BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC VŨ TIẾN HÓA TRƯỜNG NGHĨA VỀ THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI TÂY BẮC TRONG CÁC TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN HUY THIỆP Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam Mã
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
VŨ TIẾN HÓA
TRƯỜNG NGHĨA VỀ THIÊN NHIÊN
VÀ CON NGƯỜI TÂY BẮC
TRONG CÁC TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60220102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Việt Hùng
SƠN LA - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Vũ Tiến Hóa
Trang 3Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Trường Đại học Tây Bắc, những thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, quan tâm tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn Thạc sĩ
Sơn La, ngày 05 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Tiến Hóa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nội dung nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp mới của đề tài 12
7 Bố cục của luận văn 12
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 13
1.1 Lý thuyết về trường nghĩa 13
1.1.1 Khái niệm về trường nghĩa 13
1.1.2 Phân loại trường nghĩa 13
1.1.3 Hiện tượng chuyển trường 16
1.1.4 Khái niệm nghĩa biểu trưng 17
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác về đề tài Tây Bắc của Nguyễn Huy Thiệp 17
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp 17
1.2.2 Vị trí Tây Bắc trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp 20
1.2.3 Những sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp về đề tài Tây Bắc 21
1.2.4 Hình ảnh thiên nhiên Tây Bắc trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp 29
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2: TRƯỜNG NGHĨA THIÊN NHIÊN TÂY BẮCTRONG CÁC SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HUY THIỆP 38
2.1 Thống kê, phân loại trường nghĩa thiên nhiên Tây Bắc trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp 38
2.1.1 Trường nghĩa về không gian Tây Bắc trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp 38
2.1.2 Trường nghĩa về thời gian trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp 45
Trang 52.2 Ý nghĩa biểu trưng của trường nghĩa thiên nhiên Tây Bắc trong
trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp 47
2.2.1 Tây Bắc, vẻ đẹp của không gian huyền thoại, cổ tích ảo, giả sử thi 47
2.2.2 Tây Bắc, vẻ đẹp của núi rừng tự nhiên 52
Tiểu kết chương 2 55
Chương 3: TRƯỜNG NGHĨA CON NGƯỜI TÂY BẮCTRONG CÁC SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HUY THIỆP 56
3.1 Thống kê, phân loại trường nghĩa con người Tây Bắc trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp 56
3.1.1 Trường nghĩa về hình dáng, diện mạo của con người Tây Bắc trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp 57
3.1.2 Trường nghĩa về tính cách, vẻ đẹp tâm hồn con người Tây Bắc trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp 57
3.2 Ý nghĩa biểu trưng của trường nghĩa con người Tây Bắc trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp 60
3.2.1 Con người trong mối quan hệ với thiên nhiên 60
3.2.2 Quan niệm nhân sinh của Nguyễn Huy Thiệp trong các sáng tác về đề tài Tây Bắc 64
Tiểu kết chương 3 67
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM HẢO 72
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trường nghĩa là một trong những khái niệm quan trọng của ngôn ngữ học Nó đã được rất nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến từ sớm Nghiên cứu về trường nghĩa không chỉ cho ta tăng thêm hiểu biết về vẻ đẹp phong phú của từ ngữ mà còn giúp ta sử dụng từ ngữ một cách linh hoạt và chính xác hơn Không những vậy, với ý nghĩa biểu trưng của trường nghĩa được sử dụng trong các văn cảnh cụ thể, ta còn hiểu được cả văn hóa dân tộc cũng như suy nghĩ, quan điểm của người viết
Để hiểu hết giá trị của một tác phẩm văn học, yếu tố đầu tiên và quyết định chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ vừa là chất liệu để tạo nên tác phẩm văn học đồng thời cũng là phương tiện để người đọc có thể cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm đó Chính vì vậy, các lý thuyết về ngôn ngữ trong
đó có lý thuyết về trường nghĩa cần được quan tâm nghiên cứu Trường nghĩa cũng đã được đưa vào giảng dạy ở THPT, tuy nhiên nó chỉ xuất hiện thoáng qua với số lượng ít, chưa lấy ngữ liệu từ chính văn bản văn học để phân tích
Vì thế, cần đưa khái niệm này gần với học sinh hơn bằng cách nghiên cứu trực tiếp trong các văn bản văn học trong nhà trường Nó vừa bổ sung thêm về khái niệm trường nghĩa vừa là một lần hiểu thêm về văn bản văn học
Trong số các nhà văn hàng đầu Việt Nam, Nguyễn Huy Thiệp là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn học hiện đại Nếu Nguyễn Minh
Châu là người mở đường “tài năng và tinh anh nhất” cho tiến trình đổi mới
văn học Việt Nam sau 1975 thì Nguyễn Huy Thiệp là tác giả đầu tiên tạo ra bước ngoặt quan trọng nhất của tiến trình đổi mới ấy Ông xuất hiện khá muộn trên văn đàn Việt Nam với vài truyện ngắn đăng báo năm 1986 nhưng
đã trở thành một hiện tượng văn học, có khả năng khuấy động đời sống văn học vốn đang yên ắng ở nước ta sau năm 1975 Ông sáng tác ở nhiều thể loại:
Trang 7kịch, tiểu thuyết, tiểu luận, phê bình văn học Tuy nhiên, thành công nổi bật nhất của ông được kết tinh ở thể loại truyện ngắn Tác phẩm của ông in đậm bóng dáng của cuộc sống nông thôn, miền núi và bóng dáng của những người lao động bởi lẽ chính ông cũng đã trải qua hoàn cảnh đó vì cuộc sống mưu sinh Đặc biệt, Tây Bắc đã khơi nguồn cảm hứng bất tận trong các sáng tác của nhà văn Nhiều tác phẩm về đề tài Tây Bắc của ông đã tạo nên tiếng vang lớn trên văn đàn, được độc giả, giới lí luận, phê bình văn học quan tâm, đánh giá nhiều chiều Thiên nhiên và con người nơi đây đã để lại trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp cũng như trong lòng bao thế hệ bạn đọc những ấn tượng sâu sắc, khó quên
Vậy hình ảnh thiên nhiên và con người Tây Bắc mang ý nghĩa biểu trưng như thế nào và được thể hiện ra sao trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của tác giả Nguyễn Huy Thiệp, song chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu trường nghĩa thiên nhiên và con người Tây Bắc trong các sáng tác của ông Do vậy, tôi mạnh dạn tìm hiểu, nghiên cứu đề
tài: “Trường nghĩa về thiên nhiên và con người Tây Bắc trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp” Tôi mong muốn rằng, đề tài này sẽ góp một
phần nhỏ vào kết quả nghiên cứu trường nghĩa của người Việt, cũng như vào việc dạy học tác giả và tác phẩm trong nhà trường hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Vấn đề nghiên cứu tác phẩm văn học dựa trên lý thuyết về trường nghĩa
Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về trường nghĩa với những thành công đáng kể Ví dụ như hai ngôn ngữ Đức là J.Trier
và L.Weisgerber đã hoàn thiện về lí thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa Công trình của các ông là tài liệu cơ sở giúp chúng ta đi vào nghiên cứu sâu trường nghĩa trong ngôn ngữ mỗi quốc gia Lí thuyết ấy về tới Việt Nam đã được GS
Trang 8Đỗ Hữu Châu tiếp nhận Năm 1973, ông có công trình “Trường từ vựng và
hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa” Trong công trình này, ông nêu lên các
hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa của từ thông qua việc phân tích trường từ vựng Năm 1975, ông tiếp tục trình bày cụ thể về trường nghĩa Công trình của ông chia trường nghĩa ra làm 4 loại: trường nghĩa biểu vật, biểu niệm, tuyến tính và liên tưởng Các nhà nghiên cứu đã áp dụng lí thuyết này để nghiên cứu tiếng Việt, đặc biệt trong các tác phẩm văn học
Thực tế có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến việc áp dụng lý thuyết về trường nghĩa vào việc nghiên cứu tác phẩm văn học Cụ thể, song song với việc giới thiệu, nghiên cứu về trường nghĩa dưới góc độ lí thuyết, Đỗ Hữu Châu đã đề cập đến hướng ứng dụng lí thuyết về trường nghĩa vào phân tích văn học Trên tạp chí Ngôn ngữ số 3 năm 1974, Đỗ Hữu Châu có bài viết
“Trường từ vựng ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật”
Trong các công trình Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (NXB GD, 1999), Từ vựng học tiếng Việt (NXB ĐHSP, 2004), sau khi trình bày lí thuyết về trường nghĩa, tác giả đều gợi mở hướng nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm văn học theo trường bằng việc lựa chọn một số trích đoạn văn chương để phân tích Đó là những đóng góp quý báu có ý nghĩa mở đường của Đỗ Hữu Châu cho một hướng nghiên cứu văn học Tuy nhiên, các bài viết của ông đều theo hướng
mở, lấy một vài dẫn chứng làm ví dụ chứ chưa thực sự đi vào phân tích một tác phẩm cụ thể nào
Bên cạnh đó, đã có những bài viết của các tác giả khác nghiên cứu
