Luận án tập trung khảo cứu những biểu hiện mỹ thuật của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa với Trung Hoa và Ấn Độ trong suốt khoảng thời gian từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đã tạo nê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Trần Yên Thế
NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ ĐỀN VUA ĐINH, VUA LÊ
TỪ GÓC NHÌN SO SÁNH VỚI ẤN ĐỘ VÀ TRUNG HOA
- NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐỒ ÁN TIÊU BIỂU
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 62 21 01 01
Hà Nội – 2016
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Kiều Thu Hoạch
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Phản biện 2: PGS.TS Bùi Văn Tiến
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Phản biện 3 : TS Phạm Quốc Quân
Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện họp tại:
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Số 32, Hào Nam, Ô Chợ Dừa Đống Đa, Hà Nội
Vào hồi… giờ….ngày….tháng ….năm 2016
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế giới đang diễn ra một quá trình toàn cầu hóa về kinh tế vô cùng mạnh mẽ Bên cạnh những mặt tích cực của cuộc vận động quốc tế này, toàn cầu hóa đã đem lại những tác động tiêu cực trên nhiều phương diện, đặc biệt là với văn hóa Toàn cầu hóa làm thế giới gần như phẳng hơn, đe dọa làm biến mất những giá trị văn hóa bản địa của những cộng đồng sắc tộc địa phương
Việc tự đánh mất mình hay trở thành một bản sao mờ nhạt cũng đồng nghĩa với việc làm mất đi sự đa dạng văn hóa Chính vì nhận thức sâu sắc nguy cơ này mà ngày 3-21 tháng 10 năm 2005, tại kỳ
họp thứ 33 tại Paris, Công ước về Bảo vệ và Thúc đẩy sự đa dạng
văn hóa của các biểu đạt văn hóa đã được Đại hội đồng Tổ chức
UNESCO thông qua Việt Nam là một trong những quốc gia sớm tham gia công ước này Giá trị đặc sắc của văn hóa dân tộc chỉ có thể bảo tồn và phát triển bền vững trên cơ sở nhận thức đúng đắn của chúng ta trong mối tương quan trong khu vực Các tác phẩm mỹ thuật cổ truyền hàm chứa những kiến thức truyền thống, tri thức bản địa cần được tích cực nghiên cứu
Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành ở Trường Yên, Hoa Lư tưởng niệm hai vị tiên đế mở đầu kỷ nguyên độc lập của dân tộc, nằm trong khu danh thắng Tràng An vừa được tổ chức UNESCO vinh danh di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Hiện trạng di tích
cơ bản có niên đại thế kỷ XVII – XVIII – XIX, mang những dấu ấn đặc sắc của văn hóa Đại Việt Tuy vậy, cho đến nay, những nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt từ những nghiên cứu so sánh về giá trị mỹ thuật của hai ngôi đền này còn khá ít
Trang 42 Mục đích nghiên cứu
2.1 Luận án tập trung khảo cứu những biểu hiện mỹ thuật của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa với Trung Hoa và Ấn Độ trong suốt khoảng thời gian từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đã tạo nên những hiện tượng mỹ thuật đặc sắc, có giá trị thẩm mỹ cao ở đền vua Đinh, vua Lê (Hoa Lư, Ninh Bình)
2.2 Tìm ra những minh chứng khẳng định môi trường văn hóa,
tự nhiên của không gian văn hóa làng người Việt đã góp phần quan trọng tạo nên những sáng tạo truyền thống ở đền vua Đinh, vua Lê 2.3 Vận dụng hệ thống lý thuyết phương pháp luận của lĩnh vực nghiên cứu so sánh vào nghiên cứu một trường hợp cụ thể (nghệ thuật Trang trí đền vua Đinh, vua Lê)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Như tên gọi của luận án, đối tượng nghiên cứu của đề tài luận
