1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu tìm hiểu về những ngôi mộ gió trên đảo lý sơn quảng ngãi

86 790 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 3,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người dân vùng biển do sống ở một môi trường khắc nghiệt hơn, nơi người chết không phải lúc nào cũng tìm được thi thể nên phổ biến một tập tục, đó là những người bị nạn trên biển, không

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ

ĐẶNG THỊ KIM DUNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Lịch sử văn hóa

Người hướng dẫn khoa học:

TS Nguyễn Văn Vinh

Hà Nội, 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa, quý Thầy, cô giáo khoa Lịch sử trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn :

T.S Nguyễn Văn Vinh Thầy đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt

thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.

Tác giả cảm ơn tập thể lớp K38 A – CN Lịch Sử, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã đóng góp ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 2016

Tác giả

Đặng Thị Kim Dung

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả của quá trình học tập nghiên cứu của tôi cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Thầy

giáo – T.S Nguyễn Văn Vinh.

Trong quá trình làm khóa luận tôi có tham khảo những tài liệu có liên quan đã được hệ thống trong mục Tài liệu tham khảo Khóa luận không có sự trùng lặp với khóa luận khác.

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Tác giả

Đặng Thị Kim Dung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu của khóa luận 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẢO LÝ SƠN 4

1.1.Vị trí địa lý và lịch sử hình thành đảo Lý Sơn 4

1.1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 4

1.1.2 Lịch sử đảo Lý Sơn 6

1.1.3.Đặc điểm kinh tế xã hội 9

1.2.Lý Sơn - Quê hương của Hải đội Hoàng Sa 13

* Tiểu kết chương 1 18

CHƯƠNG 2 MỘ GIÓ, MỘ CHIÊU HỒN VÀ CÁC NGHI THỨC LIÊN QUAN 19

2.1 Quan niệm của người Việt về việc an táng người chết 19

2.2 Chiêu hồn nạp táng 21

2.3.Hình nhân thế mạng 22

2.4 Mộ gió 22

2.5 Mộ gió trên đảo Lý Sơn, mộ gió hay mộ chiêu hồn? 24

2.6 Cách thức lập mộ gió ở Lý Sơn 26

2.7 So sánh mộ gió ở Lý Sơn với mộ gió ở các địa phương khác 32

2.7.1.Điểm khác biệt của những ngôi mộ gió Lý Sơn với mộ gió ở các vùng ven biển khác 32

2.7.2.So sánh lễ chiêu hồn ở Lý Sơn với lễ chiêu hồn nhập cốt của người Chăm Bà La Môn ở Ninh Thuận 33

2.7.3.Người nặn hình nhân thế mạng cho ngư dân mất tích 36

Trang 5

*Tiểu kết chương 2 39

CHƯƠNG 3 NHỮNG DI TÍCH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘI HOÀNG SA VÀ NGƯ DÂN ĐÁNH BẮT Ở HOÀNG SA TRÊN ĐẢO LÝ SƠN 40

3.1.Mộ của cai đội Phạm Quang Ảnh và binh phu 40

3.2.Mộ của Chánh đội trưởng Thủy quân suất đội của Đội Hoàng Sa -Phạm Hữu Nhật 42

3.3.Mộ và đền thờ Võ Văn Khiết 44

3.4.Di tích âm linh tự và mộ lính Hoàng Sa 46

3.5.Dinh Âm hồn (chùa Âm hồn) 49

3.6.Những ngôi mộ của ngư dân đi Hoàng Sa 49

3.7 Ý nghĩa của những ngôi mộ gió trên đảo Lý Sơn 51

*Tiểu kết chương 3 53

KẾT LUẬN 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

PHỤ LỤC ẢNH 63

MỤC LỤC Error! Bookmark not defined

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đảo Lý Sơn (còn có tên gọi là Cù Lao Ré) là huyện đảo duy nhất của tỉnh Quảng Ngãi Đảo nằm ở phía Đông Bắc, cách đất liền 15 hải lý Đảo Lý Sơn được coi là cửa ngõ ra Hoàng Sa Đây cũng được coi là một bảo tàng sống động về lịch

sử chủ quyền Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, cùng với một hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú và đa dạng với nhà thờ họ, đình làng, các lăng, lân, Âm linh tự, mộ gió…

Quan niệm của người Việt, sống có cửa có nhà, thác có mồ có mả” vì vậy,

tang lễ cho người chết, xây cất mồ mả, cúng giỗ linh hồn người mất được xem là phần không thể thiếu được trong đời sống Người dân vùng biển do sống ở một môi trường khắc nghiệt hơn, nơi người chết không phải lúc nào cũng tìm được thi thể nên phổ biến một tập tục, đó là những người bị nạn trên biển, không tìm được thi thể thì phải làm mộ gió, dựng cây tre đầu làng, trên cây tre buộc mảnh vải trắng (nhìn như cây nêu) với niềm tin là gọi hồn người chết trở về nhập vào ngôi mộ

Tục đắp mộ gió, táng hình nhân thế mạng phổ biến nhiều vùng trên đất nước

ta, nhưng không đâu nhiều bằng huyện đảo Lý Sơn Bởi ở đây ngoài những ngôi mộ gió của ngư dân bị gặp thiên tai, tai nạn mất xác trên biển còn có những quân binh

các đội Hoàng Sa, Trường Sa hy sinh trong khi làm nhiệm vụ Ở Lý Sơn, bãi tha ma

nào cũng có mộ gió, thậm chí vì đất chật người ta còn đắp cả mộ ở góc ruộng tỏi, góc vườn hay góc sân nhà…

Mộ gió ở Lý Sơn gắn liền với tục cúng Khao lề thế lính”, một lễ thức của cư dân vùng biển với tín ngưỡng thờ chiến sĩ trận vong, ở đây là những người lính đi làm nhiệm vụ ở đảo Hoàng Sa thuở trước:

Hoàng Sa trời nước mênh mông Người đi thì có mà không thấy về

Đề tài mộ gió được viết khá nhiều, nhưng không phải từ góc độ nghiên cứu khoa học Những bài viết về đề tài này hầu hết mới chỉ dừng lại ở mức độ một bài

báo, hoặc một phóng sự nhiều kỳ Lựa chọn đề tài:” Những ngôi mộ gió ở Lý Sơn”

làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp, tôi muốn đưa đến một cái nhìn toàn diện, bao

Trang 7

quát về mộ gió từ lịch sử, thời gian hình thành, nguyên nhân lập mộ gió, cách thức tiến hành, ý nghĩa, giá trị của những ngôi mộ gió, điểm khác biệt của mộ gió ở Lý Sơn với mộ gió ở những địa phương khác…

2 Lịch sử nghiên cứu

Viết về đề tài mộ gió, về những ngôi mộ của hùng binh Hoàng Sa có rất nhiều bài báo, tạp chí, phóng sự đã từng đăng tải .Nếu tra cụm từ mộ gió” trên Google search sẽ cho 15.300.000 kết quả trong vòng 0,28 giây Tuy nhiên, các bài báo, tạp chí này chủ yếu tập trung khai thác về mộ của những cai đội Hoàng Sa, một vài bài báo

có giới thiệu sơ qua về cách làm mộ gió, về nguyên nhân lập mộ…nhưng hầu như tất

cả đều mang tính chất giới thiệu, khái quát

Cuốn sách Như cây phong ba trên đảo Hoàng Sa” của nhà báo Lê Văn Chương và bài viết Mộ gió, Hình nhân và Lễ khao lề ” của Lê Hồng Khánh nhắc

đến một vài nét về những ngôi mộ gió ở Lý Sơn cũng như cách thức lập mộ chiêu hồn, lập mộ gió Nhưng phần nhiều vẫn còn tập trung nhiều vào những ngôi mộ gió của những người cai đội Hoàng Sa như Phạm Hữu Nhật, Phạm Quang Ảnh và gắn liền với lễ khao lề thế lính Hoàng Sa

Cuốn Hình nhân và Mộ gió” của tác giả Hiền Văn cũng đề cập một số chi

tiết liên quan đến việc lập mộ gió và các loại hình nhân ở Lý Sơn nhưng tác giả viết dưới dạng bút ký, chưa đưa ra được cái nhìn toàn diện về mộ gió

Những bài báo, phóng sự, bài viết, mà tôi đã sưu tầm là nguồn tài liệu tham khảo quý báu cho quá trình thực hiện đề tài này Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng hiện nay chưa có một công trình chuyên biệt, nghiên cứu chuyên sâu về mộ gió

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này được xác định là những ngôi mộ gió trên đảo Lý Sơn, đặc biệt chú ý về nguồn gốc, cách thức lập mộ, thống kê số lượng

mộ gió hiện có trên đảo, cũng như ý nghĩa của những ngôi mộ này đối với đời sống tinh thần của cư dân trên đảo, ngoài ra còn chú trọng so sánh với các ngôi mộ ở các vùng ven biển khác để thấy được sự khác biệt của những ngôi mộ gió ở Lý Sơn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: Từ khi người dân trên đảo có tục đắp mộ gió (cách đây 200 năm cho đến ngày nay)

Trang 8

- Về không gian: Huyện đảo Lý Sơn và một số vùng ven biển Việt Nam nơi

có tục đắp mộ gió

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập tài liệu: Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi tích

cực tìm các tài liệu , bài báo tạp chí, internet đã xuất bản có liên quan đến vấn đề

mộ gió, mộ chiêu hồn để đọc, phân tích từ đó đưa ra các lập luận và nhận xét góp phần làm cho đề tài được khoa học, chặt chẽ và hấp dẫn hơn Bên cạnh đó tôi đã tiến hành điền dã, khảo sát, thống kê những ngôi mộ gió ở Lý Sơn cũng như tiến hành phỏng vấn người trực tiếp tham gia lập mộ gió và những người trong gia đình

có mộ gió

- Phương pháp phân tích và so sánh tài liệu

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về huyện đảo Lý Sơn

Chương 2: Mộ gió, mộ chiêu hồn và nghi thức liên quan

Chương 3: Di tích liên quan đến đội Hoàng Sa và ngư dân đánh bắt ở Hoàng

Sa trên đảo Lý Sơn

Kết luận

Trang 9

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẢO LÝ SƠN 1.1.Vị trí địa lý và lịch sử hình thành đảo Lý Sơn

1.1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Huyện đảo Lý Sơn nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Quảng Ngãi, cách đất liền chừng 25km, gồm một đảo lớn (Cù Lao Ré), một đảo bé (Cù Lao Bờ Bãi) và hòn

Mù Cu Vốn được tách ra từ huyện Bình Chánh theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ năm 1992 và trở thành huyện đảo tiền tiêu Nói về huyện đảo này, nhân dân địa phương có ca dao thủy trình:

Trực nhìn thấy ngó Bàn Than

Ba hòn lao Ré nằm ngang Sa Kỳ”

Diện tích của Lý Sơn vào khoảng 9,97 km², cư dân sống ở đây có hơn 20.000 người Tổng chiều dài đường bờ biển của huyện đảo là trên 25km Huyện đảo Lý Sơn gồm 3 đảo: đảo Lớn (Lý Sơn, Cù Lao Ré), đảo Bé (Cù Lao Bờ Bãi) ở phía Bắc đảo Lớn, và hòn Mù Cu ở phía Đông của đảo Lớn Huyện được chia làm 3 xã: An Vĩnh (huyện lỵ - Đảo lớn), An Hải (Đảo lớn) và An Bình (đảo Bé)

Nằm ở vị trí tiền tiêu cuả Tổ quốc nên đảo Lý Sơn có vị trí rất quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền an ninh biển đảo, giữ vững toàn v n lãnh thổ đất liền

Đảo Lớn hay còn gọi là Cù Lao Ré1 với 5 hòn núi: Thới Lới, Hòn Tai, Hòn Vung, Giếng Tiền và Hòn Sỏi đây là những ngọn nủi lửa hoạt động trong thời kỳ tạo sơn đã hình thành nên đảo Lý Sơn và để lại những dấu tích nham thạch, góp phần tạo nên những hang động và cảnh quan thiên nhiên kỳ thú hiện nay như Chùa Hang, Chùa Đục, hang Cò, hang Câu, cổng Tò Vò, Mù Cu Xưa ở Lý Sơn có nhiều rừng nguyên sinh như rừng cây gạo, rừng Bà Bút, và nhiều dòng suối như suối Chình, suối Ốc

Đảo Bé, còn gọi là Cù Lao Bờ Bãi, trước đây là thôn Bắc thuộc xã An Vĩnh, nay là xã An Bình, nằm cách đảo lớn khoảng 5km về phía Tây Bắc

Phía Đông Nam đảo lớn có hòn Mù Cu, cách bờ chừng 500m, nơi đây chỉ là những bãi đá nhô cao, và chỉ có duy nhất loài cây Mù cu sinh sống Hòn Mù Cu nhỏ

h p, không có người ở Hiện nay, tại đây người ta lợi dụng sự che chắn sóng biển từ

1

Trang 10

phía Đông Nam của hòn Mù Cu để xây dựng vũng neo đậu tàu thuyền của ngư dân trên đảo

Huyện đảo Lý Sơn có được diện mạo như ngày này là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài, không mệt mỏi của con người khắc phục những khó khăn, tận dụng những nguồn lợi sẵn có từ thiên nhiên, khai thác, cải tạo để phục vụ cho cuộc sống của mình