trường nghĩa trong việc sử dụng cụ thể trong tác phẩm văn học, như: “Vài nét
về sự dị biệt giữa biểu trưng của văn bản tục ngữ và biểu trưng của tục ngữ trong ngữ cảnh”, Tạp chí kiến thức ngày nay, số 547, tác giả Nguyễn Văn Nở
cho rằng, tục ngữ chỉ thật sự sống, trường thọ hay yểu mệnh, khi được vận
dụng trong lời nói chứ không phải nhờ “nằm trang trọng nhưng im lìm trong
Trang 9các công trình sưu tập về chúng”.Biểu trưng của văn bản tục ngữ mang tính
trừu tượng và khái quát, nó chỉ giới hạn trong cấu trúc hình thức, cấu trúc logic, cấu trúc hình ảnh của nó, vì vậy nên biểu trưng này tồn tại ở dạng tĩnh, trong ý thức và tư duy của con người hoặc trong các từ điển Trong khi đó, biểu trưng của tục ngữ trong ngữ cảnh mang tính chất linh hoạt, sinh động, cụ thể và tồn tại trong một hoàn cảnh vận dụng cụ thể Vậy nên, khi được vận dụng, tục ngữ như được khoác lên một sinh khí mới, vận động mới, phần hồn mới và đem đến một phát hiện mới do hoàn cảnh mới tạo ra
Trong luận văn thạc sĩ “Tìm hiểu một số phương pháp phân tích ngôn
ngữ qua tác phẩm văn học”(1985), tác giả Phạm Minh Diện đã phân tích bài
thơ Từ ấy của Tố Hữu theo những hướng phân tích của các tác giả Hoàng Tuệ, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Thái Hòa và theo trường từ vựng - ngữ nghĩa
của Đỗ Hữu Châu Tác giả luận văn này cũng đã nhận xét rằng: “Phương
pháp ngôn ngữ học thực thụ giờ cũng cho phép ta bắt đầu từ các từ ngữ với những ý nghĩa rõ ràng của nó, trên cơ sở đó mới tuần tự chỉ ra các lớp nghĩa
do phối hợp hay do đối lập với ngữ cảnh Bởi vậy, những hình ảnh, cảm xúc bao giờ cũng được hiện ra với tư cách là những “ý nghĩa” thuộc các tầng lớp khác nhau”
Phân tích văn học dựa vào trường nghĩa là một hướng đi đã được khá nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm, thể hiện trên một số lượng khá phong phú các công trình liên quan Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể đến các công trình của các tác giả như: Phạm Thị Lệ Mỹ (Trường nghĩa và việc phân tích tác phẩm văn
học (Qua tác phẩm “Thân phận tình yêu” - Bảo Ninh), LVThs, ĐHSPHN,
2008), Nguyễn Thị Bạch Dương (Trường từ vựng – ngữ nghĩa động vật trong truyện Tô Hoài viết cho thiếu nhi), LVThs, ĐHSPHN, 2010), Trần
Trang 10Hạnh Nguyên (Trường từ vựng - ngữ nghĩa thực vật trong ca dao Việt Nam), LVThs, ĐHSPHN, 2012)…
Như vậy có thể thấy, rõ ràng phân tích tác phẩm văn học dựa vào trường nghĩa là một hướng đi đúng đắn Với luận văn này, chúng tôi mong muốn sẽ góp thêm một minh chứng về phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học dựa vào trường nghĩa Trên cơ sở tiếp thu thành tựu của những người đi trước, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trường nghĩa về thiên nhiên và con người Tây Bắc trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đồng thời chỉ ra vai trò của các trường nghĩa đó đối với việc thể hiện giá trị nội dung của tác phẩm và quan điểm nghệ thuật, quan niệm nhân sinh của tác giả
2.2.Lịch sử nghiên cứu về tác giả Nguyễn Huy Thiệp và các tác phẩm của ông về đề tài Tây Bắc
Nguyễn Huy Thiệp là một bông hoa nở muộn trên văn đàn Vài truyện ngắn của ông xuất hiện lần đầu tiên trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986 Chỉ một vài năm sau đó, cả làng văn học trong và ngoài nước
xôn xao những cuộc tranh luận về các tác phẩm của ông “Có người lên án
gay gắt, thậm chí gọi văn chương của anh có khuynh hướng thấp hèn Người khác lại hết lời ca ngợi anh có trách nhiệm cao với cuộc sống hiện nay” (Lời
cuối sách của NXB Đa Nguyên) Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp in dấu ấn khá đậm nét về nông thôn và những người lao động Ông sáng tác trên nhiều thể loại nhưng đáng chú ý hơn cả là ở mảng truyện ngắn Đánh giá về truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, dù khen hay chê, tất thảy đều mạnh mẽ, quyết liệt và thậm trí trái ngược nhau như nước với lửa
Xung quanh hiện tượng văn chương Nguyễn Huy Thiệp có rất nhiều ý kiến gây tranh cãi bởi nhiều khuynh hướng khác nhau vì nhà văn này quá phức tạp Tuy vậy, Nguyễn Huy Thiệp vẫn cứ viết và mỗi tác phẩm của ông
ra đời lại là một sự kiện tranh luận Nhà văn trong nước, ngoài nước, soi chiếu
Trang 11tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp dưới nhiều góc độ, có truyện đánh giá đồng qui,
có truyện khen chê tách biệt Khi nền văn học của chúng ta gần như đang ngủ
yên thì Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện, ông “là người đầu tiên trong văn học
Việt Nam lập kỉ lục có nhiều bài viết nhất về sáng tác của mình, chỉ trong một thời gian ngắn, và không có độ lùi thời gian Phê bình tức thời theo sáng tác, liên tục, lâu dài Không chỉ trong nước, cả ngoài nước, không chỉ người Việt,
cả người ngoại quốc” [20, 7] Sau đây chúng tôi xin đề cập đến một số cách
tiếp cận và đánh giá truyện ngắn của ông:
Thứ nhất, ở cách tiếp cận và đánh giá sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
từ góc độ mĩ học, xã hội học: Một số người đã qui chụp thẳng thắn cho những
sáng tạo văn chương nghệ thuật của ông “chẳng qua là lối viết quá cũ có
người đã từng dùng cách đây vài trăm năm, nay phục chế lại Đây là kiểu tái hiện văn học hiện thực những năm 30-40 của thế kỉ trước” [20; 8] Đỗ Văn
Khang, khi lí giải về “sự sa sút văn chương Nguyễn Huy Thiệp”, tác giả còn chỉ trích: “Văn Nguyễn Huy Thiệp ngày càng mất bản chất nhân văn…càng
thô lỗ tục tằn…và ngày càng rơi vào thói vô chính phủ về lịch sử” [20; 411]
Thứ hai, cách tiếp cận phong cách học: Tiêu biểu cho lối tiếp cận này
có lẽ là nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh với lối tiếp cận chân dung - phong cách, nhằm khám phá tư tưởng nghệ thuật của nhà văn Nhà nghiên
cứu khẳng định và chứng minh một cách khá thuyết phục: “Thiệp là người
không có ý định che giấu cái tôi của mình Một cái tôi lưỡng phân: một mặt coi đời là vô nghĩa, là trò đùa một mặt là cái tôi nghiêm chỉnh đi tìm khuôn mẫu của con người đích thực” [20; 460] Còn Lê Minh Hà đã khắc hoạ chân
dung Nguyễn Huy Thiệp như sau: “Gương mặt ông nhàu Tôi biết rằng có thể
ông không nhất thiết trải qua toàn bộ những cảnh đời mà nhân vật của ông
đã trải” [20; 488] Ngoài ra, khuynh hướng tiếp cận và đánh giá sáng tác của
Nguyễn Huy Thiệp như là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, họ đã tìm thấy
Trang 12trong đấy những “giọt vàng ròng”, tiêu biểu là Đỗ Đức Hiểu cho rằng: Nguyễn Huy Thiệp đã “tái tạo truyện ngắn ở Việt Nam vào những năm cuối
thế kỉ XX và nâng nó lên một tầm cao mới” Các ý kiến tranh cãi dù còn đối
lập, vẫn cho thấy một điểm chung: “Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng hiếm,
độc đáo Và hạt nhân sáng tác của anh vẫn không đi ra ngoài vấn đề con người” [20; 564]
Ngay sau khi tập truyện ngắn Tướng về hưu in được một năm đã xuất hiện tập sách Nguyễn Huy Thiệp - Tác phẩm và dư luận, trong đó có tuyển tập
những bài phê bình, trao đổi tiêu biểu về Nguyễn Huy Thiệp Hơn mười năm
sau, tập sách Đi tìm Nguyễn Huy Thiệpdo Phạm Xuân Nguyên thực hiện đã đóng vai trò tổng thành, kịp thời tập hợp được hầu hết những tiểu luận nghiên cứu, phê bình, trao đổi, tranh luận, giới thiệu, đọc sách và điểm sách cơ bản
nhất liên quan đến sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Tập sách Đi tìm Nguyễn
Huy Thiệpgồm 54 mục bài đã tập hợp và bao quát được những ý kiến luận
bình cơ bản nhất xung quanh hiện tượng sáng tác Nguyễn Huy Thiệp Chính
Phạm Xuân Nguyên trong lời tựa cuốn “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp”, đã khẳng định: “Thật hiếm có trong văn chương Việt Nam xưa nay, tôi dám chắc chưa
có, một nhà văn nào vừa xuất hiện đã gây được dư luận càng mạnh, truyện chưa ra thì người đã kháo nhau, truyện đăng rồi thì nhiều người tìm đọc, đọc rồi thì nhiều người bình phẩm, bàn tán, chốn phòng văn, cũng như chốn vỉa
hè đâu đâu cũng kháo chuyện… văn đàn đồng thời đổi mới đã đổi sắc, bỗng khởi sắc hẳn, đã náo động, càng thêm náo động, bởi những cuộc tranh luận,
cả tranh cãi, quanh sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp” [ 18, 5-6]
Nói cách khác, có thể coi đây là câu chuyện "Người đương thời Nguyễn
Huy Thiệp bàn về Nguyễn Huy Thiệp", khi mà nhận thức trong xã hội và văn
giới còn đầy tính trực cảm, mỗi người đều phải bày tỏ rõ ràng chính kiến, quan niệm, chưa có độ lùi thời gian để tổng kết, kết luận Thời gian trôi qua,
Trang 13những dòng cảm xúc nóng bỏng về những gì ông viết ở người đọc chuyển dần sang sự nghiên cứu kĩ lưỡng Nhiều người bắt đầu đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá tài năng văn chương của ông một cách khách quan hơn qua những trang viết thận trọng
Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng độc đáo Nói như nhà phê bình văn
học Vương Trí Nhàn trong bài “Tượng tưởng về Nguyễn Huy Thiệp” (Văn nghệ số 35- 36 ra ngày 20/8/1988): “Nếu có một thứ “quả bóng vàng” hay
