1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp hàn quốc ở việt nam

13 611 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 241,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --- NGUYỄN VIẾT LỘC VĂN HÓA KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60 34 05 TÓM

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN VIẾT LỘC

VĂN HÓA KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

CÓ VỐN ĐẦU TƯ HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN VIẾT LỘC

VĂN HÓA KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 60 34 05 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHÙNG XUÂN NHẠ

HÀ NỘI, 2008

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi các DN phải biết khai thác các thế mạnh riêng có, trong đó khai thác các nhân tố văn hóa là một điển hình Nền kinh tế toàn cầu làm cho môi trường kinh doanh biến đổi nhanh hơn, tác động làm nâng các chuẩn mực văn hóa lên cao khiến các DN phải xây dựng được VHKD có tính thích nghi tốt

Ở Việt Nam, sau hơn 20 năm đổi mới, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, đầu

tư nước ngoài ngày càng gia tăng Tính đến nay đã có 78 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vốn làm ăn tại Việt Nam Dẫn đầu các quốc gia là Hàn Quốc với hơn 12,7 tỷ USD (chiếm 15% trong tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam là 78

tỷ USD) Hàn Quốc cũng là nước có số dự án đầu tư vào Việt Nam lớn nhất, với trên 8.400 dự án [30]

Với tỷ trọng vốn đầu tư lớn, các DN Hàn Quốc đóng vai trò hết sức quan trọng và có tác động ảnh hưởng không chỉ đến phát triển kinh tế mà còn đối với

cả văn hóa, xã hội của Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh các tác động tích cực, một thực tế đang đặt ra hiện nay là xung đột xẩy ra nhiều trong các DN có vốn đầu tư Hàn Quốc tại Việt Nam: hiện tượng sa thải nhân viên tùy tiện, đối xử không công bằng với người làm công, hành vi bạo lực với nhân công, lừa đảo, làm hàng giả ngày càng gia tăng dẫn đến khiếu kiện, biểu tình [12, tr.3]

Hiện trạng trên đã đặt ra các câu hỏi: Có phải các ông chủ Hàn Quốc không

đối xử có văn hóa với lao động người Việt Nam hay không ? Hay là do sự khác biệt về VHKD của Hàn Quốc và Việt Nam ? Hoặc là cả hai lý do này ? Các câu

hỏi này đang trở thành vấn đề lớn, gây trở ngại không chỉ đối với việc phát triển kinh doanh của các DN Hàn Quốc ở Việt Nam mà còn tạo ra những hình ảnh xấu,

Trang 4

ảnh hưởng đến mối quan hệ bang giao giữa hai nước

Nhằm tìm lời giải cho các câu hỏi đã nêu, luận văn sẽ phân tích, tìm hiểu thực tiễn các khía cạnh của VHKD trong các DN Hàn Quốc ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu

A Trong nước

Vấn đề VHKD nói chung và VHKD của các DN có vốn đầu tư nước ngoài ngoài nói riêng đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam quan tâm Có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Các nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề chính: Cơ sở lý luận về văn hóa và VHKD; Nghiên cứu, phân tích thực trạng VHKD của các DN ở một số vùng miền hoặc cũng có một số nghiên cứu về VHKD của tập đoàn, công ty nước ngoài hay VHKD đặc trưng của một quốc gia

cụ thể; Phân tích ảnh hưởng của cơ chế, chính sách, môi trường văn hóa xã hội đối với VHKD; Một số nghiên cứu nêu ra một số giải pháp, gợi ý chính sách để xây dựng và phát triển VHKD ở Việt Nam

Về cơ sở lý luận của VHKD, các tác giả (Phạm Xuân Nam - 1996; Đỗ Minh

Cương - 2001; Nguyễn Hoàng Anh - 2002; Dương Thị Liễu và các đồng sự - 2004)

đã nghiên cứu khá sâu sắc về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, kinh doanh; tổng quan khá đầy đủ các quan niệm về triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, về văn hóa doanh nhân , các yếu tố cấu thành và các nhân tố ảnh hưởng tới chúng Tuy nhiên, các tác giả cũng có các quan điểm khác nhau về một số vấn đề, chẳng hạn như về các yếu tố cấu thành VHKD, văn hoá DN Nguyên nhân chủ yếu của tình

trạng bất đồng này là chưa có sự thống nhất về khái niệm, đặc trưng của VHKD

Về nghiên cứu VHKD của DN có vốn đầu tư nước ngoài nói chung và của DN Hàn Quốc ở Việt Nam nói riêng, đã có một số công trình nghiên cứu về VHKD của

một tập đoàn, doanh nghiệp cụ thể và chủ yếu là nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố văn hóa đến hoạt động kinh doanh của DN, hay văn hoá ứng xử đặc trưng của các quốc gia (Mai Thanh Lan - 2007; Nguyễn Văn Dân - 2006; Phạm Mai Hương - 2005)

