ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐẶNG HỒNG CHIẾN VẬN DỤNG THUYẾT PHÂN QUYỀN TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
ĐẶNG HỒNG CHIẾN
VẬN DỤNG THUYẾT PHÂN QUYỀN TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60 38 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG HỒNG CHIẾN
VẬN DỤNG THUYẾT PHÂN QUYỀN TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT
NAM
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Đăng Dung
HÀ NỘI - 2008
LỜI CAM ĐOAN
Trang 3-
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đặng Hồng Chiến
MỞ ĐẤU
Trang 4-
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Mặc dù Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã khẳng định nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân , do dân, vì dân, nhưng hiện tại, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta vẫn chưa thật sự đáp ứng được những yêu cầu đặt ra đố i với một nhà nước pháp quyền Vẫn còn nhiều vấn đề hạn chế cần giải quyết , như sự cồng kềnh trong tổ chức ; chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ; sự kém hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động và đặc biệt là tình trạng t ham nhũng trong bộ máy nhà nước đang diễn biến rất phức tạp , ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước trước nhân dân Do đó, việc nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn để phục vụ đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước là vấn đề cấp thiết được đặt ra trong giai đoạn hiện nay
Trong hệ thống tư tưởng của nhân loại về Nhà nước , Thuyết phân quyền được coi là một học thuyết dân chủ, tiến bộ bởi sự phân chia quyền lực được nêu ra trong học thuyết này chính là phương thức hữu hiệu để hạn chế quyền lực nhà nước, chống lại nguy cơ tha hoá quyền lực và bảo vệ nhân quyền Nhờ các nhân tố đó, Thuyết phân quyền đã trở thành nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tại nhiều quốc gia trên thế giới Còn ở Việt Nam , dù không chính thức thừa nhận phân quyền , song tại quy định của các bản Hiến pháp đều ít nhiều có sự tiếp thu , vận dụng tư tưởng nà y và thực tế đã cho thấy những hệ quả tích cực của nó
Chính các nhân tố tiến bộ của Thuyết phân quyền và thực tế vận dụng ở nước ta đã cho thấy , Thuyết phân quyền không phải là sản phẩm dành riêng cho các nhà nước t ư sản, mà nó thuộc chung về các nhà nước dân chủ và hoàn toàn có thể vận dụng vào việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam
Trang 5Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu và vận dụng Thuyết phân quyền là điều hết sức cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta hiện nay và tiến tới xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trong một thời gian dài , đặc biệt là ở giai đoạn đầu phát triển hệ thống xã hội chủ nghĩa , ở nước ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác , tư tưởng về
phân chia quyền lực nhà nước không được chú trọng nghiên cứ u, thậm chí bị tẩy
chay, coi đó như một thứ tư tưởng chỉ phù hợp với các nhà nước tư sản , nơi luôn có sự tranh giành quyền lực giữa các chính đảng
Từ sau Đại hội VI của Đảng , công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu và nhận thức về vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước đã từng bước có những chuyển biến tích cực Các bài viết , các công trình nghiên cứu về Thuyết phân quyền đã bắt đầu xuất hiện , nhất là từ khi Hiến pháp 1992 được sửa đổi (năm 2001), với sự chính thức thừa nhận nhà nước pháp quyền và sự phân công , phối
hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Tiêu biểu là các tác phẩm: “Tư
tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồi ; “Sự hạn chế quyền lực nhà nước " của
PGS.TS Nguyễn Đăng Dung và một số bài viết đăng tải trên các tạp chí , mạng internet
Các công trình , bài viết đó đã đề cập đến tư tưởng phân chia quyền lực dưới những góc độ khác nhau , nhưng chưa có công trình nào dành riêng nghiên cứu về sự vận dụng Thuyết phân quyền vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài:
Trang 6Mục đích của đề tài là vận dụng những hạt nhân hợp lý của Thuyết phân quyền vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam , khắc phục hạn chế, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ của đề tài là:
- Nghiên cứu quá trình hình thành , phát triển và nội dung của Thuyết phân quyền, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của sự cần thiết phải phân chia quyền lực nhà nước