“cây bút vàng” dành tặng cho cây bút xuất sắc hàng năm, thì trong năm vừa qua và cả đầu năm nay nữa - Người xứng đáng được giải trong văn xuôi nước
ta, có lẽ là Nguyễn Huy Thiệp” [20, 405] Nhà báo Mai Ngữ trong “Cái tâm
và cái tài của người viết” (Báo Quân đội Nhân dân, số 9791 ngày 27/8/1988)
cũng đã phát hiện tương tự: “Ngòi bút của anh Thiệp đưa con người về điểm
xuất phát của nó, con người hạ đẳng, con người nguyên thuỷ cùng với tiềm thức và bản ngã vốn có do trời sinh ra, những con người trần trụi, loã thể trong tư duy cũng như trong hình thái”
Trên đây là một số ý kiến, bài viết xoay quanh sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Mặc dầu các bài viết có những phát hiện và lí giải riêng nhưng tựu trung lại, các ý kiến đó đều gặp nhau ở chỗ thừa nhận: Nguyễn Huy Thiệp
là một tài năng văn chương lớn, đáng để chúng ta quan tâm Tất cả những ý kiến trên có tính chất định hướng gợi mở, giúp chúng tôi có điều kiện để hiểu hơn về văn chương cũng như con người Nguyễn Huy Thiệp
Truyện ngắn viết về đề tài dân tộc miền núi phía Bắc trong những năm qua đã có những đóng góp nhất định cho thể loại truyện ngắn đương đại nói riêng, văn xuôi hiện đại nói chung về nội dung, giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật Những truyện ngắn này với hệ thống hình tượng, cấu trúc ngôn từ và các thủ pháp nghệ thuật mang dấu ấn đậm nét của khu vực miền núi phía Bắc
đã giúp chúng ta hiểu thêm về thế giới tự nhiên, cuộc sống cùng những giá trị
Trang 14văn hóa truyền thống có từ ngàn đời của đại gia đình các dân tộc Việt Nam Hơn thế nữa, Tây Bắc còn là mảnh đất bất tận cho những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Về đề tài này, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về mảnh đất Tây Bắc trong văn chương Nguyên Huy Thiệp Cụ thể, trong
Kỉ yếu hội thảo khoa học quốc gia “Ngôn ngữ và văn học vùng Tây Bắc”, tác giả Ngô Thị Phượng có bài viết “Vẻ đẹp Tây Bắc trong văn chương Nguyễn
Huy Thiệp” cũng nói tới vấn đề thiên nhiên và con người Tác giả đánh giá:
“Văn Nguyễn Huy Thiệp có nhiều chi tiết đặc tả vẻ đẹp của thiên nhiên lãng
mạn Tây Bắc… sương mù đang còn dày đặc, người đi chợ như đi mơ, cách một sải tay chẳng nhìn thấy gì…” [22, 398] Con người Tây Bắc đơn giản hoà
mình vào thiên nhiên vô tận được Nguyễn Huy Thiệp chụp từ nhiều phương diện: văn hoá, ngoại hình, đời sống nội tâm… Bên cạnh đó, cũng đã có những luận văn khoa học tìm hiểu những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp về đề tài
Tây Bắc của một số tác giả, có thể kể đến như: Lê Thị Dung (Thiên nhiên và
con người Tây Bắc trong tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp, LVThs, ĐHSPTN, 2010)…
Như vậy, có thể thấy rằng, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về trường nghĩa và áp dụng lý thuyết trường nghĩa để phân tích vào tác phẩm văn học Riêng về tác giả Nguyễn Huy Thiệp và các sáng tác của ông về đề tài Tây
Bắc cũng có không ít những nghiên cứu, khảo luận Tuy nhiên, đề tài “Trường
nghĩa về thiên nhiên và con người Tây Bắc trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp” thì chưa có một công trình nào đề cập tới và đi sâu tìm hiểu Vậy, tôi
mong muốn khi thực hiện đề tài này sẽ góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu trường nghĩa và dựa trên lý thuyết trường nghĩa để tìm hiểu tác phẩm văn học
3 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu
31.Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác lập được các trường nghĩa về thiên nhiên, trường nghĩa về con người được sử dụng trong các tác phẩm về đề tài Tây Bắc của Nguyễn Huy
Trang 15Thiệp
- Tìm ra đặc điểm riêng của từng trường và ý nghĩa của chúng trong việc thể hiện nội dung tác phẩm và quan điểm nghệ thuật, quan điểm nhân sinh của nhà văn
3.2 Nội dung nghiên cứu, để đạt được mục đích nêu trên, chúng tôi
thực hiện các nội dung sau:
- Nghiên cứu tài liệu, các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước để xây dựng cho luận văn một cơ sở lí luận thích hợp;
- Thống kê, phân loại, miêu tả các trường nghĩa thiên nhiên và con người Tây Bắc trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
- Nghiên cứu ý nghĩa biểu trưng của các trường nghĩa thiên nhiên và con người Tây Bắc đối với việc thể hiện nội dung tác phẩm và quan điểm nghệ thuật, quan niệm nhân sinh của tác giả
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát và nghiên cứu của luận văn là toàn bộ trường nghĩa
về thiên nhiên và con người trong các sáng tác về đề tài Tây Bắc của Nguyễn Huy Thiệp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi tư liệu khảo sát của luận văn là một số truyện ngắn tiêu biểu về
đề tài Tây Bắc của Nguyễn Huy Thiệp được in trong Tuyển tập Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, NXB Trẻ, 2003, bao gồm:
Trang 165 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê phân loại
Dựa trên cơ sở ngữ liệu đã chọn, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê
số lượng cụ thể của từ ngữ chỉ hình ảnh thiên nhiên và con người Tây Bắc trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp về đề tài Tây Bắc và phân chia
chúng vào từng nhóm riêng
5.2 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa
Sau khi đã phân loại, chúng tôi tiến hành phân tích mối quan hệ giữa ý nghĩa bản thể và ý nghĩa liên hội, nghĩa bề mặt ngôn từ với nghĩa biểu trưng
5.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
Sau khi thống kê, phân loại, phân tích ngữ nghĩa, chúng tôi tiến hành phân tích ý nghĩa biểu trưng của trường nghĩa về thiên nhiên và con người Tây Bắc trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, từ đó rút ra ý nghĩa của các trường nghĩa này trong việc thể hiện giá trị tác phẩm và quan điểm nghệ thuật, quan niệm nhân sinh của tác giả
5.4 Phương pháp so sánh
Sau khi thống kê, phân loại các trường nghĩa, chúng tôi tiến hành so sánh về số lượng, tần suất xuất hiện trường nghĩa thiên nhiên và con người trong từng tác phẩm văn học cụ thể Từ đó, rút ra những nhận xét, kết luận nhằm làm sáng tỏ đề tài
5.5 Phương pháp miêu tả
Sau khi thống kê, phân loại các trường nghĩa, chúng tôi dùng phương pháp miêu tả, dùng lời văn có hình ảnh, làm hiện ra trước mắt người đọc bức tranh cụ thể về một cảnh, một người, một vật đã để làm rõ ý nghĩa biểu trưng trường nghĩa thiên nhiên và con người trong từng tác phẩm văn học cụ thể
Trang 176 Đóng góp mới của đề tài
Về lí luận, luận văn góp phần khẳng định những vấn đề lí luận cơ bản
về trường nghĩa và vai trò, ý nghĩa của nó với việc biểu đạt trong tác phẩm văn chương
Về thực tiễn, những kết quả chúng tôi thu được khi nghiên cứu các
sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp về đề tài Tây Bắc dựa vào lí thuyết trường nghĩa có thể là cơ sở cho việc tìm hiểu các giá trị về nội dung và nghệ thuật nói chung của các truyện ngắn này, mở ra hướng nghiên cứu thích hợp giữa ngôn ngữ và văn học Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh trong nhà trường, đặc biệt dưới góc nhìn ngôn ngữ học, khi cần đọc - hiểu tác phẩm văn chương
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Trường nghĩa về thiên nhiên Tây Bắc trong các tác phẩm
của Nguyễn Huy Thiệp
Chương 3: Trường nghĩa về con người Tây Bắc trong các tác phẩm
của Nguyễn Huy Thiệp
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lý thuyết về trường nghĩa
1.1.1 Khái niệm về trường nghĩa
Trường nghĩa hay còn gọi là trường từ vựng hay trường từ vựng ngữ nghĩa Hai nhà khoa học người Đức J.Trier và L.Weisgerber là người đã có những nghiên cứu đáng kể về trường nghĩa J.Trier là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về trường và áp dụng nó vào lĩnh vực ngôn ngữ Ông quan niệm, trong ngôn ngữ, mỗi từ ngữ là một trường và giá trị của nó là quan hệ với các từ khác trong trường quyết định Đối với L.Weisgerber, ông lại có quan điểm rất đáng chú ý về trường nghĩa, theo ông phải tính đến các góc độ khác nhau mà sự tác động giữa chúng sẽ tạo nên sự ngôn ngữ hóa trong một lĩnh vực đời sống
Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trường ngữ như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Việt Hùng, Hoàng Trọng Phiến… Hiện tại, có rất nhiều quan niệm khác nhau về trường từ vựng, tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sử dụng các cơ sở lý
thuyết của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở chính Theo Đỗ Hữu Châu: “Mỗi tiểu hệ
thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là tập hợp đồng nhất với nhau về nghĩa”
Như vậy, một tập hợp từ có nét tương đồng với nhau về nghĩa được gọi
là một trường nghĩa và các trường nghĩa được phân lập với nhau bởi ý nghĩa của từ
1.1.2 Phân loại trường nghĩa
Theo Đỗ Hữu Châu, trường nghĩa được phân làm 3 loại: trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến), trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính)