án là các hiện tượng tiếp biến văn hóa ở đền vua Đinh, vua Lê được thể hiện trên nghệ thuật Trang trí đền vua Đinh, vua Lê Chính vì thế, đối tượng nghiên cứu của luận án được xem xét một cách biện chứng trong các mối quan hệ có một chiều kích không gian và thời gian tương đối rộng Công việc này thực sự có kết quả và có sức thuyết phục khi thông qua những so sánh, đối chiếu, chúng ta có
được những căn cứ minh chứng xác đáng
Khách thể nghiên cứu của luận án chủ yếu là các hiện vật điêu khắc đá như nghê đá, sập đá, bia đá, chân tảng đá và một số mảng đồ
án chạm khắc trên các hạng mục kiến trúc gỗ
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Về không gian phạm vi nghiên cứu của luận án: được giới hạn trong phạm vi đền vua Đinh, vua Lê (xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) Do đặc trưng của phương pháp luận Nghiên cứu so
Trang 5sánh, luận án có mở rộng phạm vi bàn luận, đối chiếu với một số hiện tượng mỹ thuật tương đồng và khác biệt ở một số nền mỹ thuật khác Tuy nhiên, thao tác so sánh này sẽ không ảnh hưởng đến mức
độ tập trung vào phạm vi nghiên cứu của luận án
Về thời gian: tập trung xem xét từ khi dân làng Trường Yên và cha con Bùi Văn Khuê xây dựng lại hai ngôi đền vào những năm cuối cùng của thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII cho đến lần trùng tu cuối thế kỷ XIX của cụ Bá hộ Dương Đức Vĩnh
4 Giả thuyết khoa học
Nghệ thuật Trang trí đền vua Đinh, vua Lê chứng tỏ khả năng dung hợp, tiếp biến văn hóa trong quá trình giao lưu và tiếp xúc văn hóa với bên ngoài – chủ yếu với Ấn Độ và Trung Hoa đã làm nên những sáng tạo bất ngờ và đặc sắc, tạo nên những giá trị riêng có của người Việt Những sáng tạo mang kiểu thức Ấn-Hoa đó dù nhỏ bé nhưng chứa đựng tâm hồn, trí tuệ và bản lĩnh văn hóa người Việt
5 Phương pháp luận
Phương pháp luận của nghiên cứu so sánh nhấn mạnh đến sự đối chiếu, đối sánh, liên hệ, liên tưởng các hiện tượng mỹ thuật của nhiều tộc người, nhiều quốc gia với nhau Ngoài phương pháp so
sánh, còn có những phương pháp được sử dụng trong luận án như
Phương pháp thực chứng lịch sử, Phương pháp cấu trúc, Phương pháp thống kê, Phương pháp loại hình, Phương pháp hệ thống, Phương pháp nghiên cứu liên ngành
6 Những đóng góp mới của luận án
Về phương diện lý luận và lịch sử mỹ thuật: Vận dụng phương pháp luận của Mỹ thuật học so sánh để kiểm chứng, thức nhận các giá trị tinh hoa trong tạo hình Việt Luận án cho thấy qua một số đồ
án trang trí tiêu biểu kiểu thức Ấn – Hoa là kiểu thức trang trí đã rất
Trang 6phổ biến trong mỹ thuật Lý, mỹ thuật Trần tiếp tục có những bước phát triển mới, mang tinh thần thế tục ở đền vua Đinh, vua Lê Với di sản văn hóa: những nghiên cứu của luận án tập trung ở đền vua Đinh, vua Lê – di sản văn hóa cấp quốc gia sẽ giúp cho công tác quản lý, trùng tu, tôn tạo có được những thông tin, tri thức chân xác
Với giáo dục thẩm mỹ: qua các phân tích những hiện tượng mỹ thuật đặc sắc ở hai ngôi đền vua Đinh – vua Lê, những giá trị tạo hình liên quan đến những đường nét hoa văn, kỹ thuật chạm đá, đục
gỗ cho đến cách xử lý hệ thống các biểu tưởng trong không gian di tích sẽ được sáng tỏ dưới ánh sáng khoa học
Những tư liệu điền dã đạc họa trong phần phụ lục sẽ là tư liệu quan trọng với việc khảo cứu hai ngồi đền, bổ sung những khoảng trống tư liệu trong công tác giáo dục thẩm mỹ; và thông qua đó bồi dưỡng lòng tự tôn dân tộc
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu (9 trang), Kết luận (3 trang), Tài liệu tham khảo (17 trang) và Phụ lục (57 trang), nội dung của luận án gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về Nghệ thuật Trang trí và
