ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mởrộng hội nhập kinh tế quốc tế.Sau hơn 20 năm đổi mới, nhờ thực hiện cơ chế, chính sách phù hợp vớitình hình thực ti
Trang 1ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mởrộng hội nhập kinh tế quốc tế.
Sau hơn 20 năm đổi mới, nhờ thực hiện cơ chế, chính sách phù hợp vớitình hình thực tiễn, công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nước ta đã đạt đượcnhững thành tựu đáng kể, có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế, xã hội và an ninhquốc phòng, phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và góp phầnquan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước
Những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam được thế giới đánh giá làmột trong những câu chuyện thành công nhất trong phát triển kinh tế Tỷ lệ hộnghèo đã giảm nhanh từ 32% năm 2000 xuống còn 13,1% năm 2008, bìnhquân mỗi năm giảm từ 2 – 3%, đời sống người dân ngày càng được cải thiện.Nhìn chung các chính sách hỗ trợ, các dự án đầu tư đều đạt được mục tiêu đề
ra và mang lại hiệu quả xã hội sâu sắc nhằm tạo sự chuyển biến trong nhậnthức về xóa đói giảm nghèo của nhân dân
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn tồn tại một số hạnchế cần được khẩn trương khắc phục trong thời gian tới nhằm tận dụng những
cơ hội thuận lợi và vượt qua những khó khăn, thử thách để hoàn thành mụctiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo của cả nước xuống còn 10 – 11% vào năm 2010
Trang 2Tỉnh Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng miền núi trung du Bắc Bộ trongnhững năm gần đây đã đạt được những bước tiến đáng kể trong phát triểnkinh tế - xã hội Kinh tế phát triển với tốc độ cao và ổn định, chất lượng tăngtrưởng từng bước được nâng lên Với sự phấn đấu không ngừng của lãnh đạotỉnh, các tổ chức doanh nghiệp và người dân cùng với sự hỗ trợ thiết thực từphía Trung ương cũng như các tổ chức quốc tế, công cuộc xóa đói giảmnghèo của tỉnh Phú Thọ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tỷ lệ nghèogiảm xuống còn 17,6% năm 2008, đời sống nhân dân từng bước được cảithiện và nâng cao thông qua việc thực hiện nhiều chương trình, dự án xóa đóigiảm nghèo, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, hỗ trợ sản xuất cho ngườinghèo, đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển đa dạng hoá các ngành nghề dịch vụ cóhiệu quả kinh tế cao…
Xóa đói giảm nghèo trong thời gian trước mắt luôn được Nhà nước và
Uỷ ban nhân dân tỉnh xác định là một vấn đề nhiều khó khăn và thách thứcnhất trong chủ trương phát triển kinh tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội,đảm bảo an sinh xã hội cho người nghèo của tỉnh Phú Thọ
Chính vì vậy việc xác định mục tiêu xóa đói giảm nghèo cụ thể củatỉnh, trên cơ sở đó đề xuất những chính sách, giải pháp xóa đói giảm nghèo và
tổ chức thực hiện hiệu quả, có sự phối hợp đồng bộ giữa sự chỉ đạo của banngành các cấp với sự tham gia tích cực của người dân địa phương được coi lànhiệm vụ trọng tâm của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến 2015
Xuất phát từ thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Phú Thọcũng như những khó khăn mà công tác xóa đói giảm nghèo sẽ phải đối mặt
trong thời gian tiếp theo, em đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Phú Thọ đến năm 2015” làm luận văn tốt nghiệp.
Trang 3Ngoài phần mục lục, phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệutham khảo, bản báo cáo này gồm 3 chương:
Chương I Lý luận chung về đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo.Chương II Thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo tại
Trang 4CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ CÔNG TÁC
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
I Những vấn đề cơ bản về đói nghèo
1 Khái niệm đói nghèo
1.1 Khái niệm đói nghèo theo quan điểm của thế giới
Nghèo đói là một vấn đề xã hội bức xúc và nóng bỏng của nhiều quốcgia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Đây là vấn đề đượcChính phủ các nước, các nhà lãnh đạo, các tổ chức quốc tế rất quan tâm nhằmtìm ra những giải pháp hạn chế và tiến tới xóa bỏ nạn đói nghèo trên phạm vitoàn cầu
Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về đóinghèo, tuy nhiên tồn tại một số quan niệm phổ biến được nhiều quốc gia sửdụng tùy theo điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và định hướng, mục tiêuxóa đói giảm nghèo cụ thể
Thế giới thường dùng khái niệm “nghèo khổ” và nhận định nghèo khổtheo bốn khía cạnh về thời gian, không gian, giới và môi trường:
- Về thời gian: Phần lớn người nghèo khổ là những người có mức sốngdưới mức “chuẩn” trong một thời gian dài để phân biệt với số người nghèokhổ “tình thế”, chẳng hạn như những người thất nghiệp, những người mớinghèo do suy thoái kinh tế hoặc do thiên tai, địch họa, tệ nạn xã hội rủi ro…
- Về không gian: Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn, nơi có đôngdân số sinh sống Tuy nhiên tình trạng đói nghèo ở thành thị, trước hết là ởcác nước đang phát triển cũng có xu hướng gia tăng
- Về giới: Người nghèo là phụ nữ đông hơn nam giới Những hộ giađình nghèo nhất là những hộ do phụ nữ làm chủ hộ Trong các hộ nghèo đói
do đàn ông làm chủ hộ thì phụ nữ khổ hơn nam giới
Trang 5- Về môi trường: Phần lớn người nghèo đều sống ở những vùng sinhthái khắc nghiệt mà ở đó tình trạng đói nghèo và sự xuống cấp về môi trườngđều đang ngày càng trầm trọng thêm [Mai Quốc Chánh - 2001] [1]
Từ cách tiếp cận theo bốn khía cạnh trên, Ủy ban kinh tế và xã hội củaLiên hợp quốc về Châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP) đưa ra hai khái niệm
về đói nghèo như sau:
- Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởngnhững nhu cầu cơ bản tối thiểu Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống củacon người là những đảm bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội,
vệ sinh, y tế và giáo dục Ngoài những nhu cầu cơ bản nêu trên, cũng có ýkiến cho rằng, nhu cầu tối thiểu bao gồm có quyền được tham gia vào cácquyết định của cộng đồng [1]
Khái niệm nghèo khổ tuyệt đối dựa trên việc xác định mức thu nhập tốithiểu cần thiết để đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản cho con người Mứcthu nhập này sẽ thay đổi theo tiêu chuẩn của mức sống theo thời gian và theotừng địa phương Do đó các chỉ tiêu đánh giá mức độ nghèo khổ tuyệt đối phụthuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội cụ thể của từng quốc gia, khuvực và từng thời kỳ khác nhau
- Nghèo tương đối: Sự nghèo khổ tương đối được hiểu là những ngườisống dưới mức tiêu chuẩn có thể chấp nhận được trong những địa điểm vàthời gian xác định [Vũ Thị Ngọc Phùng – 2006] [2] Nghèo tương đối có thểđược xem như việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vậtchất cho những người thuộc một tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túccủa xã hội đó
Nghèo khổ tương đối được xét trong các tương quan xã hội, phụ thuộcvào địa điểm cư dân sinh sống và phương thức tiêu thụ phổ biến tại địaphương đó Mức sống của những người nghèo khổ tương đối có thể đáp ứng
Trang 6nhu cầu cơ bản tối thiểu để con người có thể “tiếp tục tồn tại” nhưng vẫn thấphơn so với mức sống trung bình của cộng đồng Nghèo khổ tương đối gắn liềnvới sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sốngtrung bình của địa phương trong một thời kỳ nhất định do đó cũng có thể hiểu
là một hình thức biểu hiện sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển kinh tế – xã hội tạiCopenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một khái niệm cụ thể hơn vềnghèo: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đôla mỗingày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiếtyếu để tồn tại” [Lê Văn Thành - 2006]
Tại hội nghị về chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
do ESCAP tổ chức tại Băng Kốc, Thái Lan (9/1993) các quốc gia trong khuvực đã thống nhất đưa ra định nghĩa: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cưkhông được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà nhữngnhu cầu này đã được xã hội thừa nhận theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội
và phong tục tập quán của địa phương” [2] Đây là định nghĩa được nhiềuquốc gia đang phát triển sử dụng, trong đó có Việt Nam
Các khái niệm trên được xây dựng dựa trên cơ sở quan niệm nghèo khổ
về thu nhập Bên cạnh đó Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNDP cũngđưa ra một khái niệm nghèo khổ khác dựa trên quan niệm nghèo khổ của conngười (nghèo khổ tổng hợp) trong “Báo cáo về phát triển con người” năm
1997 Khác với quan niệm nghèo khổ về thu nhập, nghèo con người đề cậpđến sự phủ nhận các cơ hội và sự lựa chọn để đảm bảo một cuộc sống cơ bảnnhất Theo đó, nghèo khổ của con người là khái niệm biểu thị sự nghèo khổ
đa chiều của con người, hay sự thiệt thòi theo những khía cạnh khác ngoài thunhập như cơ hội được đào tạo, quyền tự ra quyết định, khả năng ảnh hưởngđến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác Đối với các nước
Trang 7đang phát triển sự thiệt thòi được biểu hiện thông qua ba khía cạnh cơ bảnnhất của cuộc sống con người:
- Thiệt thòi xét trên khía cạnh cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh, đượcxác định bởi tỷ lệ người dự kiến không thọ quá 40 tuổi
- Thiệt thòi về tri thức, được xác định bởi tỷ lệ người lớn mù chữ
- Thiệt thòi về đảm bảo kinh tế, được xác định bởi tỷ lệ người khôngtiếp cận được các dịch vụ y tế, nước sạch và tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinhdưỡng [2]
Theo sự nghiên cứu của ILO những năm 70, khái niệm nghèo đã được
mở rộng từ quan niệm về thu nhập sang một khái niệm rộng hơn đó là nhu
cầu cơ bản, nghèo không chỉ là sự thiếu thốn về thu nhập mà còn là “thiếu sự tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục và các dịch vụ cơ bản khác” [Simon
Maxwell - 1999]
Vào những năm 1980, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến sự cần thiếtphải xem xét các yếu tố phi tiền tệ khi nghiên cứu về đói nghèo, nghèo được
hiểu là “sự tước đoạt về quyền con người để sống, để tồn tại”.
Robert Mc Namara, chủ tịch Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nghèo khổcùng cực là một điều kiện sống bị hạn chế bởi suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnhtật, ô nhiễm môi trường, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao và tuổi thọ thấp”
Năm 1998, Amartya Sen, người được giải thưởng Nobel kinh tế năm
1998 cho rằng: “Nghèo là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trìnhphát triển của cộng đồng” Thực tế trong xã hội, những người giàu thường có
cơ hội lựa chọn nhiều hơn so với người nghèo
Mặc dù không có một định nghĩa duy nhất về nghèo nhưng các quanniệm về nghèo đói trên thế giới hầu như không có sự khác biệt đáng kể về bảnchất Nhìn chung các quan niệm đều nhìn nhận nghèo là tình trạng thiếu thốn
ở nhiều phương diện khác nhau như: thu nhập hạn chế, thiếu cơ hội tạo ra thu
Trang 8nhập, không có khả năng đảm bảo tiêu dùng để thỏa mãn những nhu cầu cơbản của con người, ít hoặc hầu như không được tham gia vào các quá trình raquyết định của cộng đồng… Sự khác biệt trong việc xác định thế nào là nghèo
ở mỗi quốc gia thể hiện chủ yếu dựa trên mức độ thỏa mãn những nhu cầu đócao hay thấp Vì vậy việc phân định đối tượng nghèo chỉ mang tính chấttương đối và phụ thuộc nhiều vào điều kiện phát triển kinh tế – xã hội cũngnhư phong tục tập quán và chủ trương chính sách phát triển kinh tế - xã hộicũng như định hướng xóa đói giảm nghèo của từng khu vực, từng quốc gia
1.2 Khái niệm nghèo đói của Việt Nam
1.2.1 Quan niệm về nghèo
Trong chiến lược về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, Việt Nam sửdụng khái niệm nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – TháiBình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Kốc – Thái Lan (9/1993): “Nghèo làtình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơbản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theotrình độ phát triển kinh tế – xã hội và phong tục tập quán của địa phương”
- Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năngthỏa mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống Nhu cầu tối thiểu lànhững đảm bảo ở mức tối thiểu các nhu cầu thiết yếu: ăn, mặc, ở và nhu cầusinh hoạt hàng ngày: văn hóa, giáo dục, y tế, đi lại, giao tiếp
- Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dướimức sống trung bình của cộng đồng tại địa phương đang xét
- Hộ nghèo: Ở Việt Nam tồn tại nhiều cách xác định hộ nghèo tùythuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội và chủ trương xóa đói giảm nghèo củatừng địa phương trong mỗi thời kỳ khác nhau, do đó để phân loại hộ nghèocần xem xét các đặc trưng cơ bản như: thiếu ăn từ 3 tháng trở lên trong năm,
Trang 9nợ sản lượng khoán, nợ thuế triền miên, vay nặng lãi trẻ em không có điềukiện đến trường (mù chữ hoặc bỏ học), thậm chí phải cho con hoặc tự bảnthân đi làm thuê cuốc mướn để kiếm sống hoặc đi ăn xin… [1]
- Xã nghèo: Là những xã có tỷ lệ hộ nghèo đói từ 40% trở lên, cơ sở hạtầng (đường giao thông, trường học, trạm y tế, điện sinh hoạt, nước sinh hoạt,thuỷ lợi nhỏ và chợ) thấp kém hoặc không đủ phục vụ nhu cầu của người dân,
cụ thể là dưới 50% số hộ gia đình không được sử dụng điện sinh hoạt, dưới30% số hộ gia đình không được sử dụng nước sạch, số phòng học không đápứng được cho 70% số học sinh trở lên, không có đường giao thông đến trungtâm xã, không có trung tâm y tế xã…
- Vùng nghèo: Là một vùng liên tục gồm nhiều làng, xã, huyện hoặcchỉ là một làng, một xã, một huyện mà tại đó chứa đựng nhiều yếu tố khókhăn, bất lợi cho sự phát triển của cộng đồng, như đất đai khô cằn, thời tiếtkhí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, trình độ dân tríthấp, sản xuất tự cung tự cấp và có mức sống dân cư trong vùng rất thấp sovới mức sống chung của cả nước xét trong cùng một thời điểm [1]
Hiện nay khái niệm nghèo ở Việt Nam đã được mở rộng theo nhiềukhía cạnh và ngày càng tiếp cận gần hơn với quan niệm chung của thế giới vàkhu vực Khái niệm nghèo không chỉ dựa trên mức thu nhập đảm bảo cho cácnhu cầu thiết yếu hàng ngày mà đã quan tâm tới những nhu cầu khác của conngười như quyền được tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục, các dịch vụ cơbản khác, quyền được tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng…1.2.2 Quan niệm về đói:
- Khái niệm đói đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mứcsống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất đểduy trì cuộc sống Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn đứt bữa từ 1 đến
2 tháng, thường vay nợ của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả
Trang 10- Đói kinh niên: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo đói nhiều nămliền kéo dài liên tục cho tới thời điểm đang xét.
- Đói gay gắt: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu nhập dưới8kg gạo/người/tháng
- Hộ đói:
+ Tổng cục thống kê sử dụng khái niệm hộ thiếu đói trong nông dân
Số liệu này được thống kê hàng tháng Hộ thiếu đói là hộ tính đến thời điểmbáo cáo có nguồn dự trữ lương thực và dự trữ bằng tiền, trị giá hàng hóa, tàisản có thể bán được để mua lương thực… bình quân đầu người đạt dưới 13kgthóc hay 9kg gạo/1 tháng Để nhận biết một cách dễ dàng hơn, đó là những hộgia đình không thể có đủ lương thực để ăn 2 bữa cơm hàng ngày
+ Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trong giai đoạn hiện naynếu thu nhập bình quân trong hộ đạt dưới (hoặc bằng) 13kg gạo/người/tháng
là đói Trên thực tế những hộ đó là những hộ thiếu lương thực trong gia đình
và phải ăn bữa cơm bữa cháo, ăn độn khoai sắn hoặc đứt bữa Do đó ngườiđói là người không còn dự trữ lương thực trong nhà, không có tiền để mualương thực mặc dù trên thị trường không thiếu lương thực
2 Chuẩn nghèo đói và các tiêu chí đánh giá đói nghèo
2.1 Chuẩn đói nghèo của thế giới
2.1.1 Khái niệm chuẩn nghèo
Chuẩn nghèo (hay ngưỡng nghèo, đường nghèo) là một mức thu nhậptối thiểu cần thiết để đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản cho con người
để có thể tiếp tục tồn tại
Chuẩn nghèo là công cụ có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định đốitượng nghèo và không nghèo Những người được coi là nghèo khi mức sốngcủa họ đo qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn chuẩn nghèo
Trang 11Tại một thời điểm nhất định có thể tồn tại nhiều đường nghèo khácnhau, ví dụ: đường nghèo thu nhập, đường nghèo lương thực thực phẩm,đường nghèo chung, đường nghèo về y tế, đường nghèo về giáo dục, đườngnghèo quốc tế, đường nghèo quốc gia, đường nghèo địa phương…
2.1.2 Các phương pháp xác định chuẩn nghèo
Các quốc gia khác nhau sử dụng các phương pháp khác nhau để xácđịnh chuẩn nghèo Một số quốc gia xác định chuẩn nghèo dựa trên 1/2 thunhập bình quân, một số quốc gia khác lại dựa trên mức 1/3 thu nhập bìnhquân Ví dụ nước Mỹ áp dụng mức chuẩn từ những năm 60 của thế kỷ trước,
cụ thể thu nhập 18.600 đôla/năm là ngưỡng nghèo đối với các gia đình có 4người (gồm bố mẹ và hai con), thu nhập 9.573 đôla/năm là ngưỡng nghèo đốivới người độc thân trong độ tuổi lao động Theo chuẩn này thì năm 1993nước Mỹ có 15,1% dân số nghèo khổ, năm 2000 tỷ lệ đó giảm xuống còn11,3% nhưng tới năm 2003 thì tỷ lệ người nghèo của nước Mỹ tăng lên 12,5%(tức là khoảng 35,9 triệu người dân Mỹ sống trong tình trạng nghèo đói)
Một số nước khác sử dụng chỉ tiêu Kcalo/người/ngày để xác địnhchuẩn nghèo, tuy nhiên chỉ tiêu này có sự chênh lệch giữa các khu vực, cácquốc gia khác nhau, thậm chí ngay trong một quốc gia cũng sử dụng nhiềutiêu chuẩn nghèo tùy theo địa phương hoặc theo các thời kỳ khác nhau Ví dụMalaixia sử dụng tiêu chuẩn 9.910 Kcalo/ngày tính trên một gia đình có 2người lớn và 3 trẻ em để làm đường nghèo Ấn Độ áp dụng ngưỡng nghèo vớichuẩn mực tiêu thụ bình quân đầu người hàng ngày là 2.400 Kcalo với vùngnông thôn và 2.100 Kcalo với vùng đô thị Pakistan lấy đường nghèo là mứctiêu thụ 2.350 Kcalo/người/ngày Một số nước khác như Lào, Campuchia,Trung Quốc, Indonexia, Việt Nam sử dụng ngưỡng nghèo là mức tiêu thụ2.100 Kcalo/người/ngày theo cách tiếp cận của Ngân hàng thế giới
Trang 12Bảng 1.1 Chuẩn nghèo của một số nước năm 2001
Kcalo/người/ngày Thu nhập Chi tiêu Đông Á
(Nguồn: Nguyễn Văn Phẩm - 2003)
Việc sử dụng các tiêu chuẩn làm ngưỡng nghèo khác nhau đã gây rakhó khăn và sai sót trong việc so sánh giữa các vùng trong một quốc gia, sosánh giữa các quốc gia hoặc so sánh theo thời gian
Để đảm bảo tính thống nhất khi so sánh quốc tế, Ngân hàng thế giới đãđưa ra 2 mức chuẩn là thu nhập dưới 1 Đôla Mỹ/ngày và thu nhập dưới 2Đôla Mỹ/ngày theo sức mua tương đương (PPP – Purchasing Power Parity)của Đôla Mỹ năm 1993 Đây là ngưỡng chi tiêu đủ cho một lượng lương thực
Trang 13thực phẩm thiết yếu có thể đảm bảo duy trì tối thiểu năng lượng tiêu dùng chomột người trong một ngày là 2.100 Kcalo Do đó ngưỡng nghèo này gọi là
“nghèo lương thực, thực phẩm”
Trên cơ sở đó, Ngân hàng Phát triển Châu Á đã đưa ra các con số thống
kê về tỷ lệ nghèo của một số nước như sau:
Bảng 1.2 Tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo của một số nước
Đơn vị: %
nghèo quốc gia
Theo chuẩn nghèo quốc tế
1 USD/ngày 2 USD/ngày Đông Á
Trang 14Micronesia 1998 27,9 5,2 19,7
(Nguồn: Nguyễn Văn Phẩm - 2003)
Theo Ngân hàng thế giới thì số người sống dưới 1 USD/ngày đã giảm
từ 1,5 tỷ người vào năm 1981 xuống còn 1,1 tỷ người vào năm 2001 và 1 tỷngười vào năm 2007 Con số này phần nào phản ánh tốc độ phát triển kinh tếmạnh mẽ của hai quốc gia đông dân nhất thế giới hiện nay là Trung Quốc và
Ấn Độ Tuy nhiên, bên cạnh đó xuất hiện một thực tế đáng lo ngại là số ngườisống dưới mức 2 USD/ngày lại tăng lên, từ 2,4 tỷ người năm 1981 tăng lên2,7 tỷ người năm 2001 Theo báo cáo phát triển con người của UNDP đầutháng 9 năm 2005 thì dự tính tới năm 2015 trên toàn thế giới sẽ có thêmkhoảng 1,7 tỷ người sống dưới mức 2 USD/ngày
Hình 1.1 Tỷ lệ nghèo theo ngưỡng 1 USD/ngày và 2 USD/ngày
(Đô la tính theo sức mua tương đương theo giá cố định năm 1993)
(Nguồn: Ngân hàng thế giới, Khu vực Châu Á Thái Bình Dương, 2004)
Trang 15Mức chuẩn nghèo đã được Ngân hàng thế giới điều chỉnh lên thành1,25 Đôla Mỹ/ngày vào năm 2005 sau những diễn biến lạm phát lan rộng trênquy mô toàn cầu ảnh hưởng tới giá lương thực, giá tiêu dùng tại nhiều nơi.Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 2008, hiện nay thế giới có khoảng1,4 tỷ người đang chịu cảnh đói nghèo (số liệu dựa trên ngưỡng nghèo 1,25Đôla Mỹ/ngày), bằng khoảng 1/3 dân số các nước đang phát triển Tuy nhiêntrước tình hình dân số thế giới đang tăng nhanh thì tỷ lệ nghèo đói vẫn giảm
từ 50% xuống còn 25% trong 25 năm qua
Châu Phi và Nam Á là những khu vực thất bại nhất trong chính sáchgiảm nghèo, Nam Á là nơi có nhiều người nghèo nhất với 595 triệu ngườitrong đó 455 triệu là người Ấn Độ Số người nghèo tuyệt đối tại Châu Phităng từ 200 triệu người lên 380 triệu người trong thời gian từ 1981 – 2005, dựđoán sẽ không đạt được mục tiêu xóa nghèo mức 1 USD/ngày vào năm 2015
Ngày 27/08/2008, tại Hồng Kông, Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB
đã công bố tiêu chuẩn mới để xác định tình trạng nghèo khó ở châu Á, theo
đó, một người được xác định là nghèo khi thu nhập dưới 1,35 Đôla Mỹ/ngày.ADB cho rằng việc lập tiêu chuẩn mới xuất phát từ thực tế tăng trưởng kinh tếtại nhiều nước châu Á rất cao trong những năm gần đây, nhưng tình trạng mấtcân bằng về thu nhập cũng ngày càng gia tăng Đây là lần đầu tiên việc sosánh mức độ nghèo xuyên quốc gia được thực hiện tại châu Á, để có được con
số này, ADB đã lấy trung bình cộng các mức nghèo tại 16 nước đang pháttriển ở châu Á năm 2005
Chuẩn nghèo là một thước đo quan trọng trong việc đánh giá đói nghèocủa mỗi vùng, mỗi quốc gia cũng như của toàn thế giới, việc xây dựng mộtchuẩn nghèo hợp lý, phù hợp với điều kiện thời gian, không gian, tập quán chitiêu của từng địa phương sẽ giúp xác định đúng đối tượng nghèo, trên cơ sở
đó đánh giá chính xác hơn thực trạng nghèo đói tại địa phương
Trang 162.2 Chuẩn nghèo đói của Việt Nam
2.2.1 Theo phương pháp của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Đây là phương pháp xác định chuẩn nghèo đói dựa trên thu nhập của
hộ gia đình, các hộ gia đình được xếp vào diện nghèo nếu mức thu nhập bìnhquân đầu người của họ dưới mức chuẩn được xác định, mức này được quiđịnh khác nhau giữa khu vực thành thị, nông thôn và miền núi hải đảo donhững đặc điểm riêng về kinh tế - xã hội
Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo hiện nay sửdụng chuẩn nghèo theo phương pháp này
a Giai đoạn 1993 – 1995
- Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân mỗi người trong hộ quy ragạo đạt dưới 13 kg/người/tháng (đối với khu vực thành thị) và dưới 8kg/người/tháng (đối với khu vực nông thôn)
- Hộ nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân mỗi người trong hộ quy
ra gạo đạt dưới 20 kg/người/tháng (đối với khu vực thành thị) và dưới 15kg/người/tháng (đối với khu vực nông thôn)
b Giai đoạn 1995 – 1997
- Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân mỗi người trong hộ quy ragạo dưới 13 kg/người/tháng, tính cho mọi vùng
- Hộ nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân mỗi người trong hộ quy
ra gạo theo giá đầu năm 1996:
• Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tươngđương 60.000 đồng/người/tháng)
• Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng(tương đương 80.000 đồng/người/tháng)
• Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng (tương đương 100.000đồng/người/tháng)
Trang 17c Giai đoạn 1997 – 2000 (Công văn số 1571/LĐTBX, ngày 20/05/1997)
- Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân mỗi người trong hộ quy ragạo dưới 13 kg/người/tháng (tương đương 45.000 đồng theo giá 1997) tínhcho mọi vùng
- Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân mỗi người trong quy ra gạo:
• Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tươngđương 55.000 đồng)
• Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng(tương đương 70.000 đồng)
• Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng (tương đương 90.000 đồng)
d Giai đoạn 2001 – 2005 (Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH, ngày01/11/2000), theo đó không tách riêng chuẩn đói và nghèo do trong giai đoạnnày đã căn bản xóa được nạn đói
Hộ nghèo là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người trong hộ đạt
từ mức thu nhập sau trở xuống:
• Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng
• Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng
f Phương án điều chỉnh chuẩn nghèo giai đoạn 2006 – 2010
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Lao động –
Trang 18cùng các Bộ, ngành liên quan trình Chính phủ phê duyệt đề xuất phương ánđiều chỉnh chuẩn nghèo giai đoạn 2006 – 2010, trong đề xuất này có nhữngđiều chỉnh phù hợp với biến động thực tế của giá cả thị trường năm 2008 theohướng như sau: Chuẩn nghèo đối với khu vực nông thôn là 300.000đồng/người/ngày, đối với khu vực thành thị là 390.000 đồng/người/ngày Nếu
áp dụng mức điều chỉnh này, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước tính đến cuối năm
2008 sẽ là 16,5% – 17,5%; số hộ nghèo tương ứng là 3,2 – 3,4 triệu hộ
Tuy nhiên trên thực tế, việc tiến hành điều chỉnh chuẩn nghèo chungcho cả nước còn liên quan chặt chẽ tới nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội khác vàthực tế trong quá trình thực hiện việc điều chỉnh chuẩn nghèo thường đặt rayêu cầu phải thay đổi hàng loạt các chính sách, cơ chế liên quan Do vậyChính phủ hiện vẫn đang tiếp tục nghiên cứu, xem xét về việc thực hiệnphương án điều chỉnh này trong tương lai
2.2.2 Theo phương pháp của Tổng cục Thống kê
Tổng cục Thống kê dựa trên cả khía cạnh thu nhập và chi tiêu theo đầungười để xác định chuẩn nghèo, theo đó xác định 2 chuẩn nghèo sau:
- Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm: Được xác định là số tiền cầnthiết để mua một số lượng lương thực, thực phẩm hàng ngày đảm bảo cungcấp lượng Kalory tiêu dùng bình quân là 2.100 Kalory/người/ngày
Những người có mức chi tiêu dưới mức chuẩn này được gọi là ngườinghèo về lương thực thực phẩm, đây là phương pháp xác định đường đóinghèo theo chuẩn nghèo quốc tế do Ngân hàng thế giới xác định và đã đượcthực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư cũng như khảo sát về thựctrạng đói nghèo ở Việt Nam
- Chuẩn nghèo chung: Được xác định bằng cách lấy chuẩn nghèo vềlương thực, thực phẩm cộng thêm chi phí cho các mặt hàng phi lương thực,thực phẩm
Trang 19Bảng 1.3 Chuẩn nghèo ở Việt Nam qua các năm
Chi tiêu bình quân đầu người/năm
Chuẩn nghèo lương thực,
thực phẩm (đồng) 780.000 1.287.000 1.381.000 1.488.000Chuẩn nghèo chung (đồng) 1.116.000 1.790.000 1.915.000 2.076.000
Tỷ lệ nghèo lương thực,
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
3 Chỉ số đánh giá đói nghèo
Hiện nay trên thế giới sử dụng 2 thước đo phổ biến đánh giá nghèo khổ
về thu nhập là tỷ lệ nghèo và khoảng cách nghèo, chỉ số nghèo khổ tổng hợpHPI được sử dụng để đánh giá nghèo khổ của con người
3.1 Tỷ lệ nghèo (tỷ lệ đếm đầu người – HCR)
Tỷ lệ nghèo được tính bằng tỷ lệ phần trăm của dân số sống dưới mứcnghèo Sử dụng tỷ lệ nghèo có thể giúp đánh giá, so sánh quy mô nghèo, tốc
độ giảm nghèo theo không gian hoặc thời gian
Công cụ để đo tỷ lệ nghèo trong xã hội là ngưỡng nghèo Khi tính toánvới mỗi chuẩn nghèo khác nhau sẽ có tỷ lệ nghèo khác nhau Các vùng có tỷ
lệ nghèo đói cao thì tình trạng nghèo đói càng trầm trọng và mức sống ngườidân càng thấp hơn nhiều so với mức chuẩn nghèo
Tỷ lệ hộ nghèo có thể phân chia theo khu vực (theo vùng địa lý hoặctheo khu vực thành thị - nông thôn), theo giới tính hoặc theo dân tộc
Trong những năm qua tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm tương đốinhanh, là một trong những nước giảm tỷ lệ nghèo đói nhanh nhất so với cácnước có cùng mức GDP, được UNDP đánh giá là một trong những nước điểnhình về việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo
Trang 20Hình 1.2 Tỷ lệ nghèo chung của Việt Nam qua các năm
Đơn vị: %
(Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội)
Hình 1.3 Tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2007 phân theo vùng
Đơn vị: %
(Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội - 2008)
3.2 Khoảng cách nghèo:
Chỉ số tỷ lệ nghèo không phản ánh được mức độ gay gắt của nghèo đói,
do đó các nhà kinh tế đã xây dựng chỉ số “khoảng cách nghèo”
Khoảng cách nghèo là phần chênh lệch giữa mức chi tiêu trung bìnhcủa người nghèo so với ngưỡng nghèo, tính bằng phần trăm so với ngưỡng
Trang 21nghèo Khoảng cách nghèo cho biết tính chất và mức độ của nghèo đói khi sosánh giữa các nhóm dân cư trong một quốc gia.
Khoảng cách nghèo cũng có thể được phân chia theo các nhóm dân tộchoặc theo khu vực Khoảng cách nghèo của những nhóm người dân tộc thiểu
số, người sống ở vùng sâu, vùng xa thường lớn hơn so với những nhóm dân
cư khác Ở Việt Nam, khoảng cách nghèo giữa các nhóm người dân tộc thiểu
số và người Kinh có sự chênh lệch đáng kể Khoảng cách nghèo của nhómdân tộc thiểu số là 34,7% năm 1993 giảm xuống còn 15,4% năm 2006, trongkhi đó khoảng cách nghèo của người Kinh và Hoa là 10% năm 1993 giảmxuống còn 2% năm 2006, sát với mức chuẩn nghèo tương ứng
3.3 Chỉ số nghèo khổ con người (Chỉ số nghèo khổ tổng hợp – HPI)
HPI là chỉ số tổng hợp đo lường sự thiếu hụt trên ba phương diện cơbản được phản ánh trong chỉ số phát triển con người HDI: chỉ số tuổi thọ, chỉ
số giáo dục và chỉ số thu nhập
HPI là một thước đo đa chiều về tình trạng nghèo khổ của các quốc gia.Giá trị HPI của một nước có ý nghĩa cho biết sự nghèo khổ của con người ảnhhưởng bao nhiêu phầm trăm dân số nước đó
Chỉ số HPI được chia thành 2 loại:
- HPI-1 đối với các nước đang phát triển:
HPI-1 = [1/3 (P1α+ P2α + P3α)]1/αTrong đó: P1: xác suất sống chưa đến tuổi 40
P2: tỷ lệ người lớn mù chữP3: trung bình không trọng số của số dân không được sử dụng nguồn nước được cải thiện và tỷ lệ trẻ thiếu cân so với tuổiα: trọng số cho độ thiếu hụt
- HPI-2: một số nước thuộc Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)
HPI-2 = [1/4 (P α + P α + P α+ P α)]1/α
Trang 22Trong đó: P1: xác suất sống chưa đến tuổi 60
P2: tỷ lệ người lớn (16-65 tuổi) thiếu kỹ năng đọc viết chức năngP3: tỷ lệ dân số sống dưới chuẩn nghèo thu nhập
P4: tỷ lệ thất nghiệp lâu dài (từ 12 tháng trở lên)α: trọng số cho độ thiếu hụt
Trong các Báo cáo phát triển con người của Chương trình Phát triểnLiên hiệp quốc UNDP, giá trị α được sử dụng là bằng 3
Các chỉ số sử dụng để đo mức độ thiếu hụt được chuẩn hóa từ 0 đến
100 (được thể hiện là tỷ lệ %)
(Nguồn: Báo cáo phát triển con người 2007/2008 UNDP)
Năm 1999, chỉ số HPI của Việt Nam đạt 29,1%, đứng thứ 45/90 quốcgia được Liên hiệp quốc nghiên cứu Năm 2001 xếp thứ 43/89, năm 2004 xếpthứ 41/95 và năm 2006, HPI-1 của Việt Nam là 19,9% xếp thứ 39/94 nướcđang phát triển
Trong những năm trước đây việc đánh giá tình trạng đói nghèo trên thếgiới chủ yếu căn cứ vào tiêu chí thu nhập quốc dân bình quân đầu người.Nhưng hiện nay, việc đánh giá đói nghèo còn dựa trên nhiều thước đo đachiều khác có tính bao quát và chính xác cao hơn, xét trên nhiều phương diện
xã hội không gắn với thu nhập căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội
và hiện trạng đời sống trung bình phổ biến của dân cư từng quốc gia
4 Một số nguyên nhân của đói nghèo ở các nước đang phát triển
Tìm hiểu nguyên nhân đói nghèo đóng vai trò quan trọng trong quátrình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo Thực tế có nhiều cách tiếp cậnkhác nhau trong nghiên cứu về đói nghèo, bản thân khái niệm đói nghèo cũngchỉ là một khái niệm tương đối và có tính biến đổi theo thời gian, do đó khôngtồn tại những nguyên nhân riêng rẽ, biệt lập để lý giải cho hiện tượng nghèo
Trang 23đói tại mỗi khu vực, mỗi quốc gia Tuy nhiên có thể tổng hợp thành 3 nhómnguyên nhân chính sau:
4.1 Do điều kiện tự nhiên
- Đất canh tác ít hoặc đất cằn cỗi, khó canh tác: đây là nguyên nhân tácđộng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp, sản lượng cây trồng, vật nuôi bị hạnchế, năng suất lao động thấp, chất lượng nông phẩm không đáp ứng được yêucầu của thị trường vì vậy hiệu quả kinh tế thu được thường không cao
- Thời tiết khí hậu không thuận lợi: điều kiện thời tiết khắc nghiệt,thường xuyên xảy ra thiên tai bất thường là yếu tố bất lợi cho sản xuất nôngnghiệp Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp vốn đã không cao, khigặp thiên tai diễn biến phức tạp là một nguyên nhân dẫn đến mất mùa, đóikém, nợ nần… Đây là nguyên nhân mang tính đặc thù của khu vực miền núi
- Vị trí địa lý không thuận lợi: những vùng nghèo thường là nhữngvùng có vị trí địa lý xa xôi, giao thông không thuận lợi do đó khả năng tiếpcận với các nguồn lực để phát triển sản xuất bị hạn chế cũng như gặp nhiềukhó khăn trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Thực tế hình thứcsản xuất phổ biến ở những vùng nghèo là sản xuất tự cung tự cấp, kinh tếhàng hóa kém phát triển, người dân khó có cơ hội vươn lên thoát nghèo
4.2 Do bản thân người nghèo
- Tình trạng không có vốn hoặc thiếu vốn sản xuất là một trong nhữngnguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo Việc thiếu vốn sẽ làm hạn chế khảnăng mở rộng sản xuất, kinh doanh hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm, đặcbiệt là sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn
- Thực tế nhiều nghiên cứu cho thấy tình trạng nghèo đói và trình độgiáo dục có quan hệ chặt chẽ với nhau Những người nghèo đa phần là nhữngngười có trình độ học vấn thấp, họ không có khả năng tìm được việc làm tốt
và ổn định, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp mang tính
Trang 24thời vụ cao, thu nhập thấp và bấp bênh Ngược lại, do những nguyên nhânnghèo đói, thu nhập chỉ đủ cho những nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở nên đa
số người nghèo không thể có điều kiện học hành đầy đủ, khó khăn trong việclựa chọn giống cây trồng, vật nuôi phù hợp để xây dựng phương án sản xuất
- Đi đôi với trình độ học vấn thấp là sự thiếu hiểu biết về kiến thức kếhoạch hóa gia đình, vì vậy đa số những gia đình nghèo là những hộ sinh đẻnhiều con, những vùng nghèo là những vùng có tỷ lệ sinh cao do người dânchưa được tiếp cận với những kiến thức về sức khỏe sinh sản Gia đình đôngcon đồng nghĩa với gánh nặng phụ thuộc lớn, do đó cơ hội thoát nghèo đốivới những hộ gia đình này là rất ít
- Bên cạnh đó, một số yếu tố như rủi ro bất thường trong cuộc sống, ốmđau, bệnh tật, tai nạn, tập quán canh tác lạc hậu, chi tiêu không có kế hoạch,lười lao động, sa ngã vào các tệ nạn xã hội cờ bạc, rượu chè… cũng là nhữngnguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo, đặc biệt là ở khu vực nông thôn
Theo số liệu báo cáo từ điều tra xác định hộ nghèo của Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội năm 2004, ở Việt Nam hiện nay tồn tại nhiều nguyênnhân gây nên tình trạng nghèo đói, trong đó nguyên nhân hàng đầu là do thiếuvốn, nguyên nhân này chiếm 63,69% tổng số ý kiến được hỏi Tiếp theo làcác nguyên nhân thiếu kinh nghiệm sản xuất kinh doanh (31,12%), thiếu đất(20,82%), bệnh tật (16,94%), gia đình đông con (13,60%), gia đình neo đơn,
ít lao động (11,40%), rủi ro (1,65%), tệ nạn xã hội (1,18%)
4.3 Do cơ chế chính sách
- Chủ trương, định hướng của mỗi quốc gia, sự quan tâm của các cấpchính quyền từ trung ương tới địa phương thể hiện trong hệ thống cơ chế,chính sách xóa đói giảm nghèo, sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấpquản lý và giữa các chính sách với nhau có tác động trực tiếp tới vấn đề đóinghèo và hiệu quả của công tác xóa đói giảm nghèo
Trang 25- Ở Việt Nam, hệ thống cơ chế chính sách nhằm thực hiện mục tiêu xóađói giảm nghèo đã được xây dựng và bước đầu thu được một số kết quả khảquan nhưng còn thiếu tính đồng bộ giữa các ngành, các cấp quản lý và giữacác chính sách với nhau do đó chưa đạt được hiệu quả bền vững và lâu dài.
- Chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn
đã xây dựng được nhiều công trình thiết yếu phục vụ cho sản xuất cũng nhưđời sống của người dân Tuy nhiên ở một số địa phương việc đầu tư còn dàntrải và mang tính bình quân, đầu tư xây dựng cơ bản ở nhiều nơi còn chưa phùhợp với điều kiện thực tế của địa phương và chưa thực sự xuất phát từ nhucầu, nguyện vọng của người dân, do đó nhiều công trình không phát huy hiệuquả sau khi xây dựng
- Chính sách cấp vốn tín dụng cho các hộ nghèo bước đầu mở ra mộtkênh tín dụng mới giúp cho những hộ sản xuất, kinh doanh tại các vùng khókhăn vươn lên thoát nghèo Tuy nhiên do nhu cầu về vốn là rất lớn, chưa thểđáp ứng được nhu cầu của người vay nên hiện nay vẫn còn nhiều hộ gia đìnhnghèo chưa được tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi này
- Chính sách cấp vốn cho người dân phát triển sản xuất chưa gắn vớicác chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư của địa phương, mứcvay đối với mỗi hộ gia đình hay mỗi công trình xây dựng chưa đáp ứng đượcnhững chi phí cần thiết, thời hạn vay ngắn, thủ tục ở một số địa phương cònrườm rà, phức tạp gây khó khăn cho người dân trong việc vay vốn
Trên đây là một số nhóm nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đóinghèo, đối với mỗi quốc gia, mỗi địa phương khác nhau tùy thuộc vào điềukiện tự nhiên, kinh tế, xã hội sẽ có những nguyên nhân đặc trưng riêng Do
đó, khi tiến hành xây dựng cơ chế chính sách và giải pháp xóa đói giảm nghèocần xuất phát từ việc phân tích thực trạng và tìm ra những nguyên nhân chung
Trang 26cũng như những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng đói nghèo để từ đó
đề xuất các nhóm giải pháp hiệu quả phù hợp với từng địa phương
II Những vấn đề cơ bản về công tác xóa đói giảm nghèo
1 Quan niệm về xóa đói giảm nghèo
Nghèo đói là vấn đề kinh tế - xã hội mà hầu hết các quốc gia trên thếgiới đều phải đối mặt trong quá trình phát triển Xóa đói giảm nghèo có thểđược hiểu là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bướcgiảm nghèo và vươn lên thoát nghèo Công tác xóa đói giảm nghèo nếu khôngđược quan tâm đúng mức sẽ dẫn đến nhiều nguy cơ gây nên hậu quả bất ổn vềkinh tế xã hội Xóa đói giảm nghèo cần được phát triển từ những cuộc vậnđộng thành chương trình mục tiêu, chiến lược lâu dài, có tính chủ động, sángtạo và hiệu quả thiết thực chăm lo đời sống cho người nghèo
Kết quả xóa đói giảm nghèo được đánh giá thông qua tỷ lệ phần trăm
và số lượng người nghèo, hộ nghèo giảm xuống
Hiện nay xóa đói giảm nghèo không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo cuộcsống vật chất cho người nghèo như các nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở, đi lại
mà còn tiến tới thực hiện mục tiêu nâng cao đời sống tinh thần cho ngườinghèo, nâng cao vị thế của người nghèo trong xã hội Chính vì thế mà các giảipháp xóa đói giảm nghèo cũng có nhiều thay đổi so với trước đây, ngoài cácbiện pháp hỗ trợ trực tiếp bằng vật chất cho người nghèo, hiện nay các chínhsách giảm nghèo đang được xây dựng theo hướng đầu tư lâu dài, hướng dẫnngười nghèo tự thoát nghèo, chứ không chỉ là hỗ trợ khẩn cấp
Đối với Việt Nam nói riêng, ngay từ khi nước ta mới giành được độclập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhanh chóng đặt ra nhiệm vụ chống đói nghèo
Tư tưởng đó đã được Đảng quán triệt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xãhội, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới Chủ trương xóa đói giảm nghèo của
Trang 27Đảng ta ngày càng thể hiện rõ quan điểm xóa đói giảm nghèo toàn diện gắnvới phát triển bền vững, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng dân chủ văn minh.
2 Sự cần thiết phải thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo
2.1 Hậu quả của đói nghèo
Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu, đặcbiệt phổ biến ở những nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Nghèo đói gây hậu quả trực tiếp tới bản thân những người nghèo.Người nghèo thường là những người không có đủ khả năng đáp ứng nhữngnhu cầu cơ bản hoặc đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu ăn, mặc, ở, họchành, đi lại… Bản thân những người nghèo, con cái và gia đình họ trước tiênphải chịu thiệt thòi về mặt vật chất so với những người giàu hơn trong xã hội.Hơn thế nữa những người nghèo thường thiếu cơ hội và khả năng được lựachọn cơ hội, thu mình trong giao tiếp với cộng đồng, tự ti trong các mối quan
hệ xã hội Ý kiến của người nghèo thường bị đánh giá thấp hơn so với nhữngngười giàu, họ không được số đông tôn trọng, tâm lý tự ti không dám đưa ra ýkiến chủ quan cá nhân của mình trong các quá trình lựa chọn ra quyết định,
do đó vị thế của người nghèo trong xã hội dần trở nên yếu thế
Nghèo đói không chỉ tác động đến chính những người nghèo mà còngây ảnh hưởng tới sự phát triển của toàn xã hội Nghèo đói biểu hiện thôngqua các chỉ số thu nhập quốc dân bình quân đầu người, mức độ đầu tư cho cáclĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội như cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, y
tế, giáo dục Nghèo đói kìm hãm sự phát triển của xã hội, lợi thế so sánh củamột xã hội nghèo đói sẽ bị giảm sút rất nhiều so với một xã hội phát triểncường thịnh Do đó có thể nhận thấy một thực tế các nước nghèo thường đượcđánh giá thấp hơn trong các mối quan hệ cạnh tranh quốc tế về cả kinh tế,chính trị, văn hoá, thể thao… Đói nghèo là một trong những nguyên nhân của
Trang 28tình trạng trộm cắp, ma tuý, mất ổn định an ninh trật tự và gia tăng tệ nạn xãhội ở một số quốc gia Thực tế ở những nước nghèo, cộng đồng xã hội thườngphải dành những khoản trợ cấp, trợ giúp cho các đối tượng yếu thế trong xãhội để giúp họ có điều kiện sống tốt hơn nhằm đảm bảo công bằng trong xãhội Tuy nhiên nếu mức trợ giúp này đòi hỏi một chi phí tài chính quá lớn sẽdẫn đến giảm khả năng tích lũy của cộng đồng, kéo theo sự hạn chế trong đầu
tư mở rộng phát triển kinh tế - xã hội Do đó có thể nói nghèo đói là nguyênnhân dẫn đến sự chậm phát triển, lạc hậu của một quốc gia so với các quốcgia khác trong khu vực và trên thế giới
Đói nghèo không chỉ gây nên hậu quả xấu đối với bản thân ngườinghèo mà còn nảy sinh những tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế vàgây ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình phát triển của xã hội Do đó việcthực hiện công tác xoá đói giảm nghèo được xem như một đòi hỏi kháchquan, một vấn đề bức xúc đối với mọi quốc gia trong mọi thời kỳ lịch sử
2.2 Vai trò của công tác xóa đói giảm nghèo với phát triển bền vững
Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức tạiJohannesbug (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định: “Phát triển bềnvững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặtcủa sự phát triển, gồm tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo
vệ môi trường” Theo quan điểm hiện nay, mục tiêu phát triển bền vữngkhông chỉ dựa trên những thành quả của tăng trưởng kinh tế mà còn bao gồmcác chỉ tiêu về phát triển giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, các chỉ tiêu vềphát triển con người, chỉ tiêu về bảo vệ môi trường… Thực hiện tốt công tácxóa đói giảm nghèo và đảm bảo công bằng xã hội là một trong những tiêu chíquan trọng đánh giá sự phát triển bền vững
Trang 29Trong quá trình cải tổ nền kinh tế, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện sựlựa chọn theo hướng phát triển toàn diện, thực hiện mục tiêu tăng trưởngnhanh đi đôi với giải quyết vấn đề công bằng xã hội ngay từ đầu và trong suốttiến trình phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm vềphát triển bền vững trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nướcđến 2010: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững Tăng trưởng kinh tế đi đôivới thực hiện công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, gắn sự phát triển kinh
tế với giữ vững ổn định chính trị xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng”
Tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo là hai phạm trù riêng rẽnhưng không tách rời biệt lập với nhau, giữa hai phạm trù này tồn tại mốiquan hệ tương hỗ và thống nhất Tăng trưởng kinh tế nhanh tạo điều kiện vậtchất để thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo và ngược lại sự thành côngtrong công tác xóa đói giảm nghèo sẽ tạo nên sự ổn định và thúc đẩy kinh tếtăng trưởng thông qua việc tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất pháttriển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực một cách toàn diện, gia tăng tínhbền vững của khối đại đoàn kết toàn dân, đẩy nhanh quá trình thực hiện cácmục tiêu tăng trưởng kinh tế, tiến tới đạt được mục tiêu chung là làm cho dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Xoá đói giảm nghèo tạo điều kiện cho tăng trưởng và phát triển kinh tếtheo hướng bền vững Sự thống nhất trong việc thực hiện các biện pháp thúcđẩy tăng trưởng kinh tế và các giải pháp xóa đói giảm nghèo hiệu quả sẽ bảođảm mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, mạnh và bền vững nhưng không làmảnh hưởng đến vấn đề công bằng xã hội, không dẫn tới sự gia tăng khoảngcách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng miền trong một quốcgia, không gây mất ổn định tình hình chính trị, an ninh xã hội, không phá huỷmôi trường sinh thái…
Trang 30Bản thân tăng trưởng kinh tế không thể giải quyết triệt để vấn đề nghèođói, song đó lại yếu tố tác động mạnh mẽ đến mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo đói
và nâng cao mức sống dân cư Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện vật chất chocông tác xóa đói giảm nghèo, vì vậy tăng trưởng kinh tế là tiền đề quan trọngcho xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên quá trình phát triển kinh tế cũng đồng thờikéo theo các vấn đề xã hội tiêu cực như nạn thất nghiệp, sự phân hóa giàunghèo, băng hoại các giá trị đạo đức, giá trị văn hóa tinh thần… chính vì vậycông tác xóa đói giảm nghèo với những giải pháp cụ thể như hỗ trợ sản xuất,tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người nghèo… cũng đóng vai trò nhưmột bộ phận của cán cân điều tiết, từng bước cải thiện đời sống nhân dân,mang lại sự công bằng cho mỗi thành viên trong xã hội
Thực tế cho thấy việc tập trung quá lớn nguồn lực cho phát triển kinh tế
ở những vùng, miền, địa phương trọng điểm nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế nhanh mà thiếu chú trọng tới các vùng khó khăn sẽ dẫn tới sự phát triểnmất cân đối và phân hóa giàu nghèo, gây bất ổn xã hội và ảnh hưởng xấu tớiviệc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững Tuy nhiên nếu đầu tư quá nhiềunguồn lực tài chính và con người cho công tác xóa đói giảm nghèo tại cácvùng khó khăn nhưng không thu được hiệu quả tương xứng cũng có thể dẫntới kìm hãm sự phát triển kinh tế và có tác động ngược trở lại làm giảm hiệuquả thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo
Để giải quyết tình trạng đói nghèo ở những vùng khó khăn không phải
là một công việc dễ dàng và nhanh chóng, nó đòi hỏi phải thực thi nhiều giảipháp đồng bộ, đòi hỏi không chỉ sự nỗ lực từ phía các cấp lãnh đạo, các banngành đoàn thể mà còn từ sự đóng góp của cộng đồng xã hội và từ bản thânngười nghèo
Khi xác định mục tiêu, định hướng, chiến lược phát triển cho mỗi thời
kỳ cụ thể đều cần có sự kết hợp đúng đắn giữa vấn đề tăng tưởng kinh tế và
Trang 31xóa đói giảm nghèo Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cần thực hiện đồng thờihoặc lồng ghép với công cuộc xóa đói giảm nghèo của từng địa phương cũngnhư của cả nước, sự kết hợp ngay từ đầu giữa tăng trưởng kinh tế với giảiquyết tốt các vấn đề xã hội là một trong những nhân tố quan trọng quyết định
sự phát triển bền vững
3 Một số chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo đã và đang thực hiện
Ngày 23/07/1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trìnhmục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998 – 2000
Ngày 31/07/1998 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình pháttriển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miềnnúi (Chương trình 135) giai đoạn I (1997 – 2006) Ngày 10/01/2006 phêduyệt chương trình 135 giai đoạn II (2006 – 2010)
Tháng 9 năm 2000, tại Hội nghị thượng đỉnh của các nguyên thủ quốcgia, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã tham dự và phát biểu cam kết thựchiện “Mục tiêu thiên niên kỷ” do Liên Hợp Quốc khởi xướng, trong đó cómục tiêu giảm một nửa số người nghèo vào năm 2015
Ngày 21/05/2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược toàndiện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo” Đây là chiến lược đầy đủ, chitiết phù hợp với mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc
Ngày 27/09/2001, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trìnhmục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 – 2005
Ngày 20/07/2004 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình hỗ trợđất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu sốnghèo, đời sống khó khăn
Ngày 05/02/2007, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trìnhmục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010
Trang 32Ngày 27/12/2008 Chính phủ ban hành Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP vềChương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo.
Nhiều biện pháp cụ thể đã được thực hiện thông qua Chương trình hỗtrợ tạo việc làm (Quyết định 120), Chương trình hỗ trợ người nghèo, ngườidân tộc thiểu số sản xuất (Quyết định 133), Chương trình phủ xanh đất trốngđồi trọc (Quyết định 327), Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng…
4 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo tại một số địa phương
4.1 Kinh nghiệm ở tỉnh Yên Bái
Thành công trong công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Yên Bái đã đượcNhà nước cũng như nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận, trong đó hiệu quả nhất là
ở vùng sâu, vùng xa, những vùng người dân tộc thiểu số sinh sống Những bàihọc được rút ra từ thực tế công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Yên Bái có thểtổng kết lại như sau:
- Thực hiện chủ trương tăng trưởng kinh tế đi đôi với xóa đói giảmnghèo, tăng trưởng kinh tế nhanh để tạo nguồn lực tài chính cho công cuộcxóa đói giảm nghèo tại địa phương
- Đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng để góp phần nâng cao chất lượngcuộc sống cho người dân Xây dựng mới hoặc sửa chữa, kiên cố hóa đườnggiao thông để tạo thuận lợi cho việc đi lại của người dân và lưu thông hànghóa Xây trường tiểu học, trung học cơ sở, thu hút trên 90% trẻ em tiểu học và70% trẻ em trung học cơ sở trong độ tuổi đến trường Trạm y tế từ cấp xã có y
sỹ phục vụ khám chữa bệnh, trang thiết bị được đầu tư cơ bản, đáp ứng nhucầu chăm sóc sức khỏe của người dân
- Xác định loại cây trồng mũi nhọn cho từng huyện, xã và khuyến khích
bà con tận dụng, khai thác tối đa diện tích nương, bãi, đồi dốc thấp để mởrộng diện tích gieo trồng, từng bước hình thành các vùng chuyên canh
Trang 33- Thực hiện dự án khuyến nông – lâm – ngư và phát triển sản xuất,ngành nghề xóa đói giảm nghèo, cán bộ nông nghiệp huyện xuống xã, thôn,bản tổ chức nhiều lớp tập huấn, gặp gỡ bà con, hướng dẫn kỹ thuật, giúp bàcon từ bỏ tập quán canh tác cũ, áp dụng kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.
- Đa dạng hóa và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho xóa đói giảmnghèo Cùng với các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo của Nhà nước,tỉnh Yên Bái còn chú trọng tới việc thu hút nguồn vốn từ các quốc gia, các tổchức quốc tế như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á, Tổ chứcSIDA của Thụy Điển, JICA của Nhật Bản… Từ các nguồn vốn này, tỉnh YênBái chủ động tổ chức thực hiện theo hướng lồng ghép dự án, coi trọng tínhhiệu quả đối với từng vùng, từng điều kiện mà người dân có thể tiếp cận được
dễ dàng và nhanh chóng nhất
4.2 Kinh nghiệm ở tỉnh Ninh Bình
Sau 20 năm đổi mới, kinh tế Ninh Bình đã có nhiều bước phát triểnmạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng,các nguồn lực huy động cho đầu tư phát triển tăng nhanh; cơ sở vật chất – kỹthuật được tăng cường; văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dânđược cải thiện, bột mặt đô thị và nông thôn có nhiều đổi mới; an ninh chínhtrị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, quốc phòng được tăng cường; hệthống chính trị được củng cố Các chỉ tiêu do Đại hội XIV của Đảng bộ tỉnh
đề ra cơ bản hoàn thành, nhiều chỉ tiêu hoàn thành vượt mức, trong đó đạtđược nhiều kết quả quan trọng trong việc hoàn thành mục tiêu phát triển kinh
tế gắn với xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội
Từ thực tiễn xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua,nhất là trong 5 năm trở lại đây, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm:
- Xây dựng và triển khai đồng bộ các chính sách, dự án về giảm nghèo,lồng ghép có hiệu quả với chính sách kinh tế - xã hội khác của tỉnh Phân
Trang 34công trách nhiệm rõ ràng cho các cấp, các ngành trong việc xây dựng và tổchức thực hiện các chính sách, dự án giảm nghèo
- Lãnh đạo tỉnh Ninh Bình đã tạo bước đột phá mới trong chỉ đạo pháthuy sức mạnh và sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân, gắn tráchnhiệm của các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể để đạt vàvượt mục tiêu xóa đói giảm nghèo đã đề ra; đẩy mạnh phong trào “Ngày vìngười nghèo” đến mọi tổ chức kinh tế xã hội, các tầng lớp dân cư
- Chủ trương gắn xóa đói giảm nghèo với giải quyết việc làm tại chỗ ởkhu vực nông thôn, thực hiện hiệu quả các đề án, dự án phát triển nôngnghiệp, nông thôn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tổ chức sảnxuất, cung ứng và quản lý giống, kiên cố hóa kênh mương, phát triển đa dạnghóa ngành, nghề ở nông thôn…
- Đối với khu vực thành thị, thực hiện hiệu quả đề án phát triển các khucông nghiệp, cụm công nghiệp và ngành tiểu thủ công nghiệp, phát triểnthương mại, du lịch Có cơ chế, chính sách khuyến khích việc thành lập hoặc
mở rộng các cơ sở sản xuất với quy mô ngành nghề đa dạng, thu hút đượcnhiều lao động tại chỗ
- Đẩy mạnh việc nhân rộng các mô hình xóa đói giảm nghèo có hiệuquả, nhất là mô hình xóa đói giảm nghèo tại các vùng đặc thù, khó khăn nhưvùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào theo đạoThiên Chúa; hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo theo phương châm: cộng đồng, dòng
họ, bản thân hộ nghèo và Nhà nước cùng lo
- Tăng cường hiệu quả công tác đào tạo nghề cả về số lượng và chấtlượng, đặc biệt quan tâm tới việc dạy nghề cho đối tượng thanh niên, nôngdân, bộ đội xuất ngũ, người tàn tật, hướng dẫn cách làm ăn để nâng cao chấtlượng lao động, chú trọng tới đối tượng người nghèo ở vùng nông thôn, vùng
đô thị hóa, khu công nghiệp
Trang 35- Tổ chức bồi dưỡng tập huấn nâng cao nhận thức, năng lực cho cán bộlàm công tác xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là ở cơ sở Gắn kết giữa chươngtrình xóa đói giảm nghèo với tạo việc làm, tăng thu nhập; gắn việc thực hiệnchương trình 135 với các chương trình, dự án khác trên địa bàn, bảo đảm đạthiệu quả kinh tế - xã hội cao, đồng thời cụ thể hóa các chỉ tiêu, mục tiêu, kếhoạch đến cơ sở xã, phường, thôn để mọi người dân nắm được và tích cựctham gia thực hiện.
4.3 Kinh nghiệm ở tỉnh Đồng Nai
Đồng Nai được xem là một trong những địa phương thành công nhấttrong việc thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo Năm 2000 toàn tỉnh có12,26% hộ nghèo thì nay chỉ còn 0,87% (theo chuẩn nghèo cũ) Từ quá trình
đi lên của Đồng Nai, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Thực hiện chủ trương “đem cái chữ đến cho người nghèo” Trước khitriển khai các giải pháp nâng cao dân trí cho người nghèo, tỉnh đã có nhiềunghị quyết, chỉ thị về xây dựng trường lớp ở nông thôn, các vùng khó khăn vàtiến đến kiên cố hóa Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, tác động mạnh mẽ đến ýthức của người dân, đặc biệt là nông dân trong việc chăm lo cho sự nghiệpgiáo dục và đào tạo Nhờ vậy, đến nay hầu hết các em tuổi từ 18 trở xuốngđều có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở
Một trong những điểm nổi bật của công tác nâng cao dân trí góp phầnxóa đói giảm nghèo là việc tỉnh chủ trương đẩy mạnh giáo dục thường xuyên,
tổ chức hàng loạt các lớp bổ túc văn hóa ở vùng nông thôn, thu hút sự thamgia của các doanh nghiệp trong việc mở các khóa bổ túc văn hóa cho côngnhân Toàn tỉnh hàng năm có khoảng 16.500 người được theo học lớp bổ túcvăn hóa các cấp, trong đó phần đông là những người có hoàn cảnh khó khăn
và công nhân lao động
Trang 36- Quan tâm đến công tác dạy nghề để giúp người dân có việc làm, thunhập ổn định, thoát nghèo bền vững Sở Lao động – Thương binh và Xã hộicùng ngành giáo dục đào tạo đã tổ chức nhiều khóa đào tạo nghề ngay tại cácdoanh nghiệp, tại các xã vùng sâu, vùng xa để người dân nghèo có trình độvăn hóa chưa cao học được những nghề phù hợp.
Tiến hành nhiều chương trình dạy nghề và giới thiệu việc làm cho con
em đồng bào dân tộc, gia đình chính sách Bình quân mỗi năm có trên 1.000học viên được đào tạo miễn phí và giới thiệu việc làm có thu nhập ổn định
- Chính sách “đưa ngân hàng, nhà máy về với nông thôn” Chươngtrình cung ứng vốn cho người nghèo của tỉnh Đồng Nai đã triển khai thựchiện từ năm 1994 Năm 2003, Ngân hàng chính sách xã hội ra đời với mạnglưới điểm giao dịch rộng khắp từ tỉnh, huyện tới cấp xã để tiếp cận người dân
Mở rộng cho vay bằng các hình thức liên kết với Hội liên hiệp phụ nữ, Hộinông dân, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh… để mở ra những kênhchuyển tải vốn đến người vay nhanh chóng, kịp thời Năm 2001 đến nay đã cótrên 49.000 lượt hộ được vay vốn xóa đói giảm nghèo với số tiền lên đến hàngtrăm tỷ đồng, người dân vay vốn đã sử dụng đúng mục đích và hiệu quả, gópphần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện cuộc sống đáng kể
- Chủ trương “gắn sản xuất công nghiệp với chương trình xóa đói giảmnghèo” Đồng Nai có diện tích cây điều đứng thứ hai cả nước và dẫn đầu vềnăng suất Cây điều từng được mệnh danh là “cây của người nghèo”, “cây xóađói giảm nghèo” giờ đây có tên mới là “cây để làm giàu” Chủ trương của tỉnhđối với các doanh nghiệp hoạt động tại các khu công nghiệp trên địa bàn cần
ưu tiên gắn chế biến với vùng nguyên liệu nông sản Chủ trương này khôngchỉ tạo ra một số lượng lớn việc làm tại chỗ cho lao động địa phương mà còn
hỗ trợ nông dân từ khâu cung ứng giống, hướng dẫn kỹ thuật đến bao tiêutoàn bộ sản phẩm, tạo điều kiện cho hộ trồng điều có cơ hội phát triển
Trang 374.4 Bài học kinh nghiệm cho công tác xóa đói giảm nghèo của Phú Thọ
Qua phân tích những kinh nghiệm thực tế của ba địa phương nói trên
có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho công tác xóa đói giảm nghèo củatỉnh Phú Thọ trong thời gian tới như sau:
- Trong quá trình lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh cầnxác định xóa đói giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên Phốihợp đồng bộ giữa các ban ngành đoàn thể trong xây dựng kế hoạch xóa đóigiảm nghèo tại địa phương Tăng cường sự tham gia hiệu quả của người dântrong việc lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng như kế hoạchgiảm nghèo nói riêng
- Thực hiện đồng thời mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với xóa đóigiảm nghèo hiệu quả Cần đảm bảo đủ và ưư tiên bố trí kịp thời vốn đầu tưtheo đúng mức chương trình, dự án đã được duyệt Đảm bảo mọi người dânđều được thụ hưởng thành quả tăng trưởng kinh tế
- Xây dựng những giải pháp xóa đói giảm nghèo phải xuất phát từ điềukiện thực tế của từng địa phương trên mọi khía cạnh: tự nhiên, thực trạng pháttriển kinh tế xã hội, trình độ dân trí, khả năng tiếp cận các biện pháp hỗ trợ…
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến nâng cao hiểu biết chongười dân về ý nghĩa, mục đích của công tác xóa đói giảm nghèo, ý thức tựvươn lên thoát nghèo, nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả để mọingười dân đều được học hỏi
Trong công cuộc xóa đói giảm nghèo hiện nay, việc tham khảo và họctập kinh nghiệm từ các địa phương khác là vô cùng cần thiết Tuy nhiên việcvận dụng những kinh nghiệm đó cần linh hoạt và chủ động điều chỉnh phùhợp với tình hình thực tế, nhằm đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo và tăng cườnghiệu quả công tác xoá đói giảm nghèo, đồng thời tránh được những hậu quảtiêu cực trong quá trình thực hiện
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2001 - 2008
I Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ
1 Đặc điểm tự nhiên và nguồn nhân lực
1.1 Vị trí địa lý
Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trongkhu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc, đây
là vị trí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây - Đông - Bắc
Phía Đông Nam giáp thành phố Hà Nội, phía Đông Bắc giáp VĩnhPhúc, phía Tây giáp Sơn La, phía Tây Bắc giáp Yên Bái, phía Nam giáp HòaBình, phía Bắc giáp Tuyên Quang
Phú Thọ cách trung tâm Hà Nội 80 km, cách sân bay quốc tế Nội Bài
60 km về phía Bắc, cách cửa khẩu Lào Cai, cửa khẩu Thanh Thuỷ hơn 200
km, cách Hải Phòng 170 km và cảng Cái Lân 200 km Việt Trì là thành phốduy nhất trên cả nước có 3 con sông lớn chảy qua: sông Hồng, sông Lô vàsông Đà nên đây thường được gọi là thành phố “ngã ba sông”
Phú Thọ nằm ở trung tâm các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt
và đường sông từ các tỉnh thuộc Tây - Đông - Bắc đi Hà Nội, Hải Phòng và
Trang 39nhiều nơi khác, là cầu nối giao lưu kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật giữacác tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi Tây Bắc
có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai khoáng và kinh tế trang trại
- Tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dảiđồng bằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy Vùng này thuận lợi cho việc trồngcác loại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực và chăn nuôi
1.3 Đặc điểm khí hậu
Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đônglạnh Mưa bão tập trung vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm Cáchiện tượng gió lốc, mưa đá thường xuyên xảy ra vào mùa hè và mùa thu Vàomùa đông thường xảy ra hiện tượng sương muối Nhiệt độ trung bình nămkhoảng trên 230C, lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1.600 mm đến1.800 mm Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn, khoảng 85 – 87%.Nhìn chung đặc điểm khí hậu của Phú Thọ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việcphát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi đa dạng
1.4 Tài nguyên thiên nhiên
1.4.1 Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên của Phú Thọ là 3.519,56 km2 Trong đódiện tích đất nông nghiệp chiếm 27%, diện tích đất lâm nghiệp có rừng chiếm38%, diện tích đất chuyên dùng chiếm 5%, diện tích đất chưa sử dụng và sôngsuối đá chiếm 26%
Trang 40Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm chiếm 61%,riêng đất lúa có 48.437 ha, chiếm 12,57%, diện tích đất có mặt nước nuôitrồng thủy sản là 2.321 ha Hiện nay Phú Thọ mới sử dụng khoảng 67% tiềmnăng đất nông – lâm nghiệp, còn khoảng 126 nghìn ha đất trống, đồi núi trọc
Các loại đất ở Phú Thọ được đánh giá là có thể trồng cây nguyên liệuphục vụ cho một số ngành công nghiệp chế biến, nếu có vốn đầu tư và tổ chứcsản xuất có thể tăng năng suất ở nhiều nơi, đưa hệ số sử dụng đất lên đến 2,5lần (hiện nay mới đạt khoảng 2,2 lần) đồng thời bảo vệ và làm giàu thêm vốntài nguyên này, cho phép phát triển công nghiệp và đô thị trong tương lai.1.4.2 Tài nguyên rừng
Diện tích rừng hiện có 144.256 ha, trong đó có 69.547 ha rừng tựnhiên, 74.704 ha rừng trồng, mỗi năm cung cấp hàng vạn tấn gỗ cho côngnghiệp chế biến Độ che phủ rừng lớn (năm 2007 là 47,8 % diện tích tựnhiên), được xếp vào một trong những tỉnh có độ che phủ rừng lớn nhất trong
cả nước
Các loại cây chủ yếu đang được phát triển là bạch đàn, mỡ, keo, bồ đề
và một số loại cây bản địa, đáng chú ý nhất vẫn là những cây phục vụ chongành công nghiệp sản xuất giấy
1.4.3 Tài nguyên khoáng sản
Phú Thọ là tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản, phong phú về chủng loại
và dồi dào về trữ lượng, trong đó nhiều loại có giá trị kinh tế cao, trên địa bàntỉnh hiện nay có khoảng 125 mỏ và điểm quặng
Một số loại như cao lanh có tổng trữ lượng khoảng 30 triệu tấn, điềukiện khai thác thuận lợi, trữ lượng chưa khai thác lên tới 24,7 triệu tấn.Fenspat có tổng trữ lượng khoảng 5 triệu tấn, điều kiện khai thác thuận lợi, trữlượng chưa khai thác còn khoảng 3,9 triệu tấn Nước khoáng có tổng trữlượng khoảng 48 triệu lít, điều kiện khai thác thuận lợi, trữ lượng chưa khai