và trường liên tưởng Trong đó, trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến) lại được chia ra làm hai loại nhỏ: trường biểu vật và trường biểu niệm
Trang 191.1.2.1.Trường nghĩa trực tuyến (trường nghĩa dọc)
a Trường biểu vật
Trường biểu vật là một tập hợp những từ đồng nhất về ý nghĩa biểu vật
Để xác lập trường nghĩa biểu vật, chúng ta chọn một danh từ rồi tìm tất cả các từngữ đồng nhất về phạm vi biểu vật do danh từ gốc biểu thị
Ví dụ: chọn danh từ động vật làm gốc, ta có thể xác lập được trường nghĩa động vật theo các miền sau:
- Động vật nói chung xét về loài: động vật có xương sống, động vật
bò sát, động vật có vú, động vật lưỡng cư, động vật thân mềm, động vật chân khớp…
- Bộ phận của các loài động vật: đầu, mắt, tai, miệng, lưỡi, tay, chân…
- Hoạt động của động vật: ăn, uống, ngủ, săn mồi…
Số lượng các từ ngữ nằm trong trường trên còn rất nhiều Từ trường lớn này ta có thể phân chia thành những trường nhỏ hơn Quan hệ của những
từ ngữ đối với một trường biểu vật không giống nhau Có những từ gắn rất chặt với trường, chỉ có thể nằm trong một trường Có những từ gắn bó lỏng lẻo hơn, vì thế có khả năng đi vào nhiều trường biểu vật khác nhau
b Trường biểu niệm
Trường biểu niệm là “tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm”
[4,176].Để xác lập một cấu trúc biểu niệm chung đó, chúng ta dựa vào một cấu trúc nghĩa biểu niệm làm gốc trong nghĩa biểu niệm
Ví dụ: Từ nét nghĩa (hoạt động tác động đến X) … (làm cho X có trạng thái Y) ta xác định được một trường biểu niệm với các từ như: rung, lay, lắc, hãm, xô, đẩy, bẩy, lao, khởi động, phát động, đánh thức, co, dãn, căng,
mở, chia cắt Đây là một trường lớn, căn cứ vào X mà ta có thể chia thành những trường nhỏ như:
- Làm cho X động hoặc tĩnh: rung, phát động
Trang 20- Làm cho X có những biến đổi trong bản thân: mở, căng, chia, cắt
Ta có một ví dụ khác về trường biểu niệm có trạng thái tâm lý A (hướng tới đối tượng B): yêu, ghét, nhớ, thương, thương cảm, thương hại, nhớ
nhung, căm ghét, căm thù, khinh bỉ, lo sợ, sợ, khinh bỉ,
Trong mỗi trường biểu niệm có một hoặc một số từ điển hình Đó là những từ chỉ đi vào một cấu trúc biểu niệm duy nhất Cũng có một số từ có khả năng đi vào nhiều cấu trúc biểu niệm, chúng thuộc nhiều trường biểu niệm khác nhau Cũng như trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể giao thoa với nhau Chính nhờ các trường cũng như sự định vị từng từ vào trong các trường thích hợp mà chúng ta hiểu biết sâu sắc thêm ý nghĩa của từ
1.1.2.2 Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang)
Để lập nên trường nghĩa ngang, người ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành một chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ [4,185]
Một số ví dụ về trường tuyến tính:
- Trường tuyến tính của từ đi: nhanh, chậm, tập tễnh, khập khiễng,
bước thấp bước cao,
- Trường tuyến tính của từ đầu: bã đậu, thông minh, đen tối, sáng,
mít đặc
Cùng với trường nghĩa dọc (trường biểu vật và trường biểu niệm), trường nghĩa tuyến tính góp phần sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện được những đặc điểm nội tại và đặc điểm hoạt động của từ
1.1.2.3.Trường liên tưởng
Trường liên tưởng là tập hợp các từ có chung một nét nghĩa ấn tượng tâm lí do một từ gợi mở ra Khi một từ được phát ra, người nghe một mặt lĩnh hội ý nghĩa của riêng từ ấy, mặt khác có thể liên tưởng tới nhiều sự kiện xã
Trang 21hội và cá nhân phong phú, sinh động Toàn bộ các từ mang các ý nghĩa liên tưởng ấy hợp lại thành trường liên tưởng ngữ nghĩa của từ
Các từ cùng nằm trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong một trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với trung tâm Song trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại
Ví dụ như: Ở Việt Nam, nói đến bò, người ta nghĩ ngay đến sự ngu dốt
(ngu như bò, dốt như bò, ), hoặc nói tới rùa, người ta liên tưởng đến chậm trễ (chậm như rùa) hay nhắc đến thỏ người ta thường nghĩ tới sự nhanh nhẹn, mưu trí (nhanh như thỏ)
1.1.3 Hiện tượng chuyển trường
Theo Đỗ Hữu Châu, ngôn ngữ luôn luôn phải đứng trước đòi hỏi kịp thời sáng tạo ra những phương tiện mới để biểu thị những sự vật, hiện tượng
và những nhận thức mới xuất hiện trong xã hội, để thay thế những cách diễn đạt, những tên gọi đã cũ mòn, không còn khả năng gợi tả, bộc lộ cảm xúc và gây ấn tượng sâu sắc cho người nghe
Ví dụ: Trước kia, nói tới ngân hàng là nói tới các hoạt động liên quan tới tiền tệ, tuy nhiên, hiện nay, từ ngân hàng còn xuất hiện trong các vai trò khác như: Ngân hàng đề thi, ngân hàng máu, ngân hàng dữ liệu Hay trước
kia, lăn tăn là một từ dùng để chỉ trạng thái dao động nhẹ (về vật lý) thì nay
nó còn chỉ trạng thái tâm lý dao động, suy nghĩ chưa quả quyết của con người
Nghiên cứu về hiện tượng chuyển nghĩa trong từ vựng, các nhà nghiên cứu đều thống nhất có hai phương thức chuyển nghĩa đó là ẩn dụ và hoán dụ Trong đó, ẩn dụ là một hình thái trong văn nói hay một cụm từ được dùng để thể hiện một cụm từ khác có cùng hoặc gần sắc thái nghĩa Hoán dụ là phương
Trang 22thức tu từ thực hiện bằng việc chuyển nghĩa của các từ, dựa vào sự gần nhau của đối tượng, sự vật Tương tự như ẩn dụ, phép hoán dụ bắt nguồn từ khả năng đa dạng, đa bội của từ vựng trong các chức năng định danh; hoán dụ là đặt một nghĩa bóng cho một từ vốn có nghĩa đen
1.1.4 Khái niệm nghĩa biểu trưng
Tác giả Đỗ Hữu Châu nói: “Nguồn gốc của ngôn ngữ không có gì khác
chính là sự sử dụng những yếu tố, những chi tiết của đời sống hiện thực vào mục đích thẩm mỹ Khi đi vào tác phẩm (câu nói) dưới dạng ngôn từ những yếu tố, những chi tiết ấy sẽ không còn là bản thân nó như trong thực tại, mà trở thành hình thức do một nội dung ý nghĩa mang tính khái quát, vượt ra ngoài phạm vi ngữ nghĩa thông dụng của những yếu tố ngôn từ được sử dụng
Ta gọi đó là ý nghĩa biểu trưng nghệ thuật”
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác về đề tài Tây Bắc của Nguyễn Huy Thiệp
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
1.2.1.1 Cuộc đời
Nguyễn Huy Thiệp sinh năm 1950 tại Thanh Trì, Hà Nội Từ nhỏ ông
đã cùng gia đình lưu lạc khắp các miền nông thôn đồng bằng Bắc Bộ vì vậy những hình ảnh về con người, cảnh vật nơi thôn quê đã in đậm trong ký ức của ông Ông được nhận xét là một bông hoa nở muộn trên văn đàn văn học Việt Nam Những truyện ngắn đầu tiên của ông xuất hiện trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986 Không lâu sau đó, các tác phẩm của ông được bàn luận sôi nổi trong làng văn cả trong lẫn ngoài nước Có nhiều nhận xét trái chiều về văn phong của Nguyễn Huy Thiệp, người chê, kẻ khen ngợi nhưng cho tới nay cái tên Nguyễn Huy Thiệp vẫn gây ấn tượng trong lòng độc giả bởi những truyện ngắn đặc sắc và ấn tượng
Trang 23Không chỉ viết văn Nguyễn Huy Thiệp còn biên kịch, những vở kịch
của ông có thể kể đến là Xuân hồng, Còn lại tình yêu, Gia đình, Nhà tiên tri,
Hoa sen nở ngày 29 tháng 4 Ông còn là người rất có khiếu làm thơ và kinh
doanh Tuy chưa có một tập thơ nào được xuất bản nhưng độc giả có thể tìm thấy khá nhiều bài thơ trong các truyện ngắn của ông Năm 1994 ông gác bút
và mở nhà hàng kinh doanh ở Hà Nội tên là Hoa Ban, rất ăn khách
Nguyễn Huy Thiệp thuộc thế hệ nhà văn sinh ra trong thời chiến, nhưng lớn lên trong thời bình Đó là lúc cuộc sống lại trở về với chính nó, với tất cả lo toan vặt vãnh hằng ngày Văn chương lúc này lại được trả lại nhiệm
vụ thiêng liêng đó là phản ánh con người và số phận con người Hiện thực đó
đã tác động không nhỏ tới cảm hứng sáng tác của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp Ông là một nhà văn luôn trăn trở, suy tư, day dứt trước cuộc sống như ông thì văn chương chính là phương tiện để ông thể hiện cuộc sống và con người Bằng khả năng sáng tác nghệ thuật điêu luyện, Nguyễn Huy
Thiệp đánh thức “góc khuất cuộc sống” trong những sáng tác của mình Đó
cũng là lí do tại sao xuất hiện nhiều ý kiến khen chê bàn cãi tranh luận xung quanh cuộc đời của Nguyên Huy Thiệp
Tựu trung, có một điểm dễ thống nhất, dù khen dù chê, các ý kiến đều
thừa nhận văn Nguyễn Huy Thiệp mới mẻ, hấp dẫn, có “ma lực” Quả thực có
một giai đoạn, nhất là ở chặng đường khởi đầu, mỗi truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện đều là một quả pháo đùng gây tranh luận, bàn cãi - bàn
cãi đến quyết liệt Dường như trong tâm thế thời “Đổi mới”, bạn đọc dễ đồng
cảm với cái mới, tự ý thức về cái mới như một biểu hiện của sự trưởng thành, đổi mới trong tư duy văn học Vì thế, cái mới trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp cũng được tiếp nhận trong sự đối sánh với cái cũ quen thuộc để nhận
chân cả quá trình tiếp nối và phát triển: “Đã có một thời quá dài, văn học
Trang 24nghệ thuật ta thường thiên về cái chung, cái phổ biến khi xây dựng cốt truyện
và tính cách nhân vật” (Nguyễn Mạnh Đẩu).