- Nghiên cứu thực tế việc tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam theo quy định của các bản Hiến pháp từ 1946 đến nay, tìm ra những nội du ng mang dáng dấp của tư tưởng phân quyền
- Phân tích những tồn tại trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước hiện nay và tìm kiếm phương hướng , biện pháp khắc phục trên cơ sở vận dụng tư tưởng của Thuyết phân quyền
4 Nội dung nghiên cứu chính của luận văn:
- Nghiên cứu khái quát về quyền lực nhà nước và sự cần thiết phải phân chia quyền lực
- Nghiên cứu tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong thời kỳ cổ đại và cách mạng tư sản , đặc biệt là tư tưởng của John Locke , Montesquieu và Jean Jacques Rousseau
- Nghiên cứu các quy định liên quan đến vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước trong văn kiện của Đảng , Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980 và 1992 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2001) và các luật về tổ chức bộ máy nhà nước
Trang 75 Cơ sở phương pháp luận:
Đề tài được nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp suy luận logic , hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh , quan điểm của Đảng , quy định Nhà nướ c về vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước Bên cạnh đó nội dung của luận văn còn được thực hiện dựa trên cơ sở tự nghiên cứu , kinh nghiệm thực tế của giáo viên hướng dẫn , các đồng nghiệp và bản thân qua quá trình công tác t rong bộ máy hành chính nhà nước, với sự tham khảo các tài liệu của nhiều tác giả trong và ngoài nước
6 Những đóng góp về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Luận văn đã phân tích bản chất của quyền lực nhà nước, nêu bật nguy cơ tha hoá của nó , làm cơ sở lý luận cho việc thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước Đồng thời luận văn đã nghiên cứu khá đầy đủ về sự hình thành, phát triển của Thuyết phân quyền, từ những tư tưởng sơ khai thời cổ đại đến sự phát triển đỉnh cao trong thời kỳ cách mạng tư sản và khả năng vận dụng của nó vào thực tế tổ chức bộ máy nhà nước
Căn cứ thực tế của Việt Nam , luận văn đã chỉ ra những b iểu hiện của sự tiếp thu vận dụng tư tưởng phân quyền trong các bản Hiến pháp , đồng thời nêu ra một số hạn chế hiện tại trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và biện pháp cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế đó
7 Kết cấu của luận văn : Ngoài phần mở đầu , kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Lý thuyết về phân quyền
Chương 2: Sự phân công, phối hợp quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà
nước Việt Nam
Chương 3: Vận dụng thuyết phân quyền trong xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở việt nam
Trang 8Chương 1
LÝ THUYẾT VỀ PHÂN QUYỀN -
1.1 Khái quát về quyền lực nhà nước
Quyền lực là vấn đề đã được các nhà tư tưởng đề cập đến từ rất sớm trong
triết học và chính trị học Đã có nhiều quan điểm được đưa ra xung quanh vấn đề này, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào về quyền lực được chính thức thừa nhận một cách rộng rãi, các quan điểm đưa ra chưa nhận được sự thống nhất của đông đảo những nhà lý luận và nhà hoạt động thực tiễn
Từ thời Hy Lạp cổ đại, Aristote (384 – 322 TCN) – một trong các nhà triết học vĩ đại nhất, đã đưa ra quan niệm về quyền lực với nội hàm rất rộng Theo ông, quyền lực là yếu tố không chỉ có trong thế giới biết cảm giác, mà quyền lực còn tồn tại trong cả giới vô cơ, tức là ngay cả những vật vô tri, vô giác trong thế giới tự
nhiên cũng có quyền lực, có khả năng tác động đến những sự vật khác Có thể thấy
quan điểm của Aristote về quyền lực rất gần với quan điểm về mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng của chủ nghĩa Mác – Lênin
Sau Aristote, các nhà tư tưởng thường quan niệm về quyền lực với nội hàm hẹp hơn nhiều, đa số ý kiến đều cho rằng quyền lực là yếu tố đặc trưng trong xã hội loài người, không tồn tại trong thế giới tự nhiên Tuy vậy, khi đưa ra các định nghĩa về quyền lực, vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau:
Theo cuốn Bách khoa triết học Liên Xô, quyền lực là khả năng thực hiện ý
chí của mình có tác động đến hành vi của của người khác nhờ một phương tiện nào đó như uy tín, sức mạnh Theo B.Russel, một nhà xã hội học người Anh, thì quyền lực là khả năng tạo ra những sản phẩm một cách có chủ ý Trong khi đó,
các nhà chính trị học và xã hội học của Mỹ lại quan niệm khác, họ cho rằng, quyền
