1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học chuyên ngành may tại trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp i trong giai đoạn hiện nay

12 214 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 290,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM ĐỖ THỊ TUYẾT LAN NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH MAY TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP I TRONG GIAI ĐOẠN HIỆ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

ĐỖ THỊ TUYẾT LAN

NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHUYÊN NGÀNH MAY TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG

NGHIỆP I TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành : QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số : 60.14.05

Người hướng dẫn khoa học : PGS TS Đặng Xuân Hải

HÀ NỘI - 2007

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài :

Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước ta hết sức chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực con người, coi đó là yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh

và bền vững Chỉ thị 40/CT - TW của Ban Bí thư, Ban chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ " Phát triển giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng "

Tuy nhiên, trong thời gian qua, chất luợng giáo dục và đào tạo nhìn chung còn thấp, còn nhiều yếu kém bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực trong công cuộc đổi mới đất nước và chủ động hội nhầp kinh tế quốc tế Nghị quyết số 37/ 2004 QH10 của Quốc hội chuyên về giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ " chất lượng giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, hiệu quả giáo dục còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước "

Trong đó ngành dệt may là ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động nhất và có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tính đến năm 2005 toàn ngành có 2,5 triệu lao động và đến năm 2010 sẽ lên tới 4 đến 5 triệu lao động Đây cũng là ngành công nghiệp mang lại kim ngạch xuất khẩu cao nhất Năm 2005 đạt xấp xỉ 4tỷ USD và năm 2010 sẽ là 8 đến 9 tỷ USD Bên cạnh

đó thị trường ASEAN năm 2006 đã xoá bỏ hàng rào thuế quan nhập khẩu, thị trường EU năm 2004 bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho các nước tham gia WTO, thị trường Mỹ sẽ ấn định hạn ngạch dệt may trong thời gian ngắn nhất đòi hỏi ngành phải tăng tốc phát triển đột biến, nếu không ngành dệt may Việt Nam sẽ tụt hậu so với các nước trên thế giới

Vì vậy để thực hiện chiến lược " tăng tốc " thì việc phát triển nguồn

nhân lực là vấn đề được quan tâm hàng đầu Giáo dục và nhà trường có trách nhiệm cung cấp cho xã hội lớp người có năng lực sáng tạo và thành thục tay nghề kỹ thuật Mặt khác cùng với sự phát triển xã hội, khoa học kỹ thuật đã xâm nhập vào quá trình sản xuất, trở thành nhân tố quan trọng của quá trình sản xuất Trong những năm gần đây giáo dục và đào tạo cũng quan tâm và chú trọng nhiều đến giáo dục nghề nghiệp, mở rộng qui mô đào tạo như Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật lành nghề Số lượng những người đã qua đào tạo ngày càng tăng nhưng chất lượng đào tạo còn nhiều mặt hạn chế, nhiều học sinh ra trường không xin được việc làm do không đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp về trình độ cũng như khả năng tiếp cận các trang thiết bị hiện đại còn yếu

Trang 3

Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I đã trải qua hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, trong đó có ngành may là ngành trọng điểm của nhà trường Chính vì vậy, ngành may luôn được

sự quan tâm của nhà trường về chất lượng đào tạo, đặc biệt là chất lượng dạy và học các môn chuyên ngành Đối với học sinh và sinh viên, các môn chuyên ngành có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành

kỹ năng nghề nghiệp sau khi các em ra trường Đặc biệt đối với ngành may, điều đầu tiên và quan trọng nhất mà các doanh nhiệp may cần đó chính là trình độ và tay nghề của học sinh và sinh viên Nhưng trên thực tế chất lượng học sinh- sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được mục tiêu đào tạo của nhà trường Một trong những nguyên nhân chính là công tác đảm bảo chất lượng dạy học chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt chưa có những giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng dạy và học

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài " Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học

chuyên ngành may tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I trong giai đoạn hiện nay "

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất những giải pháp quản lý hoạt động dạy học chuyên

ngành may tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I nhằm nâng cao

chất lượng đào tạo trong giai đoạn hiện nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu :

3.1 Khách thể nghiên cứu là hoạt động dạy học chuyên ngành may

3.2 Đối tượng nghiên cứu là “Quản lý” hoạt động dạy học chuyên ngành may tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I trong giai đoạn hiện nay

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động dạy học chuyên ngành may tại trường Cao đẳng

4.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý và các hoạt động dạy học chuyên ngành may tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I

Trang 4

4.3.Nghiên cứu, đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động dạy học chuyên ngành may tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I trong giai đoạn hiện nay

5 Giả thuyết khoa học

Nếu kết quả nghiên cứu được nghiệm thu và áp dụng linh hoạt vào việc quản lý hoạt động dạy học ở Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I, sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học

chuyên ngành may của Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I trong giai đoạn hiện nay

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học : Nghiên cứu hệ thống lý luận về quản lý các hoạt động dạy học chuyên ngành may Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I

- Ý nghĩa thực tiễn : Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu trong quản lý hoạt động dạy học của Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I trong giai đoạn hiện nay, sẽ phát hiện được nguyên nhân liên quan đến chất lượng dạy học chưa cao, từ đó đề xuất

các biện pháp quản lý phù hợp với thực tế của trường

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các nhóm phương pháp sau :

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết :

- Tìm hiểu khái niệm, thuật ngữ có liên quan

nước, Bộ, Ngành, Địa phương có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Nghiên cứu các tài liệu lý luận có liên quan

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

-Phương pháp quan sát ( công việc dạy - học của giáo viên và HS –SV )

Trang 5

-Phương pháp điều tra : Có thể sử dụng mẫu phiếu điều tra với học sinh – sinh viên, giáo viên, cán bộ quản lý, về công tác quản lý hoạt động dạy học của của Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I

- Các phương pháp hỗ trợ : Trao đổi, phỏng vấn với học viên, giáo viên, cán bộ quản lý

-Phương pháp thực nghiệm

8 Giới hạn đề tài

Do thời gian có hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, hệ thống và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học chuyên ngành may tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I trong giai

đoạn hiện nay (2005-2010)

9 Cấu trúc luận văn

Luận văn bao gồm : Phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo

Phần nội dung khoa học gồm 3 chương :

Chương 1 Cơ sở lý luận của quá trình quản lý hoạt động dạy học chuyên ngành may

Chương 2 Thực trạng của quá trình quản lý hoạt động dạy học chuyên ngành may của Trường

Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I trong giai đoạn hiện nay

Chương 3 Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học chuyên ngành may tại

trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I trong giai đoạn hiện nay

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHUYÊN

NGÀNH MAY

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm quản lý :

Ngay từ trong xã hội nguyên thuỷ con người sống theo bầy đàn phải đoàn kết nhau lại để đủ sức mạnh chống chọi với thiên nhiên, thú dữ thì nhu cầu tổ chức,

Trang 6

quản lý một đám đông ô hợp thành một tập thể có sức mạnh thống nhất vì mục đích sinh tồn chung của mọi người

Nhu cầu quản lý ngày càng phát triển gắn với tiến trình lịch sử của nhân loại trở thành các quan điểm quan trọng đối với các nhà triết học, nhà chính trị dưới các chế độ chính trị, xã hội khác nhau

Theo Các Mác “ Bất cứ một lao động mang tính xã hội trực tiếp hay cùng nhau, được thực hiện ở qui mô tương đối lớn đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự quản lý nhằm thiết lập sự phối hợp công việc cá nhân và thực hiện chức năng chung nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Một người chơi vì nhu cầu riêng lẻ tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy”(23)

Hoạt động lao động khá phức tạp nhưng lại phong phú và đa dạng Quản lý là một hiện tượng lịch sử, xã hội Có nhiều nhà quản lý đã nêu các khía cạnh khác nhau về khái niệm “ Quản lý “

- Theo ÔMarốp ( Liên xô ) thì “ Quản lý” là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ của sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu

- Theo Wtaylor : Người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, nêu ra

hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động thì “ Quản lý là nghệ thuật biết rõ rằng chính xác cái

gì cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”

- Theo Rônđacốp : Quản lý là hoạt động được thực hiện nhằm bảo vệ sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác (33-tr.789)

- Theo Hà thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt : “ Quảnlý là quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu Quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định” ( 13- tr.8 )