Nguyễn Huy Thiệp là người có khả năng cuốn hút Ông thể hiện sự sâu sắc, quyết đoán và ngay thẳng có thể đằng sau vẻ ngoài lãnh đạm, khắc khổ
của con người “từng trải”, đó là một tâm hồn nhạy cảm hơn ta vẫn tưởng
1.2.1.2 Các tác phẩm chính
Có thể nói, những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp có số lượng không nhiều Xuất hiện khá muộn trên văn đàn từ năm 1986, nhưng bất kì tác phẩm nào của ông khi ra mắt công chúng cũng xuất hiện hai luồng khen chê dữ dội Nguyễn Huy Thiệp được mệnh danh là ông vua truyện ngắn
Bên cạnh thể loại truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp còn sáng tác nhiều thể loại khác: tiểu thuyết, tạp văn, tiểu luận, phê bình, giới thiệu kịch Với hơn 50 truyện ngắn, 10 vở kịch, 4 tiểu thuyết và nhiều bút ký và phê bình
văn học,… Nguyễn Huy Thiệp đã là một “hiện tượng” đặc biệt, một nhà văn
tên tuổi trong nền văn học Việt Nam đương đại Và bất kì thể loại nào Nguyễn Huy Thiệp cũng đặt được dấu ấn riêng của mình Dưới đây là những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đã được xuất bản thành sách:
- Những ngọn gió Hua Tát, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội, 1989
- Tác phẩm và dư luận, Tạp chí Sông Hương - Nhà xuất bản Trẻ, Huế, 1989
- Nguyễn Huy Thiệp - Tác phẩm và dư luận, tác giả: Nguyễn Huy Thiệp, Hoàng Ngọc Hiến, Tạ Ngọc Liễn, Thùy Sương, Đỗ Văn Khang, Nhà xuất bản Trẻ, 1990
- Tác phẩm và dư luận tái bản, Nhà xuất bản Hồng Lĩnh, California, 1991
- Con gái thủy thần, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 1993
- Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nhà xuất bản Trẻ, 2003
- Xuân Hồng, Nhà xuất bản Tân Thư, California, 1994
Trang 25- Như những ngọn gió, Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1995
- Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Huy Thiệp, Nhà xuất bản Hội Nhà văn,
Hà Nội, 1995
- Thương cả cho đời bạc, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2000
- Mưa Nhã Nam, Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 2001
- Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, 2001
- Suối nhỏ êm dịu (kịch), Báo Văn nghệ, California, 2001
- Mổ nhà văn (kịch), Trang mạng Talawas, Thích Thiện Ngân (bút danh)
- Tuổi hai mươi yêu dấu (tiểu thuyết), Nhà xuất bản E’ditions de l’Aube, 2002
- Tuyển tập kịch Nguyễn Huy Thiệp, Nhà xuất bản Trẻ, 2003
- Như những ngọn gió (tuyển tập), Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1995
- Tiểu Long Nữ (tiểu thuyết), Nhà xuất bản Công an nhân dân, 1996
- Giăng lưới bắt chim, Đông A - Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006
- Gạ tình lấy điểm (tiểu thuyết), Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2007
- Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết (tập truyện ngắn), Nhà xuất bản Đa Nguyên
1.2.2 Vị trí Tây Bắc trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp
Tây Bắc là nỗi ám ảnh trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp Sinh ra tại Hà Nội, nhưng Nguyễn Huy Thiệp lại có mối gắn bó máu thịt với mảnh đất Tây Bắc, coi đây là quê hương thứ hai của mình Năm 1970, ông tốt nghiệp khoa sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và ông bị đưa về làng dạy học tại Tây Bắc đến năm 1980, vì bố ông có làm việc với Pháp, cho nên lý
lịch ông vì vậy bị xếp vào loại "không sạch” Mười năm sống và làm việc với
mảnh đất và con người nơi đây đã khơi nguồn cho những sáng tác của nhà văn Nhiều sáng tác về đề tài Tây Bắc của nhà văn đã tạo được tiếng vang lớn, được dư luận quan tâm và đánh giá Vẻ đẹp Tây Bắc hiện lên nhiều phương
Trang 26diện: địa lí tự nhiên, tộc người, văn hóa và những câu chuyện huyền thoại Nguyễn Huy Thiệp như một nhà đồ họa, ông biến Tây Bắc trở thành một cuốn phim minh triết huyền bí mà gần gũi Qua mảnh đất Tây Bắc, Nguyễn Huy Thiệp gửi gắm tư tưởng, thể hiện một tình yêu với con người trong miền quá khứ
1.2.3.Những sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp về đề tài Tây Bắc
Những người thợ xẻ, Những ngọn gió Hua Tát, Tội ác và trừng phạt, Thổ cẩm, Chuyện tình kể trong đêm mưa…là những sáng tác tiêu biểu
của Nguyễn Huy Thiệp về mảnh đất Tấy Bắc Những tác phẩm nàykhông chỉtái hiện chi tiết, hấp dẫn phương diện địa lí, phong cảnh, mà còn là một bức tranh sinh động về những bài trí sinh hoạt, phong tục tập quán, những câu chuyện huyền thoại, những tính cách con người Tây Bắc
Cả chùm truyện viết về con người và thiên nhiên Tây Bắc, tác giả đã đưa người đọc về thế giới của những câu chuyện cổ tích thấm đẫm chất hoang đường kì ảo Song không chỉ vậy, người đọc thấy ở đó hiện lên thấp thoáng hình bóng cuộc sống thực tại Từ cuộc đời và số phận của những nhân vật cổ tích ấy giúp chúng ta thấu hiểu ước mơ khát vọng của con người và những quy luật bất biến trong cuộc sống thực tại, sự vĩnh hằng trong cuộc sống
1.2.3.1 Những ngọn gió Hua Tát
Những ngọn gió Hua Tát là truyện ngắn có kết cấu đặc biệt, ra mắt bạn
đọc lần đầu tiên trên báo Văn nghệ năm 1989 Tác phẩm gồm mười truyện nhỏ, phản ánh cuộc sống của người dân bản Hua Tát một bản nhỏ người Thái đen nằm cách chân đèo Chiềng Đông chừng dặm đường Nguyễn Huy Thiệp
đã dành cho Hua Tát những dòng miêu tả đầy sức gợi: “Thung lũng Hua Tát
ít nắng Ở đây cứ lung bung một thứ sương mù bàng bạc nên nhìn người và vật cũng nhìn thấy nhoà nhoà Đây là thứ không khí huyền thoại” Với cách
miêu tả và giới thiệu của tác giả, dù là một là một địa danh có thực nhưng
Trang 27Hua Tát lại nhuốm đậm không khí cổ tích và huyền thoại Những câu chuyện
tác giả kể chứa đầy huyền thoại, bí ẩn, song chính nó lại “nói nhiều đến đau
khổ của con người” vì vậy nó làm nảy nở trong chúng ta sự sáng suốt của đạo
đức, lòng cao thượng và tình người tha thiết
Trong mười truyện thì ba chuyện kết thúc có hậu, còn bảy truyện kết thúc trong bi kịch và tuyệt vọng Cuộc sống dân bản Hua Tát có nhiều thăng trầm, với nhiều trạng thái, hoàn cảnh khác nhau Có những lúc cuộc sống ấy
bị đe doạ bởi nạn dịch, thiên tai như nạn sâu đen, dịch tả, động rừng, hạn hán Song có lúc cuộc sống ấy lại đầy thú vị, với những nét văn hoá mang đậm bản sắc riêng mà không phải vùng miền nào cũng có: tiệc xoè, lễ kén rể, lễ cưới Một đặc điểm khác cũng cần chú ý trong tác phẩm này là nghệ thuật xây dựng nhân vật Các nhân vật luôn được thử thách trong những hoàn cảnh đặc biệt để tự bộc lộ mình Trước những hoàn cảnh đó nhân vật thường có hai cách ứng xử: hoặc cố gắng chinh phục vượt qua thử thách, cố gắng đạt mục
đích của mình Như chàng Khó trong Trái tim hổ cũng đi săn nhưng không
phải để lấy bùa phép may mắn mà để lấy thuốc chữa cho Pùa; lão thợ săn
trong Con thú lớn nhất suốt đời lão chỉ săn được những con chim, con thú
bình thường chưa bao giờ lão săn được con thú ba bốn tạ thịt và lão rất khổ
tâm, dặt vặt về điều đó…; Ông Pành trong Đất Quên muốn chặt được cây lim
to nhất trên đỉnh Phu Luông để chứng tỏ tình yêu say đắm với Muôn Trên con đường chinh phục khát vọng đó, các nhân vật đều đạt được hoặc đạt gần tới được mục đích của mình: chàng Khó giết được con hổ; lão thợ săn giết được con thú lớn nhất trong đời mình; Ông Pành đến đỉnh Phu Luông và bập được nhát rìu đầu tiên vào gốc cây Lim Cách thứ hai, nhân vật gặp được
sự may mắn, sự trợ giúp thần kì và trở nên giàu, hạnh phúc: Nàng Bua sau khi đào hũ vàng, cuộc đời của nàng và lũ con đã thay đổi hẳn, họ trở thành người giàu có nhất bản, nhất mường; Mao vô tình thấy tù và bị bỏ quên trên gác bếp
Trang 28anh rúc một hồi bầy sâu đen trả lại cuộc sống bình yên cho dân bản; nàng Sinh có sức mạnh diệu kì, đã nâng hòn đá thiêng và sống hạnh phúc bên người chồng mới…
Những ngọn gió Hua Tát là một trong những truyện ngắn tiêu biểu và
xuất sắc nhất của Nguyễn Huy Thiệp viết về Tây Bắc
1.2.3.2 Những người thợ xẻ
Những người thợ xẻ xoay quanh câu chuyện về Ngọc: Ngọc là con trai
lớn trong một gia đình thuần nông, học xong đại học, do thi trượt tốt nghiệp nên phải ở nhà, để đợi năm sau thi lại, Ngọc được Bường – ông anh họ chuyên nghề đánh bả và bán thịt chó rủ lên rừng làm thợ xẻ gỗ Cùng đi với hai anh em còn có Biên và Biền – hai đứa cháu gọi Ngọc bằng ông trẻ và cu Dĩnh – thằng con trai lớn của Bường, chuyên phục vụ cơm nước
