những phương pháp quan trọng và thường là khởi đầu của các nghiên cứu dịch tễ học Mô tả một hiện tượng sức khoẻ chính xác mới hình thành

được giả thuyết nhân - quả đúng, mới đề xuất được các biện pháp phòng ngừa có hiệu

quả

1.1 Mục tiêu của các nghiên cứu mô tả

Nghiên cứu mô tả cần phải đáp ứng ít nhất 2 mục tiêu sau đây:

- Mô tả được một hiện tượng sức khoẻ và các yếu tố nguy cơ có liên quan đến tình trạng sức khoẻ đó

- Phác thảo được giả thuyết nhân quả giữa các yếu tố nguy cơ và hiện tượng sức khoẻ nghiên cứu

1.2 Những nội dung chính của các nghiên cứu mô tả

Nội dung cơ bản của nghiên cứu mô tả là xác định được thực trạng các yếu tố con người và các yếu tố không gian, thời gian cụ thể ở một thời điểm nhất định

1.2.1 Yếu tố nguy cơ, căn nguyên

Yếu tố nguy cơ ở đây được hiểu một cách rộng rãi đó là tất cả những yếu tố nào thuộc về bản chất như: yếu tố vật lý, hoá học, sinh lý, tâm lý, di truyền, khí tượng, các

yếu tố kinh tế văn hoá xã hội mà sự tác động của chúng có thể tạo nên cho cơ thể con

người những thay đổi có lợi hoặc đặc biệt là không có lợi về sức khoẻ con người

1.2.3 Xác định quần thể nghiên cứu

Trang 15

Quần thể nghiên cứu được xác định như sau:

- Quần thể định danh

- Quần thể phơi nhiễm

- Quần thể có nguy cơ

- Quần thể có nguy cơ cao

Chọn quần thể nào để nghiên cứu, phụ thuộc mục đích và khả năng nghiên cứu Thông thường người ta chỉ tiến hành nghiên cứu trên một mẫu nghiên cứu mà mẫu đó được xác định dựa trên một quần thể nhỏ nhất song vẫn đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu Các quần thể được chọn thường là quần thể phơi nhiễm, quắn thể có nguy cơ, quần thể có nguy cơ cao

1.2.4 Định nghĩa bệnh trạng nghiên cứu

Đây là vấn đề xác định, làm rõ hơn những vấn đề cần và sẽ nghiên cứu Một bệnh trạng hay một hiện tượng sức khoẻ nào đó, sẽ mô tả đều phải được định nghĩa chính xác và cụ thể nhất, dễ hiểu nhất trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí rõ rệt Trong lâm sàng người ta vẫn gọi là tiêu chuẩn vàng Người làm nghiên cứu sẽ dựa trên những định nghĩa, những tiêu chí này để xác định chính xác vấn đề nhằm tránh sai sót hệ thống không đáng có Trong nghiên cứu mô tả thì định nghĩa vấn đề sẽ giúp ta giảm bớt các yếu ố nhiễu và chuẩn hoá các chỉ tiêu nghiên cứu

1.2.5 Mô tả yếu tố nguy cơ

Yếu tố có nguy cơ là yếu tố có liên quan hay làm tăng khả năng mắc một bệnh nào đó, có thể là hành vi, lối sống, các yếu tố môi trường, các tác nhân lý, hoá, sinh

học gây bệnh Mô tả rõ ràng các yếu tố nguy cơ của hiện tượng sức khoẻ, mới có cơ

sở để phân tích rõ ràng và đầy đủ các yếu tố liên quan với chúng, không bỏ sót và như vậy mới đạt được mục tiêu của công việc mô tả đặc biệt là mô tả tương quan Nếu thấy

mô tả tương quan không chắc chắn thì có thể phải thay đổi bằng các phương pháp khác như mô tả so sánh nhiều nhóm hoặc nghiên cứu bệnh chứng ta sẽ xác định được các yếu tố nguy cơ

1.3 Thiết kế nghiên cứu mô tả

1.3.1 Mô tả bệnh từ một trường hợp bệnh

Nghiên cứu mô tả trường hợp bệnh là mô tả rất sâu sắc đặc tính của một số giới hạn các “trường hợp” Một trường hợp cụ thể là một bệnh nhân, một trung tâm y tế

hay một làng Những nghiên cứu dạng này cho ta thấy rõ được bản chất vấn đề mà ta

cần nghiên cứu Nghiên cứu trường hợp phổ biến nhất là trong các lĩnh vực khoa học

xã hội, quản lý và y học lâm sàng Ví dụ, trong y học lâm sàng các đặc tính của một loại bệnh mà cho đến nay vẫn chưa nhận biết rõ cũng có thể được ghi nhận như là nghiên cứu một trường hợp

Trang 16

1.3.2 Điều tra cắt ngang nhằm định hướng sự phân bố của một số biến số trong quần thể nghiên cứu tại một thời điểm như

- Các đặc tính về mặt thể chất của con người, hay môi trường như:

- Các cuộc điều tra về tỷ lệ hiện mắc (của bệnh phong, bệnh giun )

- Đánh giá mức độ bao phủ của vấn đề (tiêm chủng, hố xí )

- Các đặc điểm về mặt kinh tế - xã hội của con người như: tuổi, trình độ học vấn,

tình trạng hôn nhân, số con và thu nhập

- Hành vi của con người và sự hiểu biết, thái độ, niềm tin và các quan niệm, có thể giải thích hành vi đó (các nghiên cứu KAP)

- Các sự kiện xuất hiện trong quần thể xác định

Một cuộc điều tra cắt ngang có thể được tiến hành nhắc đi nhắc lại nhiều lần liên tiếp nhằm đo lường các thay đổi diễn ra theo thời gian của các đặc tính được nghiên cứu

Song song với việc mô tả các hiện tượng sức khoẻ theo ba góc độ là: Con người không gian - thời gian, trong các nghiên cứu dịch tễ mô tả, người ta bao giờ cũng nên

mô tả về các yếu tố nguy cơ có liên quan đến hiện tượng sức khoẻ đó Mô tả về nguy

cơ, cũng giống như mô tả về bệnh, có thể mô tả theo định tính và định lượng Yếu tố nguy cơ cũng phải được định nghĩa rõ ràng, sáng sủa, dễ hiểu, có định mức lương hoá Trong những đợt nghiên cứu ngang, việc mô tả các yếu tố nguy cơ dễ có thể được thu thập chính xác, nhưng lại cũng có nhiều hạn chế, nhất là đối với các bệnh có khoảng cách từ thời điểm phơi nhiễm đến thời điểm phát bệnh dài

1.3.3 Mô tả tương quan

Mô tả tương quan hay được sử dụng để bước đầu nêu giả thuyết về mối quan hệ nhân quả giữa một hiện tượng sức khoẻ và các yếu tố nguy cơ Đây là một nghiên cứu

mà nhà nghiên cứu phải xem xét vấn đề trong mối quan hệ với nhiều yếu tố khác mà ta

có thể thấy được hoặc xem xét được Có thể nghiên cứu với sự tương quan một yếu tố hoặc tương quan đa yếu tố vì trong thực tế có nhiều yếu tố nguy cơ cùng tác động đồng thời hoặc trong từng khoảng thời gian