Địa hình ở khu vực phía Nam Đảo Lớn cao hơn so với mực nước biển 30m, độ dốc nhỏ hơn 8 độ, bậc thềm chân núi có độ dốc từ 8-15, được người dân khai thác để trồng hành, tỏi

20-Hệ thống năm ngọn núi trải dài bờ biển phía Bắc tựa như bức tường thành chắn gió mùa Đông Bắc vào mùa đông cho người dân sinh sống ở phía Nam Đảo

Huyện Lý Sơn chịu tác động của gió mùa nên có hai mùa rõ rệt là mùa mưa

và mùa khô, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8 Vào mùa mưa, biển động, tàu khó ra khơi, ảnh hưởng đến nghề đi biển của người dân

Tổng diện tích tự nhiên của huyện đảo là 800ha trong đó đất nông nghiệp chiếm hơn 400ha Đất lâm nghiệp chiếm 182ha, đất chưa sử dụng là 218ha… Đất nông nghiệp trên đảo được canh tác theo hai dạng: cây hoa màu là 383ha chủ yếu canh tác hành, tỏi, lạc, đậu, bắp… và 17 ha trồng cây ăn quả Đất là tài nguyên quan trọng ở Lý Sơn, thu hút khoảng 62% lao động, nuôi sống gần 50% dân số trên đảo

Bãi cát ven biển có diện tích khoảng 42ha và diện tích này càng ngày bị thu

h p do nhu cầu khai thác cát ven biển để trồng hành, tỏi diện tích đảo cũng vì thế

mà bị thu h p dần Hơn nữa diện tích đất dành cho nghĩa địa ở Lý Sơn cũng quá nhiều, phân bố chưa thật hợp lý

Ở thời tiền sơ sử có nhiều khu rừng nguyên sinh và các dòng suối cổ nay đã cạn, đó là suối Chính và suối Ốc Suối Chình thuộc xã An Hải bắt nguồn từ dòng cây trong lòng núi Thới Lới, chảy về phía Nam Đảo, Suối Ốc thuộc xã An Vĩnh, bắt nguồn từ núi Hòn Sỏi và Giếng Tiền chảy về phía Nam Đảo Đây là hai dòng suối

cổ có nguồn nước ngọt nên cư dân thời tiền và sơ sử trên đảo Lý Sơn đã sinh sống dọc hai bên bờ suối và để lại nhiều dấu tích văn hóa Trên đảo có trữ lượng nước

Trang 11

ngầm tương đối phong phú, đảm bảo sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp cho người dân

Đảo Lý Sơn được bao bọc bở biển cả nên việc khai thác và sử dụng các nguồn lợi từ biển cả là một ưu thế, thuận lợi trong phát triển kinh tế của huyện Trong sự kiến tạo địa chất, bậc thềm chân đảo chìm sâu dưới long đất tạo nên nhiều hang hốc, rạng đá ngầm, đồng thời còn có bãi san hô trải dài ở phía Bắc, và đông đảo các loài thủy tộc sinh sống Lý Sơn còn là cửa ngõ gần nhất để đi ra Hoàng Sa đánh bắt, cho nên nghề đi biển là thế mạnh của người dân nơi đây

Với vị thế địa lý hải đảo ven bờ, nằm trên con đường kinh tế trọng điểm miền Trung Cách khu công nghiệp Dung Quất 25 hải lý, Lý Sơn có nhiều ưu thế để phát triển kinh tế và du lich Trong chương trình phát triển của tỉnh Quảng Ngãi thì

Lý Sơn được coi là trung tâm nghề cá của tỉnh Huyện đảo Lý Sơn còn là vị trí quan trọng trong lĩnh vực quốc phòng, đặc biệt là đối với việc bảo vệ chủ quyền lãnh hải của quốc gia Từ Lý Sơn có thể giám sát, khống chế cả vùng biển miền Trung Đặc biệt Lý Sơn còn là chốt tiền tiêu, nằm án ngữ trên con đường vươn ra biển Đông từ cảng Dung Quất và khu kinh tế mở Chu Lai

1.1.2 Lịch sử đảo Lý Sơn

Từ kết quả khai quật khảo cổ tại các di chỉ Xóm Ốc và suối Chình – nơi có hai dòng suối cổ đã cạn trên đảo và những hiện vật - công cụ lao động bằng đá do giáo sư Diệp Đình Hoa phát hiện ở khu vực núi Giếng Tiền, xã An cho thấy trên đảo Lý Sơn đã có người sinh sống, cách ngày này chừng 2500 – 3000 năm (tương ứng với văn hóa Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh) Dấu tích văn hóa Champa sớm và Champa phát triển (từ thế kỷ I đến thế kỷ XIII,XIV) cũng khá dày trên đảo Cư dân thuộc văn hóa Sa Huỳnh sống quần cư dọc theo hai bên bở suối Chình, kinh tế chủ yếu là khai thác biển, món ăn chủ yếu là sò và cá Họ để lại trong khu cư trú một lớp vỏ ốc dày 1,5m Họ cũng làm nông nghiệp Bộ công cụ canh tác nông nghiệp và chế biến nông sản như cuốc đá, rìu đá, bàn nghiền đã chứng mình điều đó

Kế tục văn hóa Sa Huỳnh là văn hóa Champa phát triển từ những thế kỷ đầu Công nguyên Vết tích văn hóa của họ được để lại qua dấu tích văn hóa chứa trong tầng văn hóa lớp trên của di chỉ Xóm Ốc và suối Chình Đó là những hạt cườm bằng thủy tinh bầu dục d t, những đồ trang sức bằng đồng, bình hình trứng đáy nhọn và

Trang 12

nhiều đồ gốm Chăm thô và mịn khác Hiện vật Champa ở đây rất giống với những hiện vật tìm thấy trong các tầng văn hóa Trà Kiệu ( Duy Xuyên, Quảng Nam) từ sớm đến muộn Những di tích khác mang dấu ấn Champa còn có miếu bà Lồi, chùa Hang, dinh Bà Trời, giếng Vuông Cư dân Champa sống bằng kinh tế khai thác biển, buôn bán biển và trồng rau củ, hoa màu…

Cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, những cư dân Việt sinh sống ở ven biển

Sa Kỳ là làng An Hải (nay thuộc xã Bình Châu – huyện Bình Sơn) và làng An Vĩnh (nay thuộc xã Tịnh Kỳ huyện Sơn Tịnh) đã di cư ra đảo sinh sống Theo ghi chép của một số dòng họ trên đảo thì người Việt ra đảo đầu tiên khoảng những năm 1604 -1610, đã có 15 người từ đất liền ra đảo và phân chia ranh giới khai thác, cứ trú và hình thành nên hai làng An Hải và An Vĩnh như ngày nay Ở làng An Vĩnh có 7 vị tiên hiền, gồm các dòng họ: Phạn Quang, Phạm Văn, Võ Văn, Võ Xuân, Lê, Trần, Nguyễn từ làng An Vĩnh thuộc xã Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh ra khai phá vùng đất phía tây của Đảo và lập ra phường An Vĩnh, nay là xã An Vĩnh Làng An Hải có 8

vị tiên hiền, gồm các dòng họ: Nguyễn, Dương, Trương, Trần, Võ, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn, Lê từ làng An Hải thuộc xã Bình Châu ra khai phá phần phía Đông và phía Nam đảo lập ra làng An Hải, nay là xã An Hải (sau này họ Trần ở làng An Vĩnh và họ Lê ở làng An Hải do vi phạm luật tục nên bị tước danh hiệu tiên hiền Tuy rời khỏi quê hương bản quán từ đất liền ra đảo để khai phá, nhưng bước đầu những cư dân đầu tiên ra đảo vẫn chưa tách hẳn nghĩa vụ của mình với quê hương, bản quán Vùng đất mà họ khai phá và định cư cũng chỉ là một phần thuộc quê gốc

An Hải và An Vĩnh trong đất liền, Vì vậy mà dù sống ngoài đảo nhưng phải trở về đất liền khi có tín hiệu gọi về Tương truyền khi tiếng trống từ đất liền vọng ra ngoài đảo, các vị tiên hiền phải trở về để thực hiện nghĩa vụ của mình Mãi đến năm

1804, các làng ngoài đảo Lý Sơn mới tách khỏi An Vĩnh và An Hải trong đất liền

và được ngày 11 tháng 2 năm 1804 là ngày thành lập những đơn vị hành chính độc lập

Từ buổi đầu khẩn hoang, lập làng, người Việt ở Lý Sơn đã gặp không ít khó khăn từ thiên nhiên cũng như sự cướp phá của giặc biển hay còn gọi là giặc Tàu Ô.2

Đến nay, trên đảo còn có nhiều di tích còn lưu lại đã phản ánh sự đấu tranh kiên

2 Giặc Tàu Ô: Người Việt thường gọi giặc Tàu Ô để chỉ những toán cướp biển từ Trung Quốc sang

Trang 13

cường của nhân dân Lý Sơn với giặc Tàu Ô đó là chùa Hang,dinh Bà Roi, hang Kẻ Cướp thường để ngừa giặc tàu Ô, mỗi gia đình đều có một hầm bí mật, giấu trên núi, khi giặc Tàu Ô tới, không cướp được gì, ngoài ra những ra đình khá giả cũng đã lập nên những mái nhà gồm hai, ba lớp, cửa bàn khoa cùng với rầm thượng, rầm hạ

để cất giấu của cải.3

Trong lịch sử, đảo Lý Sơn có tên gọi là Cù Lao Ré Chữ Cù Lao được việt hóa từ chữ Pulau của ngôn ngữ Malayo-Polynesien, có nghĩa là đảo, chữ Ré là tên dân gian, tương truyền xưa đảo có nhiều cây ré nên dân gian gọi là Cù Lao Ré Tài

liệu xưa nhất về Lý Sơn là toàn lộ đồ thư tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư ” (1630)

của Đỗ Bá đã gọi Cù Lao Ré là Du Trường Sơn Đến năm 1831, trong An Nam Đại Quốc Họa Đồ giáo sĩ L.Tabord đã gọi Lý Sơn là Poulo Canton

Về mặt hành chính, đảo Lý Sơn gọi là Cù Lao Ré, gồm hai phường An Vĩnh

và An Hải Đời vua Gia Long 1808 Lý Sơn đặt thành tổng gọi là tổng Lý Sơn Đời vua Đồng Khánh, hai phường An Hải và An Vĩnh thuộc tổng Bình Hà huyện Bình Sơn về sau đặt lại là tổng Lý Sơn trực thuộc tỉnh Quảng Ngãi có một viên Bang tá cai trị Phường An Hải đổi thành xã Hải Yến, phường An Vĩnh đổi thành xã Vĩnh Long

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đảo Lý Sơn đổi thành tổng Trần Thành gồm hai xã Dương Xạ (Hải Yến cũ) và xã Vĩnh Long Năm 1946 tổng Trấn Thành đổi thành xã Lý Sơn trực thuộc huyện Bình Sơn Năm 1951, quân Pháp đánh chiếm đảo Lý Sơn và thành lập một khu hành chính thuộc thành phố Đà Nẵng Từ năm

1945 đến 1975, chính quyền Sài Gòn chia Lý Sơn thành hai xã Bình Vĩnh và Bình Yến thuộc huyện Bình Sơn Sau ngày giải phóng hai xã vẫn giữ nguyên tên gọi cũ, ngày 01.01.1993 huyện Lý Sơn được thành lập gồm hai xã Lý Hải và Lý Vĩnh Đến năm 2003 tên các xã của huyện được đổi thành An Vĩnh và An Hải, xã An Hải gồm các thôn: thôn Tây, thôn Đông, thôn Bắc (đảo Bé) sau này do đặc thù của một hòn đảo tách biệt với đảo lớn và có vị trí quan trọng nên thôn Bắc được tách ra thành đơn vị hành chính cấp xã, gọi là xã An Bình

Do nằm ở vị trí án ngữ cửa biển Sa Kỳ - Quảng Ngãi nên đảo Lý Sơn có tầm quan trọng về quân sự Từ giữa thế kỷ XVII Bắc quân đô đốc Bùi Tá Hán trên đường đem quân nhà Lê Trung Hưng vào đánh d p nhà Mạc, lấy lại vùng thừa

3 Dẫn theo cuốn Văn hóa truyền thống đảo Lý Sơn”, tr.24.

Trang 14

tuyên Quảng Nam đã dừng chân tại đảo Lý Sơn, sau này nhà Nguyễn đã xây dựng ở đây các đồn phòng thủ quân sự để bảo vệ vùng biển Quảng Ngãi Đặc biệt, do nằm

ở vị trí trên con đường buôn bán gốm sứ, tơ lụa và nhiều mặt hàng khác từ Trung Quốc qua Đông Nam Á, Nam Á và xa hơn nữa, nên Lý Sơn từ xa xưa đã có sự giao lưu thương mại – văn hóa với các khu vực lân cận