Đến lâm trường Bình Minh họ may mắn được gặp hai vợ chồng Chính – Thục Nhờ sự giới thiệu của họ, toán thợ xẻ nhận xẻ cho ông Thuyết một
cây chò chỉ lớn Trong suốt thời gian “kéo cưa, lừa xẻ”, kíp thợ đã gặp nhiều
chuyện khá rắc rối Bường cũng dùng nhiều trò ma mãnh để kiếm sống Mâu
thuẫn luôn tiềm ẩn giữa Ngọc và Bường, Ngọc bị lưỡi cưa “xén” vào ngón
chân Dĩnh bị cây to đổ vào người đè chết, Bường bị thương sau trận quyết chiến với con gấu ngựa khổng lồ Truyện ngắn khép lại với cảnh toán thợ lầm
lũ kéo nhau về quê
Những người thợ xẻ là tác phẩm văn học về những lối sống nghiệt ngã,
đa chiều, phức hợp Ở truyện ngắn này, Nguyễn Huy Thiệp đã truyền tải phần nào quan niệm về bản thể với những ưu tư cố hữu: nỗi cô đơn, khát vọng sống, sự tự thức cao độ và khả năng phản tỉnh, phản tư sâu sắc Hơn nữa, nổi bật trong câu chuyện, là sự sắp đặt của từng cặp mâu thuẫn để chúng va chạm, rồi tự lý giải lẫn nhau, như: phù vân và vĩnh cửu, trí thức và lưu manh, nữ quyền và nam quyền, hư ảo và chân thực, chân lý và nhân danh, hi vọng và
Trang 29tuyệt vọng Những mâu thuẫn ấy gắn liền với niềm băn khoăn muôn đời của
nhân loại về sự sống, hoàn cảnh hiện sinh và những bi kịch cố hữu “Này hoa
ban, một nghìn năm trước thì mày có trắng thế không” là một câu hỏi triết
học, một trăn trở vô thanh vô cùng tận Bên cạnh đó truyện ngắn còn những chủ đề đau xót như: sự nghiệt ngã của kiếp người – kiếp lao động bơ vơ, sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, trong lời kêu gọi bảo vệ môi trường,
bảo vệ tài nguyên rừng, và như thế, chính là bảo vệ sự sống
Qua Những người thợ xẻ, Nguyễn Huy Thiệp đã diễn tả nỗi xót thương
bản thể, niềm thất vọng cùng cực, sự hoài nghi buồn bã về kiếp đời nâng lên quay quắt trong Ngọc sau sới vật, những bông hoa trắng có cái tên lạ lùng – tương tư – là dụ ngôn của một mối tình thầm, trinh khiết và khắc khoải, là hiện thân cho cái chết, hoặc sự an ủi cho một cái chết của thơ ngây; hay con khỉ nhỏ lạc mẹ, là sức sống mãnh liệt tiềm tàng của thiên nhiên khi đối mặt với việc bị con người hủy hoại, lại cũng thấp thoáng cảm thức lưu lạc của con người tha hương, không định nghĩa được bản thể tồn tại của mình khi bị dứt lìa khỏi cộng đồng
Trong khía cạnh ngôn từ, lối văn của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo ra những chuỗi thoại kì lạ nhưng ấn tượng, với dung lượng ngắn, kết cấu phần nào phóng túng, vô thưởng vô phạt với những lời lẽ thông thường, thậm chí tầm thường, trần tục mà vẫn đảm bảo khả năng gây chấn động tâm hồn người đọc Đó là sự kết hợp giữa một hiện thực trần trụi, một lối ẩn ý sâu cay với cách nhả chữ dửng dưng, tỉnh táo
Những người thợ xẻ tạo ấn tượng về một nhịp sống bất trắc, khốc liệt
với sự dự báo cho một số cảnh huống dữ dội về sau Bường trong truyện ngắn
là một kẻ ma mãnh, vừa thô thiển vừa giỏi lý luận, vừa hiểu biết vừa thiển cận Nội tại trong Bường, là sự lồng hợp của những phạm trù đối nghịch, những mâu thuẫn về bản chất sự sống Tuy nhiên, đấy là những mâu thuẫn
Trang 30thống nhất trong một mặt tồn tại, nhằm biểu hiện ở nhân vật một cá tính đặc biệt Có thể nói, Bường mang dang dấp nhân vật ý niệm Anh ta là hiện thân cho niềm tin của người lao động kiệt quệ, vừa kiêu hãnh vừa mù quáng, vừa
tỏ vẻ am tường văn hóa, cam chịu dấn thân, vừa nuôi dưỡng những mầm mống tầm thường, manh mún, bội phản và cả lừa lọc Vậy, bản chất nhân vật
là không tốt, không xấu, chỉ tồn tại như một hiện tượng của kiếp người, một hình tượng cá biệt mà tác giả xây dựng Còn đối với Ngọc, điểm nhìn trần thuật chính của truyện, vốn là người trí thức yếm thế cậy nhờ vào mưu mẹo
và cơ bắp, đang loay hoay với sự đảo lộn của thời cuộc, sự đổ vỡ của niềm tin, sự hoài nghi cho thân phận người, thân phận mình
Tất cả những yếu tố trên, không nằm ngoài mục đích biểu thị sự quan tâm và mong muốn chuyển tải thông điệp về môi trường nói chung, về tài nguyên rừng nói riêng, đang ngày càng bị đe dọa trước sự lao động, phát triển
mù quáng của con người Và đến thời khắc nào đó, chính họ sẽ nhận lấy cơn giận giữ khôn lường của thiên nhiên Kết thúc truyện, sau khi ăn uống no say, chìm vào giấc ngủ, Ngọc đã mơ thấy năm anh em đi trên cái cầu vồng bảy sắc Đó có thể, là cầu vồng đưa đến sự phục thiện, đến con đường tự nhận
thức, đến “cổng thiên đường”, đó cũng có thể là sự hình tượng hóa con đường
tồn tại cũng rực rỡ mà đầy phù vân như thế Ý niệm triết học đó khép lại tác phẩm như một câu hỏi trăn trở còn để lại
1.2.3.3 Tội ác và trừng phạt
“Tội ác và trừng phạt” của Nguyễn Huy thiệp nằm trong bộ sách “Mỗi
nhà văn một tác phẩm”.Truyện kể về cô gái tên là X, 16 tuổi, ở với bố, một bà
mẹ mù và ba đứa em Ngôi nhà của họ biệt lập trên một quả đồi vùng cao huyện M Tây Bắc Nơi đó rất hoang vu Một lần đi đường, ông bố không kìm được thú tính đã hiếp X Cô gái phẫn uất, cô ta dùng rìu giết chết ông bố khi ông ngủ say Ông bố nằm ngửa, tay vắt lên trán Cô gái đứng dạng hai chân,
Trang 31nâng rìu lên ngắm nghía, giống như ta lựa thế bổ củi: “Ban đầu cháu định bổ
vào mặt ông ta, nhưng cháu sợ lưỡi rìu trượt theo sống mũi, không chết được Ông ta rất khỏe, đã từng tay không mà bắt được một con trăn lớn ” Cô gái
cúi xuống, một tay chống rìu, còn tay kia nhấc tay ông bố đặt sang bên cạnh
“Cháu nhằm vào giữa trán cháu biết chỗ ấy có xương rất cứng, nên cháu lấy
sức để bổ thật mạnh” Sau đó quay về khóa cửa lại đốt nhà Ba đứa em cô bị
thiêu sống Bà mẹ mù đi hái lá thuốc thoát chết Cô gái ra đầu thú, ít lâu sau treo cổ tự tử trong nhà giam
Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp viết về cuộc sống Dù cuộc sống ở đâu, thời nào, tất cả đều hiện lên trong tác phẩm của ông như là một nguyên mẫu của chủ nghĩa hiện thực trần trụi, không tô vẽ, không che đậy Những chuẩn mực về đạo đức, tinh thần bị vi phạm nghiêm trọng bởi những hành vi tha hoá, những thói thực dụng, bảo thủ, trì trệ Đó chính là hồi chuông đánh thức lương tâm con người, đánh thức tình người mà nhà văn muốn gửi đến
bạn đọc
1.2.3.4 Thổ cẩm
Thổ cẩm của Nguyễn Huy Thiệp kể về một chàng bác sĩ trẻ mới ra
trường được phân công công tác về Sở Y tế tỉnh Trong lúc chờ sắp xếp công
việc anh ta đi khảo sát, khám bệnh cho người dân bản Hoan “Bản Hoan có
mười bảy ngôi nhà sàn đều làm theo lối cổ của người Mông Cả bản, nhà nào cũng có khung dệt thổ cẩm Thổ cẩm ở đây dùng để máy váy áo, may chănđệm, cũng là để mang bán ở chợ Bờ và chợ thị xã”
Cuối chuyến đi, nhân vật “tôi” tới bản Hoan và nghỉ đêm ở đó “Tôi”
và một bác sĩ trong đoàn được đưa đến nghỉ ở nhà bà Lanh, một bà Mế người Mường Đêm hôm ấy, chàng bác sĩ đã gặp một cô gái người Mường xinh đẹp, đôi má đỏ lựng, vẻ đẹp ấy trong ánh trăng càng khiến nhân vật tôi ngây ngất Sáng ngày hôm sau, để thực hiện âm mưu của mình, vị bác sĩ trẻ giả vờ ốm để
Trang 32được ở lại bản Hoan Không kìm chế được dục vọng, bác sĩ trẻ cưỡng hiếp cô gái một cách điên cuồng và tàn bạo Và sau đó bỏ đi rũ bỏ trách nhiệm mặc cô gái chạy theo, ánh mắt gần như cầu xin điều gì đó
Về tới Hà Nội, sự việc thế là bẵng đi hơn ba mươi năm Sau lần ấy,
nhân vật tôi chưa bao giờ có dịp quay lai bản Hoan Bây giờ “tôi” đã trở thành
một công chức có cỡ ở Bộ tham gia vào một đoàn công tác đi khảo sát về chương trình xoá đói giảm nghèo ở vùng nông thôn, vô tình thế nào tôi lại có dịp đi đến bản Hoan Và tình cờ nhận ra tên lâm tặc khét tiếng liều lĩnh bị bắt
vì chặt phá rừng chính là con trai mình Nhân vật “tôi” không ngờ hành động tội lỗi ngày xưa lại để lại hậu quả khôn lường như vậy Thật là "tiến thoái
lưỡng nan" sau khi cân nhắc rất kỹ, nhân vật tôi đã quyết định không chính
thức công nhận "tên giặc ở bản Hoan" là con trai “tôi”, nhưng đứng ra bảo