Trang 5

Một số nghiên cứu khác như: Về sự khác biệt tính cách giữa văn hóa Hàn Quốc so với văn hóa Việt Nam (Trần Ngọc Thêm -2007); Văn hóa giao tiếp của người Hàn Quốc,

so sánh với Việt Nam (của Phan Thu Hiền - 2007)

Có một số tác giả tập trung phân tích ảnh hưởng của cơ chế, chính sách, môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội đối với các DN Việt Nam nói chung cũng như DN nước ngoài nói riêng, hay phân tích ảnh hưởng của các yếu tố môi trường ở góc độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài (Phùng Xuân Nhạ - 2006; Đỗ Huy - 1996; Nguyễn Anh Dũng - 2000; Vũ Quốc Tuấn - 2001; Nguyễn Quang Vinh - 2002; Lê Quý Đức - 2005) Các nghiên cứu này đã giới thiệu và đề xuất được một số giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, phát huy vai trò các nhân tố của VHKD, nhưng chủ yếu mới dừng ở dạng các kiến nghị riêng lẻ mà chưa được xây dựng thành một

hệ thống cơ chế, chính sách, giải pháp cụ thể

B- Ngoài nước

Vấn đề VHKD đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm từ những năm 70 của thế kỷ XX Trong các giáo trình giảng dạy về kinh doanh của Mỹ và các nước phương Tây đã đề cập nhiều đến văn hóa như là một nhân tố không thể thiếu của hoạt động kinh doanh

Một số công trình nổi tiếng về VHKD (G.Hofstede - 1994; John Kotter - 1992); về Đạo đức kinh doanh (Farrell, O.C, Fraedrich, J & Farrell, L - 2002) như là những nền tảng lý luận vững chắc để nghiên cứu sâu về VHKD Đã có những công trình nghiên cứu về vai trò của các nhân tố văn hoá (như lễ hội, tập quán, truyền thống, hệ thống các giá trị của công ty, tinh thần doanh nghiệp, các chuẩn mực đạo đức, triết lý công ty, văn hoá công ty, văn hóa của người lãnh đạo doanh nghiệp ) trong hoạt động kinh doanh (P.Drucke -1989; T.Peter & R Waterman - 1996) Một số tác giả Trung quốc đã có nghiên cứu bước đầu về tinh thần doanh nghiệp, trong đó nhấn mạnh vai trò của các nhân tố văn hoá (Quách Thái - 1995; Lưu Vĩnh Thuỵ - 2000), hay nghiên cứu về kinh doanh trong môi

Trang 6

trường văn hóa đa dạng, VHKD trong bối cảnh toàn cầu hóa (Thomas L Friedmen

- 2007; Fons Trompenaars & Charles Hampden - Turner - 2006); Lịch sử và văn hóa Hàn Quốc, so sánh với Việt Nam (của Lee Chul Hee - 2007)

Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về VHKD của các DN có vốn đầu tư nước ngoài đang làm ăn ở Việt Nam nói chung

và VHKD của các DN Hàn Quốc nói riêng Có chăng mới chí là các nghiên cứu nhỏ lẻ về một số khía cạnh, đặc điểm mang tính văn hóa về phong cách quản lý, điều hành, về văn hóa ứng xử của các ông chủ Hàn Quốc Đặc biệt chưa có nghiên cứu nào phân tích về thực trạng VHKD của các DN Hàn Quốc ở Việt Nam

và đưa ra các lý giải cho thực tiễn xung đột thường xẩy ra trong các DN Hàn Quốc hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở khái quát các vấn đề lý luận và thực tiễn về VHKD, đề tài góp phần làm sáng tỏ thực trạng VHKD trong các DN Hàn Quốc ở Việt Nam nhằm tìm câu trả lời thuyết phục cho các câu hỏi nêu ở phần trên

Để thực hiện mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ sau:

- Hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn VHKD trong các DN Hàn Quốc ở Việt Nam

- Phân tích thực trạng VHKD trong các DN Hàn Quốc ở Việt Nam

- Đưa ra một số gợi ý giải pháp nhằm cải thiện VHKD trong các DN Hàn Quốc ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là VHKD của các DN Hàn Quốc ở Việt

Nam

Đối tượng khảo sát là các DN Hàn Quốc ở Việt Nam

Trang 7

Phạm vi nghiên cứu là VHKD được nghiên cứu dưới góc độ nghĩa rộng, tức

là toàn bộ các nhân tố văn hóa trong hoạt động kinh doanh của DN

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp kế thừa: Thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các tài liệu từ

các nghiên cứu trước, kế thừa có chọn lọc những tài liệu này

- Khảo sát thực tiễn: Do một số vấn đề nghiên cứu của đề tài còn khá mới mẻ,

do đó cần phải khảo sát thực tế ở một số DN Hàn Quốc điển hình trên cả nước Phương pháp chọn mẫu sẽ được sử dụng khi tiến hành khảo sát, điều tra xã hội học