1.1.3.Đặc điểm kinh tế xã hội

1.1.3.1 Cơ cấu kinh tế

Lý Sơn được xem như là một làng nông – ngư kết hợp Người dân vừa làm nông, vừa đánh bắt hải sản Mặc dù hòn đảo nằm ở giữa biển khơi, nhưng đại bộ phận người dân Lý Sơn từ khi ra lập làng đến nay vẫn sống bằng nghề trồng hành, tỏi, bắp, đậu trên những bãi đất h p dưới chân năm ngọn núi: Giếng Tiền, Hòn Vung, Hòn Tai, Hòn Sỏi, Thới Lới …Một số hộ dân trên đảo làm nghề đi biển và đánh bắt gần bờ, gắn với ngề lưới cá chuồn, đánh cá sơn,cá trích và câu mực là chính Nguồn hải sản đánh bắt được chủ yếu cung cấp cho nhu cầu của nhân dân trên đảo Nhờ kinh nghiệm đi biển được tích lũy qua nhiều năm cho nên vào thời Nguyễn ngư dân ở An Hải, An Vĩnh đã được triều đình phong kiến tuyển mộ đi khai thác sản vật, đo đạc, cắm mốc thủy trình ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa Ngày nay, do điều kiện kinh tế phát triển, người dân đã đầu tư đóng mới nhiều phương tiện đánh bắt hiện đại, có khả năng đánh bắt xa bờ ở ngư trường các nước, ở vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa Kinh tế biển đang ngày càng phát triển mạnh ở

Lý Sơn và đang trở thành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi

Ở Lý Sơn do đất đai không trồng được lúa, chỉ trồng được bắp, đậu ván và một

số loại khoai mì, đậu phộng, cây gai Từ năm 1960, cây hành, cây tỏi trở thành cây trồng chủ lực và là nguồn thu chủ yếu của người nông dân trên đảo

Do đất đai phù hợp với điều kiện sinh trưởng của hành, tỏi nên chất lượng hành, tỏi ở Lý Sơn rất tốt Mặc dù cây hành, cây tỏi mang lại hiệu quả kinh tế cao, trở thành đặc sản của Lý Sơn nhưng do quy trình cải tạo đất đòi hỏi phải có đất cát vôi trắng để cho năng suất cao, nhưng nguồn cát này hầu như đã cạn kiệt nên sản xuất nông nghiệp ở Lý Sơn gặp rất nhiều khó khắn và phát triển không bền vững

Trang 15

Chăn nuôi: chủ yếu là bò, dê, lợn, gà, vịt nhưng chưa hình thành trang trại chăn nuôi tập trung quy mô như các huyện khác mà chủ yếu là chăn nuôi theo hình thức hộ gia đình Số lượng gia súc, gia cầm năm 2010 của huyện là 6.000 con

Thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện quyết định thu nhập của hơn 50% cư dân của huyện, sản lượng khai thác chiếm gần 1/3 tổng sản lượng khai thác của toàn tỉnh nhưng chủ yếu tập trung lĩnh vực khai thác thủy sản nước mặn với các hình thức như: lặn, câu, lưới cước, lưới trủ, lưới ru, vây ngày, vây đêm, rút chì, chong đèn… mang lại hiệu quả kinh tế cao Sản lượng đánh bắt hải sản năm 2009 đạt 24.938 tấn, tăng gấp gần 5 lần so với năm 1993 Quý 1 năm 2013, Lý Sơn giá trị sản xuất ngành thủy sản đạt 52.486 triệu đồng Hiện nay huyện có 419 chiếc tàu thuyền, tổng công suất 43,372 CV, tổng số lao động trực tiếp trên biển là 3.003 người (trong đó có 158 tàu đánh bắt xa bờ, khai thác chủ yếu trên vùng biển Hoàng

Sa và Trường Sa) Theo ông Võ Xuân Huyện, Bí thư Huyện ủy Lý Sơn, từ nay đến năm 2015, huyện Lý Sơn sẽ tập trung phát triển kinh tế biển Cụ thể vận động nhân dân cải hoán, đóng mới tàu thuyền, vươn ra biển đánh bắt hải sản dài ngày Với mục tiêu vừa sản xuất, vừa tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh trên biển Ngoài kinh tế ngư nghiệp và nông nghiệp, người dân trên đảo còn làm nghề chế biến hải sản, dịch

vụ thương nghiệp Xưa ở Lý Sơn do nhu cầu lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác phục vụ cho đời sống của nhân dân trên đảo nên đã xuất hiện giao thương, buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa Lý Sơn với đất liền qua phương tiện ghe bầu, người Lý Sơn rất giỏi nghề đi biển và kỹ thuật đóng ghe bầu Hiện nay, dịch vụ mua bán trên đảo đang phát triển khá mạnh, chủ yếu là các dịch vụ nghề cá, mua bán ngư cụ, và các dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân

Tỷ trọng các ngành kinh tế chủ yếu của huyện năm 2009 là ngành nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 5,17%; thuơng mại dịch vụ chiếm 40,6%; công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chiếm 7,7% Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng ngành thủy sản, tỷ trọng ngành dịch vụ và du

lịch, giảm tỷ trọng của nông nghiệp và công nghiệp

Như vậy, ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu kinh tế của Lý Sơn Trong tương lại không xa, hy vọng với ưu thế biển và kinh nghiệm đánh bắt thủy sản của ngư dân trên đảo và sự đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ nghề cá của Nhà

Trang 16

nước như xây dựng cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và dịch vụ nghề cá, cho vay vốn ưu đãi để ngư dân đầu tư mua sắm ngư lưới cụ và đóng mới tàu thuyền…Kinh

tế ngư nghiệp ở Lý Sơn sẽ phát triển mạnh và là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Lý Sơn Bên cạnh đó, với di sản văn hóa truyền thống đa dạng, phong phú Lý Sơn sẽ có lợi thế để phát triển du lịch

1.1.3.2.Nguồn lao động

Dân số toàn huyện năm 2008 có 20.344 người Toàn bộ dân số của huyện sống trong khu vực nông thôn Mật độ dân số trung bình của huyện là 2.042 người/km2 Năm 2011 toàn huyện 4.746 hộ gia đình (quy mô trung bình hộ là 4,3 người/hộ), trong đó có 3.748 hộ nông - lâm - ngư nghiệp, chiếm 80% Trong giai đoạn 2001-2005 dân số trung bình tăng 1.251 nguời với tốc độ tăng bình quân năm

là 1,5%

Theo số liệu thống kê của huyện, năm 2008 lực lượng lao động của huyện là 10.944 nguời, chiếm 53,79% tổng dân số toàn huyện Trong đó số người đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 9631 nguời bằng 98,7% số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động

Nhìn chung cơ cấu lao động bắt đầu có sự chuyển dịch lao động ngành nông – lâm – ngư nghiệp chiếm chủ yếu và giảm từ 85,6% năm 2000 xuống 80,06% năm

2005, đến năm 2008 còn 77,96%, dự báo đến năm 2010 giảm xuống còn 76,46% Lao động trong ngành công nghiệp – xây dựng chiếm một phần rất nhỏ và biến động không đều: năm 2000 chiếm 9,2%, đến năm 2005 giảm xuống còn 6,75% và tăng lên 7,3% vào năm 2008, dự báo đến năm 2010 chiếm khoảng 8,82% tổng số lao động trong các ngành kinh tế quốc dân của toàn huyện Lao động dịch vụ tăng tương đối nhanh từ 5,18% năm 2000 lên 13,19% năm 2005 và đạt 14,69% năm

2008, dự báo đến năm 2010 lao động trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 14,71% tổng số trong các ngành kinh tế quốc dân của huyện

Đây là một yếu tố thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện bởi vấn đề lao động tại chỗ cơ bản được giải quyết Bình quân hàng năm huyện giải quyết 200 việc làm mới cho lao động và giải quyết việc làm ổn định cho

1729 lao động Tuy nhiên, chất lượng lao động cũng là vấn đề lớn đặt ra với huyện khi hiện tại có 87,3% số lao động là lao động phổ thông chưa qua đào tạo và chủ

Trang 17

yếu lao động hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản Số người đi biển ngày càng nhiều

1.1.4.Con người Lý Sơn

Nguồn gốc của cư dân ngày nay trên đảo Lý Sơn là những người nông dân vùng Thanh – Nghệ - Tĩnh di cư vào Quảng Ngãi và ra đảo Lý Sơn từ những năm đầu thế kỷ XVII Bước đầu tạo lập cuộc sống trên đảo với nhiều khó khăn, bất chắc

và nguy hiểm, sống xa quê hương, xa bản quán, và hầu như rất ít giao lưu với các địa phương khác, đời sống kinh tế còn mang nhiều tính tự cấp, tự túc Nhưng trải qua trên 400 năm khai phá và xây dựng, bao thế hệ người Lý Sơn đã biết gìn giữ, vun đắp, thành quả của cha ông để xây dựng nên một Lý Sơn giàu truyền thống lịch

sử và văn hóa

Con người Lý Sơn cần cù và sáng tạo trong lao động, sống trong môi trường biển đã biết đóng ghe bầu để đi biển và giao lưu thương mại với các địa phương khác trong đất liền, biết trồng gai đan lưới để đánh bắt hải sản phục vụ cho nhu càu đời sống và trao đổi , buôn bán với các nơi khác Đặc biệt, người Lý Sơn anh dũng, can trường, bao thế hệ người Lý Sơn đã sẵn sang chấp nhận hy sinh vì lệnh vua mà

ra tận Hoàng Sa, Trường Sa Trong sinh hoạt văn hóa, người Lý Sơn đã sáng tạo và lưu giữ nhiều giá trị văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, thể hiện sự tài hoa trong xây dựng

và chạm khắc tinh xảo ở các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, tiếp thu và biến đổi các yếu tố văn hóa bản địa của người Chăm trên cơ sở văn hóa của người Việt để hình thành nên những giá trị văn hóa mới, phục vụ đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng một cách cởi mở và hội nhập

Từ sự khai phá đầu tiên của các vị tiên hiền, các tộc học sống quần tụ với nhau trong từng khu vực theo sự phân chia đất đai ban đầu khai phá và hình thành nên xóm làng : xóm họ Đặng, xóm họ Nguyễn, xóm họ Phạm…sau này có một số tộc họ khác tiếp tục ra định cư trên đảo, hình thành nên xóm làng và có mối quan hệ khá mật thiết, cùng nhau có trách nhiệm lo chung việc lễ thờ tiên hiền, và thần linh tại đình làng và các nơi thờ tự khác trong làng, không có hiện tượng tranh chấp ngôi thứ hoặc địa vị trong làng xã của các tộc họ lẫn nhau Mỗi tộc học hiện nay đều có nhà thờ tộc họ riêng, do ông trưởng tộc giữ gìn và lo tổ chức cúng tế Nét đặc biệt của các tộc họ ở Lý Sơn là dù trải qua nhiều đời nhưng người trong tộc vẫn xem nhau

Trang 18

như ruột thịt, trai gái cùng họ không được lấy nhau và hàng năm đều về dự lễ giỗ họ, gọi là cúng việc lề” Chính qua hình thức sinh hoạt cúng việc lề” con cháu có dịp gặp nhau, nhận biết bà con trong họ, giáo dục con cháu đoàn kết, yêu thương, giữ gìn truyền thống tộc họ Đây cũng thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, tưởng nhớ tri ân những người đã khuất trong gia đình, tộc họ

1.2.Lý Sơn - Quê hương của Hải đội Hoàng Sa

Khác với các hòn đảo ven bờ khác của Việt Nam, ngay từ những ngày đầu mới khai phá và thành lập đảo đã được các chúa Nguyễn tin tưởng giao cho trọng trách quan trọng là vượt biển ra Hoàng Sa để khai thác sản vật, đo đạc và cắm mốc thủy trình, bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo này Lịch sử Lý Sơn gắn liền với quá trình bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa Theo nguồn

thư tịch cổ như Phủ biên tạp lục”, Đại Nam thực lục tiền biên”, Đại Nam nhất thống chí” đều có ghi chép về đội Hoàng Sa Phủ biên tạp lục” của Lê Qúy Đôn

năm 1776 đã ghi chép cụ thể về việc chúa Nguyễn phiên đặt những tráng dân ở Lý Sơn để thành lập đội Hoàng Sa đi khai thác sản vật:

- “Ở ngoài Cù Lao Ré có đảo Đại Hoàng Sa,ngày trước nơi đây thường sản xuất nhiều hải vật đi bán ở các nơi, nên Nhà nước có thiết lập một đội Hoàng Sa để thu nhận cái hải vật, người ta phải đi ba ngày, ba đêm mới tới được đảo”

- Ngày trước họ Nguyễn có thể đi lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất lấy người

xã An Vĩnh sung vào, hàng năm luân phiên, lấy tháng giêng nhận sai dịch ra đó, mỗi người trong đội Hoàng Sa được cấp phát sáu tháng lương, học chèo 5 chiếc thuyền câu nhỏ ra ngoài biển, ba ngày, ba đêm mới đến Hoàng Sa, ở lại tha hồ bắt chim, bắt cá làm đồ ăn Họ lượm được những vật trôi dạt như kiếm, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen,ngà voi, sáp vàng, đồ sứ, hải sâm, các loại ốc đẹp Đến kỳ tháng 8, thuyền trở về vào cửa Yên Môn (cửa Thuận An) rồi tới thành Phú Xuân trình nộp các vật hạng đã lượm nhặt được, người ta cân, định dạng những con ốc đẹp rồi mới cho đội này bán riêng những con ốc đẹp, hải sâm, đồi mồi cũng nhiều vật biển khác, sau đó lãnh văn bằng trở về Những vật lượm được ngoài biển có khi nhiều, có khi ít, không nhất định, cũng có lần họ ra đi, trở về không…”