Nghiên cứu so sánh (31 trang) Chương 2: Bối cảnh lịch sử, văn hóa và nghệ thuật Trang
trí đền vua Đinh, vua Lê (27 trang) Chương 3: Sự dung hợp mỹ thuật Ấn Độ và Trung Hoa
trong một số đồ án trang trí ở đền vua Đinh, vua Lê (58 trang)
Trang 7Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ
VÀ NGHIÊN CỨU SO SÁNH 1.1 Nghệ thuật trang trí
1.1.1 Khái niệm
Nghệ thuật Trang trí (Decorative Arts – Anh, Arts Décoratifs – Pháp, 装饰艺术 – Hoa), là một thuật ngữ du nhập từ nước ngoài Do nhấn mạnh đến tính chất trang sức của bề mặt nên trong hệ thống học thuật hàn lâm cổ điển của phương Tây. Thực tế lịch sử nghệ thuật thế giới đã chứng minh, việc loại nghệ thuật Trang trí ra khỏi ngôi đền thiêng Mỹ thuật là một sai lầm nghiêm trọng của nền mỹ học phương Tây Paul K Nietupski, Joan O'Mara trong cuốn sách
Reading Asian Art and Artifacts: Windows to Asia on American College Campuses (Nghệ thuật châu Á và tạo tác: Cửa sổ tới châu Á trong các trường Cao đẳng Mỹ) đã phê phán cách nhìn nhận phương
Tây về nghệ thuật Trang trí của châu Á Việc đối lập nghệ thuật Trang trí với Mỹ thuật, coi Mỹ thuật là nghệ thuật cao cấp thể hiện
sự thiếu hiểu biết với nghệ thuật và những nền tảng văn hóa phương Đông
Trái ngược với cách kiến giải về nghệ thuật Trang trí của phương Tây, các tác giả Trần Lâm Biển, Nguyễn Phi Hoanh, Ngô Văn Doanh đều cho rằng nghệ thuật Trang trí của người Việt Nam,
dù rằng là nghệ thuật thị giác xử lý trên phương diện bề mặt, nhưng không chỉ đơn thuần là để làm Đẹp Nghệ thuật Trang trí ở đền vua Đinh, vua Lê hiển nhiên mang tính chất tín ngưỡng, tôn giáo Việc xem xét nghệ thuật (gồm nghệ thuật Trang trí) như một phần của lễ nghi sẽ không thể đơn giản coi việc trang trí là mỹ hóa đối tượng
1.2 Nghệ thuật Trang trí từ các lý thuyết liên ngành
Trang 8Nghiên cứu nghệ thuật Trang trí cổ truyền dựa trên thành tựu lý thuyết của nhiều ngành khoa học khác để bổ sung thêm nhiều điểm tham chiếu đang được nhiều nhà nghiên cứu mỹ thuật vận dụng khá thành công
1.2.1 Thuyết truyền bá văn hóa
Lý thuyết Truyền bá văn hóa (cultural diffusion) nghiên cứu
một hiện tượng văn hóa nghệ thuật sinh ra ở một dân tộc, quốc gia này có ảnh hưởng đến một hay nhiều dân tộc hay quốc gia khác Trong luận án, việc truy nguyên dạng thức các linh thú đóng vai trò tưởng niệm bắt nguồn từ văn hóa Phật giáo, hay dạng thức hoành phi
kiểu thư họa có nguồn gốc Trung Hoa
1.2.2.Thuyết Tiếp biến văn hóa
Cultural Acculturation là thuật ngữ của ngành Nghiên cứu Văn
hóa không phải của Mỹ thuật học Có nhiều cách chuyển ngữ thuật ngữ này nhưng dịch là Tiếp biến Văn hóa được sử dụng thông dụng,
phổ biến hơn cả Thuyết Tiếp biến văn hóa là lý thuyết quan tâm đến
kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc, dung hợp và biến đổi của văn hóa
1.2.2 Thuyết Ngữ cảnh nghệ thuật
Cốt lõi của thuyết Ngữ cảnh nghệ thuật (Art as context) chính là
việc xác lập mối quan hệ của nghệ thuật với ngữ cảnh Cụ thể ở đây
là thao tác đặt các đồ án trang trí ở hai ngôi đền trong ngữ cảnh văn hóa làng xã của người Việt
1.2.3 Thuyết Nhân hình luận
Anthropomorphism theo định nghĩa của từ điển Oxford online, Anthropomorphism là hiện tượng nhân dạng hay nhân cách hoá là bất kỳ đóng góp của các đặc tính của con người (hoặc các đặc tính
Trang 9giả định chỉ thuộc về con người) cho thần thánh, động vật và các vật thể