để các đánh giá được sát thực

- Nghiên cứu liên ngành: Nội dung nghiên cứu của đề tài liên quan đến nhiều

lĩnh vực khoa học chuyên ngành như: Xã hội học, Tâm lý học, Triết học, Ngôn ngữ học, Văn hóa học, Kinh tế học, v.v…nên trong quá trình triển khai, các

phương pháp nghiên cứu liên ngành trên được áp dụng

- Phương pháp luận phép biện chứng duy vật: Quan điểm lịch sử cụ thể luôn

được quán triệt trong quá trình khảo sát, đánh giá, phân tích tình hình thực tiễn

- Phương pháp phân tích - so sánh: Đề tài nghiên cứu, phân tích, so sánh văn

hóa và VHKD của Hàn Quốc với Việt Nam để tìm lời giải cho các mâu thuẫn, xung đột cũng như đưa ra gợi ý các giải pháp cho xây dựng VHKD trong các DN Hàn Quốc phù hợp với văn hóa Việt Nam

6 Dự kiến những đóng góp của luận văn

- Hệ thống được lý luận và thực tiễn VHKD trong các DN Hàn Quốc ở Việt Nam

- Làm rõ thực trạng VHKD trong các DN Hàn Quốc ở Việt Nam

- Gợi ý một số giải pháp nhằm cải thiện VHKD trong các DN Hàn Quốc ở

Trang 8

Việt Nam

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, các phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của VHKD trong các DN Hàn

Quốc ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng VHKD của các DN Hàn Quốc ở Việt Nam

Chương 3: Một số gợi ý giải pháp cải thiện VHKD của các DN Hàn Quốc ở

Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA

VĂN HÓA KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1.1 Khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Văn hoá kinh doanh

Văn hóa hiện diện và thẩm thấu vào mọi khía cạnh của đời sống con người như một yếu tố không thể thiếu được của tổng thể xã hội Tuy vậy, điều này không

có nghĩa là con người nhận thức được một cách rõ ràng kiến trúc của văn hóa trong mỗi hoạt động hoặc có thể định liệu được những liên hệ mật thiết có tính chất văn hóa trước khi đi đến những quyết định Người ta ngày càng nhận ra rằng văn hóa tham gia vào mọi quá trình hoạt động của con người Và đã đi sâu tìm hiểu những sắc thái văn hóa của các hoạt động của con người như: văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn hóa giáo dục, văn hóa gia đình Kinh doanh là một hoạt động đặc thù của con người, do vậy nó cũng là một phạm trù của văn hóa

Có khá nhiều quan niệm, định nghĩa về VHKD Trước khi đi đến một định nghĩa mang tính khái quát cao, chúng ta khảo sát một số định nghĩa điển hình:

- Theo các nhà nghiên cứu của Viện Kinh doanh Nhật Bản - Hòa Kỳ (JABA),

"VHKD có thể được định nghĩa như ảnh hưởng của những mô hình văn hóa của một xã hội đến những thiết chế và thông lệ kinh doanh của xã hội đó" [5, tr.13]

- Theo Vern Terspstra và Kenneth David (Trường Đại học Michigan - Hoa

Kỳ), "VHKD bao gồm những nguyên tắc điều chỉnh việc kinh doanh, việc ấn định

ranh giới giữa hành vi cạnh tranh và các ứng xử vô đạo đức, những quy tắc phải tuân theo trong các thỏa thuận kinh doanh" [5, tr.14]

Trang 10

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số định nghĩa về VHKD như sau:

- GS.TS Nguyễn Duy Quý: "Trong hoạt động kinh doanh có một nền VHKD

thể hiện sự vận động khoa học và kỹ thuật, tổ chức và quản lý kinh doanh, ở những cách thức giao tiếp và ứng xử trong kinh doanh thương mại" [22, tr.16]

- GS Hoàng Trinh: "VHKD (hay kinh doanh có văn hóa) có nghĩa là hoạt

động kinh tế có hiệu quả, đạt năng suất, sản lượng, giá trị cao, giá thành thấp, sản phẩm đạt chất lượng cao, tiêu thụ được sản phẩm trên thị trường trong nước và ngoài nước, làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước" [2, tr.99]

- GS Phạm Xuân Nam: "VHKD là phương pháp kinh doanh bằng nắm bắt

thông tin, ra sức cải tiến kỹ thuật, công nghệ, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, quan tâm thích đáng đến đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, bồi dưỡng và phát huy tiềm năng sáng tạo của họ trong việc tạo ra những hàng hóa

và dịch vụ có chất lượng tốt, hình thức đẹp, giá cả hợp lý, đáp ứng được nhu cầu của thị trường, giữ được chữ tín với người tiêu dùng" [22, tr.15]

Với cách tiếp nhận như trên dẫn đến cách hiểu VHKD là sự vận dụng các nhân tố văn hóa vào hoạt động sản xuất - kinh doanh Cụ thể đó là các nhân tố về khoa học kỹ thuật, công nghệ, phương thức tổ chức và quản lý, giao tiếp và ứng xử Và nhấn mạnh biểu hiện của VHKD như là tính hiệu quả, chất lượng sản

phẩm, chữ tín, đạo đức

Một định nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu chú ý là của TS Đỗ Minh Cương:

"VHKD là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra

Trang 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A Tiếng Việt

1 Nguyễn Hoàng Ánh (2002), Giải pháp để xây dựng văn hóa DN tại Việt Nam

trong điều kiện hội nhập khu vực và thế giới, Đề tài cấp Bộ, Mã số 2002-40-17,

Hà Nội

2 Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, Bộ Văn hoá - Thông tin, Viện Quản trị

Kinh doanh (2001), Văn hoá và kinh doanh, Nxb Lao động, Hà Nội

3 Báo Nhân dân số ra ngày 26/10/2004

4 Bettina Buchel - Gillbert Probst Christiane Prange - Charles Clemens ruling

(Biên dịch: Nguyễn Mĩnh Hạnh - Minh Đức), (2002), Liên doanh và Quản lý

liên doanh, Nxb Trẻ, Hà Nội.

5 Bộ môn VHKD - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2004), VHKD trong các

DN ở Hà Nội, Đề tài cấp Bộ, Mã số B2004-38-81

6 Bộ môn VHKD - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2006), Bài giảng VHKD,

Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

7 Bộ môn VHKD - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2007), Văn hoá doanh

nhân của doanh nhân trên địa bàn Hà Nội, Đề tài cấp Bộ, Mã số B2006-06-18

8 Đỗ Minh Cương (2000), Văn hóa và triết lý kinh doanh, Trường Đại học

Thương mại, Hà Nội

9 Nguyễn Văn Dân (2006), Văn hóa và Phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

10 Fons Trompenaars - Charle Hampden - Turner (2006), Chinh phục các làn

sáng văn hóa, Nxb Trí thức, Hà Nội

11 Fredr David (2006), Khái luận về Quản trị chiến lược, Nxb Thống kê, Hà Nội

12 Thái Hà (2008), Cuối năm đình công lại nóng, Báo Phụ nữ Thủ đô, số 3 (892),

ngày 23/1/2008, trang 3

13 Vương Quân Hoàng (2007), Văn minh làm giàu - Nguồn gốc của cải, Nxb

Trang 12

Chính trị Quốc gia, Hà Nội

14 Đỗ Huy (1996), VHKD ở nước ta - Thực trạng và giải pháp Tạp chí Triết học,

số 2

15 Phạm Mai Hương (2005), Nghệ thuật kinh doanh ứng xử văn hóa một số nước

trên thế giới, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội

16 W.Chan Kim - Renée Mauborgae (2006), Chiến lược đại dương xanh (Làm thế

nào để tạo khoảng trống thị trường và vô hình hóa cạnh tranh), Nxb Tri thức,

Hà Nội

17 Mai Thanh Lan (2007), VHKD của Công ty Cổ phần Dịch vụ vận tải TRACO

trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn Thạc sĩ quản trị kinh doanh,

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

18 Hoa Hữu Lân (2002), Hàn Quốc - Câu chuyện kinh tế về một con rồng Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội

19 Dương Thị Liễu (2004), Vai trò văn hoá trong phát triển kinh tế, Tạp chí Triết

học, số 6

20 Dương Thị Liễu (2005), VHKD và một số giải pháp xây dựng VHKD Việt

Nam, Tạp chí Triết học, số 6 (196)

21 Lucinda Watson (2006), Vì sao họ thành công, Nxb Trẻ, Hà Nội

22 Phạm Xuân Nam (1996), Văn hoá và Kinh doanh, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội

23 Phạm Xuân Nam (1999), Văn hoá, đạo đức trong kinh doanh, Tạp chí Cộng

sản, số 3 (561)

24 Đỗ Hoài Nam, Ngô Xuân Bình, Sung-Yeal Koo, (2005), Hợp tác kinh tế Việt

Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh hội nhập Đông Á Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội

25 Phùng Xuân Nhạ và nhóm tác giả (MUTRAP II - Dự án hỗ trợ thương mại đa

biên), (2007), Vị trí, vai trò và cơ chế hoạt động của Tổ chức Thương mại thế

Ngày đăng: 16/11/2016, 10:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w