Trang 19

Sách Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú soạn năm 1821,

phần địa chí biên soạn về phủ Tƣ Nghĩa (Quảng Ngãi), đảo Cù Lao Ré và Hoàng Sa

nhƣ sau: Phủ Tư Nghĩa ở giữa đạo Quảng Nam, ở thượng du núi liên tiếp đăng ngang, phía dưới đến biển lớn, chính giữa địa thế rộng rãi, thời đại Thái Vương chuyên chế đổi làm Quảng Nghĩa ba huyện, ở đây vật lực phong phú, lúa gạo không

kể siết, vàng bạc, cây gỗ, châu báu, trầm hương, tốc hương đều rất tốt, voi ngựa chăn nuôi cũng rất nhiều Lại có đảo lớn, đảo nhỏ ở ngoài biển, cảnh vật xinh tốt, báu kỳ, vật là phần nhiều ở nơi này vậy (thôn An Vĩnh, thuộc huyện Bình Dương,(tức huyện Bình Sơn) ở ngoài biển gần phía Đông Bắc, ngoài biển có hòn đảo lớn, nhiều núi linh tinh hơn 130 ngọn, từ trong núi đi ra biển ước đẫy một ngày đường hoặc một vài trống canh Trên núi có suối nước ngọt, giữa hòn đảo có bãi Hoàng Sa, dài độ 30 dặm, bằng phẳng, rộng lớn, nước trong suốt đáy, bên đảo có

vô số yến sào, bẫy chim cả hàng ngàn, hàng vạn, thấy người đi tới đậu xung quanh, bên bãi có rất nhiều vật lạ, về ốc vằn có thứ gọi là ốc tai voi, lớn bằng tấm chiếu, trong bụng có hạt ngọc lớn bằng ngón tay,vỏ nó có thể đẽo thành bia, lại có thể hầm thành vôi để tô trét, lại có thứ gọi là ốc xá cừ, dùng để trang sức đồ vật, lại có thứ gọi là ốc hương, có thứ đồi mồi rất lớn gọi là hải ba, vỏ mỏng, có thể trang sức khí mảnh như ngón tay cái Có thứ gọi là hải sâm, tục gọi là con đồn đột, bò chơi trên bãi cát, người ta bắt lấy dung vôi chà xát qua, bỏ ruột, phơi khô, khi ăn lấy nước cua đồng mà ngâm, nấu chung với tôm và thịt heo cũng ngon Nhiều khi thuyền buồm gặp gió nương đậu tại đảo này, tiền Vương lịch triều (các chúa Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa 70 suất lấy người thôn An Vĩnh, luân phiên xung vào,lội trên mặt nước để lấy, mỗi năm cứ đến tháng ba, nhận chỉ thị đi làm việc, đem theo lương thực 6 tháng, đi năm chiếc thuyền nhỏ , ra khơi ba ngày ba đêm mới đến đảo này Ở đó mặc tình tìm thấy, bắt lấy cá mà ăn, lấy được rất nhiều đồ quý báu của thuyền chở,cùng lượm lấy khá nhiều hải vật, qua tháng 8 trở về,vào cửa Eo( Yên Môn) tới thành Phú Xuân

Sách Đại Nam thực lục tiền biên” khắc in năm Thiệu trị thứ 4 (1844) cũng có nhắc về hải đội Hoàng Sa nhƣ sau: Tháng 7, mùa thu, năm giáp tuất, (1754) dân đội Hoàng Sa gặp gió to, giạt vào hải phận Quỳnh Châu thuộc nhà Thanh, tổng đốc Thanh cấp cho Đầy đủ rồi đưa về chúa sai viết thư gửi qua (ngoài biển gửi xã An

Trang 20

Vĩnh có hơn 130 cồn cát, cách xa hơn một ngày đường hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy ngàn dặm… tục gọi là Vạn Lý Hoàng Sa Châu, trên có giếng nước ngọt có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, giải , ba ba Hồi quốc sơ (đầu triều Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy người dân xã An Vĩnh xung vào, hàng năm cứ tháng ba cưỡi thuyền ra đảo,ba ngày ba đêm mới tới nơi, thu lượm hóa vật, đến tháng 8 trở nộp Lại có đội Bắc Hải mộ dân thôn Tư Chình, Bình Cố hoắc xã Cảnh Dương xung vào được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo Côn Lôn ở Bắc Hải thu lượm hải vật, cũng

do đội Hoàng Sa kiêm quản luôn.”

Đại Nam thực lục chính biên cũng ghi chép về đội Hoàng Sa và Phạm Quang

Ảnh người làng An Vĩnh Cù Lao Ré - Lý Sơn như sau:“Tháng Giêng, năm Ất Hợi

1815, sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa xem xét đo đạc ”

Tiếp theo vào năm sau: Năm Bính Tí , niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816) … vua sai lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi đo đạc thủy trình…”

Tháng 6, mùa hạ , năm Ất Mùi, Minh Mạng thứ 16( 1835) dựng “thần tứ “

ở Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi, Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi”

Việt sử cương giám khảo lược” của Nguyễn Thông có đoạn viết về đội Hoàng Sa như sau: “…Vạn Lý Trường Sa: từ đảo Lý Sơn tục gọi là Ngoại Lao, người Trung Quốc gọi là Ngoại La) (tức Cù Lao Ré) đi thuyền về phía Đông, ba ngày đêm thì đến, Nước Việt Nam ta ở hai buổi quốc sơ thường kén những người đinh tráng ở hai bộ An Hải và An Vĩnh mà đặt đội Hoàng Sa để đi kiếm lượm những sản vật ngoài biển Hàng năm cứ tháng hai đi tháng tám về, bãi cát dăng từ phía Đông mà trải sang phía Nam chỗ nổi lên, chỗ chìm xuống, không biết mấy nghìn dặm, ở trong có vụng sâu, thuyền có thể đậu được trên bãi có nước ngọt, chim biển nhiều giống không biết tên Có một cái miếu cổ lợp ngói, biển ngạch khắc mấy chữ

“vạn lý Ba Bình” (muôn dặm sóng êm) không biết từ đời nào…”

Đội Hoàng Sa được thành lập dưới thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức Đội gồm 70 suất lấy trai tráng xã An Vĩnh, luân phiên nhận nhiệm vụ ra Hoàng Sa 6 tháng để khai thác sản vật và đo đạc thủy trình Đội Bắc Hải trực thuộc sự quản lý của đội Hoàng Sa, giúp đội Hoàng Sa kiếm soát các đảo phía Nam trong đó có Trường Sa, Côn Lôn, Vũng Hà Tiên Hoạt động của đội

Trang 21

Hoàng Sa được các tài liệu nhà Nguyễn ghi chép, xác nhận lại một cách liên tục Theo Việt sử thông giám khảo lược của Nguyễn Thông thì đến tận cuối đời Tự Đức (1876) đội Hoàng Sa mới bị bãi bỏ vì Việt Nam bị Pháp xâm lược, hải quân Pháp

uy hiếp mặt biển Việt Nam, khiến các hoạt động của hải quân Việt Nam bị đình trệ Đội Hoàng Sa cũng hoạt động tới 3 thế kỷ Theo người dân Lý Sơn thì 70 suất đinh

đi Hoàng Sa đều được chia đều chủ yếu cho các suất định các tộc họ ở làng An Vĩnh và một số ở An Hải trên đảo Lý Sơn

Triều Nguyễn tuyển lính cho đội Hoàng Sa theo cách khoán cho mỗi dòng họ một số lượng người đi lính tương ứng theo quy tắc để người tộc trưởng ở nhà lo việc tế tự còn các con thứ trong gia đình và dòng họ phải đi lính Hoàng Sa Mỗi năm một lần luân phiên nhau, những người đi lính Hoàng Sa được triều đình ưu đãi một số khoản như miễn tiền sưu, tiền qua đò, qua đồn tuần, đến thời Gia Long còn được miễn thuế nông nghiệp

Người đứng đầu chỉ huy đội Hoàng Sa được gọi là cai đội Ở Lý Sơn có hai

vị cai đội nổi tiếng là cai đội Võ Văn Khiết hiện còn miếu thời ở xã Anh Vĩnh và cai đội Phạm Quang Ảnh Dưới thời Gia Long, cai đội Phạm Quang Ảnh lập được nhiều công trạng, nên khi mất được sắc phong Thượng Đẳng Thần Mộ ông hiện cũng còn ở xã Anh Vĩnh Phạm Quang Ảnh và Võ Văn Khiết được xem là những

vị nhân thần được ghi tên trong các văn tế của đình miếu ở Lý Sơn

Lính Hoàng Sa khi đi mang theo lương thực, nước uống cho sáu tháng, mỗi người được cấp phát một chiếc chiếu dài, bảy đòn che, mấy sợi dây mây và một thẻ bài ghi rõ danh tính, bản quán, phiên hiệu, mục đích là để nếu chết thì dùng chiếu

bó xác gần bờ thì mang về đất liền chôn, hoặc thả xuống biển hy vọng cái xác sẽ dạt

vào đâu đó và được người địa phương chôn cất

Những người đi Hoàng Sa thời ấy chỉ bằng phương tiện là chiếc ghe bầu mảnh mai, cho nên dễ bị gặp rủi ro trước dông bão, có khi họ vĩnh viễn nằm trong

lòng đại dương

Những người chết ngoài Hoàng Sa không về được, thì vợ con, cha m và những người thân trong gia đình tạo những hình nhân bằng đất sét và chôn thành các mộ gió Hiện nay mộ gió nằm tập trung nhiều tại thôn Đông và thôn Tây An Vĩnh

Trang 22

Ngày nay, trên đảo Lý Sơn còn nhiều di tích liên quan đến đội Hoàng Sa, Trường Sa, đó là:

- Di tích Âm linh tự với tượng đài chiến sĩ trận vong là nơi thờ lính Hoàng

Sa chung với các vị thần khác, hàng năm làm lễ tế lính Hoàng Sa và những người

bỏ mình trên biển

- Miếu thành hoàng làng ở đình làng An Hải, nơi thờ Bùi Tá Hán, Nguyễn

Tú Tài và lính Hoàng Sa bỏ mình trên biển

- Mộ cai đội Hoàng Sa Phạm Quang Ảnh tại thôn Đông xã An Vĩnh Đây là một ngôi mộ chiêu hồn Ngoài ra còn có nhà thờ tộc họ Phạm Quang còn lưu giữ nhiều di vật liên quan đến Phạm Quang Ảnh và đội Hoàng Sa

- Miếu ông Thắm , nơi thời cai đội Võ Văn Khiết, mộ chiêu hồn của cụ Võ Văn Khiết, nhà thờ họ Võ

- Khu mộ gió, khu nghĩa địa giành cho lính Hoàng Sa nằm ở thôn Tây xã An Vĩnh

- Đình làng An Vĩnh, nơi tế lính Hoàng Sa trước khi lên đường làm nhiệm

lễ khao lề thế lính Hoàng Sa

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa mang đậm ý nghĩa tri ân đối với các bậc tiền nhân đã hy sinh vì Tổ quốc Việc hình thành hải đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải là một trong những nỗ lực lớn của nhà nước phong kiến Việt Nam trong việc chinh phục và dựng mốc chủ quyền ở biển Đông Đó là công lao to lớn của cư dân vùng ven biển Bình Sơn và tổng Lý Sơn Quảng Ngãi Qua hàng trăm năm đã có hàng ngàn lính, binh phu, quan lại dân sự của triều đình hy sinh trên biển khi thi hành

Trang 23

nhiệm vụ Sự tồn tại của khu mộ lính Hoàng Sa với tên thường gọi là khu mộ gió Hoàng Sa là mình chứng sống động cho sự thật lịch sử này

* Tiểu kết chương 1

Huyện đảo Lý Sơn hay Cù Lao Ré, là huyện đảo duy nhất của tỉnh Quảng Ngãi, nằm ở phía Đông Bắc và cách đất liền 15 hải lý Theo các kết quả khai quật khảo cổ học thì cách ngày nay chừng 2000-3000 năm ở Lý Sơn đã có người sinh sống, tương ứng với văn hóa Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh Dấu tích của văn hóa Chăm cũng còn khá dày trên đảo Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, những cư dân người Việt ở vùng ven biển Sa Kỳ đã theo chân 15 vị tiền hiền di cư ra đảo, khai hoang, lập làng, mở xóm, xây dựng đảo cho đến ngày nay Đảo Lý Sơn có vị trí chiến lược quan trọng, là cửa ngõ ra Hoàng Sa, và nằm trên tuyến đường giao lưu buôn bán với nhiều nước trong khu vực và thế giới

Người dân Lý Sơn có nguồn gốc từ những nông dân ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, di cư vào Quảng Ngãi và sau đó là di cư tiếp ra Lý Sơn Dân Lý Sơn giỏi đi biển, có tới khoảng 60% dân số làm nghề đi biển Thủy sản chiếm tới 50% thu nhập của ngư dân trên đảo Tương lại ngành khai thác thủy sản tiếp tục là thế mạnh của Lý Sơn Tuy nhiên, Lý sơn có thể xem như là một làng nông ngư kết hợp với khoảng 30% dân số sống bằng nghề trồng hành tỏi, đậu, bắp, mà tỏi Lý Sơn hiện nay đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng

Đảo Lý Sơn là hòn đảo của những di tích lịch sử, văn hóa với hệ thống các di tích vật thể và phi vật thể dày dặc Hiếm có nơi nào mà bảo tồn và lưu giữ được các giá trị truyền thống tốt như Lý Sơn Không chỉ vậy Lý Sơn còn là quê hương của hải đội Hoàng Sa Là nơi mà các binh phu Hoàng Sa xuất phát lên đường ra Hoàng

Sa theo lệnh vua để thực thi chủ quyền, cắm mốc đo đạc thủy trình và thu lượm sản vật Hiện nay vào tháng hai hàng năm các dòng tộc trên đảo vẫn tổ chức lễ khao lề của tộc họ mình và lễ khao lề thế lính Hoàng Sa như một sự tri ân, thể hiện lòng biết

ơn sâu sắc tới công lao của những người con anh hùng bỏ mạng trên biển vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền của dân tộc Những di tích gắn với hoạt động của đội Hoàng Sa trên đảo hiện nay, là minh chứng khẳng định: Hoàng Sa – Trường Sa là

của Việt Nam”

Trang 24

CHƯƠNG 2

MỘ GIÓ, MỘ CHIÊU HỒN VÀ CÁC NGHI THỨC LIÊN QUAN

2.1 Quan niệm của người Việt về việc an táng người chết

Trong quan niệm truyền thống của người Việt, nếu người sống cần có ngôi nhà để sum họp, che nắng che mưa thì người chết cũng phải có một nấm mồ để giữ gìn hình hài Người Việt Nam rất coi trọng mồ mả của người đã khuất, do lòng thành kính với người chết mà ra Hơn nữa, mồ mả không chỉ là nơi an táng, yên nghỉ của người đã mất mà còn mang ý nghĩa thiêng liêng, tâm linh và huyền bí, khiến người ta phải lo xây cất mộ cho người chết đàng hoàng, cũng không ai dám động chạm tới mồ mả, sợ bị động mộ” ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc tương lai của con cháu trong gia đình Luật pháp xưa coi việc xúc phạm mồ mả là trọng tội Những gia đình nghèo, dù không có tiền cũng gắng kiếm lấy manh chiếu, hay

cỗ áo quan để lập mộ chôn cất cho người thân chu toàn

Mộ (mồ, mả) là nơi người chết được chôn cất (chôn xuống đất) Mộ thường nằm tập trung ở các nghĩa trang hay nghĩa địa hoặc nằm riêng lẻ, rải rác

ở khắp nơi, với xác người chết hoặc tro đốt xác chôn bên dưới Theo Ngũ Hành, Kim sinh Thủy (Kim khí nấu chảy ra nước), Thủy sinh Mộc (Nước nuôi cây đâm chồi nẩy lộc), Mộc sinh Hỏa (Cây cháy phát ra lửa), Hỏa sinh Thổ (Lửa cháy tàn rụi ra tro đất) Cho nên, chưa hạ Thổ” là chu luân sanh, trụ, hoại, diệt chưa hoàn tất Nghĩa là người chết chưa đi hết hành trình sinh diệt!

Người xưa nói: Sống cái nhà, già cái mồ” là muốn khi chết được mồ yên mả

đ p Động mồ, động mả là điều đại kỵ Cho nên, chỉ có xá lợi của Phật là một thứ ngọc rất qúi, kết tinh bởi tinh, khí, thần mới đáng để chiêm bái thờ phượng

mà thôi Còn tro cốt của người phàm nào làm trái với qui luật tự nhiên, tự nó sẽ gây ra nhân qủa vật lý có hại mà không ai có thể chối cãi được

Có nhiều cách phân chia mộ, nhưng xét trường hợp chất liệu làm mộ thì có hai loại chính: mộ đất và mộ đá

Mộ đất: hình chữ nhật, có kích thước chừng 2m x 0,5m x 0,5m; đỉnh mộ

có hình chữ nhật nhưng hơi tròn và càng cao, bề mặt càng nhỏ dần Nếu không được chăm sóc hay bồi lắp hàng năm, những ngôi mộ này sẽ dần dần bị mưa, gió sói mòn, nên nấm mồ thấp hay lở dần, có khi bị san bằng dần dần không thể tìm thấy nữa

Trang 25

Mộ đá: là loại mộ được xây bằng đá, gọi theo dân gian là mả đá cũng là hình chữ nhật, kích thước thì tùy và gia cảnh của người quá cố, sau này mả xây bằng xi măng cũng được gọi là mả đá

Dù là mộ đất hay mộ xây thì bia mộ, bình cắm nhang bao giờ cũng đặt ở dưới chân người chết theo sự tin tưởng rằng, người chết nằm trong mồ chứng kiến người sống mỗi lần ra thăm mộ đốt nhang vái lạy hay cúng thức ăn trước mộ bia Tuy nhiên về sau này, có nhiều mộ xây bằng đá cẩm thạch hay đá mài thì có mộ bia dính ở ngay phía đầu người chết Bình cắm nhang có khi đặt ở đầu, có khi ở giữa

có khi ở chân của người chết

Dân gian ta có câu: “không mả, con bà đứa nào làm nên” người ta cho rằng

có mối liên quan siêu vật lý giữa mồ mả của tổ tiên với số mệnh của con cháu Mồ

mả không chỉ là nơi chôn cất người chết, mà còn mang nhiều ý nghĩa linh thiêng

Mồ mả trong vòng bốn đời phải chôn cố định Phải chọn đất, chọn hướng chôn phù hợp với tuổi tác của người đã mất Sau đó phải giữ gìn, không được phép làm động

mộ nếu không sẽ bị ảnh hưởng đến người sống, vì làm xáo trộn vong linh người âm đang tu luyện yên tĩnh ở cõi âm Khi đó chắc chắn con cháu sẽ đau ốm, làm ăn không thuận lợi

Đối với gia đình người Viêt thì việc chôn cất, thờ cúng người chết là điều quan

trọng, thiêng liêng và thành kính Khi còn sống ông bà, cha mẹ là đại ân nhân,con cháu phải một lòng kính dưỡng, hiếu thảo; lúc ông bà cha mẹ chết con cháu phải sung bái tỏ lòng biết ơn đồng thời cầu mong tổ tiên phù hộ…”

Người ta quan niệm rằng phách là phần phụ của thể xác, khi người ta chết thì tan xuống đất Theo dị đoan, đàn ông có bảy phách hợp với thất khiếu (bảy lỗ) trong cơ thể Đàn bà thì có 9 phách hợp với cửu khiếu trong cơ thể Đàn ông, đàn bà đều có ba hồn phụ vào tam tiêu Khi bất tỉnh thì hồn lìa khỏi than thể trong chốc lát, khi người ta chết thì hồn lìa hẳn khỏi xác Bởi vậy phách và xác là phần ô trọc nên

bị tiêu hủy đi Còn linh hồn là phần tinh anh nên vẫn còn và có đủ ý thức Vong hồn không được tiêu diệt nên hằng cảm thông với kẻ sống Vong hồn của cha - m tuy

âm dương khác nhau nhưng vẫn thường dự vào cuộc sống của con cháu, của gia đình, mỗi khi có điều vui, điều buồn, điều lo sợ Tổ tiên vẫn phù hộ cho con cháu nên đôi khi vẫn đề phòng tai ách Linh hồn tổ tiên và cha m linh thiêng nhường ấy,

Trang 26

nên con cháu phải phụng thờ cha m tổ tiên cho trọn đạo, phải cúng cấp cho tổ tiên, cha m và những người ở dưới âm phủ không bị thiếu thốn…

Ngày xưa Nho học cho rằng: sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn” sự chết cũng như là sự sống, sự tan đi cũng như là sự tồn tại Nhiều người cho rằng, người chết ở dưới Âm Phủ vẫn có sự sống, nghĩa là vẫn cần có nhà cửa, có sự sống, trao đổi, đền ơn, trả oán, hoạt động như một thế giới thật… Chính vì vậy mà người ta phải lo lắng xây mộ, mả chu đáo làm nhà ở” cho người chết, cứ đến ngày tuần, ngày lệ thì cúng các loại đồ vật như trên trần thế, cúng quần áo, vàng hương để người chết có thể dùng…

Thờ cúng, xây mộ còn là một trong những việc làm thể hiện đạo hiếu, lòng biết

ơn của người còn sống đối với những người đã khuất, mong người thân của mình sang thế giới bên kia được mồ yên mả đ p, an nghỉ nơi chín suối

2.2 Chiêu hồn nạp táng

Đó là những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối hay do thú dữ vồ không tìm được tử thi Thân nhân làm hình nhân và làm lễ an táng theo như lễ an táng thông thường

Được nghe các cụ kể lại rằng: chất liệu làm hình nhân, có địa phương dùng cây núc nác (còn gọi là sò đo thuyền, mộc hồ điệp, nam hoàng bá, bạch ngọc nhi) Núc nác là loại gỗ mềm và xốp, dễ tạo hình, chôn dưới đất lâu hoai, lại dễ kiếm vì mọc ở nhiều nơi Có địa phương dùng bùn lấy ở giữa dòng sông, có địa phương dùng mùn đào ở giữa ngã tư đường cái

Hình nhân được đẽo gọt hoặc nhào nặn thô sơ, có đầu mình chân tay là được (vì đa số không phải là nghệ nhân) Kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiều dài Thi hài tượng trưng đó cũng được khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng

gỗ vàng tâm, kích thước nhỏ bé, hoặc đưa vào tiểu sành Trên hình nhân có phủ lên linh vị viết trên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ Trước khi làm lễ an táng có mời thầy cúng làm bùa ấn phù phép để vong hồn nhập vào hình nhân

Lễ an táng và các lễ các lễ khác cũng tiến hành như tang lễ thông thường

Trang 27

2.3.Hình nhân thế mạng

Ở nước ta xưa có tục đốt hình nhân thế mạng, để vua chúa xuống dưới âm cung có người hầu hạ, người ta không chôn người sống mà dùng hình nộm làm bằng tre nứa, quấn bằng rơm rạ hoặc nhào nặn bằng đất sét, ngoài dán giấy làm quần áo rồi vẽ mặt mũi, sau đó khi tế lễ xong thì đốt hình nhân đó cùng với vàng

mã Nếu lễ thuỷ thần, long vương, hà bá thì làm thuyền bằng giấy kết trên thân cây chuối rồi đặt hình nhân vào thuyền và thả trôi sông Có người nghe theo lời bói toán nhảm nhí sắp đến vận hạn bị hung thần quỷ dữ bắt, phải nhờ thầy cúng làm lễ, đốt hình nhân thế mạng Có người vì mối tư thù nhưng yếu thế không trả thù được bèn nghĩ cách làm hình nhân rồi đề tên họ, huý, hiệu của kẻ thù vào trước ngực hình nhân, cắm ở ngã ba, ngã tư đường cái, thắp hương cắm lên đầu hình nhân để nhờ thần linh bắt tội người đó Nguồn gốc sâu xa của hình nhân thế mạng” chính là tục bồi táng”, xuất hiện từ thời nguyên thủy, mà các nhà khảo cổ học đã cho chúng ta biết từ rất lâu khi khai quật, phát hiện những đồ tùy táng chôn theo hài cốt hoặc than tro di thân người chết

Trên thực tế, không phải Lý Sơn là địa phương duy nhất có mộ gió, có hình nhân thế mạng như nhiều người vẫn hay lầm tưởng Trong truyền phong thần” của

sử Trung Hoa đã từng ghi lại chuyện cậu bé Na Tra được tái sinh từ một hình nhân bằng ngó sen được thổi hồn vào, hay những chuyện yểm bùa” vào các hình nhân, búp bê bằng vải trong cung cấm xưa kia…

Cả hai hình thức chiêu hồn nạp táng và làm hình nhân thế mạng đều rất gần với tục lập mộ gió trên đất nước ta

2.4 Mộ gió

Mộ gió được hiểu theo nghĩa chung nhất là những ngôi mộ không có hài cốt thật bên dưới Thực tế ở nước ta có đến hàng ngàn, hàng vạn ngôi mộ gió Chúng nằm rải rác khắp nơi, trên mọi miền của đất nước

Có khi là những nấm mộ rải rác khắp nơi của các liệt sĩ, họ hy sinh oanh liệt nhưng vì điều kiện chiến tranh ác liệt mà đồng đội không thể chôn cất cẩn thận hoặc

bị vùi lấp mất…sau này thân nhân của họ không thể tìm được xác nên phải lấy nắm đất chính nơi họ đã ngã xuống đem về lập mộ, coi như đó là hài cốt của liệt sĩ… Những ngôi mộ giả như thế nằm ở khắp nơi, từ Điện Biên, Quảng Bình, Quảng Trị

Trang 28

cho đến Cà Mau Theo thống kê của bộ Lao Động – Thương Binh và Xã hội thì tới năm 2010 có tới hơn 300,000 trường hợp mộ chưa có hài cốt hoặc mộ vô danh Như vậy có thể thấy số mộ gió cũng chiếm khá nhiều