Căn cứ vào mức độ và kiểu thức nhân dạng trên các đồ án trang trí đền vua Đinh, vua Lê, chúng ta có thể tìm hiểu được mức độ ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, và Trung Hoa ở hai ngôi đền Cụ thể là sự xuất hiện những cánh tay phụ nữ mọc ra từ thân thể của một con rồng trên chiếc sập trước Nghi môn ngoại trước đền vua Đinh
1.2.4 Lý thuyết về Giới
Lý thuyết về Giới (Gender Theory) xác nhận vai trò của giới tính trong sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật Hình ảnh những cô tiên yếm thắm chân đất đầu trần vắt vẻo lưng rồng ở đền vua Đinh, vua
Lê phản ánh sự thay đổi cấu trúc giới trong xã hội Thật bất ngờ, hình ảnh những cánh tay mềm mại, xinh đẹp đầy nữ tính lại mọc ra
từ thân thể một con rồng mà râu, tóc, mắt mũi rất đặc trưng cho giới tính đực Hiện tượng nghịch dị này từ lý thuyết về Giới sẽ chỉ ra những phát hiện thú vị
1.3 Khái lược về nghiên cứu so sánh
Nghiên cứu so sánh - Comparative research là một lĩnh vực khoa học Đây là một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn Như đã nói ở phần trên, nếu ví nó như một cái cây thì các nhánh nhỏ hơn sẽ là Ngôn ngữ học so sánh (Comparative linguistics), Văn học so sánh (Comparative literature), Nghệ thuật học so sánh (Comparative Art),
Mỹ thuật học so sánh (Comparative Fine Art), Tâm lý học so sánh (Comparative Psychology), Kinh tế chính trị học so sánh (Comparative Political Economy),Xã hội học so sánh (Comparative Sociology)…Trong trường hợp cụ thể của luận án này, một đóng góp lý thuyết đáng kể là những nghiên cứu so sánh vượt qua giới hạn của nghiên cứu lý luận và lịch sử dân tộc chuyên biệt
Trang 101.3.1 Nghệ thuật học so sánh
Những chủ đề của Nghiên cứu so sánh (Comparative Arts)
trong nghệ thuật
Nghiên cứu tính độc đáo dân tộc
Điểm độc đáo liên quan đến phạm trù tính đặc thù dân tộc : Đây cũng là luận điểm được tác giả tiếp thu trong quá trình nghiên cứu các hiện tượng độc đáo khác như sự xuất hiện cánh rồng mềm mại như cánh tay thiếu nữ, hay hiện tượng xuất hiện tượng hình ảnh nghê hết sức đa dạng
Nghiên cứu tính quốc tế
Nghiên cứu so sánh tỏ ra hiệu quả khi nghiên cứu hiện tượng liên văn hóa, những yếu tố quốc tế Chủ đề nghiên cứu này dựa trên thuyết truyền bá văn hóa
Việc lan truyền văn hóa đã tạo ra những mẫu số chung, những
mô hình chung Nhìn đại thể, mô hình nhà nước phong kiến Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản là giống nhau, đều tiếp thu từ văn minh Trung Hoa Tính dân tộc độc đáo phải được nhìn nhận biện chứng với tính quốc tế Thực sự với vị trí địa lý như Việt Nam, Việt Nam chưa bao giờ cô lập, quay lưng lại với thế giới
1.3.2 Mỹ thuật học so sánh
Mỹ thuật học so sánh (Comparative Fine Arts) là thuật ngữ
được dịch từ thuật ngữ 比较美术 (tỷ giảo mỹ thuật) trong tiếng
Trung và Comparative Fine Arts trong tiếng Anh Trong nhiều văn
cảnh, khi chuyển ngữ từ tiếng Hán cũng còn viết là Comparative Arts Mỹ thuật Đại Việt nằm trong vùng ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, nhưng từ lý thuyết cấu trúc đa hệ thống, Đại Việt còn thuộc về Đông Nam Á và Nam Á
Trang 11Đền vua Đinh, vua Lê là nơi thờ tự thiêng liêng có nhiều giá trị nghệ thuật đặc sắc, khẳng định một bản lĩnh văn hóa của dân tộc Việt Nam trong quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa Đông Tây trong suốt trường kỳ lịch sử
Tiểu kết chương 1
Khái niệm nghệ thuật Trang trí được bàn luận, xem xét từ nhiều góc độ để thấy các vật dụng được trang trí nhằm thỏa mãn những nhu cầu đa dạng mà giá trị đẹp mắt chỉ là một phần trong đó Những ý niệm của tôn giáo, tín ngưỡng thực sự quyết định kiểu thức trang trí Nói khác đi nghệ thuật Trang trí đồ thờ có nguồn gốc từ hoạt động vu thuật từ cổ sơ, là vật môi giới của con người với thần linh, trời đất
