NHU CẦU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LỤC THẾ HƯNG
TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LỤC THẾ HƯNG
TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRỊNH QUỐC TOẢN
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lục Thế Hưng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 4
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Những điểm mới và đóng góp của đề tài 6
7 Kết cấu luận văn 7
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8
1.1 Khái niệm và đặc điểm của tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả 8
1.1.1 Khái niệm tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả 8
1.1.2 Đặc điểm của tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả 10
1.2 Khái niệm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trong Luật hình sự Việt Nam và tác hại của nó đối với chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước 12
1.3 Khái quát lịch sử Luật hình sự Việt Nam quy định tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả 16
1.3.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1985 16
Trang 51.3.2 Giai đoạn từ năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 18
1.3.3 Giai đoạn từ 1999 đến nay 21
1.4 Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trong luật hình sự một số nước 26
1.4.1 Pháp luật hình sự Cộng hòa liên bang Đức 26
1.4.2 Pháp luật hình sự Liêng bang Nga 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 32
2.1 Các dấu hiệu pháp lý của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả theo Bộ luật hình sự năm 1999 và đường lối xử lý 32
2.1.1 Các dấu hiệu pháp lý của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả theo Bộ luật hình sự năm 1999 32
2.1.2 Đường lối xử lý hình sự đối với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả 36
2.2 Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm 2011 - 2015 42
2.2.1 Đặc điểm về địa lý dân cư, kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang có liên quan đến tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả 42
2.2.1.1 Về vị trí địa lý 42
2.2.1.2 Về dân cư, dân tộc, tôn giáo 43
2.2.2 Kết quả hoạt động điều tra 45
Trang 62.2.3 Kết quả hoạt động truy tố 492.2.4 Kết quả hoạt động xét xử 53
2.3 Những tồn tại, hạn chế, thiếu sót trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét
xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trên địa bàn tỉnh Hà Giang và những nguyên nhân của nó 60
2.3.1 Những tồn tại, hạn chế, thiếu sót trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét
xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, côngtrái giả trên địa bàn tỉnh Hà Giang 602.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại, thiếu sót trong quá trình điều tra,truy tố, xét xử về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngânphiếu giả, công trái giả 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71 Chương 3 NHU CẦU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ TỘI PHẠM NÀY 72 3.1 Nhu cầu hoàn thiện các quy định về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trong Bộ luật hình sự năm 1999 72 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trong Bộ luật hình sự năm 1999 75 3.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng điều tra, truy
tố, xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả 82
Trang 73.3.1 Nâng cao chất lượng hoạt động phát hiện điều tra tội làm, tàng trữ,vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả 823.3.2 Nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong việc phát hiện, xử lý, truy tố tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hànhtiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả 843.3.3 Đổi mới hoạt động xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiềngiả, ngân phiếu giả, công trái giả 863.3.4 Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong điềutra, xử lý tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,công trái giả 883.3.5 Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân tham gia phòngchống tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,công trái giả 89
KẾT LUẬN 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số vụ/số bị can phạm tội tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành tiền giả trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm 2011
Bảng 2.2: Kết quả khởi tố điều tra tội tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành tiền giả trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm 2011
Bảng 2.3: Kết quả truy tố tội phạm tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành tiền giả trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm 2011
Bảng 2.4: Số vụ án đã thụ lý, giải quyết từ năm 2011 đến năm
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) với quyết định chuyểnđổi phát triển kinh tế đất nước ta từ quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển nhiều thành phần kinh tếtrong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo đã làm cho nền kinh tế chuyểndịch rõ rệt Bộ mặt đất nước thay đổi từng ngày, kinh tế xã hội phát triển, đờisống nhân dân được nâng cao, nước ta đã mở rộng quan hệ với nhiều nướctrên thế giới đây là lợi thế để phát triển đất nước nhưng mặt trái của sự pháttriển bao giờ cũng là những hiện tượng tiêu cực xã hội, tình hình tội phạm và
vi phạm pháp luật gia tăng Tội phạm trong xã hội hiện đại là một hiện tượng
xã hội - pháp lý phức tạp với những biểu hiện khác nhau, công tác đấu tranhphòng chống tội phạm cũng gian khổ, khó khăn hơn Tình hình tội phạm diễn
ra ngày càng phức tạp, nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng đột biến, cónhiều loại tội phạm mới xuất hiện với thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệthơn, tính chất của tội phạm ngày càng manh động, đặc biệt là tội phạm làm,tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả nhằmmục đích chiếm đoạt tài sản và các mục đích khác xuất hiện ngày càng nhiều.Tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, côngtrái giả đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của đất nước, phá hoạichính sách tiền tệ Người phạm tội thuộc nhiều thành phần khác nhau và thậmchí bao gồm cả người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam Tội phạmnày không chỉ xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà còn xâm phạm nhiều quan
hệ xã hội, nhiều trật tự quản lý khác, trong đó có trật tự quản lý hành chính.Thực trạng trên đã và đang là những vấn đề bức xúc của toàn xã xã hội Chính
vì vậy, Đảng, Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương chính sách để ngăn chặn,phòng ngừa "hiểm họa" này và xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, thườngxuyên, cấp bách và lâu dài đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tích cựctham gia đấu tranh phòng, chống nhằm từng bước ngăn chặn và tiến tới đẩy
Trang 11lùi tội phạm Do vậy, yêu cầu đặt ra với công tác xây dựng pháp luật hình sự
là phải xây dựng được một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, đảm bảotính khả thi với việc quy định tội phạm và hình phạt để đủ sức trừng trị và răn
đe cũng như thực tiễn công tác xét xử, áp dụng pháp luật nhằm đáp ứng yêucầu bảo vệ pháp luật Bên cạnh đó, yêu cầu xây dựng hệ thống lý luận, pháp
lý làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật quy định về tội phạmlàm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giảcũng được đặt ra
Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật
số 37/2009/QH12 ngày 19/6/2009) đã dành một chương quy định các tội xâmphạm trật tự quản lý kinh tế - Chương XVI, trong đó có tội làm, tàng trữ, vậnchuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả được quy định tạiĐiều 180
Hà Giang là tỉnh biên giới, có vị trí chiến lược, trọng điểm về an ninh,quốc phòng, nơi tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, có đường biêngiới giáp với Trung Quốc, 7/11 huyện biên giới với 34 xã biên giới, có cửakhẩu Thanh Thủy giáp cửa khẩu quốc tế Thiên Bảo (Trung Quốc) Đây lànhững điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội nhưng cũngchính nơi đây là điều kiện thuận lợi cho bọn tội phạm hoạt động trong đó cótội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả.Trước tình hình diễn biến tội phạm này ngày càng phức tạp trên địa bàn tỉnh,những năm qua dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh
và sự nỗ lực của các ngành như Công an (CA), Viện kiểm sát (VKS), Toà án(TA) trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên đã đạt những thànhtựu nhất định Số vụ về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, côngtrái giả tuy có giảm về số lượng, nhưng phương thức và thủ đoạn phạm tộicủa bọn tội phạm ngày càng tinh vi, áp dụng khoa học công nghệ tiến tiến,gây khó khăn cho công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này
Trang 12Để nhìn nhận và đánh giá đúng thực trạng, tìm ra những giải pháp hữuhiệu khắc phục tình trạng tội phạm này xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Giang, tác
giả chọn đề tài: Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả theo luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn tại địa bàn tỉnh Hà Giang) làm luận văn thạc sĩ luật học nhằm đáp ứng yêu
cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn đang đặt ra ở tỉnh Hà Giang hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đấu tranh, phòng chống, xử lý tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
nói chung và tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,
công trái giả nói riêng đã được quy định trong BLHS và được một số nhà Luật
học đề cập một cách khái quát trong các bài giảng như: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm), của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011; Giáo trình luật Hình sự Việt Nam, tập II, của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005; Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999 (phần các tội phạm), của TS Phùng Thế Vắc,
TS Trần Văn Luyện, LS.ThS Phạm Thanh Bình, TS Nguyễn Đức Mai, ThS.Nguyễn Sĩ Đại, ThS Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001;
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần các tội phạm) của Thạc sĩ Đinh Văn Quế, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 2001; Luận án tiến sĩ: “Công tác điều tra vụ án tiền Việt Nam đồng giả - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả
Châu Nam Long, Học viện An ninh nhân dân, 2002; Đề tài khoa học cấp cơ sở:
“Nâng cao hiệu quả điều tra các vụ án làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả”, Cục An ninh điều tra, Bộ Công an, 1996; Đề tài "tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trong Bộ luật hình sự năm 1999 Nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ" của tác giả Hà Ngọc Quang, Luận văn
thạc sĩ Luật học, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạpchí Kiểm sát, tạp chí Tòa án, tạp chí Công an nhân dân, tạp chí Luật học
Tuy nhiên, các công trình, đề tài nói trên mới chỉ nghiên cứu về mặt lý
Trang 13luận, thực tiễn và đề xuất những giải pháp khoa học ở những cấp độ khácnhau nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự và nâng cao biện pháp đấutranh phòng chống tội phạm này.
Kế thừa các kết quả nghiên cứu khoa học trước, tác giả mạnh dạn tiếpcận và nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình đấu tranh,
phòng chống: Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả theo luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn tại địa bàn tỉnh Hà Giang) Tác giả mong muốn tìm ra giải pháp, đề xuất một số
kiến nghị để nâng cao chất lượng trong công tác đấu tranh phòng chống tộiphạm nhằm hạn chế mức thấp nhất về tội phạm này xảy ra trên địa bàntỉnh Hà Giang
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về tộilàm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giảdưới khía cạnh lập pháp hình sự và thực tiễn trong công tác xét xử tại địaphương, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định
về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công tráigiả trong luật hình sự Việt Nam, cũng như đề xuất những giải pháp nâng caohiệu quả trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết cácnhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận về tội làm, tàng trữ, vậnchuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả hiện nay ở Việt Nam
- Phân tích các quy định của BLHS về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưuhành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả
- Nghiên cứu tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếugiả, công trái giả ở một số nước trên thế giới
Trang 14- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đốivới tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công tráigiả ở tỉnh Hà Giang, làm sáng tỏ thực tiễn áp dụng loại tội phạm này, nêu lênnhững vướng mắc trong điều tra, truy tố, xét xử.
- Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện BLHS và giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy định của BLHS về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hànhtiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranhphòng chống tội phạm
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là những vấn đề lý luận pháp lý
và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hànhtiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả ở Việt Nam hiện nay, trực tiếp là hoạt độngđiều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Tập trung nghiên cứu tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả,ngân phiếu giả, công trái giả theo Điều 180 Chương XVI BLHS năm 1999(sửa đổi, bổ sung năm 2009)
- Đồng thời, luận văn cũng đi sâu nghiên cứu hoạt động điều tra, truy tố,xét xử tội phạm này trong vòng 5 năm từ năm 2011 đến năm 2015 trên địabàn tỉnh Hà Giang
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là các quan điểm, đường lối của Đảng Cộngsản Việt Nam về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếugiả, công trái giả theo luật hình sự Việt Nam, về đấu tranh phòng chống cácloại tội phạm, các quy định của pháp luật liên quan đến tội phạm làm, tàngtrữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả theo luật hình
sự Việt Nam Bên cạnh đó, các quan điểm, kết quả nghiên cứu lý luận và thực
tiễn về tình hình tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân
Trang 15phiếu giả, công trái giả theo luật hình sự Việt Nam và công tác đấu tranhphòng chống loại tội phạm này của các tác giả đi trước cũng là cơ sở lý luậnquan trọng của luận văn.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vậtlịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhànước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân và những quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước về đấu tranh phòngchống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả đã sử dụng các phươngpháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích
và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phươngpháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các trithức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiêncứu trong luận văn
6 Những điểm mới và đóng góp của đề tài
Qua kết quả nghiên cứu và phân tích, đánh giá tình hình tội phạm đối vớitội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả,tác giả đã chỉ ra những vướng mắc, bất cập, trong thực tiễn điều tra, truy tố,xét xử loại tội phạm này Đồng thời, đề xuất hệ thống các giải pháp có tínhkhả thi nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luậthình sự về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,công trái giả
Những kết quả đạt được của luận văn, các cơ quan chức năng tỉnh HàGiang có thể nghiên cứu vận dụng vào thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả ápdụng những quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội làm, tàng trữ, vậnchuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả Thông qua kết quảnghiên cứu và các đề xuất, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mìnhvào việc phát triển khoa học luật hình sự nói chung, hoàn thiện về tội làm, tàng
Trang 16trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả nói riêng.
Luận văn đề cập các giải pháp phòng, chống có hiệu quả tội phạm làm,tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả để các cơquan lập pháp, hành pháp, tư pháp có thể tham khảo, hoàn thiện pháp luật xâydựng kế hoạch tổ chức đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với loại tộiphạm này
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ íchdành cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán
bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viênthuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kết quảnghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thứcchuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các Cơ quan điều tra(CQĐT), VKS, TA và cơ quan Thi hành án trong quá trình giải quyết vụ ánhình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hànhtiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trong luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Các quy định về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiềngiả, ngân phiếu giả, công trái giả theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 vàthực tiễn áp dụng
Chương 3: Nhu cầu và một số giải pháp hoàn thiện các quy định về tộilàm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giảtrong Bộ luật hình sự năm 1999 và nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử
tội phạm này.
Trang 17Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và đặc điểm của tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả 1.1.1 Khái niệm tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả
Tiền là: “Vật đúc bằng kim loại hay in bằng giấy do ngân hàng pháthành, dùng làm đơn vị tiền tệ” [54, tr.950] Hiện nay chưa có khái niệm nàomang tính pháp lý về “tiền” mà chỉ có các khái niệm về “tiền tệ” Tiền đượchiểu là một bộ phận của tiền tệ Theo Mác, tiền tệ là một thứ hàng hóa đặcbiệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hóa, được dùng để đo lường và biểu hiệngiá trị của tất cả các loại hàng hóa khác Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội
và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa Theo cácnhà kinh tế học hiện đại tiền là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việcthanh toán để nhận hàng hóa, dịch vụ hoặc để trả nợ
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì tiền là mộtloại tài sản phổ biến trong giao lưu dân sự, nó thực hiện các chức năng thanhtoán thông dụng nhất và tiền chỉ do Ngân hàng Nhà nước phát hành Hiệnnay, tiền được lưu hành trên lãnh thổ Việt Nam là tiền giấy, đơn vị tính làViệt Nam đồng, được cấu tạo dưới dạng hợp chất polyme không thấm nước
và khó bị nhàu nát như tiền giấy trước đây [59, tr.24-25]
Ngân phiếu là: “Phiếu có ghi số tiền, dùng làm căn cứ nhận tiền tại ngânhàng hoặc nhận tiền gửi qua bưu điện” [54, tr.65] Đó là một dạng phiếu dùng
để thay thế tiền mặt, có in mệnh giá và thời hạn lưu hành Trên thực tế thìngân phiếu, đặc biệt là ngân phiếu nhà nước có tác dụng tích cực Nó làmgiảm khối lượng tiền mặt trong quá trình lưu thông tiền tệ, giúp đối phó vớimột số thời điểm khó khăn do hệ thống ngân hàng thiếu tiền mặt tức thời
Trang 18trong thanh toán Ở Việt Nam thì ngân phiếu được giao cho Ngân hàng nhànước Việt Nam phát hành.
Công trái là: “Hình thức nhà nước vay vốn của các tầng lớp nhân dân,người cho vay được quyền thu lại vốn và hưởng lãi theo quy định” [69] Côngtrái được Nhà nước phát hành bằng một giấy tờ gọi là phiếu công trái
“Giả” theo từ điển tiếng Việt là “không phải là thật mà là được làm ra với
vẻ bề ngoài giống như cái thật” [54,tr.369] Theo Nghị quyết số HĐTP ngày 17 tháng 4 năm 2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
02/2003/NQ-cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS thì: “Tiền giả bao gồm tiền Việt Nam đồng giả và ngoại tệ giả; ngân phiếu giả, công trái giả bao gồm ngân phiếu, công trái giả ngân phiếu, công trái của Việt Nam hoặc của nước ngoài phát hành nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam”.
Đến nay vẫn chưa có một tài liệu khoa học nào đưa ra định nghĩa thế nào
là tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả mặc dù tiền giả có một lịch sử tồn tạikhá lâu đời, ngay từ khi xuất hiện một loại tài sản làm cơ sở để giao dịchthông thương là tiền thì cũng có sự xuất hiện của tiền giả
Theo định nghĩa tại Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì “Tiền giả là
tiền được sản xuất mà không có chế tài pháp lý của nhà nước hoặc chính phủ” Tại quyết định số 130/QĐ - TTg ngày 30/6/2003 của Thủ tướng Chính
phủ về bảo vệ tiền Việt Nam thì tiền giả được hiểu là “tiền được làm giống
như tiền Việt Nam nhưng không phải do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức in, đúc, phát hành” Đối với một số nước trên thế giới, tiền giả được giải
thích cụ thể hơn, đó là: tiền giả là bất cứ vật gì không phải là tiền thật (tiềngiấy, tiền xu) mà được làm giống hay cố tình làm giống hoặc làm cho đượcchấp nhận như là một đồng tiền thật; hoặc tiền giả là tiền thật nhưng bị sửađổi bằng cách can dán, cạo sửa hoặc in lại
Định nghĩa trên cũng chưa thể hiện được tính đầy đủ về bản chất của tiềngiả theo pháp luật hình sự Việt Nam bởi ngoài tiền của Nhà nước Việt Nam
Trang 19phát hành thì còn có các đối tượng tiền giả là tiền của nước ngoài nhưng cógiá trị thanh toán tại Việt Nam.
Từ những phân tích trên đây, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về tiền
giả, ngân phiếu giả và công trái giả như sau:“Tiền giả” là vật đúc bằng kim loại hay in bằng giấy không phải do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành hoặc nước ngoài phát hành nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam;
“Ngân phiếu giả” là phiếu có ghi số tiền dùng làm căn cứ nhận tiền tại ngân hàng hoặc nhận tiền gửi qua bưu điện không phải do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành mà là được làm giả với vẻ bề ngoài giống như cái thật;
“Công trái giả” là phiếu công trái không phải do các cơ quan chức năng phát hành mà là được giả với vẻ bề ngoài giống như cái thật.
1.1.2 Đặc điểm của tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả
Tiền giả: Về mặt hình thức có thể là tiền giấy hoặc kim loại tuỳ theo loại
mà đối tượng làm giả hướng tới, có hình dáng hoa văn tương đối giống vớiloại tiền thật tương ứng, có khả năng làm cho người tiếp nhận, trao đổi nhầmlẫn với tiền thật
Về nguồn gốc tiền giả được làm ra từ những cơ sở bất hợp pháp, do đó
về bản chất nó không được phép lưu hành
Một số đặc điểm nhận biết tiền Việt Nam giả:
Trước hết, với yếu tố giấy in tiền, tờ tiền giả được in bằng giấy in thôngthường, không phải là giấy Polymer Có thể nhận biết điều này qua quan sát hoặc
xé nhẹ bằng tay ở mép tờ tiền; nếu thấy tờ tiền có các vết rách ở mép thì cần kiểmtra cẩn thận vì hiện tượng này ít xảy ra đổi với tiền in trên giấy Polymer
Trên tờ tiền giả có cắt dán các hình cửa sổ lớn và cửa sổ nhỏ bằng cáchkhoét thủng hình hai cửa sổ và dùng màng mỏng nilon trong suốt dán lên.Trong cửa sổ nhỏ không có hình bông hoa sen chìm và khi nhìn dưới ánhsáng đèn đỏ sẽ không có ánh ngũ sắc như ở tiền thật Trên cửa sổ lớn có dập
số 50.000, 100.000, 200.000 v.v những nét thô và không rõ như trên tờ tiềnthật Nhìn bằng mắt thường có thể nhận ra vết dán quanh mép hình cửa sổ
Trang 20Hình bóng chìm chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và chữ Việt Nam
(nằm dưới vị trí bóng chìm hình chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh) trong tờ
tiền giả đậm hơn nền giấy, không tinh vi và rõ nét; không sáng trắng khi soi
tờ tiền trước nguồn sáng như trên tờ tiền thật
Về màu sắc của tờ tiền giả, nhìn tổng thể có màu sắc gần giống như màucủa tờ tiền thật
Các yếu tố phát quang, tờ tiền giả không có yếu tố mực phát quang khisoi dưới ánh sáng đèn cực tím Cụ thể: mặt trước tờ tiền giả không có cụm sốghi mệnh giá, không màu phát quang dưới ánh sáng đèn cực tím; các chi tiết
màu vàng cam xung quanh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh (mặt trước) và màu vàng cam ở hình định vị (mặt sau) của tờ tiền giả không phát quang màu vàng dưới ánh sáng đèn cực tím; dòng số seri dọc màu đỏ (kiểu số đều nhau)
trên tờ tiền giả không phát quang màu da cam khi soi dưới ánh sáng đèn cực
tím; dòng số seri ngang màu đen (kiểu số từ nhỏ đến lớn) trên tờ tiền giả
không phát quang màu xanh lơ khi soi dưới ánh sáng đèn cực tím
Yếu tố in nét nổi và định vị: Mặt trước của tờ tiền giả không có yếu tố inlõm nên không có độ nổi của nét in ở các vị trí: dòng chữ Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam , chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, chữ và số mệnh giá
Có thể kiểm tra bằng cách vuốt nhẹ tay lên các yếu tố này Hình định vị trên
tờ tiền giả không khớp khít giữa hai mặt như tờ tiền thật
Để phân biệt tiền giả khi không có điều kiện kiểm tra kỹ, thì cách đơngiản nhất là: (1) xé nhẹ ở mép, nếu dễ bị rách thì có khả năng là tiền giả, nên
kiểm tra kỹ hơn; (2) soi cửa sổ nhỏ trước nguồn sáng đỏ (bóng đèn tròn, ngọn nến, que diêm cháy sáng), nếu không xuất hiện chữ Việt Nam đối xứng màu
ngũ sắc thì đó là tiền giả
Nhìn tổng thể các yếu tố giấy in, các kỹ thuật bảo an, nhất là các yếu tốnhư cửa sổ trong suốt có hình dập nổi, hình bóng chìm, chữ Việt Nam sángtrắng, các loại mực phát quang, hình ẩn nổi trên tờ tiền giả không giống hoặckhông có như trên tờ tiền thật; đặc biệt nếu quan sát kỹ 2 cửa sổ của tờ tiền thì
Trang 21có thể nhận biết loại tiền giả này dễ dàng Tuy nhiên, nếu sơ xuất do tâm lýchủ quan là chưa có tiền giả loại Polymer nên tờ tiền giả này bị trà trộn trong
số lượng lớn tiền thật, nhất là trong điều kiện trời tối thì cũng có thể bị nhầmlẫn [31, tr.12-14]
Đối với ngân phiếu giả, công trái giả có đặc điểm sau:
- Được làm giả giống có vẻ bề ngoài giống y cái thật, nhìn bằng mắtthường rất khó phân biệt với ngân phiếu thật, công trái thật rất dễ bị nhầm lẫn
- Không phải do cơ quan chức năng phát hành như: Chính Phủ, Ngân hàng
- Cũng giống như tiền giả, ngân phiếu giả, công trái được làm giả từ những
cơ sở bất hợp pháp, do đó về bản chất nó cũng không được phép lưu hành
1.2 Khái niệm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trong Luật hình sự Việt Nam và tác hại của nó đối với chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước
Tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 8, BLHS năm 1999 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009) định nghĩa như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế
độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng an ninh, trật tự toàn xã hội, quyền lợi, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.
Định nghĩa tội phạm trên đây có tính khoa học thể hiện quan điểm củaNhà nước ta về tội phạm Định nghĩa này là cơ sở khoa học thống nhất choviệc xác định những loại tội phạm cụ thể quy định trong BLHS Đồng thời là
cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn điều luật quy định cho từng tộiphạm cụ thể
Tiền giả xuất hiện từ rất lâu đời từ khi xuất hiện tiền trong lưu thông tiền
tệ Ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giành được độc lập năm
Trang 221945, song song với các vấn nạn, tệ nạn xã hội thì nạn tiền giả đã xuất hiệnnhiều và Chính phủ đã phải xây dựng chính sách hình sự về loại tội phạmnày.
Trong BLHS Việt Nam, tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả,ngân phiếu giả, công trái giả được quy định tại Điều 180 BLHS năm 1999(sửa đổi, bổ sung năm 2009) Điều đó nói lên rằng nó có hành vi nguy hiểmcho xã hội mà luật hình sự Việt Nam đã quy định là tội phạm Loại tội phạmnày xâm hại đến một trong số các khách thể mà BLHS Việt Nam bảo vệ Tộiphạm quy định về tiền giả tại Điều 180 thuộc Chương XVI các tội phạm xâmphạm trật tự quản lý kinh tế Tuy nhiên, khái niệm về làm, tàng trữ, vậnchuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả chưa có một văn bảnpháp lý nào đưa ra khái niệm về những hành vi này
Theo từ điển tiếng Việt “làm” có nghĩa là: dùng công sức tạo ra cái trước
đó không có [54, tr.518]; “Tàng trữ” có nghĩa là: cất giữ một khối lượng[54,tr.858]; “Vận chuyển” có nghĩa là: Mang chuyển đồ vật từ nơi này đếnnơi khác, bằng phương tiện hoặc bằng sức [54,tr.1067]; “Lưu hành” có nghĩalà: Đưa ra sử dụng rộng rãi từ người này, nơi này qua người khác, nơi khác
trong xã hội [54, tr.580] Theo thạc sĩ Đinh Văn Quế thì: “Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả là hành vi làm ra, cất giữ, vận chuyển, sử dụng, trao đổi, mua bán các loại tiền giả, ngân phiếu giả
và công trái giả” [38,tr.359].
Từ các khái niệm và quan điểm trên đây, có thể đưa ra một định nghĩa
khoa học về: "Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả” là hành vi làm ra, cất giữ, vận chuyển, sử dụng, trao đổi, mua bán các loại tiền giả, ngân phiếu giả và công trái giả không phải do cơ quan, Nhà nước Việt Nam phát hành hoặc nước ngoài phát hành có giá trị thanh toán tại Việt Nam”
Trang 23Hiện nay, tình hình hoạt động của tội phạm về tiền giả và các giấy tờ cógiá trị thanh toán giả khác (các loại séc, thẻ tín dụng, ngân phiếu, công trái giả) đang diễn ra hết sức phức tạp và có chiều hướng ngày càng gia tăng.Trong 5 năm, từ năm 2010 - 2014 số lượng tiền giả mà Ngân hàng Nhànước thu được là hơn 10.000 tờ các loại mệnh giá tiền với trị giá gần 15 tỷ.Trong đó, mệnh giá 200 nghìn đồng chiếm 50,36% về số lượng tờ, giá trịchiếm 66% Số liệu thống kê mới nhất trong năm 2014 của Ngân hàng Nhànước, mệnh giá 200 nghìn đồng làm giả chiếm 61% [66].
Tiền giả trong thực tế đã có một quá khứ tồn tại khá lâu đời Nhiều
người nói: “Tiền là căn nguyên của mọi tội ác” và tất nhiên là tiền giả không
nằm ngoài điều ám chỉ ấy Càng ngày thì bọn tội phạm càng biết áp dụngnhững công nghệ hiện đại để làm ra tiền giả khiến cho Chính phủ các nướcphải vất vả ngăn chặn Tiền giả làm giảm sút kinh tế, gây rối loạn thị trường
và rất nhiều thiệt hại khác không thể kể hết Chính vì thế, tội phạm tiền giảthường bị xử rất nặng khi bị bắt quả tang đang lưu hành, lưu trữ và buôn bántiền giả trên thị trường
Ở nước ta, song song với việc làm giả tiền Việt Nam đồng, thì các loạingoại tệ, séc, thẻ tín dụng giả xuất hiện ngày càng nhiều Thực tế cho thấy,tiền Việt Nam đồng giả được in chủ yếu ở nước ngoài Tiền được làm giả chủyếu theo phương pháp thủ công như vẽ, khắc và in lưới Chúng tách đôi tờtiền thật rồi dán từng mặt vào một tờ giấy khác Tờ giấy này được phun màuđiện tử giống y chang tiền thật Cách làm giả này chủ yếu được các đối tượngtrong nước sử dụng Còn các tổ chức làm bạc giả ở nước ngoài lại “ưa thích”phương pháp in offset hoặc photo màu Sản phẩm được tạo ra từ cách làm này
có độ tinh xảo rất cao, mắt thường khó phát hiện được đâu là tiền giả Đặcbiệt với loại mệnh giá 100.000 đồng, chúng đã vô hiệu hóa tác dụng của máykiểm tra tiền
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thì số lượng tiền giảngày một tăng, mỗi năm ngân hàng thu vào hàng chục tỷ tiền Việt Nam đồng
Trang 24giả, chủ yếu là các loại có mệnh giá cao Đây là số tiền giả do các ngân hàng,kho bạc phát hiện và thu giữ Tuy nhiên, theo các chuyên gia, thì trên thực tế,
số lượng tiền giả đang lưu hành trên thị trường còn lớn hơn rất nhiều Ngoài 2loại tiền giả phổ biến có mệnh giá 50.000 đồng và 100.000 đồng, các đối
tượng buôn bán tiền giả đang “đầu tư” vào loại 20.000 đồng.
Tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,công trái giả (sau đây gọi tắt là “tội phạm về tiền giả”) là loại tội phạm xâmphạm trật tự quản lý kinh tế, tính chất mức độ của nó gây ra không những ảnhhưởng đến chính sách tiền tệ của Nhà nước ta, trực tiếp phá hoại nền kinh tếcủa đất nước mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhândân Thời gian qua, do có lợi nhuận cao, dễ thực hiện nên loại tội phạm nàykhông ngừng gia tăng với thủ đoạn ngày càng tinh vi, đa dạng hơn gây không
ít khó khăn cho công tác phòng chống tội phạm này Tội phạm về tiền giảkhông chỉ xảy ra ở khu vực thành phố, thị xã, mà bọn tội phạm còn lợi dụngcác địa bàn như vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, các chợ buôn bántiền ở vùng biên giới để thực hiện tội phạm Đặc biệt, bọn tội phạm đã lợidụng một số người không có công việc làm, những người nghèo, người già,trẻ em tham gia vào hoạt động phạm tội để kiếm sống làm cho tình hình tộiphạm về tiền giả diễn biến ngày càng phức tạp Trong khi đó, quan hệ phốihợp phòng, chống tội phạm về tiền giả giữa các quốc gia còn nhiều hạn chế,bất cập, cho nên cuộc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này sẽ gặp nhiềukhó khăn [57]
Càng ngày thì bọn tội phạm càng biết áp dụng những công nghệ hiện đại
để làm ra tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (tội phạm về tiền giả) khiếncho Chính phủ phải vất vả ngăn chặn Hậu quả của việc đưa tiền giả lưu thôngngoài thị trường làm cho nền kinh tế bị lũng đoạn, số lượng tiền giả lưu thôngtrôi nổi nằm ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước, tạo ra số lượng ảo về giá trịđồng tiền, gây tâm lý hoang mang cho người dân khi đang sử dụng và tích luỹvốn bằng tiền Việt Nam; tiền giả ảnh hưởng đến nền an ninh tài chính, tiền tệ
Trang 25quốc gia, gây mất ổn định chính trị, gây thiệt hại trực tiếp cho chủ sở hữu Nólàm băng hoại đạo đức xã hội vì lợi nhuận của tiền giả mang lại mà kẻ buôn
đã quan tâm đặc biệt đến việc xây dựng và áp dụng pháp luật để bảo vệ Tổquốc Do chưa thể có ngay các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ
xã hội ở đất nước mới được giải phóng, Chính phủ nước Việt Nam dân chủcộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 47 ngày 10 tháng 10 năm 1945 về việc tạmthời sử dụng luật lệ cũ với điều kiện không được trái với nguyên tắc độc lậpcủa nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa Sắc lệnh này là biện pháphết sức kịp thời nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những xáo trộn trong cuộcsống của nhân dân, đồng thời đảm bảo duy trì trật tự xã hội, không phương hạiđến nền độc lập và nền dân chủ cộng hòa của đất nước mới giành được chínhquyền Do hoàn cảnh chiến tranh và sự thiếu kinh nghiệm xây dựng pháp luật,trong suốt một thời gian dài, để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong xã hội,các chế tài hình sự ở giai đoạn này, là một tập hợp các văn bản đơn hành vớinhiều hình thức tên gọi như sắc lệnh, thông tư, điều lệ mà chưa thể cho rađời một chính sách Luật hình sự được pháp điển hoá
Ngay khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, tiền đồng cũngchính thức được in và lưu thông để khẳng định chủ quyền của đất nước tự do
Để có thể quản lý được nền kinh tế trong tình hình chính quyền còn nontrẻ, ngày 20/12/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh số 180/SL – “sắclệnh ấn định những hình phạt đối với những hành vi phá hoại nền tài chính
Trang 26quốc gia, làm thiệt hại đến giá trị hay khó dễ cho sự lưu hành giấy bạc Việt
Nam” Theo điều 1 sắc lệnh đã quy định: “ Những người đầu cơ tiền tệ, làm giấy bạc giả, lưu hành giấy bạc giả, tàng trữ hay lưu hành những giấy bạc của địch hay đã có lệnh cấm, hoặc có những hành động có tính cách phá hoại nền tài chính quốc gia sẽ bị truy tố trước Toà án quân sự”.
Như vậy, mặc dù đất nước mới được tái thiết, các quy định về hình sựnhằm trấn áp tội phạm còn rất hạn chế nhưng Chính phủ đã quan tâm đặc biệthành vi làm, tàng trữ và lưu hành tiền giả Việc quy định hành vi làm, tàngtrữ, lưu hành giấy bạc giả đã đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm vềtiền giả Qua đó thể hiện được tính chất nguy hiểm cho xã hội của loại tộiphạm này và thái độ của Nhà nước đối với loại tội phạm này là rất nghiêmkhắc Có thể nói đây chính là những quy định đầu tiên của Nhà nước ta về tộilàm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả Trong quy định này, các nhà làmluật chưa xây dựng định mức trách nhiệm hình sự Tuy vậy, việc ban hànhvăn bản này là cần thiết và kịp thời trong hoàn cảnh đất nước ta lúc bấy giờ.Thời kỳ 1954 -1975, đất nước ta liên tục có chiến tranh, cả nước tậptrung toàn bộ sinh lực vào cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước, các văn bản phápluật mang tính hình sự ra đời cũng chỉ tập trung vào quy định các tội có liênquan đến cuộc chiến như: tội phản cách mạng, tội xâm phạm tài sản xã hộichủ nghĩa; các tội về kinh tế như tội đầu cơ, buôn bán hàng cấm có ảnhhưởng nhiều tới cuộc chiến tranh Nhằm ổn định thị trường, thắt chặt sự quản
lý của Nhà nước đối với nền kinh tế, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoàMiền nam Việt Nam ban hành Sắc luật số 03.SL ngày 15/3/1976 quy định vềtội phạm và hình phạt Tại Điều 6 - Tội kinh tế của sắc luật này đã quy định:
“Tội kinh tế là tội gây thiệt hại về tài chính cho Nhà nước, cho Hợp tác xã hoặc cho tập thể nhân dân, gây trở ngại cho việc khôi phục và phát triển sản xuất, cho việc ổn định đời sống nhân dân, gồm các tội: Làm bạc giả, hoặc tiêu thụ bạc giả;….
Trang 27Thời kỳ này cũng xuất hiện nhiều tổ chức chuyên in tiền giả nên trên tờ
bạc 200 còn ghi dòng chữ răn đe "Hình phạt khổ sai những kẻ nào giả mạo giấy bạc do ngân hàng quốc gia Việt Nam phát hành ra" Tuy nhiên các chế
định về hình sự để xử lý về loại tội phạm này còn rất hạn chế Do hoàn cảnhlịch sử mà những sắc lệnh này vẫn được áp dụng trong cả nước cho đến khi
phạm an ninh quốc gia với nội dung: Người nào làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả, séc giả, phiếu công trái giả hoặc phá huỷ tiền tệ thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì
bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mười năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Trong hơn mười năm có hiệu lực, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi, bổsung bốn lần vào các ngày 28/12/1989, ngày 12/08/1991, ngày 22/12/1992 và
Trang 28ngày 10/05/1997 Trong mỗi lần sửa đổi, bổ sung thì BLHS đều có nhữngthay đổi liên quan trực tiếp đến tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả,tội phá hủy tiền tệ được quy định ở Điều 98 BLHS năm 1985 Trong lần sửađổi thứ nhất vào ngày 28/12/1989, do Đất nước mới chuyển hướng nền kinh
tế theo con đường kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên hướngsửa đổi chủ yếu tập trung vào các tội có tính chất nghiêm trọng và đặc biệtnghiêm trọng có ảnh hưởng lớn đến vận mệnh quốc gia như tội đầu cơ, tộitrốn thuế, tội buôn lậu, tội phạm về chức vụ… Đối với quy định về tội làmtiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ thì cả bốn lần sửađổi, bổ sung đều không có sự thay đổi về điều luật mà chỉ có sự thay đổi vềhình phạt bổ sung đối với loại tội này Cụ thể lần sửa đổi, bổ sung năm 1991
quy định “Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều 88, 95, 96
và 99, thì có thể bị phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng (300.000 đồng) đến ba triệu đồng (3.000.000 đồng)”; lần sửa đổi, bổ sung năm 1992 quy định
“Người nào phạm một trong các tội quy định ở các điều 88, 95, 96, 98 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng (300.000 đồng) đến ba triệu đồng (3.000.000 đồng)”; lần sửa đổi, bổ sung năm 1997 quy định “2 Công dân Việt Nam phạm một trong các tội thuộc Mục A hoặc một trong các tội quy định tại Điều 87, Điều 88, các Điều từ Điều 94 đến Điều 99, thì bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm 3- Người nào phạm một trong các tội quy định tại Điều 88, 95, 96, 98 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ
ba trăm nghìn đồng đến ba triệu đồng; phạm tội quy định tại Điều 97, thì bị phạt tiền đến mười lần trị giá hàng phạm pháp 4- Người nào phạm một trong các tội thuộc Mục A, thì bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; phạm một trong các tội quy định tại Điều 88, các điều từ Điều 94 đến Điều 98, thì có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản"
Như vậy, qua các lần sửa đổi, bổ sung thì người có hành vi phạm tội làmtiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ ngoài việc phải chấphành các hình phạt chính được quy định tại Điều 98 thì họ còn phải chịu hình
Trang 29phạt bổ sung là phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng đến ba triệu đồng hoặc có thểtịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản Những quy định mới này làm cho Bộluật hình sự ngày càng hoàn thiện hơn và thể hiện rõ được mục đích của việc
áp dụng chế tài pháp luật về kinh tế là nhằm thu hồi lại tiền hoặc tài sản màngười phạm tội đã gây ra cho Nhà nước Tuy nhiên trong quá trình áp dụngPháp luật, việc xử lý các hành vi đối với loại tội này đã có những hạn chế nhấtđịnh, cụ thể:
Thứ nhất, khách thể của tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội
phá hủy tiền tệ là chế độ quản lý nhà nước về sản xuất, lưu thông tiền tệ Chế
độ quản lý nhà nước về việc phát hành, tàng trữ, lưu thông, thu hồi và thay thếtiền tệ là bộ phận của chế độ quản lý nhà nước về kinh tế Như vậy, khách thểloại của tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ là trật
tự quản lý kinh tế chứ không phải là an ninh quốc gia Do vậy, việc quy địnhĐiều 98 về tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ tạichương các tội xâm phạm an ninh quốc gia là không phù hợp
Thứ hai, đối tượng của tội phạm được quy định ở tên tội danh chỉ là tiền
gồm: tiền giả và tiền thật, nhưng đối tượng của tội phạm được liệt kê ở nộidung của điều luật lại bao gồm cả séc giả, phiếu công trái giả Như vậy, ở đâythiếu đi sự thống nhất giữa tên tội danh và nội dung của điều luật
Thứ ba, hành vi phá hủy tiền tệ là hành vi tự gây thiệt hại cho người có
hành vi phá hủy Do vậy, việc Bộ luật hình sự năm 1985 quy định hành vi tựgây thiệt hại cho bản thân mà không gây thiệt hại cho xã hội là tội phạm làkhông cần thiết Bởi vì nếu phá hủy tiền tệ của người khác thì đã bị xử lýtheo quy định tại Điều 138 hoặc Điều 160 Bộ luật hình sự năm 1985 về tộihủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản của côngdân Nếu chiếm đoạt trái phép tiền của người khác rồi mới có hành vi phá hủytiền tệ thì bị xử lý về tội chiếm đoạt tương ứng (tham ô, trộm cắp tài sản,cướp tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, hoặc tuỳ hành vi có thể bị xử lý
về tội cố ý huỷ hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản…) Tiền cũng là
Trang 30một loại tài sản trong giao lưu dân sự Vì vậy, trong phạm vi quyền của chủ
sở hữu đối với một số tiền nhất định thuộc quyền sở hữu của mình thì hành viphá hủy tiền tệ cũng chỉ phản ánh tính chất quyền định đoạt của chủ sở hữuvới tài sản của mình mà thôi Cho nên, nếu phá hủy tiền của mình (thuộcquyền sở hữu của mình) thì không thể là tội phạm
Thứ tư, BLHS 1985 và các văn bản hướng dẫn chưa phân loại và có
những chế tài khác nhau về hành vi làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiềngiả, tội phá huỷ tiền tệ Như vậy, một đối tượng làm, tàng trữ, lưu hành một
số lượng tiền giả rất nhỏ cũng có thể bị xử lý và chịu một chế tài hình sự rấtnặng Mặc dù ngày 06/5/1991, Toà án nhân dân tối cao đã có công văn số 40-NCPL hướng dẫn xét xử tội làm tiền giả Theo hướng dẫn thì các trường hợp
bị coi là: “Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng” theo khoản 2
Điều 98 BLHS 1988 là: “Làm tiền giả bằng phương pháp công nghệ (in máy); Làm tiền giả với số lượng từ một triệu trở lên; phạm tội có tổ chức, có màng lưới làm tiền giả, lưu hành tiền giả ở nhiều địa phương khác nhau”.
Tuy nhiên, quy định trên chưa có sự mở rộng, mới chỉ có hướng dẫn cụ thểđối với trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng [39, tr.22]
1.3.3 Giai đoạn từ 1999 đến nay
Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, BLHS năm
1985 tuy về cơ bản, những chế định, nguyên tắc thể hiện chính sách hình sựcủa Đảng và Nhà nước ta vẫn giữ được giá trị, thì cũng đã bộc lộ một số mặthạn chế, khó đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của cuộc đấu tranh chống vàphòng ngừa các hành vi phạm tội trong tình hình mới BLHS năm 1999 đượcQuốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 và cóhiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2000 là công cụ sắc bén của Nhà nước, củanhân dân, đã phát huy vai trò, tác dụng to lớn trong công cuộc bảo vệ nhữngthành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninhquốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của côngdân, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, góp phần tích cực vào sự
Trang 31nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xãhội chủ nghĩa.
Kể từ năm 2000 đến nay, BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xãhội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng, chống tộiphạm, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệvững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
So với BLHS năm 1985 thì BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm2009) có rất nhiều quy định mới về tội phạm và hình phạt Các tội xâm phạmtrật tự quản lý kinh tế liên quan đến an ninh quốc gia trước đây đã được quyđịnh tại Chương I (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) thì nay quy định tạiChương XVI (các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế) Việc thay đổi tênchương không đơn thuần chỉ là sự thay đổi về tên gọi, mà nó có ý nghĩa quantrọng về nội dung và bản chất của các tội phạm trong chương này Tội làmtiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ, trước đây được quyđịnh tại Điều 98 BLHS năm 1985, thì nay được tách thành hai tội khác nhau,quy định tại Điều 180 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngânphiếu giả, công trái giả) và Điều 181 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hànhséc giả, các giấy tờ có giá giả khác)
Điều 180 BLHS 1999 quy định: “1 Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm 2 Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm 3 Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình” [42] Tuy nhiên, để phù hợp với tình hình mới, đến năm 2009
Quốc hội sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1999 bỏ hình phạt tử hình đối với tộilàm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả.Đối với hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếugiả, công trái giả nguy hiểm hơn hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành
Trang 32séc giả, các giấy tờ có giá giả khác nên nhà làm Luật đã quy định hai hành vinày thành hai tội khác nhau và có khung hình phạt khác nhau Tại Điều 180BLHS 1999 đã có sửa đổi về hành vi phá huỷ tiền tệ Theo Điều 180 BLHShiện hành thì hành vi phá huỷ tiền tệ không bị coi là hành vi phạm tội Nếuphá huỷ tiền tệ của người khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự vềtội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 143 BLHS Tuynhiên, trên thực tế thi hành BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) đã bộc
lộ nhiều bất cập, hạn chế, đòi hỏi phải sớm khắc phục, cụ thể như sau:
Thứ nhất, do được ban hành từ năm 1999, nên BLHS hiện hành không
thể cập nhật và thể chế hoá được những quan điểm, chủ trương mới của Đảng
về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm
2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đóđáng chú ý là chủ trương: “Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ
áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Quy định là tộiphạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quátrình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế”
Thứ hai, quy định của BLHS hiện hành về các yếu tố cấu thành của một
số tội phạm (như: các tội phạm về môi trường, các tội phạm trong lĩnh vựccông nghệ thông tin) còn quá bất cập, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố,xét xử tội phạm trên thực tế
Thứ ba, một số quy định của BLHS hiện hành tỏ ra không còn phù hợp
với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay cũng như chưa đáp ứng đượcyêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện mới, nhất là các quyđịnh về mức định lượng tối thiểu về giá trị tài sản hoặc giá trị thiệt hại để truycứu trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tài sản và một số tội phạmkhác có liên quan đến tài sản,
Trang 33Thứ tư, BLHS hiện hành chưa cập nhật được những hành vi nguy hiểm
cho xã hội đòi hỏi phải xử lý về mặt hình sự mới xuất hiện trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập kinh tế quốc tế,nhất là trong một số lĩnh vực như: công nghệ thông tin, chứng khoán, tàichính - kế toán, sở hữu trí tuệ, v.v
Thứ năm, do được ban hành từ năm 1999 trong bối cảnh nước ta chưa
hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, nhiều điều ước quốc tế chúng ta chưa
có điều kiện gia nhập nên BLHS chưa phản ánh được những đặc điểm và yêucầu đấu tranh chống tội phạm trong điều kiện hội nhập quốc tế, nhất là các tộiphạm mang tính quốc tế như: khủng bố, buôn bán người, rửa tiền, tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia; chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việcthực hiện các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết trong các điều ước quốc tế vềphòng, chống tội phạm cũng như việc thực hiện tương trợ tư pháp về hình sựgiữa nước ta với các nước
Từ những lý do nêu trên, việc sửa đổi, bổ sung BLHS là một đòi hỏikhách quan và cấp thiết trong điều kiện phát triển về kinh tế và xã hội hiện naycủa nước ta nhằm góp phần khắc phục một bước những bất cập, hạn chế nóitrên, đáp ứng yêu cầu bức xúc của thực tiễn và bảo đảm hiệu quả của cuộc đấutranh phòng, chống tội phạm, đồng thời, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Thể chế hoá một bước chủ trương “Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế” được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02 tháng
01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháptrong thời gian tới và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Trang 34- Tập trung sửa đổi, bổ sung một số vấn đề thật sự cấp bách nhất nhằmgóp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn đấu tranhphòng, chống tội phạm hiện nay và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
- Việc sửa đổi, bổ sung BLHS phải được tiến hành trên cơ sở tổng kết thựctiễn thi hành Bộ luật hình sự và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm lập pháphình sự của các nước trong khu vực và trên thế giới; bảo đảm tính đồng bộ của
hệ thống pháp luật, bảo đảm sự nhất quán với các luật có liên quan; phải tuân thủcác nguyên tắc của Luật hình sự và bảo đảm sự tương thích, hài hòa với các điềuước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Tuy nhiên, trên thực tế trong những năm qua khi áp dụng các quy địnhcủa BLHS để xử lý các hành vi phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hànhtiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả vẫn còn có những vướng mắc như: Chếtài hình sự chưa có sự đa dạng hoá hình phạt, mức hình phạt bổ sung là hìnhphạt tiền đã trở nên bất hợp lý do các quy định cũ đã được ban hành từ lâu,không còn phù hợp với tình hình kinh tế hiện tại của đất nước Mức hình phạt
như vậy chưa đủ sức răn đe tội phạm Có nhiều quan điểm cho rằng “Thứ nhất, tội phạm kinh tế chủ yếu xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, do đó phải cân nhắc cả yếu tố hiệu quả về kinh tế lẫn yếu tố xã hội khi
áp dụng hình phạt; Thứ hai, đường lối xử lý đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế phải được xác định trên cơ sở coi trọng cả mục đích trừng trị
và mục đích giáo dục, phòng ngừa tội phạm Vì vậy, hình phạt phải xuất phát
từ tính chất kinh tế của nhóm tội phạm này Việc quy định hình phạt tiền là hình phạt chính trong chương này không những là việc làm đúng đắn, khoa học và có thể mang lại hiệu quả cao trong xử lý các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà còn là biện pháp tác động tốt về tâm lí trong quá trình cải tạo, giáo dục người phạm tội…”.
Tóm lại, tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,công trái giả đã trải qua nhiều giai đoạn hình thành và phát triển khác nhau Ởmỗi thời kỳ khác nhau, những quy định về tội phạm này cũng được thay đổi
Trang 35ngày càng hoàn thiện hơn để đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới Đặcbiệt sự đa dạng hoá hình phạt cần được chú trọng nhằm đảm bảo xử lýnghiêm hành vi phạm tội nhưng cũng xem xét đầy đủ đến những nguyên nhânkhách quan giúp cho việc trừng trị kết hợp với giáo dục, cải tạo người phạmtội đạt kết quả cao nhất [39].
1.4 Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trong luật hình sự một số nước
1.4.1 Pháp luật hình sự Cộng hòa liên bang Đức
Tội làm tiền giả quy định tại Điều 146 BLHS Cộng hòa liên bang Đức
Điều 146 quy định:
(1) Bị xử phạt với hình phạt tự do không dưới một năm, người nào
1 làm tiền giả với chủ định nó được đưa vào lưu thông như tiền thật hoặc việc đưa vào lưu thông như vậy được tạo điều kiện, hoặc làm sai lệnh tiền với chủ định tạo ra hình thức của một mệnh giá cao hơn
2 kiếm cho mình tiền giả với chủ định này hoặc tàng trữ để bán hoặc
3 đưa vào lưu thông tiền giả như tiền thật mà tiền giả đó đã được làm giả, làm sai lệch hoặc được kiếm theo các điều kiện của 1 hoặc 2.
(2) Nếu người thực hiện tội phạm thực hiện có tính chất chuyên nghiệp hoặc thực hiện với tư cách là một thành viên của một băng nhóm đã liên kết
để thực hiện liên tiếp tội làm tiền giả thì bị xử phạt tự do không dưới hai năm (3) Trong những trường hợp ít nghiêm trọng của khoản 1 thì quyết định hình phạt tự do từ ba tháng đến năm năm, trong trường hợp ít nghiêm trọng của khoản 2 thì quyết định hình phạt tự do từ một năm đến mười năm.
Điều 147: Tội đưa tiền giả vào lưu thông
(1) Người nào đưa tiền giả vào lưu thông như tiền thật mà không thuộc các trường hợp của Điều 146 thì bị xử phạt với hình phạt tự do đến năm năm hoặc với hình phạt tiền.
(2) Phạm tội chưa đạt bị xử phạt.
Trang 36Như vậy, so với pháp luật hình sự Việt Nam về cấu trúc điều luật là khác
nhau Nếu như ở BLHS năm 1999 Việt Nam hành vi: " Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả" quy định tại một
điều luật còn đối BLHS cộng hòa Liên bang Đức người phạm tội thực hiện ở
các hành vi sau: "Làm tiền giả, tàng trữ tiền giả, kiếm cho mình tiền giả, đưa tiền giả vào lưu thông" được quy định ở hai điều luật riêng biệt khác
nhau tại Điều 146, Điều 147 BLHS Cộng hòa Liên bang Đức
Về chế tài hình sự: đối với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền
giả, ngân phiếu giả, công trái giả ở BLHS Việt Nam năm 1999 quy định bakhung hình phạt đối với người phạm tội Mức thấp nhất của khung hình phạt
là ba năm tù, cao nhất là tử hình (đã bỏ hình phạt tử hình khi sửa đổi, bổ sung năm 2009) Ngoài ra còn quy định hình phạt bổ sung cụ thể là: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản" Về chế tài hình sự được hướng dẫn của thể
tại điểm 3.2 mục 3 phần I Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩmphán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS,
về việc xác định trị giá tiền giả để buộc người lưu hành tiền giả phải chịutrách nhiệm hình sự theo Điều 180 BLHS
Đối với pháp luật hình sự Đức: do cấu trúc điều luật quy định về tiền giả
ở hai tội danh khác nhau nên Điều 146: Tội làm tiền giả có ba khung khácnhau với mức hình phạt thấp nhất bị xử phạt tự do không dưới một năm,khung cao nhất, phạt tự do đến mười năm với ba hành vi:
1 làm tiền giả
2 kiếm cho mình tiền giả
3 đưa vào lưu thông tiền giả [49, tr 267]
Đối với tội đưa tiền giả vào lưu thông chỉ quy định với một khung hìnhphạt với hai hình thức là: hình phạt tự do và hình phạt tiền Phạt tự do quyđịnh mức cao nhất đến năm năm, điều luật không quy định mức hình phạtthấp nhất về hình phạt tước quyền tự do
Trang 37Như vậy, so với pháp luật HS Việt Nam, chế tài hình sự của Đức ítnghiêm khắc hơn, khoan hồng với người phạm tội, người phạm tội không bịhình phạt tù mà chỉ là hình phạt tước quyền tự do (quyền tự do đi lại, quyền
bầu cử, ứng cử ) Nếu như cùng một hành vi " làm tiền giả" ở pháp luật hình sự
Việt Nam hiện hành có thể phải chịu mức cao nhất của khung hình phạt tù là:chung thân; còn ở pháp luật hình sự Đức người phạm tội chỉ phải chịu mứccao nhất: hình phạt tự do đến mười năm Bên cạnh đó, ở luật hình sự ViệtNam ngoài chế tài hình phạt chính là hình phạt tù, người phạm tội có thể chịuhình phạt bổ sung là hình phạt tiền, tịch thu toàn bộ tài sản còn ở pháp luậthình sự Đức lại quy định hình phạt tiền là hình phạt chính không quy định làhình phạt bổ sung là hình phạt tiền
Ở pháp luật hình sự Đức không quy định tội: "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành ngân phiếu giả, công trái giả"
1.4.2 Pháp luật hình sự Liêng bang Nga
Ở BLHS Liên bang Nga: "Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hay tiêu thụ tiền giả hoặc các giấy tờ có giá trị" quy định tại Điều 186 với ba khoản
khác nhau cụ thể:
1 Sản xuất nhằm mục đích tiêu thụ các giấy tờ có giá giả của Ngân hàng trung ương Liên bang Nga, kể cả tiền giấy và tiền kim loại hoặc những giấy tờ giả có giá trị ngoại tệ, cũng như tàng trữ, vận chuyển nhằm mục đích tiêu thụ và tiêu thụ tiền các mệnh giá khác nhau của Ngân hàng trung ương Liên bang Nga bao gồm cả tiền kim loại và tiền giấy, hoặc những giấy tờ giả
có giá trị chuyển đổi của Ngân hàng trung ương Liên bang Nga hay ngoại tệ hoặc các giấy tờ giả có giá trị ngoại tệ thì bị phạt tù từ năm năm đến tám năm có hoặc không kèm theo phạt tiền đến một triệu rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến năm năm.
2 Cũng những hành vi trên nhưng được thực hiện với số lượng lớn thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm kèm theo hoặc không kèm theo phạt
Trang 38tiền đến một triệu rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến năm năm hoặc hạn chế tự đến một năm.
3 Cũng những hành vi đã nêu tại khoản 1 hoặc khoản 2 của điều này nhưng do nhóm có tổ chức thực hiện thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm có hoặc không kèm theo phạt tiền đến một triệu rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến năm năm có hoặc không hạn chế tự do đến hai năm.
Như vậy, so với pháp luật hình sự Việt Nam về cấu trúc điều luật củapháp luật hình sự Liên bang Nga có tính chất gần tương đồng với pháp luậthình sự Việt Nam cụ thể: Ở BLHS Việt Nam tội phạm tác động đến đối tượng
của chúng bằng các hành vi được quy định cụ thể trong Điều 180 gồm: " Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả" Đối
pháp luật hình hình sự Liên bang Nga người phạm thực hiện ở các hành vi
sau: " Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hay tiêu thụ tiền giả hoặc các giấy tờ giả có giá trị" được quy định tại Điều 186.
Về chế tài hình sự: Pháp luật hình sự Nga quy định chế tài hình sự tương
đối nghiêm khắc nếu như với mức thấp nhất của khung hình phạt là năm năm
(cao hơn mức thấp nhất ở Việt Nam); mức cao nhất là mười lăm năm tù (thấp hơn mức cao nhất ở Việt Nam).
Về hình phạt bổ sung: nếu như ở pháp luật hình sự Việt Nam quy định ở
một khoản của điều luật (khoản 4 Điều 180) và quy định phạt tiền từ mườitriệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.Với quy định như vậy, khi áp dụng pháp luật người tiến hành tố tụng phải căn
cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, nhân thân, hoàn cảnh phạm tội để ápdụng hình phạt bổ sung hay không và áp dụng số tiền là bao nhiêu Còn ởpháp luật hình sự Liên bang Nga quy định hình phạt bổ sung ở từng khoảncủa điều luật, ngoài hình phạt tiền, hình phạt bổ sung còn quy định thêm vềhạn chế quyền tự do cụ thể như sau:
Trang 39"1 có hoặc không có kèm theo hình phạt tiền đến một triệu rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến năm năm
2 có hoặc không có kèm theo hình phạt tiền đến một triệu rúp hoặc
bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến năm năm và hạn chế tự do đến một năm
3 có hoặc không có kèm theo hình phạt tiền đến một triệu rúp hoặc
bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến năm năm có hoặc không hạn chế tự do đến hai năm "
Từ những quy định nêu trên của pháp luật hình sự Nga cho thấy ở Liênbang Nga về hình phạt bổ sung quy định rất rõ ràng đối với người phạm tội bịkết án mức cao nhất là năm năm tù mới chịu hình phạt bổ sung còn trên nămnăm không phải chịu, quy định rõ ràng số tiền trong ba khung hình phạt lànhư nhau một triệu rúp Tuy nhiên, hình phạt bổ sung càng nghiêm khắc hơntheo từng khung của điều luật nếu như ở khoản 1 Điều 186, người phạm tộichỉ bị phạt tiền hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác, còn ở khoản 2 điềuluật nếu áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền thì bắt buộc áp dụngthêm hình phạt bổ sung khác nữa là hình phạt hạn chế tự do đến một năm vì
được nối bởi liên từ " và" Khoản 3 điều luật người phạm tội có thể bị phạt tiền
hoặc có hoặc không hạn chế quyền tự do đến hai năm
Từ những phân tích trên cho thấy pháp luật hình sự Liên bang Nga vềchế tài hình sự rất nghiêm khắc đối với người phạm tội về tiền giả, thậm chínhiều quy định nghiêm khắc hơn so với pháp luật hình sự Việt Nam và phápluật Cộng hòa Liên bang Đức
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Pháp luật hình sự về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngânphiếu giả, công trái giả được hình thành trong thời gian khá dài và cơ quan lậppháp trong thời kỳ này đã căn cứ vào mặt khách quan của tội phạm được thểhiện ở các hành vi làm giả, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếugiả, công trái giả để định tội danh và áp dụng hình phạt một cách chính xác
Từ nhiều quy định pháp luật về các hành vi phạm tội cụ thể của Luậthình sự trong từng thời kỳ đến quy định về tội làm giả, tàng trữ, vận chuyển,lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trong BLHS năm 1999 hiệnnay là cả một quá trình lâu dài, thể hiện chính sách pháp luật hình sự của Nhànước trong cuộc đấu tranh phòng chống tội này
Luận văn đã nêu được khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam quyđịnh về tội làm giả, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,công trái giả giai đoạn từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi banhành BLHS năm 1985; giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1985 đến trướckhi ban hành BLHS năm 1999; giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1999đến nay
Để làm rõ được khái niệm về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả, luận văn đã nêu được khái niệm, đặc điểm của tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả để từ đó có thể định tội danh
được chính xác tương ứng với từng hành vi phạm tội xảy ra trong thực tiễn
Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu một số quy định về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả của một
số nước trên thế giới để so sánh về tội danh, hình phạt áp dụng với các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm tiền giả Thông qua đó, cho thấy chính sách hình sự của mỗi quốc gia.