Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác hòa giải ở cơ sở trong những năm qua cũng đã bộc lộ những hạn chế như chưa có mô hình thống nhất về tổ chức hòa giải ở cơ sở, ảnh hưởng đến chất
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ THU HUYỀN
PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÒA
GIẢI
Ở CƠ SỞ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc
Hµ néi - 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ THU HUYỀN
PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÒA
GIẢI
Ở CƠ SỞ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tất Viễn
Hµ néi - 2007
MỞ ĐẦU
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay, công tác hòa giải ở cơ sở
có vị trí rất quan trọng Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần
thứ tám khóa VII (tháng 1-1995) đã khẳng định: "Coi trọng vai trò hòa giải của
chính quyền kết hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở cơ sở" [1, tr 30]
Chế định hòa giải cũng đã được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: "Ở cơ sở,
thành lập các tổ chức thức hợp của nhân dân để giải quyết những vi phạm pháp luật và những tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật" (Điều
127 Hiến pháp 1992) [29]
Hòa giải thể hiện vai trò của mình trong bảo đảm ổn định xã hội trên nhiều phương diện Hòa giải ở cơ sở thể hiện đặc điểm lịch sử, đạo đức tâm lý truyền thống của dân tộc Hòa giải góp phần duy trì và phát huy đạo lý, truyền thống tốt đẹp, thuần phong mỹ tục của dân tộc, thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư
Hòa giải là sự kết hợp đạo đức và pháp luật trong giải quyết các xung đột nhỏ trong xã hội Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý và tình, đến mức "thấu tình, đạt lý" Hòa giải là một phương thức để thực hiện dân chủ, là sự thể hiện rõ rệt của tư tưởng "lấy dân làm gốc"
Một đặc trưng cơ bản của hòa giải là bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên trong việc giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn Đây chính là biểu hiện của tính dân chủ trong quá trình giải quyết các tranh chấp Thông qua các hình thức hòa giải, đặc biệt là hòa giải ở cơ sở, nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình trong việc giải quyết các tranh chấp, xây dựng tình làng nghĩa xóm, góp phần ngăn ngừa
và hạn chế vi phạm pháp luật, làm giảm số vụ án phải đưa ra tòa án xét xử Dễ
Trang 4trăm lần không dân cũng chịu - Khó vạn lần dân liệu cũng xong như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói
Tại Hội nghị tập huấn tư pháp toàn quốc năm 1950 ở Việt Bắc, Hồ Chủ tịch
đã nói: "Xét xử đúng là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn"
Hòa giải ở cơ sở là phong trào có sự tham gia của cả hệ thống chính trị ở cơ sở: cấp ủy đảng, chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh , qua
đó xây dựng được một cộng đồng dân cư mà vai trò tự quản của người dân được tăng cường, thực hiện được việc xã hội hóa hoạt động giải quyết tranh chấp, xử lý
vi phạm pháp luật Đây là một xu hướng phát triển khách quan của xã hội, theo đó Nhà nước có thể từng bước giao cho nhân dân tự quản những gì họ có thể tự quản được Đó chính là biểu hiện của một xã hội dân sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang nghiên cứu để khẳng định nó trong quá trình đổi mới, trong đó có đổi mới việc điều hành, quản lý đất nước và xã hội
Hòa giải đã từng có trong lịch sử làng xã Việt Nam, gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 (giai đoạn 1945 - 1981), chế định hòa giải được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quy định hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ngành tư pháp, chế định này hình thành cùng với sự hình thành và phát triển của các cơ quan tư pháp Nhiệm vụ hòa giải lúc đầu được giao cho Ban Tư pháp xã sau đó được giao cho tổ chức xã hội, đó là Tổ hòa giải - một tổ chức mang tính chất tự quản, dân chủ trực tiếp của nhân dân Trong giai đoạn từ năm 1982 đến năm 1992, tổ chức và hoạt động hòa giải đã phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên cũng trải qua nhiều thăng trầm, tổ chức và hoạt động hòa giải ở nhiều nơi bị giảm sút, gần như tan rã, hoạt động không hiệu quả Từ năm 1992, tổ chức và hoạt động hòa giải đã từng bước được khôi phục, củng cố và phát triển
Trang 5Ngày 25 tháng 11 năm 1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở Đây là văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất từ trước đến nay về hòa giải ở cơ sở, đánh dấu một bước phát triển mới của công tác hòa giải trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị và phát huy dân chủ ở cơ sở Để thực hiện Pháp lệnh, ngày 18 tháng 10 năm 1999, Chính phủ
đã ban hành Nghị định 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, tiếp đó, Nghị định số
62/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Bộ Tư pháp (thay thế Nghị định 38/CP ngày 04 tháng 6 năm 1993) và Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-BTP-BNV ngày 05 tháng 5 năm 2005 của Bộ
Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các
cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp
ở địa phương (thay thế Thông tư liên bộ số 12/TTLB ngày 26 tháng 7 năm 1993) đều có quy định về việc quản lý nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở
Xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi cao hơn tính tự quản của người dân trong quản lý nhà nước, trong đó có các giải quyết tranh chấp nhỏ, tạo ổn định
và trật tự xã hội mà không cần Nhà nước can thiệp vào Đó là vấn đề có tính quy luật của sự chuyển đổi vai trò của Nhà nước trong thế giới hiện đại
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác hòa giải ở cơ sở trong những năm qua cũng đã bộc lộ những hạn chế như chưa có mô hình thống nhất về tổ chức hòa giải ở cơ sở, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của Tổ hòa giải trong điều kiện hiện nay; về trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác hòa giải, phần lớn tổ viên Tổ hòa giải chưa được bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ hòa giải thường xuyên, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người Bên cạnh đó, tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ hòa giải được biên soạn thống nhất còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế cho cán bộ hòa giải nói riêng và công tác hòa giải nói chung…
Trang 6Thực tế tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở đang đặt ra nhiều vấn đề trên
cả phương diện lý luận và thực tiễn Việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ
sở từ đó đề ra phương hướng hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ
sở và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng của công tác hòa giải ở
cơ sở là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và mang tính cấp thiết, góp phần thực hiện dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội, duy trì, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nước
Được sự gợi ý của Khoa Luật và Bộ môn Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp
luật, tác giả đã lựa chọn đề tài "Pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở và
phương hướng hoàn thiện" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong nhiều năm qua, nghiên cứu về lĩnh vực hòa giải ở cơ sở cũng đã có
nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu Chẳng hạn như cuốn sách: "Một số tham luận
và kinh nghiệm công tác hòa giải ở cơ sở năm 1996" của Sở Tư pháp Thành phố
Hồ Chí Minh (1997), "Công tác hòa giải ở cơ sở" do Luật gia Nguyễn Đình Hảo chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997), "Vì hạnh phúc của mọi
nhà" do Phó tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Oánh và Luật gia Trần Thị Quốc Khánh chủ biên
(Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998) Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở một phạm vi hẹp, đề cập đến thực tiễn tổ chức và hoạt động của Tổ hòa giải, chứ không đi sâu nghiên cứu về mặt lý luận của công tác hòa giải ở cơ sở
Trong một số sách hướng dẫn về nghiệp vụ công tác hòa giải ở cơ sở như:
"Hướng dẫn nghiệp vụ công tác hòa giải ở cơ sở (tủ sách pháp luật xã, phường, thị
trấn)" - Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, năm 2000 do Tiến sỹ
Dương Thanh Mai chủ biên, "Công tác hòa giải ở cơ sở" - Bộ tài liệu tập huấn
thống nhất về công tác hòa giải ở cơ sở dành cho cán bộ tư pháp và các hòa giải
Trang 7viên do Bộ Tư pháp xây dựng trong khuôn khổ Dự án VIE/02/015 "Hỗ trợ thực thi Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010" do Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế của Chính phủ Thụy Điển (Sida), cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế của Chính phủ Đan Mạch (DANIDA), Chính phủ Na Uy và Chính phủ Ai Len tài trợ, các cuốn sách này chỉ đề cập đến các quy định pháp luật về công tác hòa giải ở cơ sở với tính chất hướng dẫn nghiệp vụ chứ không đi vào nghiên cứu thực trạng, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về lĩnh vực hòa giải ở cơ sở hay như chỉ đề cập đến một khía cạnh con người của công tác hòa giải ở cơ sở như cuốn sách
"Đánh giá năng lực cán bộ tư pháp cấp tỉnh về quản lý, hướng dẫn công tác hòa
giải ở cơ sở", trong khuôn khổ Dự án VIE/02/015 "Hỗ trợ thực thi Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010", Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội,
2005 Cuốn "Hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật" do Nhà xuất bản
Tư pháp, Hà Nội ấn hành năm 2006 cũng đã có một chương riêng về hòa giải ở cơ
sở và phổ biến giáo dục pháp luật Một số nhà nghiên cứu về xã hội học cũng có những công trình nghiên cứu liên quan đến hòa giải ở cơ sở như Giáo sư Tương
Lai với bài viết "Đồng thuận xã hội" trên Tạp chí Tia sáng, tháng 11 năm 2005; tác giả Nguyễn Thị Lan với bài viết "Đồng thuận xã hội và việc xây dựng sự đồng
thuận xã hội ở nước ta hiện nay" đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị, số 6 năm
2006; các bài viết của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Quang Dũng về "Giải quyết xích