1.4 Mối quan hệ nhân quả

Người ta coi mối quan hệ này chính là sự tương tác qua lại giữa hai thành phần: yếu tố nguy cơ - bệnh Đây là điều không thể thiếu được trong giả thuyết nhân - quả Đôi khi các nghiên cứu thường đi xa hơn bằng cách kết hợp việc mô tả một quần thể nghiên cứu với việc so sánh một số nhóm trong quần thể đó Việc làm này rất phổ biến, chính vì vậy đôi khi khó phân biệt được danh giới rõ ràng giữa nghiên cứu mô tả

và các nghiên cứu so sánh mà người ta thường gọi là nghiên cứu mô tả tìm nguyên nhân

Trang 17

2 Nghiên cứu phân tích

Đây là phương pháp tìm cách xác định tương đối chắc chắn các nguyên nhân hay các yếu tố nguy cơ của vấn đề nào đó Việc này được tiến hành bằng cách so sánh hai hay nhiều nhóm, trong đó có một số nhóm gặp phải vấn đề đó và một số nhóm khác thì không Thông thường có hai loại nghiên cứu phân tích là nghiên cứu bệnh chứng và nghiên cứu thuần tập

2.1 Nghiên cứu bệnh chứng

Nghiên cứu bệnh chứng là nghiên cứu xuất phát từ tình trạng bệnh, vấn đề đã biết Mục đích của nghiên cứu này là làm sao khai thác được các vấn đề có liên quan đến tình trạng bệnh lý đã thấy qua nghiên cứu mô tả Trên cơ sở kinh nghiệm nhà nghiên cứu sẽ lập một lộ trình để khai thác, hồi cứu những yếu tố liên quan đến bệnh trạng đã biết Sau đó khẳng định được những yếu tố nguy cơ đối với hiện tượng bệnh

lý đó Nhà nghiên cứu cần thiết lập các nhóm để nghiên cứu, so sánh và đối chứng Ví

dụ một nhóm đối tượng hiện đang có vấn đề (ví dụ trẻ em đang bị suy dinh dưỡng) so sánh với một nhóm khác được gọi là nhóm đối chứng không có vấn đề đó (trẻ em phát triển bình thường) nhằm phát hiện các yếu tố nguy cơ nào đó đã góp phần tạo nên vấn

đề đó

2.1.1 Mô hình, thiết kế nghiên cứu

2.1.2 Lựa chọn nhóm bệnh

- Nghiên cứu bệnh chứng dựa trên cơ sở bệnh viện:

Nhóm bệnh được chọn từ những bệnh nhân đang điều trị ở một bệnh viện hay một cơ sở chăm sóc y tế Phương pháp chọn nhóm bệnh này được áp dụng phổ biến vì tương đối dễ và không tốn kém

- Nghiên cứu bệnh chứng dựa trên quần thể:

Nhóm bệnh được chọn từ tất cả các bệnh nhân trong một mẫu ngẫu nhiên hay từ quần thể tại một thời điểm hay một khoảng thời gian xác định

2.1.3 Lựa chọn nhóm chứng

Trang 18

Lựa chọn nhóm chứng thích hợp là vấn đề khó khăn nhất trong thiết kế nghiên cứu bệnh chứng Không có một nhóm chứng nào tối ưu cho tất cả các tình huống, đặc biệt là sự tương đồng giữa các nhóm bệnh và nhóm chứng

- Nguồn chọn nhóm chứng từ bệnh viện là những bệnh nhân ở cùng một bệnh viện do mắc một bệnh khác chứ không phải là bệnh mà ta nghiên cứu

- Nguồn chọn nhóm chứng từ quẩn thể tổng quát: nhóm chứng từ quần thể đảm bảo sự so sánh tết nhất vì họ xuất phát từ cùng một nguồn mà từ đó ta chọn ra cả nhóm chứng và nhóm bệnh

- Nguồn chọn nhóm chứng là bạn bè, họ hàng, vợ chồng, hàng xóm của nhóm bệnh, ở đây có sự đồng nhất về môi trường sống và tập quán sinh hoạt cũng như sở thích Tuy nhiên sẽ vẫn nẩy sinh những vấn đề cá biệt mà ta dễ bỏ qua hoặc bỏ sót do chủ quan

- Số nhóm chứng: Lý tưởng là có một nhóm chứng thích hợp và tương ứng với một nhóm bệnh, người bệnh Nhưng thực tế khó có thể chọn được một nhóm so sánh thích hợp đặc biệt khi nhóm chứng chọn ở bệnh viện Cần thiết phải sử dụng nhiều nhóm chứng chọn từ các bệnh nhân có chẩn đoán khác nhau

- Số các cá thể của nhóm chứng: Tỷ số giữa các cá thể ở nhóm chứng với các cá thể ở nhóm bệnh tốt nhất là 1/1 Khi tỷ số này tăng lên, sức mạnh thống kê của nghiên cứu cũng tăng lên, nhưng không nên quá tỷ lệ 4/1

* Phân tích nghiên cứu bệnh chứng:

Nên thành lập bảng tiếp liên để ứng dụng toán thống kê đánh giá cho chuẩn xác (xem ở phần toán thống kê) Trên cơ sở các nhóm bệnh và nhóm chứng, ta tiến hành phân tích mối quan hệ ngược lại về các yếu tố nguy cơ xem khả năng chịu ảnh hưởng trước đó cũng như một liên quan giữa các yếu tố theo quan hệ nhân quả Do xuất phát điểm là các nhóm bệnh hoặc nhóm chứng, từ đó ta mới thăm dò ngược lại đối với các yếu tố nguy cơ, cho nên sẽ xẩy ra hai trường hợp có thể làm sai lệch kết quả:

Một là: có nhiều yếu tố nguy cơ bị ta bỏ quên hoặc bỏ sót do không tìm hiểu, khai thác kỹ

Hai là: vì thời gian quá lâu nên các tình tiết có liên quan dễ bị mất thông tin, hoặc

quên lãng

Trên thực tế trên đây là những khó khăn mà nghiên cứu bệnh chứng thường thường gặp và rất khó khắc phục Ví dụ khi nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ dẫn tới bệnh tiêu chảy ở trẻ em, chúng ta muốn tìm hiểu xem các cháu đã được bà mẹ cho ăn sam vào lúc nào hoặc ăn như thế nào thì đa số các bà mẹ hoặc người nhà chỉ nhớ mang máng rằng hình như cháu được ăn bổ xung vào lúc 3 tháng hoặc 4 tháng gì đó Các bà mẹ chỉ nhớ được những thức ăn chính chứ không nhớ được những thức ăn mà cháu ít ăn, trong khi có thể thức ăn đó lại có vai trò quan trọng, có thể là nguy cơ thực

Trang 19

sự đối với bệnh tiêu chảy của các cháu

2.2 Nghiên cứu thuần tập

Xuất phát điểm của nghiên cứu thuần tập là nhà nghiên cứu lập lộ trình nghiên cứu mà điểm khởi đầu là bắt đầu từ yếu tố nguy cơ đã biết để sau đó xem xét có phải