Như vậy khái niệm quản lý được các nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa đã gắn với loại hình quản lý Từ rất nhiều định nghĩa dưới các góc độ khác nhau, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát bản chất của hoạt động quản lý Đó là sự tác động một cách có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chứuc vận hành đạt mục tiêu mong muốn thông qua kế hoạch hoá, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra

1.1.2.Bản chất, chức năng và quá trình quản lý

1.1.2.1.Bản chất của quản lý

Trang 7

Bản chất của quản lý là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý, là tác động có mục đích đến tập thể người nhằm thực hiện mục tiêu quản lý Trong giáo dục, đó là tác động của nhà quản lý giáo dục đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác nhau trong xã hội nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu quản lý giáo dục

1.1.2.2.Biện pháp quản lý

“ Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành” một vấn đề cụ thể nào đó ( Từ điển tiếng Việt thông dụng - Nhà xuất bản Giáo dục 1995 )

Trong quản lý giáo dục, biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành của chủ thể quản

lý để giải quyết các vấn đề trong công tác quản lý làm cho hệ quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra phù hợp với các qui luật khách quan

Biện pháp quản lý là những cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp quản

lý Đối tượng quản lý giáo dục phức tạp đòi hỏi biện pháp quản lý phải đa dạng, phong phú, phù hợp với đối tượng quản lý Biện pháp quản lý có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống các biện pháp Hệ thống các biện pháp quản lý giúp cho nhà quản lý thực hiện tốt các phương pháp quản lý của mình

Biện pháp quản lý là bộ phận đồng nhất, phương pháp quản lý thể hiện rõ nhất tính năng động sáng tạo của chủ thể quản lý trong các tình huống và đối với mỗi đối tượng nhất định người quản lý phải biết sử dụng những phương pháp nhất định Hiệu quả của công tác quản lý phụ thuộc rất nhiều ở sự lựa chọn đúng đắn và áp dụng linh hoạt các biện pháp quản lý

Các biện pháp quản lý nhìn chung có thể phân làm 4 nhóm :

- Nhóm biện pháp hành chính – tổ chức

Đó là những hình thức, biện pháp mà chủ thể quản lý dùng quyền lực trực tiếp đưa ra các mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu để khách thể quản lý thực hiện

- Nhóm biện pháp kinh tế

Biện pháp kinh tế là cách thức tác động gián tiếp lên đối tượng quản lý bằng sự kích thích lợi ích vật chất để tạo ra động lực thúc đẩy con người hoàn thành nhiệm vụ, phục vụ cho lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể

Trang 8

- Nhóm biện pháp giáo dục

Là biện pháp mà chủ thể quản lý dùng các hình thức, biện pháp tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhận thức, tình cảm thái độ hành vi của đối tượng quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, hoàn thành tốt nhiệm vụ của tổ chức giao

- Nhóm biện pháp tâm lý xã hội

Biện pháp tâm lý xã hội là biện pháp, cách thức tạo ra những tác động với đối tượng bị quản lý bằng biện pháp logíc và tâm lý xã hội nhằm biến yêu cầu do người lãnh đạo quản lý đề ra thành nghĩa vụ

tự giác, động cơ bên trong và những nhu cầu của người thực hiện Đây là biện pháp chủ thể quản lý vận dụng các qui luật tâm lý xã hội để tạo nên môi trường tích cực, lành mạnh bên trong tổ chức, có tác dụng tốt với mối quan hệ và hành động của tổ chức

Bốn nhóm biện pháp vừa nêu trên là những biện pháp quản lý cơ bản để chủ thể quản lý đạt được mục tiêu quản lý Tuỳ từng trường hợp, từng hoàn cảnh, từng đối tượng mà vận dụng các biện pháp quản

lý thích hợp Vì rằng không biện pháp nào là vạn năng Mỗi biện pháp đều có những điểm tích cực và hạn chế nhất định Tài năng và bản lĩnh của người quản lý là biết lựa chọn biện pháp hữu hiệu áp dụng cho từng đối tượng Người quản lý phải có lý trí sáng suốt và trái tim nhân hậu, phải có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm quản lý phong phú sao cho việc lựa chọn biện pháp quản lý phù hợp thực trạng của đơn vị và có những bước đi thích hợp