Trang 9lực là cái mà nhờ đó người khác phải phục tùng (Robert Dahl), hoặc quyền lực là khả năng đạt tới kết quả nhờ một hành động phối hợp (Lebi Clipson), hoặc quyền lực là cái buộc người khác phải hành động theo ý của ta (A.Toffer)
Ngay ở Việt Nam cũng có những định nghĩa khác nhau về quyền lực Theo Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, được Nhà xuất bản Khoa học - Xã hội
xuất bản năm 1991, “quyền lực” đồng nghĩa với “quyền bính”, “quyền hành” và
là “sức mạnh mà mọi người phải tuân theo trong hành động” Còn theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2001 thì quyền lực là “quyền định
đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy”, tức là coi quyền lực chỉ tồn tại trong lĩnh vực chính trị
Qua các định nghĩa trên cho thấy, dù không hoàn toàn thống nhất trong việc đưa ra một định nghĩa cụ thể về quyền lực, song giữa các nhà tư tưởng đều có điểm chung cơ bản rằng: quyền lực là năng lực để chi phối hoặc khiến người khác phải phục tùng ý chí của chủ thể nắm quyền
Từ đó, có thể định nghĩa một cách khái quát về quyền lực như sau: Quyền
lực là cái mà nhờ nó, chủ thể này có thể chi phối hành vi hoặc buộc chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình
Với cách định nghĩa như vậy, quyền lực được hiểu là bất kỳ sức mạnh nào của một chủ thể, được đem lại bởi những lợi thế riêng của chủ thể đó và có khả năng tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến các chủ thể khác, chi phối một phần hành vi hoặc buộc chủ thể đó phục tùng hoàn toàn theo ý chí của chủ thể nắm quyền Quyền lực có thể do một cá nhân nắm giữ, cũng có thể thuộc về nhiều người hoặc thuộc về các chủ thể chính trị, pháp lý
Quyền lực là nhân tố gắn với hoạt động quản lý của con người, nó xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của loài người, bởi ngay từ khi sinh ra,
Trang 10con người đã không thể tồn tại một cách biệt lập, mà phải sống trong xã hội, giữa mối quan hệ với các chủ thể khác
Ngay từ thời kỳ nguyên thủy, trước sự đe dọa của thú dữ và các hiện tượng thiên nhiên, theo bản năng sinh tồn, con người đã tập hợp lại thành các bầy đàn, cùng nhau kiếm sống, cùng nhau chống lại các mối đe dọa từ bên ngoài và cùng dựa vào nhau để tồn tại Trong trạng thái sơ khai đó, hoạt động của con người đã mang tính cộng đồng, dù là rất đơn giản, nhưng cũng đòi hỏi phải có sự tổ chức và quản lý, phải có người đứng đầu, có người chỉ huy và có người phục tùng thì các hoạt động chung mới có thể đạt được kết quả Chính hoạt động sơ khai mang tính tổ chức xã hội đó là tiền đề và là biểu hiện ban đầu, đơn giản nhất của quyền lực
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chứng minh một cách khoa học rằng, trong xã hội nguyên thủy, thị tộc là tế bào đầu tiên và là cơ sở của xã hội này Đây là hình thức tự quản ở mức độ thấp, nhưng để tổ chức và điều hành hoạt động xã hội, thì thị tộc cũng đã sử dụng đến quyền lực và một hệ thống quản lý quyền lực, tuy còn rất đơn giản, gồm Hội đồng thị tộc và các Tù trưởng Trong xã hội nguyên thủy, quyền lực của các thị tộc có hiệu lực cao và được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của cả cộng đồng, nó hoàn toàn thuộc về xã hội, phục vụ lợi ích của cả cộng đồng và không tồn tại bộ máy cưỡng chế riêng Đó là quyền lực xã hội
Xã hội càng phát triển, các quan hệ, thiết chế xã hội trở nên phong phú hơn, thì cấu trúc quyền lực trong xã hội cũng càng trở nên phức tạp hơn Các loại quyền lực trong xã hội tồn tại đan xen, chi phối lẫn nhau và cùng tác
Trang 11DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- I/ CÁC VĂN KIỆN CỦA ĐẢNG:
1 Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội
2 Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
3 Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
4 Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
5 Đảng cộ ng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
6 Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6
năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
7 Đảng cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp
hành Trung ương Khoá X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
II/ VĂN BẢN CỦA QUỐC HỘI:
8 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946), Hiến pháp nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà năm 1946, Hà Nội
9 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1959), Hiến pháp Việt Nam dân
chủ cộng hoà năm 1959, Hà Nội
10 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1980), Hiến pháp
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, Hà Nội