lãnh cho hắn, còn cho hắn tiền làm nhà và thỉnh thoảng còn chu cấp vốn cho hắn làm ăn Bây giờ hắn đã có một cơ ngơi kha khá Hắn tuy hùng bạo nhưng lại có đầu óc Hắn bắt những đứa con trai đào ao nuôi cá sấu, nuôi gấu và toàn những con chim kỳ lạ để bán lấy tiền, còn con gái thì hắn bắt dệt thổ cẩm Hắn không còn đi ăn cướp và phá rừng nữa Cứ độ vài tháng vị bác sĩ lại lên thăm xem xét một lần Tóm lại, những con, đứa cháu vô thừa nhận của tôi cũng có hạnh phúc theo một ý nghĩa nào đấy Kết thúc của câu chuyện để lại trong long người đọc nhiều day dứt băn khoăn
1.2.3.5 Chuyện tình trong đêm mưa
Chuyện tình kể trong đêm mưa kể về cuộc gặp gỡ giữa “tôi” và Bạc Kỳ
Sinh - thổ phỉ khét tiếng người dân tộc Thái và câu chuyện tình giữa Bạc Kỳ
Sinh và Muôn, một cô gái Thái vô cùng xinh đẹp Tôi quen Bạc Kỳ Sinh trong dịp tình cờ Hôm ấy “tôi” đi chợ Mường La, tình cờ giúp Bạc Kỳ Sinh trốn tù Tôi bị bắt giam vào đồn canh sát Vì bị nghi là can phạm trong vụ cướp tù Lần gặp thứ hai gặp gỡ khi nhân vật “tôi” đang phải ở lại trông nom,
Trang 33bảo vệ trường học và đã gần cạn kiệt cái ăn Suy đi tính lại, “tôi” quyết định
vượt thung lũng Chiềng Sạ vào bản Pò Mật tìm người giúp đỡ Đúng lúc ấy, Bạc Kỳ Sinh và Muôn lại đến xin ở nhờ Hôm ấy, cả ba ngồi ăn cơm và cùng
trò chuyện với nhau “Bạc Kỳ Sinh ít nói, đôi mắt của y lạnh lẽo, căng thẳng
như mắt diều hâu, thỉnh thoảng lại sáng rực lên như có tia chớp, tia lửa Chỉ khi nào ánh mắt của y gặp ánh mắt của Muôn nó mới dịu đi đôi chút, nó mới
có vẻ như ánh mắt người” Giữa Muôn, Bạc Kỳ Sinh và Lò Văn Ngân có một
mối quan hệ éo le, trớ trêu, vì cả hai người đàn ông đều mong có được Muôn, người con gái xinh đẹp nhất bản lúc bấy giờ
Bạc Kỳ Sinh và Muôn trú ở nhà “tôi” sang ngày thứ hai thì họ cãi lộn
với nhau Cả hai đều mất bình tĩnh Cuối cùng Bạc Kỳ Sinh đứng lên tru một tiếng khủng khiếp như chó sói hú Trông y rất đau đớn Muôn ôm mặt chạy ra ngoài trời mưa Lúc ấy trời đã khuya lắm Suốt đêm không thấy Muôn trở lại
Bạc Kỳ Sinh ở với “tôi” đến trưa hôm sau Y dứt khoát trả nhân vật tôi tiền
trọ Món tiền khá lớn, bằng tổng số tiền lương giáo viên của tôi trong nhiều
tháng “Tôi” và Bạc Kỳ Sinh chia tay nhau Ít năm sau, tôi có dịp quay lại
Mường La Tôi gặp Lò Văn Ngân, bấy giờ đã lên chức thiếu tá Ngân và
Muôn lấy nhau, họ có hai đứa con, cả hai đang học Đại học “Tôi” cũng đã
gặp Bạc Kỳ Sinh tình cờ khi đến Mỹ trong một quán cà phê ở New York vốn
tụ tập nhiều nhà thơ và nghệ sĩ Người đánh đàn ghita và hát là Bạc Kỳ Sinh Tối hôm ấy, Bạc Kỳ Sinh đưa tôi về nhà Trên tường nhà Bạc Kỳ Sinh có treo ảnh Muôn Nước ảnh đã cũ, đã ố vàng nhưng Muôn trông rất đẹp Chuyện kết thúc bằng một đêm mưa ở New York trời mưa rất to, mưa như ở vùng Tây Bắc Việt Nam, một thứ mưa nhiệt đới dai dẳng, tưởng như không dứt, tưởng như không thôi, tưởng như không bao giờ hết được…
Chuyện tình kể trong đêm mưa còn là câu chuyện về những người dân vùng Tây Bắc, về hoàn cảnh sống vô cùng khó khăn Điều kiện sống của con
Trang 34người ở đây thật khắc nghiệt “Dân nhiều nơi chỉ đủ gạo ăn có ba tháng, còn
chín tháng trong năm phải vào rừng đào củ mài Săn bắt và hái lượm vẫn là những hình thức kiếm sống phổ biến của nhiều tộc người ở đây hệt như một ngàn năm trước Nạn du canh du cư và triệt phá rừng làm cho quang cảnh rừng núi ngày càng thêm tiêu điều”
Chuyện tình kể trong đêm mưa cũng là thiên truyện Nguyễn Huy Thiệp viết về Tây Bắc với sự am tường sâu sắc từ phương diện địa lý, phong tục tập quán đến cả cách sinh hoạt của người dân vùng núi Tây Bắc là vùng mà tác giả đã đặt dấu chân đến nhiều nơi, những địa danh, tên bản tên làng cũng được tác giả tái hiện Bên cạnh đó, nhà văn còn đặc tả phong cách sinh hoạt của người dân nơi đây chứng tỏ mối gắn bó keo sơn của tác giả với mảnh đất nặng nghĩa tình này
1.2.4 Hình ảnh thiên nhiênvà con người Tây Bắc trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp
Thiên nhiên và con người trong văn học luôn là hình tượng sánh đôi cùng nhau, hình tượng thiên nhiên luôn là nền tảng lăm nổi bật cho hình tượng con người Thiên nhiên luôn là người bạn gần gũi của con người, có lúc hiu hắt một nỗi buồn, nhưng khi lại chất chứa một niềm vui thiết tha như một tâm sự, ôm ấp gắn bó với con người Với mảnh đất Tây Bắc, Nguyễn Huy Thiệp là người đến sau, trước ông đã có những tên tuổi lẫy lừng, nhiều thu hoạch văn học đã được gặt hái trên mảnh đất này như những sáng tác của Tô Hoài, Nguyễn Tuân Tuy vậy,Nguyễn Huy Thiệp đã nhanh chóng khẳng định được tên tuổi của mình với mảng đề tài này Đề tài về thiên nhiên và con người Tây Bắc trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp hiện lên như một lẽ tự
nhiên bởi ông “có duyên nợ” với mảnh đất này Phải chăng những sáng tác
của Nguyễn Huy Thiệp về Tây Bắc như là những món quà ông dành tặng cho con người nơi đây - nơi ông gắn bó suốt mười năm (1970 – 1980)
Trang 351.2.4.1 Thiên nhiên Tây Bắc trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp
a Hình ảnh thiên nhiên trong văn học
Thiên nhiên luôn nguồn cảm hứng vô tận của văn chương phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng Con người và tự nhiên là hai hình tượng sánh đôi của văn học, con người là một phần của tự nhiên, giữa con người và tự nhiên có mối liên quan, dung hòa nhau Trong rất nhiều mối quan
hệ với thế giới, con người không thể nào tách ra khỏi thế giới tự nhiên Thiên nhiên và con người có xung đột hay mâu thuẫn thế nào thì con người và thiên nhiên sẽ giải quyết mâu thuẫn đó Và rồi thiên nhiên lại là nền tảng cho con người phát triển
Thiên nhiên trong văn học hiện đại là sự thể hiện tình yêu thiên nhiên, đất nước, quê hương, biểu thị tình yêu cuộc sống, con người, đôi lứa Thiên nhiên góp phần vào việc thể hiện nôi dung tư tưởng của tác phẩm và quan điểm nghệ thuật của tác giả
b Thiên nhiên Tây Bắc trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp
Đã có thời gian trải nghiệm ở Tây Bắc cùng nghề dạy học, chất keo miền ngược gắn với Nguyễn Huy Thiệp tạo nên niềm đam mê, sự ám ảnh ngự trị đời sống tinh thần ông, nó khắc dấu tâm hồn ông trên nhiều trang văn Tây Bắc chiếm một vị trí to lớn trong sáng tác, như một sự ràng buộc, một điểm nhìn, làm tư tưởng của ông biến hóa, còn tác phẩm mang sắc thái chung Trong làng văn, chưa ai từng găm chặt văn mình vào không gian, thời gian Tây Bắc như Nguyễn Huy Thiệp
Chốc chốc, trong truyện ngắn của ông lại khắc khoải hiện về một Tây Bắc xa xăm mà gần gũi, biến tấu thành điệp khúc hoài niệm Tây Bắc hung
dữ, hiểm trở với núi rừng gai góc trong mắt người thợ xẻ: “Ít năm trước đây,
tôi theo chân một toán thợ xẻ lên miền ngược kiếm ăn Chúng tôi có năm người, do ông anh họ tôi tên là Bường đứng ra làm cai… Chúng tôi đến Hà
Trang 36Nội, tìm bến xe đi Tây Bắc Anh Bường có vẻ rất thạo Đường đi Tây Bắc lắm dốc đèo” [Những người thợ xẻ, 13, 107 – 109] Tây Bắc lắm rừng rú lại lạc
hậu xa xôi
Tây Bắc trong văn chương của Nguyễn Huy Thiệp mang vẻ cổ xưa Nó
dữ dội bởi thác lũ mưa nguồn, hoang vu vì những con đường quanh co, hiểm
trở Núi tiếp núi trùng điệp, “rừng núi đại ngàn trùng điệp mở ra trước mắt…
Một bên là vực sâu, một bên là núi cao Thỉnh thoảng một trận mưa địa hình đột ngột trút xuống Gió lồng lộng thổi” Nhà văn xác nhận “quang cảnh hùng tráng thế này thì không phải miền núi nào cũng có” [Quan Âm chỉ lộ, 13,
578] Nơi đây, vùng Tây Bắc, nhân vật “tôi” đã đi nhiều, thấu hiểu đến từng
“chân tơ kẽ tóc” về điều kiện sống của con người ở đây thật khắc nghiệt
Hung dữ, hiểm nguy là vậy nhưng thiên nhiên Tây Bắc cũng mang vẻ
đẹp lãng mạn, trữ tình bởi nó “bạt ngàn là hoa ban trắng, màu trắng đến là
khắc khoải nao lòng Này hoa ban, một nghìn năm trước mày có trắng thế không?” [Những người thợ xẻ, 13, tr.110] Hoa ban là biểu tượng, là “một tấm danh thiếp” của Tây Bắc Văn Nguyễn Huy Thiệp có nhiều chi tiết đặc tả vẻ
đẹp thiên nhiên lãng mạn Tây Bắc Vẻ đẹp ấy hiện lên qua lối viết liệt kê so sánh, dồn dập, căng trí óc người đọc, khi lý trí lúc du dương như thơ không
giống bất cứ nhà văn nào: “Sương mù đang còn dày đặc, người đi chợ như đi
trong mơ, cách một sải tay chẳng nhìn thấy gì Sương mù ở vùng núi cao khác với sương mù ở vùng đồng bằng: nó dày đặc, nó như màn sữa loãng, mênh mông bí ẩn, không hoang tưởng…” Thiên nhiên Tây Bắc héo quắt bởi mùa