đó là nguyên nhân của sự phát sinh, phát triển một bệnh nào đó hay không Ta tiến hành chọn một nhóm các cá thể có tiếp xúc (còn gọi là “phơi nhiễm” - exposed) và một nhóm các cá thể không tiếp xúc với yếu tố nguy cơ Nhà nghiên cứu điều tra cả hai nhóm trong một khoảng thời gian nhất định và so sánh sự xuất hiện của vấn đề mà nhà nghiên cứu cho là có liên quan đến yếu tố nguy cơ để xác định xem trong nhóm có tiếp xúc, vấn đề nghiên cứu có thực sự xuất hiện nhiều hơn hay không Thông thường thì quá trình nghiên cứu kéo dài và người ta cần phải theo dõi chặt chẽ sự tác động qua lại giữa các yếu tố nguy cơ với vấn đề sức khoẻ dự định sẽ có thể xuất hiện

2.2.1 Mô hình, thiết kế nghiên cứu

2.2.2 Phân tích đánh giá nghiên cứu thuần tập

Việc phân tích, đánh giá cần được tiến hành chặt chẽ, liên tục theo từng giai đoạn

để vừa xác minh được tính nhân quả, vừa khắc phục được sự trệch hướng trong nghiên cứu Mỗi loại nghiên cứu thuần tập cần có cách đánh giá riêng để sao cho mục đích cơ bản của nhà nghiên cứu đạt được hiệu quả Nghiên cứu thuần tập tương lai và can thiệp thường có cách đánh giá phức tạp hơn cả Có nhiều lựa chọn để có thể thu được kết quả, song ít nhất ta cũng cần dựa vào bảng tiếp liên để phân tích và được coi như là một biện pháp đơn giản mà vẫn đảm bảo được tính khoa học (xem phần toán thống kê)

2.2.3 Các loại nghiên cứu thuần tập

Dựa vào mô hình nghiên cứu, người ta chia nghiên cứu thuần tập thành hai loại: nghiên cứu thuần tập hồi cứu và nghiên cứu thuần tập tương lai Tuy nhiên, còn có nhiều dạng khác của nghiên cứu thuần tập tương lai như nghiên cứu can thiệp, thử

Trang 20

nghiệm lâm sàng, cận lâm sàng

- Nghiên cứu thuần tập hồi cứu: Với nghiên cứu này tất các sự kiện cần nghiên cứu, tình trạng phơi nhiễm của bệnh đã xảy ra trước thời điểm bắt đầu nghiên cứu, nên

ta phải điều tra hồi cứu về tình trạng phơi nhiễm (từ các nhóm phơi nhiễm ta điều tra hồi cứu lại xem có sự xuất hiện chứng, bệnh tương ứng trước đó hay không)

- Nghiên cứu thuần tập tương lai: Với nghiên cứu này, tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu các cá thể được chọn vào nhóm nghiên cứu mới bắt đầu tiếp xúc với yếu tố nguy cơ và như vậy hiện tại cả hai nhóm đều khoẻ mạnh Ta tiến hành theo dõi một thời gian dài trong tương lai tuỳ thuộc vào mục đích và khả năng nghiên cứu để xem khả năng xuất hiện chứng, bệnh có liên quan mà ta đang cần tìm hiểu ở cả hai nhóm tiếp xúc và không tiếp xúc với yếu tố nguy cơ

- Nghiên cứu thuần tập kết hợp giữa hồi cứu và tương lai Các thông tin thu thập vừa được theo dõi cả tương lai vừa hồi cứu về quá khứ Nghiên cứu có ích đối với tất

cả các loại phơi nhiễm nên có thể bổ sung những thiếu sót của mỗi loại nghiên cứu

- Một số dạng đặc biệt của nghiên cứu thuần tập tương lai

Nghiên cứu can thiệp: Đối với nghiên cứu dạng này, nhà nghiên cứu đã có một

can thiệp trực tiếp vào nhóm chủ cứu theo một kế hoạch đã định sẵn trong khi ở nhóm chứng thì không có tác động gì Tuy nhiên với nghiên cứu dạng này cần có đánh giá nghiêm túc về hiệu quả của can thiệp, mô hình can thiệp và sự chấp nhận, nhân rộng

mô hình Chỉ số hiệu quả được tính theo công thức sau đây:

Trong đó:

P1 là tỷ lệ có trước can thiệp

P2 là tỷ lệ thu được hoặc dự kiến thu được sau can thiệp Thông thường nhà nghiên cứu có thể áp dụng nhiều giải pháp can thiệp do vậy cẩn so sánh đánh giá xem giải pháp nào tốt hơn, hiệu quả hơn Nếu muốn so sánh hiệu quả can thiệp ta chỉ cần tìm hiệu số của các chỉ số hiệu quả của các giải pháp can thiệp

đã được xác định Ví dụ trường hợp trên chỉ số hiệu quả ưu tiên, tối ưu sẽ là: CSHQ(A)

- CSHQ(B)…

2.2.4 Lựa chọn nhóm chứng, so sánh (không phơi nhiễm)

Nhóm so sánh phải giống nhóm có phơi nhiễm ở tất cả các yếu tố khác, kể cả có thể liên quan đến bệnh mà người ta gọi là tính tương đồng trừ yếu tố nghiên cứu (yếu

tố phơi nhiễm) thì không được giống nhau Như vậy, nếu không có sự kết hợp thực sự

Trang 21

giữa bệnh và yếu tố phơi nhiễm mà ta nghiên cứu thì tỷ lệ bệnh ở hai nhóm có thể giống nhau…

- So sánh bên trong: Nếu nghiên cứu thuần tập dựa trên một nhóm thuần tập toàn

bộ và các cá thể được chia thành nhiều nhóm có mức độ phơi nhiễm khác nhau ta áp dụng các nhóm đó so sánh với nhau gọi là so sánh trong

- So Bánh bên ngoài: Đối với nhiều nghiên cứu thuần tập mà người ta muốn so

sánh yếu tố phơi nhiễm đặc thù như nghề nghiệp, môi trường đặc biệt ta phải tìm cách so sánh ngoài, đồng thời nhóm này phải hoàn toàn không có phơi nhiễm với yếu

tố nguy cơ mà ta nghiên cứu

- Nhiều nhóm so sánh: Nhiều khi các nhóm so sánh không đủ đặc trưng nên ta phải lấy thêm nhiều nhóm đối chứng để bổ sung sẽ làm tăng giá trị so sánh

2.3.Ưu nhược điểm của nghiên cứu phân tích

So với nghiên cứu thuần tập, nghiên cứu bệnh chứng nhanh và ít tốn kém hơn song có cái khó là làm sao chọn được nhóm chứng phù hợp, đặc biệt trong ghép cặp các trường hợp bệnh và chứng

Nghiên cứu thuần tập là phương pháp chắc chắn nhất để xác định các mối quan

hệ nhân quả Tuy nhiên thời gian và công sức bỏ ra lại nhiều hơn Đặc biệt trong các bệnh hiếm việc xác định các trường hợp bệnh rất khó khăn do tần suất xuất hiện thấp Các đối tượng nghiên cứu thay đổi chỗ ở hoặc công việc cũng là một khó khăn cho nghiên cứu Để nghiên cứu đạt hiệu quả cao và tránh được những thất thoát trong quá trình thực hiện người nghiên cứu cần xem xét kỹ tính ổn định của quần thể nghiên cứu đồng thời cũng lựa chọn mẫu sao cho đủ lớn và dư lực mẫu một chút