Trong trận hải chiến Trường Sa ngày 14.03.1988 có tới 64 liệt sĩ đã vĩnh viễn nằm lại dưới biển sâu ở bãi Cô Lin và Gạc Ma Những người thân của họ cũng vĩnh viễn không bao giờ nhìn thấy thân xác họ lần cuối Nhiều gia đình đã lập mộ gió cho các anh Dưới mộ không có thân xác, mà chỉ có những kỷ vật còn lại của các anh ở nhà Mộ của các anh ở nghĩa trang liệt sĩ, có nhiều gia đình chiến sĩ còn xây

mộ gió tại gia đình Gia đình liệt sĩ Kiều Văn Lập ở Phúc Thọ - Hà Tây cũng lập cho anh một ngôi mộ gió tại nghĩa trang liệt sĩ của địa phương Tại nghĩa trang liệt

sĩ Đà Nẵng cũng có tới 6 ngôi mộ gió của các các chiến sĩ Trường Sa năm xưa….Đó là mộ gió của các liệt sĩ Phan Văn Sự, Trương Quốc Hùng, Lê Văn Xanh, Trần Tài, Nguyễn Hữu Lộc, Phan Văn Lợi, khác nhau năm sinh tháng đẻ, nhưng cùng là người Đà Nẵng, cùng hy sinh một ngày 14-3-1988 Và cùng để lại xương thịt nơi biển khơi…

Cũng trường hợp người ta coi mộ gió những ngôi mộ giả mà họ tự vun lên để giữ đất, có thể là giữ đất để sau này làm mộ, có thể là để bảo vệ cho những ngôi mộ

ở gần đó, như một cách xí phần, đánh dấu đất, nhưng thực chất trong nấm đất đó không có gì hết Có rất nhiều ngôi mộ được xây dựng công phu, ốp đá, lát gạch men bóng loáng đủ màu Điều khác biệt duy nhất của những ngôi mộ này so với những ngôi mộ bình thường là nó chẳng có hài cốt, nên cũng không có bia mộ hay tên tuổi người mất Hiện tượng này có nhiều ở các vùng đô thị, ven đô nhất là những vùng

mà chuẩn bị mở dự án hay khu công nghiệp Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi thì đây không thể coi là mộ gió Nó chỉ là những nấm mộ giả, mộ chờ mà thôi

Trang 29

2.5 Mộ gió trên đảo Lý Sơn, mộ gió hay mộ chiêu hồn?

Hai từ mộ gió ở Lý Sơn chẳng biết có từ bao giờ Mộ gió là ngôi mộ của những người dân đi biển bị chết mất xác Hoặc những ngôi mộ xưa kia được chôn bên cạnh bờ biển được đắp bằng cát bị nước cuốn trôi đi mất xác, về sau không thể tìm thấy được, cũng có thể là mộ của người bị mất xác nơi rừng sâu, hoặc người lính giữa trận tiền mà đồng đội không tìm ra thi thể Người sống còn ở lại muốn tri

ân, tưởng nhớ tới người đã khuất, tuy thể xác của người thân đã mất nhưng họ vẫn muốn giữ lại phần tinh anh để cầu mong linh hồn được an ủi, phù hộ, che trở cho con cháu

Theo tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, giám đốc sở VH-TT-DL tỉnh Quảng Ngãi thì

Mộ gió ở Lý Sơn là cách nói dân gian, còn thực chất nó là mộ chiêu hồn” Có lẽ

bởi vì, bên dưới mộ không có xác người thật, mà chỉ có những hình nhân bằng đất sét, được thầy phù thủy khéo léo nặn giống như người thật Hình nhân đó đã được làm lễ chiêu hồn, gọi hồn trở về nhập vào Người nhà tin rằng, khi hồn đã nhập hình nhân thì giống như thân xác thực sự của người đã khuất Đồng quan điểm với tiễn sĩ Nguyễn Đăng Vũ, chú Võ Văn Út, hậu duệ của cụ Võ Văn Khiết và cụ Phạm Đoàn

– tộc trưởng họ Phạm Văn cũng đều cho rằng: phải gọi là mộ chiêu hồn mới đúng, còn mộ gió chỉ là cái tên mà sau này con em Lý Sơn đi ra ngoài học hỏi, làm ăn gọi theo như trong đất liền mà thôi…” Trong lịch sử, có rất nhiều người là quan quân,

binh lính, phu dịch của đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải đã hy sinh trong quá trình làm nhiệm vụ, bỏ mạng trên biển Khi tộc họ Phạm Văn trên đảo xây dựng ngôi mộ gió cho Chánh đội trưởng thủy quân Hoàng Sa – Phạm Hữu Nhật, Tiến sĩ Nguyễn Đăng

Vũ đã khắc tấm bia để đặt trước ngôi mộ Ông đã dốc tâm huyết để góp phần phục dựng lễ khao lề thế lính Hoàng Sa đã mai một đi phần nào, do mấy chục năm chiến tranh, loạn lạc

Ông Hồ Cương Quyết (Andre Menras), một người Pháp mang Quốc tịch

Việt Nam, người đã xây dựng bộ phim tài liệu Nỗi đau Hoàng Sa” đến Quảng

Ngãi ông đã nhiều lần ra thăm ngôi mộ gió ở đảo Lý Sơn, ở trong đất liền Đăm đăm với nỗi đau nên ông khá am hiểu câu chuyện về mộ gió thì lại triết lý rằng:

Trang 30

Mộ gió có nghĩa là gió ở quanh đây, ta cảm nhận được, nhưng không thể nào nắm bắt được nó”4

Mộ gió thì ở đâu cũng có, nhưng mộ ở Lý Sơn thì có rất nhiều điều đặc biệt Điểm đặc biệt đầu tiên là ở đây mộ gió nhiều vô kể, chúng nằm rải rác khắp nơi, trong khu nghĩa địa của thôn, trong các ruộng tỏi hay trong vườn nhà Điểm đặc biệt tiếp theo là có rất nhiều ngôi mộ là mộ của những người lính, những người cai đội Hoàng Sa năm xưa, họ ra đi và hy sinh trên biển cả không phải vì mưu sinh mà vì lệnh vua ban, vì sự nghiệp bảo vệ biên cương và chủ quyền của đất nước Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn bằng mắt thường sẽ rất khó để phân biệt được mộ gió và mộ bình thường, vì ngày nay, người ta xây mộ kiên cố, không có dấu hiệu riêng và hầu như rất giống nhau… chỉ có thầy phù thủy đã từng tham gia vào quá trình làm mộ, hay thân nhân của người quá cố mới biết chính xác đâu là mộ gió Hoặc còn một cách là kiểm tra bên dưới nếu có hình nhân bằng đất sét thì là đó chính là mộ chiêu hồn

Biển mang lại nhiều nguồn lợi cho người dân đảo Lý Sơn Đời sống người dân nơi đây ngày một sung túc hơn với sự ra vào của những tàu cá tải trọng cùng tấm lưới khổng lồ trị giá hàng trị giá hàng tỉ đồng Biển mang lại niềm vui nhưng cũng mang đến đau thương mất mát không gì bù đắp được cho những con người ở nơi đây, nhiều người đã ra đi, thân xác nằm lại vĩnh viễn dưới biển khơi Để tưởng nhớ đến những người đã ra đi vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền của đất nước vì cuộc sống ấm no của gia đình, dòng tộc, từ xa xưa người dân vùng ven biển đã có tập tục lập mộ gió để tưởng nhớ đến họ Mộ gió có ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam nhưng lịch sử hình thành mộ gió ở đảo Lý Sơn thì chỉ có một không hai

Nghề đi biển chứa đựng nhiều rủi ro, bất chắc… hàng năm số ngôi mộ gió ở

Lý Sơn cứ ngày một nhiều thêm Ở Lý Sơn, nghèo đến mấy, gia đình ngư dân cũng gắng chạy vạy lo toan để làm mộ chiêu hồn cho người đã mất Bởi, cuộc sống vất

vả diễn ra theo một vòng xoáy trôn ốc, khi lớn lên con trai của những ngư dân gặp nạn sẽ rất khó để có điều kiện tìm một nghề nào khác ngoài công việc mà cha, ông

họ đã làm Và với niềm tin của ngư dân, sẽ rất cay đắng và nhiều điềm dữ, nếu đứa

4 Dẫn theo sách Như cây Phong ba trên đảo Hoàng Sa”, tác giả Lê Văn Chương

Trang 31

con trai họ bước vào nghề khi cha nó vẫn chưa có một nơi an nghỉ, dù chỉ là ngôi

mộ thay bằng hình nhân đất sét

Anh Võ Văn Nhành, truyền nhân đời thứ 6 của một gia đình chuyên làm mộ gió cho biết, mỗi năm anh phải làm ít nhất ba, năm đến bảy hình nhân cho các gia đình ngư dân Tùy vào số người không may gặp rủi ro trên biển Anh Nhành nói:

Thông thường, bặt tin thuyền từ một tới ba tháng là gia đình đã lo việc làm mộ chiêu hồn rồi Bây giờ, thông tin liên lạc rất nhanh, việc ngư dân tưởng chết bỗng đùng đùng trở về nhà chắc chỉ có trong sách”

2.6 Cách thức lập mộ gió ở Lý Sơn

Khi biết tin tàu gặp nạn, gia đình chuẩn bị lễ lạt và tới nhờ thầy pháp để lập cho người thân của mình một ngôi mộ gió, để lấy chỗ trú ngụ cho linh hồn người xấu số, được trở về bên gia đình và người thân

Dưới đây là các công đoạn lập mộ gió:

Thầy pháp (ở Lý Sơn hiện nay là anh Võ Văn Nhành) sau khi nhận tin từ gia đình, sẽ hỏi lại tên họ của người mất để báo cáo cho đầy đủ, và đi chuẩn bị các vật dụng cần thiết cho công việc lập mộ gió Công việc đầu tiên là cúng lên cốt, làm lễ triệu vấn sau đó hướng dẫn người nhà đi lấy đất sét Đất sét dùng cho việc nặn hình nhân phải được lấy trên núi Giếng Tiền Không thể dùng bất kỳ một loại đất nào khác để thay thế Không phải chỗ nào trên miệng Giếng Tiền cũng có đất sét Chỉ

có một roi đất khoảng chừng 100m2 là đất sét, còn lại là đất thịt Người ta phải đào

bỏ đi lớp đất trên cùng, lấy đất ở lớp đất thứ hai Đất sét trên Giếng Tiền là thứ đất dẻo quánh và róc nước đến mức không có bất kỳ một loai cây nào mọc trên đó được Thứ đất được dùng vào việc thiêng cho nên ở Lý Sơn người ta không xây nhà bằng đất sét như một số vùng khác

Đất sét lấy về được đem cho vào một cái cối lớn, chứa được khoảng 7-10kg Người ta cứ quết đất cho tới khi đều, thì cho thêm vào đó một chút nước, và tiếp tục quết cho tới khi nó dẻo và dính như xi măng già Sau đó, cho thêm bông gòn và quết tiếp đến khi đạt đến một độ mịn, nhuyễn nhất định mới thôi Công việc giã, quết đất sét đòi hỏi tốn nhiều sức lực Theo anh Nhành để giã được một cối đất chừng 10kg thì cần đến sức lực của 6 người đàn ông khỏe mạnh, lực lưỡng thì mới

có thể giã dập đều và nhuyễn được Hiện nay để có được một cối đất sét anh Nhành phải mất ít nhất 400.000 vnd để thuê người giã

Trang 32

Người ta cho rằng, đất lấy bao nhiêu thì phải dùng hết bấy nhiêu, nếu không

sẽ giống như da thịt của người mất còn vương lại Cũng không thể lấy thêm Ví dụ chiếc cối quết đất chỉ có thể quết được tối đa 5kg thì dùng hết 5kg đất đó để nặn hình nhân Không vì thế mà đi lấy thêm đất, hay làm thêm một cối khác được

Sau khi giã đất xong, thầy pháp sẽ sử dụng một cành triệu – tức là một nhánh tre dài chừng 2m, dóc bỏ hết cành lá, chỉ để lại ngọn ghi rõ tên tuổi, quê quán của người bị nạn, sớ, hình nhân người thế, cùng với đồ lễ là xôi gà, bánh , trầu nhang đèn đầy đủ đem thế xuống cho bà Mụ Thầy pháp, đầu đội mũ, quần áo chuyên dụng bắt đầu làm lễ Hai tay giấu trong áo, thầy bắt quyết, đọc thần chú trước hai

ban bầy biện những đồ lễ thông thường như xôi gà, tiền vàng, rượu nước: ngày hôm nay…gia chủ thành tâm thế những lễ vật kia, xin bà cho những linh hồn đó, để hồn về nhập vào hài cốt…” … Ban chính thờ thần linh treo tấm phướn ghi mấy câu

thần chú cùng năm đạo bùa xanh – đỏ - tím – vàng – trắng Ban phụ để bài vị của người đã mất cùng hình nhân thế mạng bằng giấy Trên bài vị có ghi phục vị (Vi), Dong (vong) kèm danh chủ linh vị