khô dài dằng dặc nhưng nửa năm còn lại là mưa Có vẻ như mưa khiến ông sợ
hãi nhất Mưa mềm mại nhưng như khoan, như dùi, nó “thấm vào vách nhà,
vào lòng người”
Không chỉ phác họa nên một Tây Bắc ở phương diện địa lí tự nhiên mà những tên đất, tên làng, địa danh Tây Bắc dày đặc trở đi trở lại ở các tác phẩm
Trang 37khiến người đọc có thể hình dung về nơi ông đi qua, nó có thực và tên gọi đó còn dùng đến bây giờ Mảnh đất Tây Bắc đã có mối duyên nợ với rất nhiều nhà văn nhưng chưa ai vẽ một bản đồ địa danh như Nguyễn Huy Thiệp
Như vậy, Tây Bắc là mảnh đất khơi nguồn cho những cảm hứng bất tận củaNguyễn Huy Thiệp Nhà văn trở về miền núi như một sự siêu thoát, đi tìm
sự tự do trong nghệ thuật Có yêu thì mới nhớ, Tây Bắc có sức quyến rũ khiến ông như bị thôi miên
1.2.4.2 Con người Tây Bắc trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
a Con người trong văn học thời kì đổi mới
"Văn học là nhân học" (M Gorki ) Thời đại chúng ta đang đặc biệt quan tâm đến "nhân tố con người" Chính sách con người đang trở thành một
nền tảng trong đường lối cách mạng của các nước xã hội chủ nghĩa Trong bối cảnh đó nhận thức lại cho đúng mối quan hệ văn học và con người là một vấn
đề lý luận có ý nghĩa thực tiễn cấp bách
Văn học là nhân học Nhưng đã có một thời người ta rất ngại nói đến
"tính con người", chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Sau 1975, đất nước bước
vào thời kì đổi mới, những quy luật thời bình sớm muộn sẽ chi phối văn học
Sự thức tỉnh ý thức cá nhân diễn ra manh mẽ khi giá trị cá nhân được coi trọng Nếu trước 1975, các nhà văn có thiên hướng thể hiện con người theo tiêu chí giai cấp, lựa chọn nhân vật điển hình, chú trọng tính chung sao cho phù hợp với quan điểm về sự vận động tích cực và thuận chiều của đời sống,
do đó đã bỏ qua hoặc coi nhẹ phương diện “riêng tư”,“cá biệt” của con người
thì văn xuôi sau 1975 dần dần quan tâm con người ở tư cách cá nhân - một
“nhân vị” độc lập Xuất hiện con người “không trùng khít với chính mình”, con người phức tạp, nhiều chiều Nguyễn Khải từng triết lí:"cái thế giới tinh
thần của con người là vô cùng phức tạp vì con người luôn nhắm tới cái thật cao và thật xa” Ông ngạc nhiên thấy có người "ăn no mà buồn, không phải
Trang 38lo nghĩ mà lại buồn” (Anh hùng bĩ vận), có người "hiển lành là thế, hồn nhiên
là thế mà có ngày sẽ trở thành sát nhân ư” (Đổi đời), Nguyễn Minh Châu từ
tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành trở đi dường như liên tục làm những thử nghiệm,"đối chứng’’ về "tính chất kì lạ của con người"
Phát hiện con người phức tạp, con người lưỡng diện, con người không nhất quán với mình, văn xuôi sau 1975 có vẻ như đã đi đúng quỹ đạo tư duy của những nhà khoa học nhân văn có tiếng trên thế giới L.Tônxtôi từng
ví "con người như dòng sông” "Nước trong mọi con sông như nhau và ở đâu
cũng thế cả nhưng mỗi con sông thì khi hẹp, khi chảy xiết, khi thì rộng khi thì
êm, khi thì trong veo, khi thì lạnh, khi thì đục, khi thì ấm Con người cũng như vậy Mỗi con người mang trong mình những mầm mống của mọi tính chất con người và khi thì thể hiện tính chất này, khi thì thể hiện những tính chất khác và thường là hoàn toàn không giống bản thân mình tuy vẫn cứ là chính mình".Con người hành động có khi theo sự chỉ huy của ý thức, của lí trí tỉnh
táo, có khi lại bị chi phối bởi tiếng nói của tâm linh, của vô thức, bản năng
Rất khó có thể “định tính” hay “định lượng” cho con người mà không làm tổn
thương đến bản chất người của nó Nguyễn Trí Huân dõi theo cuộc hành trìnhtự ý thức đầy nặng nhọc của nhân vật Quy từ lúc là cô bé 13, 14 tuổi đến khi đã từng trải mọi đau buồn, vinh quang, bất hạnh để đưa ra kết
luận: “phải chăng chính cuộc đời là như vậy Nó vừa dễ hiểu, vừa khó hiểu
Vả lại nếu như mọi cái ở con người đều đem giản, rõ ràng, đều cắt nghĩa, lý giải ngay được thì cuộc đời sẽ tẻ nhạt biết bao!” (Chim én bay) Khi trình bày
mẫu người giản đơn đến máy móc, duy ý chí đến thô thiển của một thời nhiều
ấu trĩ, vụng dại, Nguyễn Khải cũng phát biểu về cái bí ẩn của cuộc đời qua lời
nhân vật chất vấn: “Nếu mọi sự đều có lí, đều có thể hiểu được thì làm gì còn
văn chương hả ông?” (Nhóm bạn thời kháng chiến) Vậy là con người cần
đến văn chương vì nó tự biết nó là một thế giới vô cùng tận, khó có thể hiểu
Trang 39hết, nó kì vọng ở khả năng khám phá và biểu hiện của văn chương Và sức hấp dẫn có được của văn xuôi hiện nay chính là ở chỗ nó liên tục phát hiện những cái khuất lấp, ẩn chìm, những sức mạnh kì lạ đã chi phối và dẫn dắt số phận riêng của mỗi cá nhân, không ai giống ai cả
Con người vốn phức tạp như thế nên không thể dùng một tiêu chí cố định mà đo đếm nó Mọi sự lý tưởng hóa con người đều làm cho nó trở nên giả dối, không thật Nhân vật của văn xuôi sau 1975 rõ ràng ít tính lí tưởng,
không hoàn hảo, “sạch sẽ”, không được “bao bọc trong bầu không khí vô
trùng" như trước đây thường thấy Trong văn học vẫn có nhân vật đẹp nhưng
là cái đẹp trong bụi bặm của cuộc đời thường nhật Sáng tác của Nguyễn
Minh Châu vẫn là cuộc săn tìm “những hạt ngọc” đạo đức ẩn dấu trong con người, nhưng đồng thời cũng để chứng minh điều tác giả trải nghiệm: “Quan
sát những người ở xung quanh mình, tôi thấy người tốt vẫn chiếm đa số Nhưng hình như họ luôn phải cưỡng lại một thứ gì đó ở bên trong bản thân, thiện và ác, lý trí và dục vọng, cái riêng và cái chung ở bên trong từng con người Người ta vẫn tốt nhưng cái tốt hình như ít đi hơn xưa Người ta phải luôn giữ mình để khỏi làm điều xấu và ác” (Báo Văn nghệ 6/7/1985)
Trình bày con người như nó vốn có, không lí tưởng hóa, thần thánh hóa nó là đặc điểm nổi bật trong quan niệm về con người của văn xuôi từ sau 1975 Quan niệm con người đời thường, con người phàm tục, không hoàn hảo vừa giống như một sự đối thoại với quá khứ, khước từ những lối biểu hiện công thức, vừa đề xuất hệ giá trị mới để đánh giá con người: giá trị nhân bản Có
thể xem đây là sự “đổi mới chất liệu” văn xuôi theo hướng tăng cường hiện thực hóa và dân chủ hóa Nguyễn Huy Thiệp mượn lời của một nhân vật để triết lí về cái đẹp có giá trị phổ quát và trường tồn của “cái bình
thường”: “Quãng đời bình thường cuối cùng mà ta sống ở bản Hua Tát như
Trang 40mọi người mới chính là sự tích phi thường nhất mà ta lập được” (Truyện thứ tám: Sạ - trong “Những ngọn Hua Tát”)
Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi thời gian qua dù còn nhiều chuyện phải bàn, nhưng nhìn chung đó là một thành tựu quan trọng, được nhiều người thừa nhận Khuynh hướng dân chủ hóa và tinh thần nhân bản đã giúp văn xuôi sau 1975 thoát ra khỏi những lối mòn quen thuộc, phá vỡ những quy phạm hình thành trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, dần dần đạt tới một quan niệm toàn diện, nhiều chiều về con người, mở ra những chiều mới mẻ và thú vị về đời sống đầy bí ẩn, vô cùng vô tận của
những cá thể người sinh động và gần gũi
b Con người Tây Bắc trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp
“Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con
người” [16, tr.156] Nhận xét trên của nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nói lên
sứ mệnh cao cả của văn chương là phản ánh một cách sinh động và trung thực
về con người Lẽ đương nhiên, con người là trung tâm của văn học Con người Tây Bắc đơn giản hòa mình vào thiên nhiên vô tận được Nguyễn Huy Thiệp chụp từ nhiều phương diện: văn hóa, ngoại hình, đời sống nội tâm,
Nguyễn Huy Thiệp dành không nhiều trang văn để miêu tả con người Tây Bắc Với nữ nhân vật, ông thường dùng những chi tiết miêu tả ước lệ, giống cổ tích Thoảng hoặc, có những dòng văn miêu tả vẻ đẹp đơn giản Còn nam nhân vật, thường là người bắn giỏi, có sức vóc khoẻ mạnh, mang vẻ đẹp gai góc thô nhám
Vẻ ngoài như vậy, nhưng con người Tây Bắc chân thật, bình dị và hồn
nhiên Nguyễn Huy Thiệp xác nhận điều đó khi đã rời mảnh đất này “đầu óc tôi vẫn còn đang vấn vương những con người sống rất giản dị ở bản Suối Thầu Họ không bao giờ đặt ra câu hỏi tại sao thế này, tại sao thế kia” [Quan