mích trong nhóm gia đình: phác thảo từ những kết quả nghiên cứu định tính",
"Giải quyết xích mích trong nội bộ nhân dân: phác thảo từ những kết quả nghiên
cứu định tính", "Hòa giải ở nông thôn miền Bắc Việt Nam (giả thuyết dành cho một cuộc nghiên cứu)" đăng trên Tạp chí Xã hội học, số 4 năm 2001, số 1 và số 3
năm 2002
Một số các bài viết trong Tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng
7 năm 2006 về công tác hòa giải ở Hải Phòng mới chỉ đề cập đến thực tiễn công
Trang 8tác hòa giải như kết quả, một số tồn tại cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả và chỉ trong phạm vi một địa bàn nhất định
Còn đối với các nhà nghiên cứu nước ngoài, cũng đã có những công trình nghiên cứu, khảo sát trực tiếp hoặc gián tiếp về hòa giải ở cơ sở tại Việt Nam với
tư cách là một phương thức giải quyết xung đột xã hội dưới dạng những tranh chấp, xích mích nhỏ trong cộng đồng dân cư, hoặc cũng có thể coi hòa giải là một khía cạnh của đời sống xã hội dân sự truyền thống của nông thôn Việt Nam Đó là
các công trình nghiên cứu của nhóm tác giả về "Đánh giá xã hội dân sự ở Việt
Nam"; Dự án điều tra của Viện Xã hội học - Viện Khoa học xã hội Việt Nam; hoặc
là các công trình nghiên cứu của các chuyên gia Nhật Bản, Hàn Quốc về vấn đề này
Tuy nhiên đến nay chưa có những công trình nghiên cứu một cách cơ bản,
có hệ thống về pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở và phương hướng hoàn thiện ở Việt Nam
Những vướng mắc nói trên chưa được đề cập và nghiên cứu một cách thấu đáo Do đó, việc nghiên cứu những quy định của pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở trên cơ sở đó đề ra phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở là cần thiết
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: làm rõ những vấn đề lý luận về hòa giải ở cơ sở, đánh giá được thực trạng tổ chức hoạt động của thiết chế xã hội này, từ đó đề xuất phương hướng
và các giải pháp hoàn thiện thể chế hòa giải ở cơ sở
- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu luận văn cần giải quyết những vấn đề sau:
Trang 9+ Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về hòa giải ở cơ sở, vai trò của hoạt động hòa giải đối với đời sống xã hội và nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với công tác hòa giải ở cơ sở
+ Nêu, phân tích thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở
+ Đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở
4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu: phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học
5 Những điểm mới của luận văn
- Nghiên cứu một cách có hệ thống từ khái niệm, vị trí, vai trò của hòa giải
ở cơ sở cũng như nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với công tác hòa giải ở cơ
sở nhằm góp phần hoàn thiện những cơ sở lý luận về hòa giải ở cơ sở
- Phát hiện những điểm còn bất cập trong quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, những tồn tại trong tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở, tìm ra nguyên nhân của những tồn tại đó Đề xuất phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận: Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được
khai thác, sử dụng trong công tác nghiên cứu về công tác hòa giải ở cơ sở của các
cơ quan tư pháp và có thể làm tài liệu tham khảo trong xây dựng Luật về tổ chức
và hoạt động hòa giải ở cơ sở, dự kiến trong Chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội khóa XII
Trang 10- Về mặt thực tiễn: Các cơ quan tư pháp, cán bộ tư pháp, hòa giải viên có
thể khai thác, vận dụng những kết quả nghiên cứu của luận văn để tập huấn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác hòa giải ở cơ sở
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Chương 1
HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT
ĐỐI VỚI TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
1.1 SỰ CẦN THIẾT GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP, XÍCH MÍCH NHỎ TRONG CỘNG ĐỒNG BẰNG HÒA GIẢI
Trong đời sống xã hội, mối quan hệ giữa con người với con người rất đa dạng, phong phú, bao gồm tổng hòa các mối quan hệ xã hội: quan hệ giữa các thành viên trong gia đình (quan hệ vợ chồng, ông bà, bố mẹ, con cái, anh chị em ), quan hệ giữa các thành viên trong môi trường giáo dục: quan hệ thầy trò; quan hệ của những nhóm người trong xã hội: quan hệ đồng nghiệp, quan hệ bạn
bè, quan hệ đồng hương Các quan hệ này có thể hình thành dưới nhiều góc độ khác nhau như quan hệ huyết thống được pháp luật quy định (quan hệ gia đình), các quan hệ xã hội khác được hình thành và chi phối bởi các quy phạm đạo đức xã hội và được tồn tại dưới hình thức khác nhau
Thực tiễn cho thấy, qua các giai đoạn, qua các thời kỳ lịch sử, trong xã hội, tồn tại
và phổ biến là những quan hệ xã hội tốt đẹp, lành mạnh Chính những quan hệ tốt đẹp, lành mạnh đó là nền tảng, là cơ sở, động lực cho việc xây dựng lối sống văn hóa, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Tuy