Làm lễ xong, thầy sẽ chuẩn bị một miếng ván dài chừng 60-70cm, nhồi đất vào và đập đều, cho đến khi đất cứng lai, vuông vức thành khối giống như một khối

gỗ, từ khối vuông vức đó, thầy bắt đầu công việc điêu khắc, tạo chân tay, mắt, mũi

và các bộ phận cho người chết Trong lán che đã được dựng sẵn trước đó, thầy pháp chuyên tâm, tỉ mỉ, cẩn thận nặn hình nhân Lúc nặn hình nhân chỉ có thầy pháp và người nhà của nạn nhân được phép ở trong lán Thậm chí khi nặn đến phần bụng dưới, vợ con của người chết cũng được mời ra ngoài hoặc phải quay mặt đi, vì sợ linh hồn người mất sẽ bị xấu hổ Đây là công đoạn quan trọng, đòi hỏi sự tỉ mỉ, nghiêm túc và khéo léo của thầy pháp Vì tính chất tâm linh và thiêng liêng của nó

mà người ta không thể làm lại, dựng lại hay biểu diễn cho người lạ, khách du lịch hay nhà báo xem được Tất cả đều phải tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc đã

được đề ra Anh Nhành kể: Hồi làm sáu hình nhân cho vụ đắm tàu của ông Lê Minh Tân, có một anh nhà báo đã đặt máy quay lên chân máy để ghi lại nhưng khi anh nặn gần xong thì chân máy bỗng nhiên đổ, máy không bị hỏng hóc gì, nhưng khi xem lại máy quay thì toàn bộ hình ảnh đêu mất hết, cái quay được chỉ là một

Trang 33

màu đen…” chính vì thế mà người ta càng tin tưởng và sự huyền bí, kì lạ của hình

gà mổ xuống chỗ nào thì lấy đất chỗ đó làm gan.6 Trước kia lấy sợi tơ do tằm nhả ra

để làm mạch máu và gân, nhưng ngày nay cũng được thay bằng chỉ màu Cành dâu

mồ côi được dùng để làm xương, nam có đủ 7 xương sườn, nữ có đủ 9 chiếc, cũng

có đủ các đốt ngón tay, ngón chân… Nặn xong đầy đủ các bộ phận, người ta còn dùng lòng trắng trứng gà để quết đều lên bề mặt của hình nhân Khi hình nhân khô

đi sẽ có màu giống như da thịt của người thật.7 Hình nhân cũng được vẽ đầy đủ tất

cả các bộ phận, cơ quan, có đủ lục phủ ngũ tạng, mắt mũi, kể cả cơ quan sinh dục

Sở dĩ người ta chọn cành dâu tước vỏ để làm xương cốt cho hình nhân là vì dựa theo triết lý về sự chuyển kiếp, hoàn sinh Dân Lý Sơn trồng dâu không phải để nuôi tằm như chức năng của loài cây này, mà để làm một việc khác, thiêng liêng hơn nhiều: dùng làm xương cốt cho hình nhân trong các ngôi mộ gió Vì vậy, người

Lý Sơn không biết nuôi tằm, dệt vải nhưng cây dâu vẫn tồn tại như một lẽ đương nhiên trong đời sống tâm linh của họ suốt mấy trăm năm qua Họ gọi cây dâu là cây thiêng” là vì thế Theo quan niệm dân gian của người dân Việt nói chung và người dân Lý Sơn nói riêng ở dâu là cây xua tà ma nên linh hồn của người chết sẽ

dễ dàng nhập” vào xương cốt ấy Thầy Toại nói thân dâu làm cốt xuất phát từ câu chuyện truyền tử lưu tôn” Con tằm ăn dâu đổi kiếp tới 4 bận Các cụ làm xương cốt hình nhân bằng thân dâu dường như với ước mong rằng những người dã khuất

sẽ chuyển kiếp để không bao giờ sống đời bấp bênh, chết kiếp tuyệt tích ” nữa

5

Tuy nhiên, trong quá trình sưu tầm tài liệu để thực hiện đề tài, tôi đã tìm thấy ở phần cuối đoạn

phim tài liệu Nỗi đau Hoàng Sa” của ông Hồ Cương Quyết có quay lại được một phần của quá trình nặn

hình nhân và tạo mộ gió Đây là nguồn tài liệu vô cùng quan trọng giúp tôi hiểu, có cái nhìn trực quan, sinh động cụ thể hơn về quá trình lập mộ gió

6

Sau này vì tốn thời gian nên thầy pháp ít dùng cách này

7 Theo anh Nhanh, giờ hầu như cũng không còn dùng đến cách này Vì anh có xem qua sách thì thấy

Trang 34

Chiều Lý Sơn những đôi mắt thở dài Chập chùng nhớ chập chùng nhoai phía biể Từng mảng xám biển ù ù mây xếp

Níu hồn vào những đốt dâu xanh

Đây là những câu thơ cảm tác của Văn Công Hùng, thi sĩ Tây Nguyên lần đầu ra đảo

Theo quy định từ xưa truyền lại, việc nặn hình nhân phải thực hiện vào đêm, thông thường bắt đầu khoảng 22 giờ và kéo dài đến khoảng 4 giờ ngày hôm sau Mỗi hình nhân có trọng lượng trung bình khoảng 4 đên 5 kg Mỗi hình nhân có chiều dài trung bình là 60-70cm, tối đa là 90cm Hình nhân không thể giống tuyệt đối như người thật thì cũng cần phải giống tương đối và có đầy đủ các bộ phận như một cơ thể bình thường Sau khi hình nhân được nặn xong, thầy pháp sẽ cắt giấy vàng để làm quần áo, mặc vào và đem liệm như bình thường Và chuẩn bị làm lễ triệu hồn từ biển về Việc nặn hình nhân, lên cốt, đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ và nghiêm túc thực sự của người thầy pháp và sự thành kính của những người xung quanh

Thay cho thi hài thật, hình nhân đất sét được đặt cùng lễ vật tại mép biển, theo hướng con thuyền cũ từng ra khơi với niềm tin linh hồn của người đã mất sẽ được rước về để nhập” vào đây

Phần nghi lễ Đối với người bị chết nước, chết mất xác ở biển thì người ta lập một rạp, đàn lễ bao gồm bốn bàn Một bàn thời tổ pháp quan, một bàn thờ hà bá, một bàn thờ ngũ linh đồng tử, bàn thờ bà chúa thiên thai và mười hai bà mụ Bàn ngũ linh đồng tử thờ năm vị thần, trấn giữ năm phương, để sau khi lên cốt cho hình nhân xong, nhờ năm vị này dẫn dắt, đưa lối cho hồn của người mất về nhập vào hình nhân Nghi lễ cúng bà chúa thiên thai và mười hai bà mụ là để mời bà về chứng giám giống như sự chuyển sinh Mỗi bàn thờ dều được bày sắp lễ đầy đủ gồm ba con gà

Phần tiếp theo của nghi thức là làm lễ triệu hồn (gọi hồn) Lễ gọi hồn nhập xác cũng được tiến hành theo nghi lễ của những thầy phong thủy thời Gia Long Thay cho việc kéo dài về cúng tế, thì nay, thời gian cúng được giản lược lại chỉ còn

12 giờ đồng hồ Dùng linh phù, linh dược để triệu hồn về Người ta sẽ chuẩn bị một

Trang 35

cành phang (một cành ổi) dài chừng 25cm Nam thì 7 lá, nữ thì 9 lá, tương đương với thất phách và cửu phách Tên người chết được viết lên một tờ giấy và gắn nó trên cành ổi Người dắt hồn nhảy xuống biển, nhúng cành lá xuống nước rồi chạy từ

bờ biển đưa hồn về nhà Khi hồn nhập về, cánh tay của người cầm phang sẽ giật và rung lên Khi gặp thân nhân của người chết thì cánh tay của người cầm phan sẽ rung đều, rung liên tục, đại ý biểu hiện sự vui mừng được gặp lại Khi về đến nhà, người cầm phang luôn thể hiện rằng mình quá quen thuộc với ngôi nhà này bằng cách chỉ đâu là nơi để quần áo, đâu là chỗ để giấy tờ Hoặc có trường hợp người thân trong gia đình hỏi chỗ cất đồ đạc, tiền bạc, điện thoại di động mà trước khi đi biển, người chết cất ở đâu mà gia đình không tìm thấy… Khi đó người cầm phang sẽ di chuyển,

và đập xuống chỗ nào thì có nghĩa là chỗ đó là nơi cất đồ vật Tuy có phần huyền bí

và khó giải thích, nhưng tất cả những lần hỏi như thế đều tìm được đồ vật Chính vì vậy mà người ta luôn tin rằng, hồn của người đã mất thực sự quay trở về với gia đình, với quê hương Người cầm phang kể lại rằng , từ lúc hồn nhập vào cho đên lúc trở về nhà họ như bị chìm đi trong cảm giác mộng du, giống như ai mượn thân xác mình, họ hoàn toàn không tự điều khiển được hành động của họ Người cầm cành phang có khi là những người không thực sự hiểu rõ về gia đình người chết, cho nên không có chuyện họ đã biết chỗ cất đồ, hay biết rõ từng vị trí trong ngôi nhà của

người chết như thế Anh Nhành cho biết: cả đảo giờ chỉ có 2-3 người cầm phang được mà thôi” Khi được hỏi căn cứ vào đâu để biết hồn đã nhập, anh Nhành cho

biết, người cầm phang sẽ có cảm giác ấy, chạy từ vai xuống tới cánh tay

Sau khi hồn nhập về hình nhân, người ta đem khâm liệm, tổ chức tang lễ, chôn cất như một người chết bình thường Với những người không biết chính xác ngày mất thì người ta lấy ngày lập mộ làm ngày giỗ, ngày kị Chôn cất xong thì về nhà lập bàn thờ và tổ chức cúng hàng ngày Đến ngày thứ ba thì làm lễ mở mả, đến ngày thứ 49 thì làm tuần chung thất, cúng 100 ngày, tuần một năm, sau ba năm thì làm tuần mãn tang, xếp bỏ tang chế, xếp cất bàn thờ riêng, chuyển lên thờ chung tại bàn thờ lớn của gia đình Sau đó dỡ bỏ nhà mát và đắp thêm mộ cho người chết Ngày Thanh Minh cũng đi tảo mộ như bình thường Ở Lý Sơn không có tục cải táng Nên những ngôi mộ gió sẽ mãi mãi nằm đó với thời gian với nắng, với gió và cát biển

Trang 36

Về độ bền của những hình nhân thì tùy vào thời tiết và độ sau của vị trí đặt

mộ Ở những chỗ đất cát có chất vôi nhiều thì hình nhân có thể giữ được tới vài ba chục năm, nếu chôn nông, lại ở nơi nắng nóng thì hình nhân sẽ rất dễ bị nứt Mộ gió

rất linh thiêng, anh Nhành và nhiều người trên đảo Lý Sơn kể rằng: Nếu chẳng may hình nhân ở dưới bị nứt ra thì người thân trong nhà chắc chắc sẽ có người bị đau ốm Có những người bị đau tay, đau ngực, hay đau tim nhưng đi bệnh viện đều không khám ra bệnh gì Tới khi người ta đi xem, đi gọi hồn người chết về mới biết hình nhân đã bị nứt” Có thể là do bị rễ cây xuyên qua, hoặc quá trình nặn hình

nhân bị lẫn một hòn sỏi vào… đôi khi là do quá trình quết đất với bông gòn không được kỹ cho nên dễ nứt, nhưng trường hợp này hiếm, vì người làm mộ thường có ý thức rất cao và rất cẩn thận Gặp tình huống như thế này, người nhà phải sắm một cái lễ, thắp nhang cho người đã khuất xin phép được kiểm tra lại hình nhân, để nếu chẳng may có bị nứt chỗ nào thì xin phép được sửa lại Điều kỳ lạ rằng, khi lật mộ lên, thì thấy đúng là chỗ hình nhân bị nứt, tương ứng với chỗ bị đau của người thân trong gia đình Người nhà lại phải tiếp tục nhờ thầy pháp tới sửa sang lại hình nhân và chôn cất lại như cũ Sau khi đã làm lại xong xuôi thì người nhà cũng tự nhiên hết bệnh Đây chính là điều kỳ lạ mà người ta không thể nào giải thích được và luôn có niềm tin vào

sự linh thiêng của những ngôi mộ gió nơi đây

Việc làm mộ gió rất cầu kỳ và cũng rất tốn kém Trung bình mỗi lần lập mộ, chưa kể chi phí xây mộ thì mỗi gia đình sẽ phải mất từ 5 đến 7 triệu để mua sắm đồ

lễ và tiến hành các thủ tục cần thiết theo lời dặn của thầy pháp Đối với những gia đình nghèo, họ phải chạy vạy khắp nơi nhưng cũng gắng lo cho được, chưa có tiền xây mộ to, thì người ta đắp bằng cát rồi lợp mát che xung quanh Còn những gia đình giàu có hơn thì xây mộ cẩn thận, chắc chắn

Đối với những người bị trôi mồ, dạt mả hay người chết đường, chết chợ , đi rừng bị gặp nạn không tìm thấy xác thì người ta cũng tiến hành các bước trình tự giống như làm lễ cho người chết biển, chỉ có điều khác là nơi làm lễ không phải ở mép biển, nơi hướng con tàu của người bị nạn ra khơi mà là ở nơi ngã ba đường Dù

có làm lễ ở đâu thì yêu cầu cần thiết vẫn là phải có hình nhân thế mạng để hồn có chỗ nhập về

Trang 37

Mộ ở Lý Sơn có ở khắp nơi, trong các khu nghĩa địa, trong ruộng tỏi, trong góc vườn nhà Trên thực tế, rất khó để phân biệt mộ gió và mộ bình thường Nhất là ngày nay, người dân trên đảo đã sửa sang mộ gió bằng những ngôi mộ đã được xây cất cẩn thận như những ngôi mộ khác trong nghĩa trang Điểm khác biệt duy nhất ấy

là: Nếu là ngôi mộ thường, trên mặt được xây kín bằng xi măng, còn nếu là mộ gió thì trên mặt không xây bít kín mà khỏa một lớp cát biển lên phía trên”, để linh hồn

người chết được hòa mình với gió và cát biển Tuy nhiên, hiện nay cũng nhiều gia đình, xây mộ như bình thường nên càng khó để nhận biết Thường chỉ có người nhà của chủ nhân ngôi mộ, hay thầy phù thủy lập nên ngôi mộ đó, biết chỗ thì mới biết đâu là mộ gió giữa bạt ngàn những ngôi mộ ở Lý Sơn

2.7 So sánh mộ gió ở Lý Sơn với mộ gió ở các địa phương khác

2.7.1.Điểm khác biệt của những ngôi mộ gió Lý Sơn với mộ gió ở các vùng ven biển khác

Lý Sơn là nơi tập trung nhiều mộ gió nhất, mộ gió có ở khắp nơi, trong vườn nhà, trong đồng tỏi, trong nghĩa trang, nằm lẫn với những ngôi mộ bình thường khác Mộ ở Lý Sơn còn đặc biệt vì nó gắn liền với chiến tích của hải đội Hoàng Sa năm xưa Hơn nữa cách thức nặn hình nhân, lập mộ cũng chứa đựng nhiều điểu khác biệt so với các địa phương ven biển khác của nước ta

Tại làng biển Bình Chánh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, nơi đây mỗi năm có tới gần 3000 ngư dân đi Trường Sa Năm nào trong làng cũng có vài ngôi

mộ gió được lập nên Khác với Lý Sơn, hình nhân trong mộ gió ở đây to hơn, có chiều cao, vóc dáng tương tự như người đã khuất Ông Đặng Phán, thầy chuyên làm

mộ gió cho ngư dân ở nơi đây cho biết ở đây người ta không gọi là mộ gió mà gọi

nó là u hồn ấp nấm” Mới năm 2012, ông Phán đã làm một hình nhân cao 1,7m,

tương ứng với vóc dáng của ngư dân Đào Văn Hải bị mất tích ở Trường Sa Ngoài điểm đó thì mộ gió ở đây cũng được làm bằng đất sét trộn với bông gòn, về cơ bản

đều giống như ở Lý Sơn Tuy nhiên, cái tên u hồn ấp nấm” nghe qua cũng có cảm

giác rờn rợn Theo ông Phán, u hồn vì nó rất mờ mịt… Trong đất liền, ngày lập mộ gió, người dân tổ chức đám tang bài bản giống như những đám tang bình thường khác

Trang 38

Đối với các làng chài trong đất liền, việc gọi hồn trở về mộ gió được thực hiện theo cách khác Đó là người vợ của ngư dân đã khuất nhảy xuống biển để hồn nhập vào, sau đó hét to và cầm đèn chạy một mạch về nhà đặt lên bàn thờ Khác với

lễ gọi hồn trên đảo Lý Sơn được thực hiện bằng nghi lễ cầm phang” như đã trình bày

Ở Hà Tĩnh, quanh khu vực mỏ sắt Thạch Khê, với những ngôi mộ bị mất hài cốt, người dân nơi đây phải: Dùng những quả dừa tươi được đẽo sạch vỏ để làm cái đầu Lấy hai hạt nhãn làm mắt giả gắn vào, hai quả trám làm xương gối Rồi huy động nhiều người đi xin cành cây dâu về để làm thân hình” Sau đó dùng đất nặn thân hình rồi đặt tất cả lên một miếng vải sạch, và tổ chức một buổi lễ chiêu hồn trở táng, gọi hồn của người thân về nhập vào hình nhân giả rồi đem đi chôn”

Họ xem đó, như chính là hài cốt của người thân trong gia đình mình

2.7.2.So sánh lễ chiêu hồn ở Lý Sơn với lễ chiêu hồn nhập cốt của người Chăm Bà La Môn ở Ninh Thuận 8

Cũng như người Lý Sơn, khi gia đình có người bị mất tích, mất xác hoặc thất lạc hải cốt, người Chăm cũng cảm thấy áy náy, không an tâm vì họ cho rằng linh hồn người chết không được giải phóng để sang thế giới bên kia, không được trở về với tổ tiên, và cũng không được đầu thai trở lại Không những thế, người Chăm còn cho rằng, người chết bị mất hài cốt, một khi chưa làm đầy đủ các nghi thức chiêu hồn nhập cốt chu đáo, thì gia đình cũng không yên ổn, làm ăn không phát đạt thậm chí bị ốm đau, bệnh tật và không may mắn Vì vậy, dù người Chăm, người Lý Sơn hay bất cứ gia đình nào có người thân bị mất tích, mất xác, thất lạc hài cốt dù có nghèo đến mấy cũng phải

cố gắng lo liệu để làm lễ chiêu hồn, nhập cốt, lấy chỗ đi về cho hồn người đã khuất

Lễ chiêu hồn, nhập cốt của người Chăm (dam ngáp hay ơm), là lễ dành cho người bị mất tích, những người bị mất xác, hay những hài cốt bị thất lạc Thời gian làm lễ chỉ được diễn ra trong một buổi sáng hoặc một buổi chiều ngày thứ tư hoặc ngày thứ bảy theo lịch của người Chăm Địa điểm làm lễ cũng không giống ở Lý Sơn là làm ở mép biển hay ngã ba đường mà là làm ở một khu rừng xa làng Trước khi làm lễ thì thầy pháp (người Chăm gọi là phó cả sư) phải làm lễ quấn khăn bịt

Trang 39

đầu và tẩy uế bản thân và làm lễ báo với thần linh về việc làm lễ chiêu hồn cho người mất

Các vật chuẩn bị làm hình nhân không phải là đất sét, trứng gà, cành dâu như những hình nhân ở Lý Sơn mà bao gồm: một thúng gạo, vỏ một quả dừa khô, bột gạo màu, lá mít và một miếng chì để ghi tên tuổi người đã chết Người ta tạo đầu của người chết trước tiên bằng cách lấy vỏ trái dừa khô để làm đầu người phía đầu trái dừa khô có ba lỗ tạo thành hình tam giác đều, người ta vẽ khoanh hai lỗ làm mắt, đầu chóp nhọn của quả dừa làm mũi, còn một lỗ dưới vẽ miệng Tiếp đó còn phải làm lễ cho ăn” gội đầu, chải tóc cho chiếc đầu của người chết, phủ một chiếc khăn lên trán qua đầu của người đã mất Rồi làm lễ cúng tuấn cho cái đầu” Và dùng gạo để làm thân hình Ông thầy đọc câu thần chú rồi trải chiếc chiếu tục Chăm (chiêu pang), trải một tấm vải liệm màu trắng cũng theo hướng đông - tây lên trên

để làm phép tạo thân hình Bên cạnh ông lúc nào cũng có cây gậy thần (cài môn) Trước hết, ông cầm nắm bông lức nhúng vào khay nước rồi vẩy ra phía trước, vừa vẩy vừa đọc thần chú khấn vái thần linh Ông múc một bát gạo từ trong thúng, hơ lên khói trầm, đọc thần chú rồi bốc các nắm gạo bỏ vào bốn góc trên tấm vải, một nắm gạo bỏ vào giữa Sau khi đọc thần chú, ông đổ hết bát gạo to vào, lấy tay san gạo thành một mặt phẳng hình tròn và vẽ bùa Omcan lên Và ông cầm cây gậy thần đọc thần chú và trải chín lá mít lên mặt gạo Trên mỗi lá mít ông bỏ một cục cơm và cắm vào mỗi nắm cơm một chiếc que nhỏ như chiếc tăm, trên đầu tăm đều có cuốn bông gòn ở phía đầu lá mít có cắm những bông hoa lức (tà chạ) Mỗi lần trước khi làm các thủ tục, ông thầy luôn lấy bàn tay trái ấp vào ngực phải, tay phải lấy rượu nhỏ vài giọt lên gạo, bứt các bông lức, bốc hạt nổ ném lên gạo rồi cầm một chùm hoa nhỏ nhúng vào nước, vẩy lên mặt gạo và khay lửa trầm Trong khi ông làm những động tác đó, miệng ông luôn khấn vái và đọc thần chú Ông thầy giải thích rằng lá mít tượng trưng cho phần da, cơm tượng trưng cho phần thịt, cây tăm cuốn bông gòn tượng trưng cho phần lông mao con người Ông thầy vừa đọc thần chú vừa bốc một nắm gạo bỏ phía sau chiếc đầu, lấy gậy thần yểm bùa, rồi bỏ xung quanh đầu Tiếp theo ông đổ cả thúng gạo (khoảng 3kg) lên mặt tấm vải, phủ gạo cho bằng theo hình người nằm ngửa, có hai tay, hai chân Ông dùng ngón tay chấm lên hai bên ngực làm vú, một chấm phía dưới làm bộ phận sinh dục, dùng cả bàn tay

Trang 40

úp xuống để làm hình năm ngón tay năm ngón chân Kế đó, ông dùng bột gạo đã nhuộm màu rải thành những đường thẳng dài lên khắp thân hình Cả thảy bột gạo có bốn màu: vàng, đỏ, trắng và đen Ông giải thích rằng đó là bốn loại máu trong cơ thể người Tạo hình hài xong, ông thầy đứng dậy, tay cầm chiếc gậy thần khấn vái làm nghi thức gọi và nhập hồn, mời Yang Pôi Nưgar về nhập hồn vào xác cho người chết Chỉ có Yang Pôi Nưgar (thần mẫu, m xứ sở) mới có thể nhập được hồn vào xác được Đến đây, nghi thức nhập hồn cho người chết đã xong Tiếp theo là lễ tang một thầy” Lễ tang một thầy là lễ tang nhỏ, chỉ do một thầy pà xế làm Sở dĩ người chết này chỉ được làm lễ tang một thầy” vì đã là mất hài cốt thì bị liệt vào loại chết xấu”

Người chết được tạo hình hài và lễ nhập hồn xong coi như là một thi hài nên cũng làm đầy đủ các thủ tục khâm liệm Trước hết là thủ tục tắm rửa (chỉ là tượng trưng nhưng cũng đủ thủ tục cho người chết) Sau đó hình hài người chết được mặc quần áo và bó lại bằng chiếc chăn màu trắng rồi lấy vải trắng phủ lên và thực hiện các nghi lễ chôn cất, táng lễ

Nghi thức chôn hoặc hoả táng đối với thi hài” người chết đã được chiêu hồn nhập cốt làm đơn giản hơn rất nhiều so với những hình thức tang ma của người Chăm Bàlamôn Người Chăm Bàlamôn chôn người không có quan tài, chỉ bọc xác bằng vải bỏ xuống hố chôn cùng với đồ đạc cho người chết Sau khi chôn vào khu nghĩa địa dòng họ, người ta đắp một cái mả nhưng rất thấp Những ngôi mả này chỉ tâm khi có người thân đã khuất nhưng không tìm thấy hài cốt Lễ chiêu hồn” vừa biểu hiện trách nhiệm với những người chết mất mộ, vừa là một biện pháp tâm lý” đối với người thân đang sống Đối với người Việt, dù đã làm lễ chiêu hồn nhập cốt đối với những người chết mất xác hoặc lễ truy điệu đối với các liệt sỹ đã hy sinh và mất mộ nơi chiến trường, trong tâm vẫn cảm thấy chưa làm tròn trách nhiệm đối với người đã khuất Còn người Chăm, sau khi làm xong lễ chiêu hồn nhập cốt và các lễ thức tang ma cho đến khi nhập kút, linh hồn người chết coi như đã được giải thoát, nhập vào dòng chảy vòng tròn luân hồi vô cùng vô tận

Như vậy, có thể thấy cùng một nghi lễ chiêu hồn nhập cốt, ở mỗi địa phương đều có một cách làmkhác nhau, tùy theo văn hóa, đặc trưng của từng vùng Nhưng

dù làm cách nào thì cũng đều với mong muốn, an ủi cho linh hồn người xấu số và

Ngày đăng: 16/11/2016, 14:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ảnh 20: Hình nhân đã gần đƣợc hoàn thành. - Bước đầu tìm hiểu về những ngôi mộ gió trên đảo lý sơn   quảng ngãi
nh 20: Hình nhân đã gần đƣợc hoàn thành (Trang 77)
Ảnh 21: Hình nhân của thuyền trưởng Lê Minh Tân sau khi hoàn thành được đặt  vào trong quan tài - Bước đầu tìm hiểu về những ngôi mộ gió trên đảo lý sơn   quảng ngãi
nh 21: Hình nhân của thuyền trưởng Lê Minh Tân sau khi hoàn thành được đặt vào trong quan tài (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w