1.1.2.3.Các vai trò của người quản lý

Vai trò quản lý là tập hợp có tổ chức các hành vi của người quản lý được phân chia thành 3 nhóm lớn

Các vai trò liên nhân cách ( đại diện, thủ lĩnh, lãnh đạo, liên hệ )

Các vai trò thông tin ( hiệu thính viên, phát tín viên, phát ngôn viên )

Các vai trò quyết định ( người sáng nghiệp, dàn xếp, phân phối nguồn lực, người thương thuyết )

Nói đến vai trò người quản lý, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K.Marx : “ Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”

1.1.2.4.Các chức năng quản lý

Trang 9

Chức năng quản lý là một hoạt động quản lý chuyên biệt, cơ bản mà thông qua đó chủ thể quản lý tác động điều hành ở mọi cấp Các công trình nghiên cứu khoa học quản lý tuy có nhiều ý kiến chưa thật đồng nhất trong thuật ngữ để chỉ ra các chứuc năng quản lý, song về cơ bản đã thống nhất có 4 chức năng cơ bản : Kế hoạch hoá - Tổ chức – Chỉ đạo – Kiểm tra

Kế hoạch hoá là chức năng đầu tiên của quản lý giúp chủ thể tiếp cận mục tiêu một cách hợp lý

và khoa học Kế hoạch là văn bản trong đó xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, các biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó

Nhiều lý thuyết gia quản lý cho rằng, kế hoạch hoá là cái khởi nguyên của mọi hoạt động, mọi chức năng quản lý khác Họ ví kế hoạch hoá như một chiếc đầu tàu kéo theo các toa “tổ chức”, “chỉ đạo”,

“kiểm tra”; hoặc như thân cây sồi trên đó các chức năng “tổ chức”, “chỉ đạo”, “kiểm tra” đâm cành, kết nhánh

Chức năng kế hoạch hoá có 3 nội dung cơ bản sau:

- Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức

- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này

- Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó

Tổ chức là quá trình hình thành cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong

một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý trong việc sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả

Ernest Dale mô tả chức năng tổ chức như một quá trình gồm 5 bước:

- Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu của tổ chức

- Phân chia toàn bộ công việc thành những nhiệm vụ để các thành viên hay các bộ phận (nhóm) trong tổ chức thực hiện một cách thuận lợi và hợp lôgích Đây gọi là bước phân công lao động

- Kết hợp các nhiệm vụ một cách lôgích và hiệu quả Đây là bước phân chia bộ phận

Trang 10

- Thiết lập một cơ chế điều phối Sự liên kết hoạt động của các cá nhân, các nhóm, các bộ phận một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện giúp đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách dễ dàng và hiệu quả hơn

- Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cấu trúc tổ chức và tiến hành những điều chỉnh cần thiết

Chỉ đạo còn có tên gọi khác là quá trình điều khiển Dù dưới tên gọi nào thì chỉ đạo bao gồm việc

liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được các mục tiêu của tổ chức, hay nói cách khác, chỉ đạo là khả năng gây ảnh hưởng, động viên và chỉ dẫn/chỉ thị người khác nhằm đạt đến mục tiêu mong muốn Tất nhiên, việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm sâu, ảnh hưởng quyết định tới 2 chức năng kia

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IIX Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội, 1996

2 Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội, 2001

3 Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội, 2006

4 Luật giáo dục Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội, 1998

5 Chính phủ CHXHCN Việt Nam Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010

6 Tạp chí “ công nghiệp” Bộ Công nghiệp, năm 2006

7 Tạp chí “Dệt may Việt Nam” các số , năm 2007

8 Đặng Quốc Bảo Quản lý nhà trường Bài giảng

9 Nguyễn Đức Chính Chương trình đào tạo và đánh giá chương trình đào tạo Bài giảng

10 Nguyễn Đức Chính Đổi mới đánh giá kết quả học tập của sinh viên như một giải pháp đào tạo

giáo viên chất lượng cao tại Khoa Sư phạm ĐHQG Hà nội

11 Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc Những cơ sở khoa học về quản lí giáo dục Nhà xuất

bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005

Ngày đăng: 16/11/2016, 21:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm