các bài tập ở tiểu học có tính chất thử sai. các bài tập này giúp học sinh hình thành tư duy trong làm toán. tăng khả năng nhạy bén trong việc tư duy. học sinh không sợ sai, làm để biết cách tìm ra con đường hay nhất cho bài toán. bên cạnh đó là những trò chơi cho học sinh. không chỉ giúp cho các em tư duy về mặt toán học mà còn tăng khả năng vận đông cho học sinh.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Trang 2CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC 1.1Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi Tiểu học
Các giác quan của học sinh Tiểu học đang dần hoàn thiện Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở giai đoạn đầu tri giác của học sinh thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng
Chú ý không chủ định chiếm ưu thế ở giai đoạn đầu Ở giai đoạn này học sinh
dễ bị phân tán, lôi cuốn vào những đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng… Giai đoạn cuối tiểu học sự chú
ý phát triển dần và chiếm ưu thế trẻ có sự nỗ lực hơn trong quá trình học
Trí nhớ và sự phát triển nhận thức ở học sinh Tiểu học là loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic Lớp 1, 2 các em ghi nhớ một cách máy móc chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu Lớp 4,
5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường
Trí tưởng tượng ở giai đoạn đầu tiểu học còn khô khan, đơn giản, chưa bền vững Cuối cấp tiểu học tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, tưởng tượng của các
em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Từ những đặc điểm trên, chúng tôi mong muốn có thể tạo ra những trò chơi học tập hỗ trợ việc dạy và học toán Những trò chơi với màu sắc bắt mắt, sinh động ban đầu
sẽ gây chú ý cho học sinh Sau đó, khiến các em tò mò và muốn thử sức Đây là một yếu tố quan trọng khuyến khích học sinh tự giác học tập Vì động cơ học tập xuất phát
từ chính bản thân học sinh Việc thi đua với nhau khi tham gia các trò chơi khiến học sinh tích cực và có ý thức hoàn thiện mình hơn
1.2Trò chơi học tập
Trò chơi học tập ( Play – Based learning) là phương pháp giáo dục truyền tải một thông điệp hay một nội dung cụ thể đến người tham gia thông qua hình thức trò chơi, làm cho người tham gia tự khám phá ra nội dung bài học nào đó một cách chủ động, thích thú và ghi nhớ được
Trong tâm lý học đại cương và giáo dục học trẻ em đưa ra khái niệm Trò chơi học tập như sau: Trò chơi học tập là “Trò chơi có luật và những nội dung cho trước, là
Trang 3tượng đã có nhằm phát triển các năng lực trí tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết của trẻ - trong đó nội dung học tập kết hợp với hình thức chơi”.
Học tập dựa trên trò chơi có thể đưa học sinh vào các môi trường mà học sinh cảm thấy quen thuộc và có liên quan kiến thức đã được học trên lớp Theo Tiến sĩ Susan Ambrose, giám đốc Trung tâm Eberly Carnegie Mellon cho rằng “Trò chơi học tập là động lực trong việc giúp cho việc giảng dạy trên lớp được tốt hơn, bởi vì chúng
ta có thể nhìn thấy và hiểu được một cách nhanh nhất về mối liên hệ giữa kinh nghiệm học tập và thực tế bên ngoài đời sống.”
Nhận định của nhà giáo dục hàng đầu thế giới Arngoroki: "Trò chơi là con đường để trẻ em nhận thức thế giới, là nơi chúng đang sống và là cái chúng nhận thấy cần phải thay đổi"
Trong trò chơi học tập chứa đựng rất nhiều trò chơi như: trò chơi toán học, trò chơi với chữ cái, trò chơi âm nhạc, trò chơi tạo hình…
Trang 4CHƯƠNG 2: MỘT SỐ TRÒ CHƠI TOÁN HỌC1.4Trò chơi sưu tầm
1.4.1 Chơi lô tô
Ai mà đánh dấu hết các số trên cùng một hàng dọc hoặc hàng ngang thì là người chiến thắng
Trang 5xuống Thiết kế sao cho 1 lần mở tối đa được 2 ô, nếu 2 ô có nội dung tương đương thì 2 ô đó biến mất, nếu 2 ô không tương đương thì úp xuống trở lại.
Chiều dài nhân với chiều rộng
▪ Rèn luyện kĩ năng nhận diện các con số là kết quả của các phép tính đã
được học (lớp 1, 2, 3), ôn tập các công thức tính toán (lớp 4, 5)
▪ Phát triển khả năng nhanh nhẹn, tư duy tính nhẩm nhanh để tìm ra đáp án
đúng và nhanh nhất Tinh thần hợp tác đồng đội
Chuẩn bị:
− 1 bảng quay hình tròn bằng giấy cứng, có trục quay, chia đều các ô và có kim chỉ vào ô Trên mỗi ô ghi số (tùy vào bài học, VD: Ở Lớp 1, 2, 3 GV ghi các con số là kết quả của các phép tính) hoặc ghi đại lượng cần tính (VD: Lớp 5, GV ghi Sxq hình hộp chữ nhật, Phình tròn, )
Cách chơi:
− Đại diện học sinh lên quay vòng tròn, vòng tròn dừng lại thì mời 1 học sinh trả lời:
▪ Lớp 1, 2, 3: khi vòng tròn dừng lại, kim chỉ con số nào thì phải ghi 1 phép
tính (cộng, trừ, nhân, chia tùy bài học và tùy yêu cầu giáo viên) có kết quả
là con số đó
▪ Lớp 4, 5: khi vòng tròn dừng lại, kim chỉ vào ô có yêu cầu nào thì học sinh
phải hoàn thành yêu cầu đó Ví dụ: kim chỉ ô Shình tròn => học sinh phải trả lời
1.4.4 Trò chơi “Ô ăn quan”
Trang 6− Quân chơi: gồm hai loại quan và dân Quan có kích thước lớn hơn dân Số lượng quan luôn là 2 còn dân có số lượng tùy theo luật chơi nhưng phổ biến nhất là 50.
▪ Bố trí quân chơi: quan được đặt trong hai ô hình bán nguyệt hoặc cánh
cung, mỗi ô một quân, dân được bố trí vào các ô vuông với số quân đều nhau, mỗi ô 5 dân
▪ Người chơi: thường gồm hai người chơi, mỗi người ngồi ở phía ngoài cạnh
dài hơn của hình chữ nhật và những ô vuông bên nào thuộc quyền kiểm soát của người chơi ngồi bên đó
Trang 7thể ăn được càng nhiều dân và quan hơn đối phương càng tốt (rèn khả năng tính nhẩm, tính nhanh và chính xác)
− Khi đến lượt, người chơi sẽ dùng tất cả số quân trong một ô có quân bất kỳ do người đó chọn trong số 5 ô vuông thuộc quyền kiểm soát của mình để lần lượt rải vào các ô, mỗi ô 1 quân, bắt đầu từ ô gần nhất và có thể rải ngược hay xuôi chiều kim đồng
hồ tùy ý
− Khi rải hết quân cuối cùng:
•Nếu liền sau đó là một ô vuông có chứa quân thì tiếp tục dùng tất cả số quân đó để rải tiếp theo chiều đã chọn
•Nếu liền sau đó là một ô trống (không phân biệt ô quan hay ô dân) rồi đến một ô có chứa quân thì người chơi sẽ được ăn tất cả số quân trong
ô đó Và liền sau ô có quân đã bị ăn lại là một ô trống rồi đến một ô có quân nữa thì người chơi có quyền ăn tiếp cả quân ở ô này
•Nếu liền sau đó là ô quan có chứa quân hoặc 2 ô trống trở lên hoặc sau khi vừa ăn thì người chơi bị mất lượt và quyền đi tiếp thuộc về đối phương
Trang 8▪ Trường hợp đến lượt đi nhưng cả 5 ô vuông thuộc quyền kiểm soát của
người chơi đều không có dân thì người đó sẽ phải dùng 5dân đã ăn được của mình để đặt vào mỗi ô 1 dân để có thể thực hiện việc di chuyển quân Nếu người chơi không đủ 5 dân thì phải vay của đối phương và trả lại khi tính điểm
▪ Cuộc chơi sẽ kết thúc khi toàn bộ dân và quan ở hai ô quan đã bị ăn hết
Trường hợp hai ô quan đã bị ăn hết nhưng vẫn còn dân thì quân trong những hình vuông phía bên nào coi như thuộc về người chơi bên ấy
Trang 9Ô ăn quan
có thể có từ 2-4 người chơi
Trang 101.4.5 Ong đi tìm nhụy
▪ Toán lớp 3: Thực hiện phép tính nhân để tìm ra kết quả nhị hoa (trò chơi có
▪ 2 bông hoa 5 cánh, mỗi bông một màu, trên mỗi cánh hoa ghi các số như
sau, mặt sau gắn nam châm 10 chú Ong trên mình ghi các phép tính, mặt sau có gắn nam châm
− Phấn màu
Cách chơi:
− Chia 2 đội, mỗi đội 4 em
− Giáo viên chia bảng làm hai, gắn mỗi bên bảng mộ bông hoa
và 5 chú Ong, ở bên dưới không theo trật tự, đồng thời giới thiệu trò chơi Cô có 2 bông hoa trên những cánh hoa là các kết quả của phép tính, còn những chú Ong thì chở các phép tính đi tìm kết quả của mình Nhưng các chú Ong không biết phải tìm như thế nào, các chú muốn nhờ các con giúp, các con
có giúp được không?
Trang 11− 2 đội xếp thành hàng Khi nghe hiệu lệnh “bắt đầu” thì lần lượt từng bạn lên nối các phép tính với các số thích hợp Bạn thứ nhất nối xong phép tính đầu tiên, trao phấn cho bạn thứ 2 lên nối, cứ như vậy cho đến khi nối hết các phép tính Trong vòng 1 phút, đội nào nối đúng và nhanh hơn là đội chiến thắng.
− Lưu ý : Sau khi học sinh chơi xong, giáo viên chấm và hỏi thêm một số câu hỏi sau để khắc sâu bài học
− Tại sao chú Ong “24 : 6 ” không tìm được đường về nhà ?
− Phép tính “24 : 6″ có kết quả bằng bao nhiêu ?
▪ Muốn chú Ong này tìm đợc về thì phải thay đổi số trên cánh hoa như thế
Trang 13− Đối tượng: học sinh lớp 1, 2
− Cách làm: Lấy số lớn trừ số bé ở các phần của hình tròn
− Đáp án: 5
▪ Giáo viên chuẩn bị một số tấm bìa cứng (từ bìa vở cũ, giấy thùng, ) , thiết
kế các dạng bài tập như trên cho trẻ chơi giải toán và đố bạn trong giờ ra chơi, sinh hoạt lớp,
1.4.6 Tú lơ khơ phân số
Đối tượng:
− Học sinh lớp 4
Mục đích:
▪ Củng cố các biểu tượng về khái niệm phân số, rèn kĩ năng nhận dạng các
biểu tượng phân số, liên hệ các biểu tượng phân số với cách đọc, cách viết các phân số đã cho
Chuẩn bị:
− 4 bảng cho 4 học sinh như sau:
•Bảng 1:
Trang 14•Bảng 2:
Trang 15•Bảng 3:
Trang 16•Bảng 4:
1 4
2 3
Một
4 9
Ba phần tư
Trang 184 5
Năm phần tám
7 12
− 24 quân bài được viết thành chữ và số như sau:
Cách chơi:
▪ Thời gian chơi khoảng 10 phút Mỗi học sinh bốc thăm để nhận 1 trong 4
bảng và được quyền đi ở bảng đó Tráo các quân bài và úp ở trước mặt bốn người
▪ Người thứ nhất rút một quân bài và đọc phân số có ghi trong đó rồi đối
chiếu vào bảng của mình Nếu nó được biểu diễn bằng một biểu tượng tô đậm trên bảng thì em sẽ đặt quân bài vào biểu tượng đó Nếu không tìm thấy biểu tượng nào đúng với phân số rút được thì ba người xung quanh cần màu chóng tìm biểu tượng tương ứng trên bảng của mình và giành quân bài đặt lên đó Tiếp tục đến người thứ 2, người thứ 3 … Mỗi người rút một quân bài, ai đặt được quân bài lên kín bảng sớm nhất là người đó thắng cuộc
Trang 19▪ Giáo viên chia lớp thành hai đội chơi, mỗi đội nhận được một hộp đựng số,
giáo viên gài sẵn trên bảng những phép tính nhưng còn thiếu số Học sinh phải lựa chọn một số nào đó trong hộp số của mình phù hợp với phép tính
để gắn vào bảng
▪ Ví dụ: Học sinh phải lựa chọn mảnh bìa ghi số
13
để gài vào phép tính như
▪ Chuẩn bị cho hai đội Mỗi đội khoảng 25000đ gồm: 200đ (10 tờ), 500đ (10
tờ), 1000đ (8 tờ), 2000đ (5 tờ) Chuẩn bị một số đồ dừng học tập như: giấy màu (200đ/tờ), bút chì (500đ/chiếc), thước kẻ (1200đ/chiếc), vở viết (1500đ/quyển), truyện tranh (2000-3000đ/quyển), bút bi (1000đ/chiếc)… giá sẽ được dán trên các sản phẩm Bày tất cả vào bàn cho hai đội Phát cho hai đội mỗi đội một túi nilon để đựng hàng mua sắm
Cách chơi:
− Khi giáo viên hô “Bắt Đầu” và tính giờ thì hai bạn của hai đội
sẽ được vào quầy chọn mua các đồ thích hợp, mua tới đâu bỏ tiền vào hộp tới đó, cần cộng nhẩm cẩn thận, chọn đủ hàng rồi mới bỏ tiền vào hộp, nếu bỏ vào rồi không được lấy lại Sau 4 phút, giáo viên hô “Đóng Cửa” thì hai bạn lập tức rời quầy, bàn giao số tiền còn lại cho hai bạn tiếp theo Giáo viên hô
“Mở Cửa” và hai bạn tiếp lại vào chọn mua hàng cho tới hết giờ, các bạn phải nộp lại giỏ hàng cho giáo viên cũng các bạn
Trang 20kiểm tra Nếu số mặt hàng mua vừa đủ vừa hết tiền là người
“Khéo Mua” Căn cứ vào kết quả trên mà giáo viên và lớp công nhận đội thắng cuộc
▪ Hai đội chơi, mỗi đội 5 bạn Khi giáo viên ra hiệu lệnh bắt đầu chơi thì bạn
đầu tiên của mỗi đội lên điền kết quả của phép tính đầu tiên vào hình vuông, rồi nhanh chóng trao lại bút cho người thứ 2 Cứ tiếp tục như thế … Bạn thứ
5 lên điền kết quả của phép tính cuối cùng vào hình ngôi sao
− Đội nào đúng và nhanh hơn sẽ thắng cuộc
Trang 21− Que tính.
Cách chơi:
− Giáo viên cho học sinh chuẩn bị sẵn số que tính đã nêu để xếp
số hình theo yêu cầu
− Ví dụ: Dùng 7 que tính để xếp được 2 hình vuông hay 7 que tính để xếp được 3 hình tam giác (các que tính phải bằng nhau) Các nhóm chuẩn bị, khi nghe hô “Bắt đầu” thì các nhóm thảo luận và xếp lên bàn Khi nghe hiệu lệnh dừng thì các nhóm dừng tay Giáo viên cùng một vài bạn đại diện nhận xét kết quả hoặc nhóm đó phải chỉ ra số hình đã xếp, nhóm nào nhanh và đúng thì nhóm đó thắng cuộc
− Các miếng bìa có ghi các công thức sau:
− Chu vi: (a + b) x 2 Chu vi: a x 4 Diện tích: a x a Diện tích:a
x b
Cách chơi:
− Mỗi lần cho 4 học sinh cùng chơi, mỗi em đeo một miếng bìa trước ngực ghi các công thức đã chuẩn bị ở trên, rồi tập hợp thành hàng dọc, vừa đi vừa hát: “Trời nắng, trời nắng thỏ đi tắm nắng, vươn vai vươn vai thỏ rung đôi tai” Khi nghe giáo viên hô: “Mưa to rồi, mau về thôi” thì lập tức các “chú thỏ” phải về đúng nhà của mình (Tức ngôi nhà có hình mình đang đeo)
Trang 22− Ai nhanh được phong tặng “Chú thỏ nhanh nhất”, còn ai chậm thì phải biểu diễn một trò góp vui cho lớp.
1.4.12 Một số bài vè toán học
Cách tính chu vi – diện tích – thể tích các hình ở tiểu học
Muốn tính diện tích hình vuôngCạnh nhân chính nó vẫn thường làm đây
Chu vi thì tính thế nàyMột cạnh nhân bốn đúng ngay bạn à
Diện tích tam giác sao ta Chiều cao nhân đáy chia ra hai phần
Diện tích chữ nhật thì cầnChiều dài, chiều rộng ta đem nhân vào
Chu vi chữ nhật tính saoChiều dài, chiều rộng công vào nhân hai
Bình hành diện tích không saiChiều cao nhân đáy ai ai cũng làm
Muốn tính diện tích hình thangĐáy lớn đáy nhỏ ta mang cộng vàoXong rồi nhân với chiều caoChia đôi lấy nửa thế nào chẳng ra
Hình thoi diện tích sẽ làTích hai đường chéo chia ra hai phầnChu vi gấp cạnh bốn lần
Lập phương diện tích toàn phần tính sao
Sáu lần một mặt nhân vàoXung quanh nhân bốn thế nào cũng ra
Trang 23Để giải hình tốt bạn ơi thuộc lòng.
Phân số tối giản
Bé cứ thếĐem chia dần
Đến khi nàoKhông chia được
Ra kết quảCuối cùng rồiPhân số đây
Phép chia cũng dễLấy phân số đầuNhân phân số sauNhưng mà đảo ngượcHọc thơ dễ thuộc
Dễ nhớ bạn ơiVừa học vừa chơiThật là vui vẻNghe vẻ nghe ve
Trang 24Số đó đem chia
Số phần, xong nhé
Bạn ơi làm ToánCần đọc kỹ đềXác định dạng bàiTính cho cẩn thậnCẩn thận ấy mà cẩn thận
Bị chia chia nốt
Số bị chia đấyThương lại đem nhân
Tìm x đã xongBạn ơi dễ lắm
− Giúp học sinh thành thạo hơn trong các con số La Mã
− Phát hiện và sữa chữa lỗi sai sớm cho học sinh
− Rèn luyện kĩ năng nhạy bén của học sinh
Chuẩn bị:
− Que tính
Cách chơi:
Trang 25− Học sinh phải mường tượng trong đầu 2 có nghĩa là 2 que tính
và suy nghĩ với số lượng que tính mà giáo viên đưa ra sẽ xếp được nhiều nhất bao nhiêu chữ số La Mã
− Học sinh viết các chữ số La Mã vào bảng con, 5 bạn nhanh nhất sẽ được giáo viên ghi tên lên bảng Sau đó mời 5 em lên bảng cùng một lúc ghi đáp án của mình
− Ví dụ:
•Giáo viên hô 5
•Học sinh viết ra: VIII, XIV,XVI, IXX, XXI
1.5.2 Làm tính giải mật thư
Đối tượng:
− Học sinh lớp 5
Mục đích:
− Giúp học sinh có khả năng tính nhanh với các số thập phân
− Học sinh hình thành các kỹ năng phán đoán, làm việc nhóm
Chuẩn bị:
− Phép tính
− Các tiếng tạo thành mật thư
Cách chơi:
− Giáo viên chia nhóm, mỗi nhóm có số lượng bằng nhau
− Giáo viên sẽ đưa cho mỗi nhóm số lượng phép tính (cộng, trừ, nhân, chia các số tập phân) bằng độ dài của mật thư ví dụ: mật thư là “học sinh” có 7 tiếng sẽ có 7 phép tính
− Học sinh giải được một phép tính đưa lên cho giáo viên Đúng
sẽ nhận được một tiếng gợi ý Đúng 7 phép tính sẽ nhận được tiếng gợi ý Như vậy sẽ giải được mật thư
− Nếu như chưa giải xong nhưng đoán được ô chữ nhóm có quyền đoán Tuy nhiên, nếu đoán đúng sẽ chiến thắng, đoán sai bị sẽ bị loại và phải giữ trật tự cho các nhóm còn lại chơi
Trang 26− Trò chơi này cũng phù hợp với các học sinh lớp 2, 3, 4 nếu giáo viên biết linh động điều chỉnh các phép tính sao cho phù hợp.
− Giáo viên ra một đề toán (phép tính hoặc bài giải)
− Nhóm nào ra kết quả thông báo kín cho cô Đúng thì sẽ nhận được các thanh có độ dài ngắn khác nhau Sau đó, đem về nhóm tự suy nghĩ và xếp thành các hình đã học