2.4 Các loại nghiên cứu phân tích khác

Một số nghiên cứu khác là các dạng đặc biệt của nghiên cứu phân tích như nghiên cứu can thiệp, nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu thử nghiệm cận lâm sàng, lâm sàng Thực chất đây là cách mà nhà nghiên cứu có một tác động nào đó vào cụm các vấn đề cần nghiên cứu để mong muốn có được một kết quả theo ý muốn hoặc đi theo một chiều hướng tích cực hơn

Ví dụ người ta muốn biết về tác dụng của tỏi đối với bệnh tăng huyết áp là có thực hay không Một nghiên cứu can thiệp được các tác giả tiến hành bằng cách thiết

kế một nghiên cứu thuần tập với việc chọn mẫu và theo dõi 10 năm và sau đó thu được kết quả như sau:

- Nhóm uống tinh dầu tỏi 5ml/ngày (vào bữa sáng và tối) có 45 người tuổi từ 40 đến 50 Sau 10 năm có 2 người bị tăng huyết áp

- Nhóm không cho uống tinh dầu thậm chí vào bữa ăn cũng chỉ ăn một vài lát tỏi

là cùng (có sự tự nguyện tham gia), có 50 người cũng với tuổi từ 40 đến 50 và có tỷ lệ nam nữ như nhóm trên (cả hai nhóm đều sống ở cùng một thành phố) Sau 10 năm có

7 người bị tăng huyết áp

Trang 22

XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1 Đặt vấn đề

Trong nghiên cứu khoa học việc xác lập một đề cương nghiên cứu tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cả quá trình nghiên cứu Muốn xây dựng được một đề cương nghiên cứu nhà nghiên cứu cẩn có những bước chuẩn bị tích cực, đầy đủ và chi tiết

Ví dụ:

- Cần phải chọn ra những vấn đề nghiên cứu trong hàng loạt các vấn đề thực tiễn

- Cần phải thu thập thông tin đầy đủ về vấn đề nghiên cứu, qua đó định hướng cho nghiên cứu của mình

- Cần phải xem xét nếu nghiên cứu vấn đề đó thì ta sẽ đạt được kết quả gì và có tác dụng gì cho thực tiễn khoa học cũng như trong đời sống xã hội

2 Nội dung của đề cương nghiên cứu

Về cơ bản đề cương nghiên cứu bao gồm các nội dung sau:

2.1 Tên đề tài, chương trình hoặc dự án

Tác giả nên tìm một tên vừa đủ để thể hiện được nội dung và mục đích nghiên cứu Tên đề tài nghiên cứu không quá 35 chữ, tốt nhất là khoảng 20 đến 30 chữ

2.3.3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Có thể có thêm địa điểm, thời gian, vật liệu nghiên cứu Phần này mô tả các cách làm, phương pháp làm sao để ta có thể thu được kết quả nghiên cứu

2.3.4 Dự kiến kết quả nghiên cứu

Phần này là nội dung chính để có thể mô tả được toàn bộ các kết quả nghiên cứu sau này theo những nhóm vấn đề cơ bản để trả lời được mục đích nghiên cứu

Trang 23

2.3.5 Kế hoạch và kinh phí nghiên cứu

Phần này nên chi tiết cụ thể các bước tiến hành theo từng giai đoạn và mỗi bước, mỗi giai đoạn cần xác định những công việc cụ thể cùng với chi phí cần thiết

2.3.6 Dự kiến bàn luận kết quả nghiên cứu

Bàn luận kết quả phải dựa vào kết quả nghiên cứu Trên thực tế ta chưa có kết quả nghiên cứu nên phải dựa vào khả năng có được của các kết quả nghiên cứu để tìm đọc các tài liệu có liên quan Có làm như vậy sau này ta mới đưa được chính kiến của mình trên cơ sở các kết quả nghiên cứu mà mình sẽ thu được để so sánh với kết quả của các tác giả khác

2.3.7 Kết luận và kiến nghị

Là phần tổng hợp các kết quả nghiên cứu, nên dựa vào mục tiêu nghiên cứu để kết luận, do vậy khi xây dựng đề cương ta chỉ cần viết là “Kết luận theo mục tiêu nghiên cứu” Tất nhiên phần kiến nghị cũng phải viết là “Dựa trên kết quả nghiên cứu

đã thu được”

2.4 Tài liệu tham khảo

Viết theo quy định, đây là những tài liệu tham khảo chính dùng để phục vụ cho việc lập đề cương nghiên cứu

3 Một số điểm cần lưu ý

Trong quá trình hình thành đề cương nghiên cứu cần phải lưu ý một số điểm sau đây:

- Khi đặt vấn đề nghiên cứu phải dựa trên một ý tưởng cụ thể, tuy nhiên nhà

nghiên cứu phải trả lời được một số câu hỏi: Tại sao hoặc có cần nghiên cứu vấn đề này không? Đã có ai làm nghiên cứu này chưa? Có như vậy cấp quản lý đề tài mới biết và ủng hộ cho những thuyết minh của nhà nghiên cứu

- Phần tổng quan tài liệu là rất phức tạp đòi hỏi người nghiên cứu phải đọc và hiểu nhiều Khi làm đề cương nghiên cứu ít nhất tác giả cũng phải biết vấn đề mình nghiên cứu có ai đã và đang làm không để mình tìm hướng đi khác không trùng lặp với các nghiên cứu đó

- Phương pháp nghiên cứu Đây là vấn đề cơ bản, đảm bảo cho sự thành công của

đề tài nghiên cứu do vậy tác giả phải suy nghĩ, tìm tòi mọi phương tiện, phương pháp

và tìm ra phương pháp tối ưu nhất để đảm bảo thành công cho nghiên cứu của mình Ở đây cũng phải xem xét một điều nữa là ai sẽ làm, người đó có khả năng và đủ độ tin cậy hay không

Trang 24

CÁC BIẾN TRONG NGHIÊN CỨU

Trong nghiên cứu khoa học ta thường phải tìm tòi nghiên cứu để thu thập được những số liệu cần thiết Các số liệu này thường tập trung vào các dạng nhóm mà ta có thể gọi là các biến số trong nghiên cứu Như vậy, biến số là một biểu thức chỉ ra cho ta biết đó là nhóm số liệu gì, ví dụ: Môi trường tự nhiên, môi trường xã hội thì có rất

nhiều nhưng ta chọn nhóm số liệu vi khí hậu, nhóm số liệu về tình trạng hôn nhân

mà thông qua việc nghiên cứu các nhóm số liệu này sẽ cho ta những kết quả tương ứng

1 Phân loại các biến số

Có nhiều cách phân loại các biến số, tuy nhiên ta thường phân loại chung chung một cách đại cương theo bản chất hoặc mối tương quan lẫn nhau của các biến số

1.1 Phân loại theo bản chất

Theo bản chất ta có thể phân ra hai loại biến số là định tính và định lượng

1.1.1 Biến định tính

Các biến số này chỉ có tính chất định tính, ví dụ: tuổi, giới, địa chỉ, trình độ biến

số định tính này cũng phụ thuộc vào tác giả hoặc ở các điều kiện khác nhau

1.1.2 Biến định lượng

Đây là các giá trị mà ta có thể định lượng được theo tiêu chuẩn quốc tế hoặc Việt Nam Ví dụ ta có thể cân đo đong đếm được như: nhiệt độ, huyết áp, chỉ số huyết sắc tố Về mặt khoa học “định lượng” mang tính cụ thể nên vấn đề phương pháp thu thập

và phân tích cần hết sức lưu ý, ví dụ: phải dựa trên những kĩ thuật tốt nhất mà khả

năng của ta có thể đáp ứng được

1.2 Phân loại dựa vào mối tương quan

Trong y học đây là phân loại hay gặp nhất và thường là quan hệ nhân quả Dựa vào quan hệ này người ta phân chia thành hai nhóm:

- Biến số độc lập: thường là yếu tố nguy cơ, trong mối quan hệ nhân qua với hiện tượng sức khoẻ cần nghiên cứu Nó được xác định bởi người nghiên cứu dựa trên kinh nghiệm và sự tham khảo tài liệu Nó tồn tại một cách độc lập không chịu sự chi phối của các hậu quả mà nó gây nên Ví dụ: Nóng gây mất nước, mất muối ở người lao động song nó lại độc lập với hiện tượng mất muối ở người lao động,

- Biến phụ thuộc: Thường là yếu tố mà người nghiên cứu muốn tham khảo Nó

có thể là hậu quả trong mối quan hệ với nhiều yếu tố khác, cho nên giá trị của nó không phụ thuộc hoàn toàn vào một giá trị nào của các biến ảnh hưởng đến nó Tuy nhiên, các biến số này thường không có giá trị độc lập trong mối quan hệ mà ta đang

Trang 25

nghiên cứu, nó chỉ xẩy ra hoặc tồn tại bởi một hoặc nhiều yếu tố khác Trong nghiên cứu vẫn tồn tại các yếu tố làm nhiễu biến phụ thuộc Ví dụ: bệnh Bướu cổ đơn thuần (biến phụ thuộc) do thiếu Iốt, nhưng vẫn có các yếu tố khác làm tăng tỷ lệ bệnh bướu

cổ đơn thuần như: độ cứng của nước, hoá chất trừ sâu

3 Ý nghĩa của việc phân loại biến số

- Biến số sẽ giúp cho việc xác định các chỉ số nghiên cứu, do vậy việc thu thập và phân tích số liệu chính là làm việc với các chỉ số này

- Biến số sẽ giúp cho việc chọn cách thu thập số liệu

- Biến số giúp cho viện lựa chọn các test thống kê thích hợp khi phân tích số liệu

- Biến số giúp cho việc chọn cách trình bày số liệu nghiên cứu

Trong nghiên cứu, việc xác lập các biến số cần thiết để tiến hành nghiên cứu nhà nghiên cứu cần thiết phải định nghĩa các biến số sao cho chính xác nhất và dễ vận dụng nhất trên thực tế

Lượng Hemoglobin Nồng độ Hemoglobin có trong mạch máu được tính

bằng thước đo Hemoglobin

Liên tục tính theo giam trên 100ml, tính gần đúng

trên 80% trên mức chuẩn

2 Tình trạng dinh dưỡng trung bình 60 80% ở mức chuẩn

-3 Suy dinh dưỡng nặng: 60% dưới mức trung bình

Trang 26

5 Không biết

6 Không trả lời

Tỉ lệ tiêm chủng % trẻ em được tiêm chủng ở

lứa tuổi nhất định Liên tục tức là tỉ lệ cao ≥ 80%

Trung bình ≥ 60 - 80%

Thấp ≤ 60%

Carbonhydrate chính

trong thức ăn

Dạng thức ăn chính Định danh: ngô, khoai, sắn, gạo

3.1 Những khả năng thay đổi khi định nghĩa các biến thường gặp

- Nghề nghiệp: Nghề nghiệp được phân loại theo chuyên môn được đào tạo hay theo công việc thực tế? Nếu như đã về hưu hoặc thất nghiệp thì nên cân nhắc theo công việc làm nhiều nhất

- Giáo dục: Số năm được đào tạo hoặc lớp học có trình độ cao nhất đã qua,

trường đào tạo

- Thu nhập: thu nhập cá nhân hoặc gia đình tính trung bình theo đầu người/năm

- Mật độ dân số số người trung bình trong một phòng, trong một căn hộ Những phòng nào không được tính đến (phòng tắm, bếp, vệ sinh, nhà kho )

- Tầng lớp xã hội: Dựa theo nghề nghiệp, học vấn, thu nhập, nơi cư trú, tiện nghi của gia đình hoặc những quan điểm của bản thân? Dựa trên một hoặc nhiều chỉ số đó

- Tình trạng hôn nhân: Theo tình trạng hôn nhân chính thức (độc thân, có gia đình, goá bụa hoặc ly hôn) hoặc theo tình trạng ổn định (gần nhau thường xuyên hoặc không)

- Con cái: Tổng số những lần có thai trước đây hoặc tổng số con đã sinh sống

- Còn rất nhiều khái niệm, định nghĩa có thể thay đổi do yêu cầu cũng như thực tiễn nghiên cứu mà những người làm nghiên cứu có thể đề xuất hoặc thay đổi

3.2 Một số điểm cần lưu ý khi xác định các biến trong nghiên cứu

- Trong quá trình nghiên cứu, dù là mô tả hay phân tích thì người làm nghiên cứu cũng nên nghĩ đến quan hệ nhân quả, tức là có cái này xuất hiện hoặc tồn tại thì có thể phát sinh hoặc phát triển cái kia Khi xác định được mối quan hệ nhân quả thì việc tìm

ra đâu là yếu tố nguy cơ, đâu là hậu quả không còn là vấn đề nữa

Trang 27

- Trên cơ sở xác định các nhóm số liệu, các biến trong nghiên cứu ta cũng hình

thành ngay hoặc dần dần các phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu sau này

- Dù ta có chuẩn bị kỹ càng đến đâu đi chăng nữa thì trong quá trình nghiên cứu vẫn xuất hiện các biến nghiên cứu mới Đây là điều chúng ta luôn phải ghi nhớ để xử

lý kịp thời và phù hợp, lô gíc vấn đề đã đặt ra khi xây dựng đề cương nghiên cứu ban đầu

Trang 28

CHỌN MẪU TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Đa số các nghiên cứu đều nhằm phục vụ hay đáp ứng cho từng quần thể rộng lớn, song ta chỉ có thể chọn một số nào đó có thể đại diện cho quần thể đó là mẫu nghiên cứu Mẫu chọn được như thế nào, và cỡ mẫu là bao nhiêu? để có thể đại diện cho quần thể song ít mắc sai số và kinh tế, hiệu quả

Cách chọn mẫu dù là mẫu ngẫu nhiên đơn, mẫu phân tầng hay mẫu chùm đều phải dựa vào quần thể

Quần thể có quy mô nhỏ dần từ quần thể tổng quát, quần thể định danh, quần thể

có nguy cơ, quần thể có nguy cơ cao và cuối cùng là quần thể bị đe doạ

Việc chọn mẫu nghiên cứu tuỳ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu và khả năng nghiên cứu, song người ta thường chọn mẫu trong khu vực quần thể bị đe doạ làm nhóm chủ cứu để so sánh với nhóm chứng

Thông thường mẫu được chọn dựa trên hai cơ sở quan trọng là kết quả nghiên cứu trước đó hay kết quả ước định, kết quả nghiên cứu thử nghiệm và xác suất cho trước do ta dự định

Ví dụ: Ta có thể chọn mẫu trong nghiên cứu bệnh sất rét ở trẻ em dưới 5 tuổi khi

ta biết tỷ lệ bệnh sốt rét trong trẻ em tại vùng đó khoảng 20% và ước lượng có độ tin cậy ở mức > 95%

1 Các loại mẫu trong nghiên cứu

1.1 Mẫu không xác suất

- Mẫu mục đích: Là loại mẫu nghiên cứu không xác suất mà dựa vào mục đích

của nhà nghiên cứu Không có các yêu cầu của chọn mẫu và tính cỡ mẫu (Mẫu chủ đích)

- Mẫu kinh nghiệm: Là loại mẫu nghiên cứu không xác suất mà dựa vào kinh

nghiệm của nhà nghiên cứu đối với vấn đề nghiên cứu

- Mẫu tiện lợi: Là mẫu thiết kế để làm sao cho việc lấy đơn giản, tiện lợi

1.2 Mẫu xác suất

- Mẫu ngẫu nhiên đơn

- Mẫu ngẫu nhiên hệ thống

- Mẫu ngẫu nhiên phân tầng

- Mẫu chùm

1.3 Mẫu ngẫu nhiên đơn

Định nghĩa: Là loại mẫu nghiên cứu trong đó các cá thể có cơ hội được chọn như

Trang 29

nhau và mẫu nghiên cứu

Cách tiến hành chọn: Sử dụng bảng số ngẫu nhiên là thông dụng hơn cả

Giới thiệu cấu trúc bảng số: gồm có các hàng ngang và cột dọc, bảng có cấu trúc

rất ngẫu nhiên để cho việc chọn lựa các số theo bất kỳ chiều hướng nào

Cách sử dụng:

Xác định số ký tự cần thiết: mỗi ký tự là một số, số ký tự được lấy phụ thuộc vào kích thước quần thể nghiên cứu Ví dụ: Nếu định nghiên cứu 10 cá thể trong số 100 cá thể ta lấy 3 ký tự Tương tự nêu nghiên cứu 200 cá thể trong quần thể 1000 người ta chọn 4 ký tự

Xác định chiều hướng chọn Trước khi chọn số ta cần quy định chiều đi theo hàng hay theo cột để đảm bảo ngẫu nhiên

Chọn các số ngẫu nhiên: đầu tiên ta chọn cá thể đầu tiên năm trong số các cá thể của quần thể, sau đó theo hướng đã chọn chọn tiếp các cá thể sau nếu chọn được số đã chọn thì bỏ qua

Có thể dùng cách bốc thăm, rút số đồng tiền, quay cổ chai để chọn

Ưu nhược điểm:

Là cơ sở cho các kỹ thuật chọn mẫu khác

Tốn kém và tốn thời gian

Không thuận tiện

Không thích hợp cho các bệnh phân bố theo tuổi, giới

1.4 Mẫu hệ thống

Định nghĩa: Là loại mẫu nghiên cứu giống như mẫu ngẫu nhiên đơn nhưng các

cá thể được chọn cách nhau một khoảng cách nhất định

Chọn trên bảng số được một số ngẫu nhiên nhỏ hơn 10, giả sử là 8 đó chính là cá

thể đầu tiên, cá thể thứ 2 là 8 + 10 = 18, cá thể thứ 3 là 28 cá thể cuối cùng là 68

Ưu nhược điểm:

Dễ triển khai hơn mẫu ngẫu nhiên đơn

Trang 30

Không thích hợp cho các đặc trưng nghiên cứu phân bố theo chu kỳ

1.5 Mẫu tầng

Định nghĩa: Là một mẫu nghiên cứu mà quần thể được chia làm nhiều tầng, riêng

biệt, mỗi tầng có số lượng cá thể nhất định được chọn vào mẫu nghiên cứu

Ưu nhược điểm:

Cách tiến hành chọn (xem phần bài chọn 30 chùm)

Ưu nhược điểm

Giá thành thấp nhất,

Thuận tiện và dễ tiến hành trên thực địa

Sai số chuẩn cao

1.7 Các bước tiến hành chọn mẫu 30 chùm ngẫu nhiên

Trang 31

- Dùng bảng ngẫu nhiên chọn ra chùm đầu tiên có dân số < k

- Chọn tiếp các chùm khác bằng cách lấy chùm trước + k

- Chọn các cá thể trong từng chùm bằng cách chọn nhà đầu tiên rồi theo quy luật nhà gần nhà

(1) Trước hết ta lập danh sách 113 xã, phường với số dân của từng xã

Tương ứng với hàng ngang của xã, ta cộng dồn dân số lại cho đến hết

Danh sách các cụm trong tỉnh TN (cả các trang bên)

TT Tên xã (viết tắt) Dân số Cộng dồn dân số Cụm mẫu

855

12.888 16.377 23.203 27.542 29.745 34.086 35.630 36.515

833

114.348 115.703

621 3.193

120.654 123.436 126.721 131.137 134.325 135.504 136.116

Trang 32

161.031 176.037

189.846 193.498

507 3.516 14.402 2.575 3.105

231.452 233.567 234.074 237.672 251.992 254.567 257.672

261.848 263.767 267.028

271.298 274.599

2 1 55

282.519 283.276 295.313

791 3.468 4.338 3.930 2.112

301.170 303.432 304.223 307.691 312.209 315.959

322.024 324.222 334.113

339.815 840.849 343.264 347.589

361.333 363.646 366.754 370.917

371657

Trang 33

383.472 388.012 390.334 394.321

401.073 401.921 403.202 406.512 410.825 410.587

441.447 446.346 449.646 453.796

459.143 475.842

479.292 483.743 488.168 492.028 494.863 496.588

504.700 509.089 510.215 512.381

Trang 34

Ví dụ: Theo bảng trên, dọc bảng số ngẫu nhiên ta có 16.225 Số này chấp thuận

được vì bé hơn khoảng cách mẫu Vậy cụm đầu tiên nằm trong xã b có số thứ tự là 2 ở cột thứ tự

Vậy cụm 3 nằm trong xã k, một xã đông dân, có số 10 ở cột thứ tự

(6) Để xác định các cụm sau, ta vẫn theo công thức (5) và tìm đủ 30 cụm trong danh sách

2 Ước lượng mẫu nghiên cứu mô tả thông qua tỷ lệ

2.1 Mẫu nghiên cứu cho một tỷ lệ

Theo thường lệ trước hết người ta phải ấn định một ngưỡng chính xác 2 cho tỷ lệ

p Người ta thường lấy ngưỡng 0,05 hoặc 0,01 Với ngưỡng này giá trị “X”, tương ứng

Z1 - α/2 sẽ là 1,96 hoặc 2,33

Công thức tính cỡ mẫu thông thường được ứng dụng như sau:

Trong đó:

Trang 35

Số dư là để cho mẫu chắc chắn có xác suất < xác suất ấn định

Trong công thức có p là tỷ lệ ước định trong quần thể Ty lệ p có được là từ nghiên cứu trước hoặc nghiên cứu thăm dò (Philot study) Nếu không có nghiên cứu trước thì ta phải lấy cỡ mẫu tối đa bằng cách chọn p = 0,5

Ví dụ: Muốn tìm khả năng gây độc của một chất độc x có trong môi trường người

ta đã đem nghiên cứu trên chuột xem tỷ lệ sống sót sau 1 tuần với mức tin cậy là 95% Một nghiên cứu tương tự đã cho biết là tỷ lệ sống sót là 20% (P = 0,2) Độ chính xác được ấn định e = 0,03 Vậy cần có n chuột là bao nhiêu con?

Ứng dụng công thức ta có:

0,2(1-0,2)

n = 1,962 x

(0,03)2 = 683 chuột, cộng thêm 1, ta có 684 con

Như vậy xác xuất càng lớn hoặc (t) càng lớn thì mẫu càng nhiều

2.2 Mẫu nghiên cứu cho hai tỷ lệ (hai mẫu)

Thông thường ước lượng mẫu nghiên cứu cho hai tỷ lệ thì nghiên cứu hai mẫu này là có cùng một cỡ nA = nB

Công thức :

Cách vận dụng tính mẫu n tương tự như với mẫu ước lượng cho một tỷ lệ

3 Ứớc lượng mẫu nghiên cứu mô tả thông qua số trung bình và độ lệch chuẩn

Nếu như những nghiên cứu sẽ có kết quả là số trung bình cộng và độ lệch chuẩn như chiều cao, cân nặng, đường huyết khi ước lượng mẫu phải dựa vào kết quả nghiên cứu trước đó người ta đã tiến hành hoặc điều tra thăm dò của ta để có độ lệch chuẩn và độ chính xác

Ví dụ: Cân nặng là số giam, chiều cao là số cm

Trang 36

3.1 Mẫu nghiên cứu cho một quần thể

Tương tự việc ước lượng tỷ lệ, ta cần phải ấn định ngưỡng xác suất (Z1 - α/2 là bao nhiêu?) sau đó áp dụng công thức:

Vậy cần nghiên cứu với mẫu từ 385 thanh niên trở lên sẽ có kết quả có xác suất

p < 0,05 Như vậy muốn tăng độ chính xác lên 0,25 cm ta phải khám gấp 4 lần nhiều hơn (trên 1537 người)

3.2 Mẫu nghiên cứu cho 2 quần thể hoặc 2 mẫu trong một quần thể

Tương tự với một mẫu ở một quần thể khi tính cỡ mẫu người ta cũng cần các thông tin như vậy ở hai khu vực Thường thì hai mẫu có cỡ mẫu tương tự: nA = nB Công thức cỡ mẫu:

Trong đó:

S2A : Phương sai đối với quần thể A

S2B : Phương sai đối với quần thể B

Ví dụ: Cần tìm mẫu đủ để nghiên cứu thời gian phản ứng ở hai nhóm thanh niên,

nhà tâm lý học ước lượng độ lệch chuẩn ở hai nhóm Nhóm A có s = 0,05 giây; nhóm

B có s = 0,04 giấy, ở ngưỡng p = 0,01

Ứng dụng công thức trên cơ sở mẫu nA = nB chúng ta có:

Vậy mỗi mẫu nghiên cứu cần 274 người thì mới đáp ứng được yêu cầu mẫu

Trang 37

chuẩn xác

4 Ước lượng cỡ mẫu cho nghiên cứu bệnh chứng

Công thức được áp dụng như sau:

ε: Mức độ chính xác mong đợi [chênh lệch cho phép giữa tỷ suất chênh (OR) thực của quần thể và OR thu được từ mẫu]

Chú ý: Trong trường hợp chỉ biết một trong hai giá trị p1 và po hoặc OR ta có thể tính giá trị chưa biết thông qua công thức sau:

5 Tính cỡ mẫu cho nghiên cứa thuần tập (Cohort study)

Công thức được áp dụng như sau:

ε: Mức độ chính xác mong đợi [chênh lệch cho phép giữa tỷ suất chênh (OR) thực của quần thể và OR thu được từ mẫu ]

Chú ý: Trong trường hợp chỉ biết một trong hai giá trị p1 và po hoặc OR ta có thể tính giá trị chưa biết thông qua công thức sau:

p1 = (RR) po

Trang 38

6 Chọn mẫu cho nghiên cứu can thiệp

Có nhiều cách song người ta thường sử dụng công thức sau:

Trong đó:

Lấy Z1 - α/2 = 1,96

Z1-β : 0,84 (lực mẫu thường được lựa chọn là 80%)

p1: Tỷ lệ gặp trước can thiệp

p2: Ước lượng sau can thiệp

Đánh giá sau can thiệp ta lại phải thông qua các chỉ số hiệu quả như công thức đã được giới thiệu trong phần các phương pháp nghiên cứu:

Trong đó:

pl: Tỷ lệ gặp trước can thiệp

p2: Tỷ lệ thu được sau can thiệp

Tuy nhiên cần phải tính các CSHQ% (A) ở nhóm nghiên cứu, can thiệp và các CSHQ%(B) ở nhóm đối chứng, không can thiệp, sau đó tính các hiệu số CSHQ% (Ai) CSHQ% (Bi) để xác định hiệu quả thực sự cho từng giải pháp can thiệp đã áp dụng

Trang 39

CÁCH THU THẬP VÀ TRÌNH BÀY SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU

1 Thu thập số liệu

Những số liệu nghiên cứu và minh chứng có thể thu được từ nhiều nguồn, cách khác nhau với các phương pháp nghiên cứu hồi cứu hoặc nghiên cứu hiện tại thông qua điều tra ở thời điểm nào đó, đồng thời cũng có thể qua các loại xét nghiệm hoặc

thực nghiệm như: xét nghiệm máu, nước tiểu phỏng vấn đối tượng nghiên cứu, khám

đối tượng nghiên cứu, các,thông tin từ sổ sách, tạp chí, báo cáo bệnh án Tuy nhiên

phương pháp thường áp dụng ở cộng đồng với chi phí thấp là phương pháp “Điều tra bằng phiếu hỏi”

2 Điều tra bằng phiếu hỏi

Mỗi cuộc điều tra đều có mục tiêu riêng Dựa vào mục tiêu nghiên cứu mà người nghiên cứu sẽ soạn thảo những bộ câu hỏi để làm sao thu thập được đủ thông tin đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu Câu trả lời cho các câu hỏi này chính là các chỉ số, các biến số nghiên cứu

Thông tin có thể thu thập theo cách trực tiếp (phỏng vấn) hoặc gián tiếp (qua thư, điện thoại ) Thông thường có hai cách lập câu hỏi:

Câu hỏi có trả lời tự do tuỳ theo người được hỏi và câu hỏi có trả lời theo định hướng của người nghiên cứu muốn biết Bất kỳ loại nào thì câu hỏi cũng cần đạt các yêu cầu sau:

- Rõ ràng và đơn giản

- Tránh dùng các thuật ngữ quá sâu về chuyên môn

- Tránh “gợi ý” người trả lời

- Có tính liên tục

- Bảo vệ người được phỏng vấn

- Đã qua thử nghiệm trước khi triển khai rộng

Để xây dựng công cụ thu thập thông tin được đầy đủ và chính xác, người nghiên cứu cần phải đặt ra những câu hỏi sau đây:

- Điều cần biết cụ thể là gì?

- Điều đó có phù hợp với mục tiêu và nội dung nghiên cứu không?

- Công cụ thu thập các thông tin đã phù hợp với thiết kế nghiên cứu chưa?

- Cần bổ xung loại công cụ nào khác không”

- Đối tượng điều tra là ai? Bộ công cụ đã thích hợp với đối tượng nghiên cứu

Trang 40

không? Các phần, các chủ đề, mục có phù hợp với thiết kế nghiên cứu không? Liệu đối tượng nghiên cứu có thể trả lời được những câu hỏi đặt ra không? Nguồn số liệu hiện

có đã đáp ứng đủ về lượng thông tin?

- Cỡ mẫu nghiên cứu (điều tra) có lớn không?

2.1 Các loại bảng câu hỏi và câu hỏi

Bảng câu hỏi là công cụ sử dụng để hỏi trực tiếp hoặc gián tiếp đối tượng nghiên cứu Trong bảng câu hỏi, các câu hỏi cũng được sắp xếp theo các chương, mục khác nhau

Bảng câu hỏi: Có thể dùng bảng câu hỏi để phỏng vấn trực tiếp hoặc gián tiếp

đối tượng nghiên cứu Phỏng vấn trực tiếp có ưu điểm hơn là phỏng vấn gián tiếp, nhưng vẫn có những hạn chế nhất định Bởi lẽ, kết quả nghiên cứu sẽ khác nhau nếu trình độ của điều tra viên khác nhau, cách đặt câu hỏi khác nhau, tính trung thực trong nghiên cứu khác nhau Sai số của phỏng vấn trực tiếp tùy thuộc vào nghiên cứu viên nhiều hơn, còn sai số của phỏng vấn gián tiếp lại tùy thuộc vào người trả lời nhiều hơn

Câu hỏi: Có 3 loại câu hỏi: Câu hỏi đóng, câu hỏi mở và câu hỏi nửa đóng (câu

hỏi bán cấu trúc)

Câu hỏi đóng: Câu hỏi kiểu này vừa đặt câu hỏi, vừa có câu trả lời sẵn để đối

tượng nghiên cứu trả lời Loại câu hỏi này dùng cho điều tra hộ gia đình ở những nơi dân trí thấp Mục đích là để tìm kiếm “những điều ta cần biết” và những thông tin có giới hạn, có tính chất phân loại, đo lường Dạng câu hỏi này dễ xử lý và thường dùng trong nghiên cứu y học

Ví dụ: Chị có đủ sữa cho cháu bú không? có không

Câu hỏi mở: Câu hỏi không có câu trả lời sẵn Dùng cho trường hợp điều tra các

cộng đồng có trình độ văn hóa cao, trong các điều tra về nhân chủng và xã hội Câu hỏi này dùng để tìm “những điều ta cần biết” và “những điều đối tượng nghiên cứu muốn nói cho ta biết” Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu có thể đi chệch hướng nghiên cứu của đề tài

Ví dụ: Hãy cho biết lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ?

Câu hỏi nửa đóng: là câu hỏi đóng, nhưng ở cuối câu đặt câu hỏi mở

Loại câu hỏi này thường dùng khi người nghiên cứu chưa thực sự biết hết liệu những câu trả lời có thể sẽ là gì Câu hỏi này dùng để thu thập các ý kiến, tìm hiểu thái

độ, thu lượm những ý kiến của đối tượng nghiên cứu hoặc được sử dụng khi tình huống cần linh hoạt, ứng biến, thăm dò cho việc đặt câu hỏi đóng cho nghiên cứu diện rộng của những nghiên cứu sau đó

Ví dụ: Lý do chị không đến trạm y tế khám khi chị bị ốm là gì?

Ngày đăng: 17/11/2016, 04:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (2004), Cẩm nang thực hành quản lý và chăm sóc sức khoẻ Nhà xuất bản Lao động - Xã hội tr 11-93 Khác
2. Ngô Như Hoà (1982). Thống kê trong nghiên cứu y học. Nhà xuất bản Y học, tập I, II Khác
3. Nguyễn Đình Khoa (1975). Phương pháp thống kê ứng dụng trong sinh học. Tủ sách Đại học Tổng hợp Khác
4. Nguyễn Xuân Phách và cộng sự (1992). Toán thống kê và tin học trong nghiên cứu y sinh, dược học. Học viện Quân Y Khác
5. Lê Khánh Trai, Hoàng Hữu Như (1974). Ứng dụng xác suất thống kê trong y sinh học. Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật Khác
6. Dương Đình Thiện (1998). Dịch tễ học. Nhà xuất bản Y học Khác
7. Trường Đại học Y khoa Hà Nội (1992). Phương pháp nghiên cứu Bức khỏe cộng đồng. Nhà xuất bản Y học Khác
8. Akhnaarova. S (1989), Experiment optimization in chemistry and chemical engineering. Mockva Khác
10. Jim whiting (2005), The new international safety risk management standard, The 21 st annual conference of the Asia Paciflc Occupational safety &amp; health organization. Ban- Indonesia p 1750 Khác
11. Joseph. Lellouch (1974). Methodes StatistiqueB en experimentation biologique. P. Flammation Khác
12. Mendenhall (1974). Introduction to probability and statistics. W.P.C. Ins. Balmont Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Tỷ lệ trọng lượng các cơ quan ở trẻ sơ sinh  + Biểu đồ gấp khúc: biểu thị những đặc tính định lượng rời rạc từ các điểm M - phuong phap luan trong nckh y hoc y thai nguyen by phuhmtu
Hình 1.2 Tỷ lệ trọng lượng các cơ quan ở trẻ sơ sinh + Biểu đồ gấp khúc: biểu thị những đặc tính định lượng rời rạc từ các điểm M (Trang 48)
Hình 1.1: Trọng lượng chuột nhắt thí nghiệm  + Biểu đồ hình quạt. - phuong phap luan trong nckh y hoc y thai nguyen by phuhmtu
Hình 1.1 Trọng lượng chuột nhắt thí nghiệm + Biểu đồ hình quạt (Trang 48)
Hình 1.3: Phân bố chim hoang dại có khả năng mang Virus H5N1 ở - phuong phap luan trong nckh y hoc y thai nguyen by phuhmtu
Hình 1.3 Phân bố chim hoang dại có khả năng mang Virus H5N1 ở (Trang 49)
Hình 1.4. Tình hình bệnh dịch tiêu chảy tháng 5 - 2006 tại phường X - phuong phap luan trong nckh y hoc y thai nguyen by phuhmtu
Hình 1.4. Tình hình bệnh dịch tiêu chảy tháng 5 - 2006 tại phường X (Trang 49)
Hình 1.5. Bản đồ dịch tễ học sốt rét ở huyện A - phuong phap luan trong nckh y hoc y thai nguyen by phuhmtu
Hình 1.5. Bản đồ dịch tễ học sốt rét ở huyện A (Trang 50)
Hình 1.6. Đường cong Gauss - phuong phap luan trong nckh y hoc y thai nguyen by phuhmtu
Hình 1.6. Đường cong Gauss (Trang 64)
Bảng tính các giá trị trung gian của bài toán - phuong phap luan trong nckh y hoc y thai nguyen by phuhmtu
Bảng t ính các giá trị trung gian của bài toán (Trang 79)
Đồ thị dạng tương quan Y = ax - b - phuong phap luan trong nckh y hoc y thai nguyen by phuhmtu
th ị dạng tương quan Y = ax - b (Trang 80)
Bảng 2: Bảng χ 2 - phuong phap luan trong nckh y hoc y thai nguyen by phuhmtu
Bảng 2 Bảng χ 2 (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w