Nghiên cứu nghệ thuật Trang trí đền vua Đinh, vua Lê trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa là cách thức tìm hiểu mỹ thuật không chỉ dựa vào các thuật ngữ, thao tác, phương pháp của bản thân chuyên ngành Từ góc độ nghiên cứu liên ngành sẽ cho thấy những kiểu thức đồ án trang trí, có liên quan đến những thay đổi văn hóa Chính giai đoạn đau thương, đầy biến động thời Lê – Trịnh đã đem đến cho nghệ thuật Trang trí đền miếu vua Đinh vua Lê tính chất thế tục và diễu nhại vô cùng đặc sắc
Nghệ thuật Trang trí ở đền vua Đinh, vua Lê được tiếp cận từ nhiều góc độ, soi chiếu bởi nhiều khung lý thuyết Nghiên cứu so sánh trở thành phương pháp luận cốt yếu của luận án Những xét đoán, nhận định trong luận án đều được dựa trên những đối chiếu liên văn hóa, vượt qua những khuôn khổ hạn định của những loại hình nghệ thuật Việc mở rộng các đối tượng so sánh vượt ra ngoài phạm vi mỹ thuật của một tộc người (ở đây là người Việt) với các tộc
Trang 12người khác trên dải đất hình chữ S và mở rộng những so sánh với Trung Hoa và Ấn Độ
Chương 2 BỐI CẢNH LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ ĐỀN VUA ĐINH, VUA LÊ
2.1 Bối cảnh chính trị - văn hóa và lịch sử tôn tạo của hai ngôi đền
2.1.1 Bối cảnh chính trị - văn hóa
Mặc dù đền vua Đinh, vua Lê được xây dựng trên nền cũ của một cung điện đã tàn lụi trước đó chừng 6 thế kỷ, nhưng những ký
ức lịch sử của một thời huy hoàng tráng lệ và bi thương vẫn còn in dấu trên nghệ thuật trang trí của hai ngôi đền
Những hiện vật trang trí ở đền vua Đinh vua Lê (được phân tích trong luận án) chủ yếu có niên đại thế kỷ XVII- XVIII, trước hết nó liên quan đến bối cảnh chính trị, xã hội đương thời, và xa hơn nữa là bốn thập kỷ huy hoàng của kinh đô Đại Việt thời nhà Đinh và Tiền
Lê Chính những diễn biến vô cùng phức tạp của những xung đột tranh giành quyền lực chốn cung đình đã tạo nên cho nghệ thuật trang trí ở đền vua Đinh, vua Lê một ngữ cảnh chính trị-văn hóa hết sức phức tạp
Với người dân quê, sơn hà chính là con sông, ngọn núi, là cây
đa, bến nước, sân đình được hiển hiện trên những bức chạm khắc nơi chân tảng đền thờ vị vua mở đầu kỷ nguyên Độc lập Ta không thấy những bức chạm ca ngợi những võ công hiển hách của các bậc tiên
đế mà chỉ bắt gặp ở đây cảnh người dân đi hái củi, đánh cá, vốn rất thân quen và bình dị
2.1.2 Lịch sử tôn tạo hai ngôi đền
Trang 13Đền vua Đinh và vua Lê là thuộc về hai xã Trường Yên thượng
và Trường Yên hạ Đây là một trong vài ngôi đền to nhất Việt Nam còn sót lại tới hôm nay.Năm 1010, khi Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long, thì 42 năm vàng son, huy hoàng của kinh đô Hoa Lư đã dần lui vào dĩ vãng Tương truyền, đền thờ vua Đinh, vua Lê được xây dựng trên nền cung điện cũ Tới những năm cuối thời Quang Hưng, cha con Bùi Văn Khuê và Bùi Thời Trung đã hưng công trùng
tu tôn tạo lại hai ngôi đình
Những tấm bia như Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế miếu công
đức bi ký tịnh minh, Tiền triều Lê Đại Hành hoàng đế miếu công đức
bi ký tịnh minh, Thánh tượng tiền triều Lê Đại Hành hoàng đế trùng
tu tạo tác bi ký tịnh minh, xác định khá chi tiết về quá trình tôn tạo,
danh tính người chỉ đạo và thi công, từ các bậc công hầu khánh tướng, các vị khoa bảng, giới tăng lữ, các bậc chức sắc cho đến nghệ nhân
Sang đến thời Chính Hòa, tấm bia làm năm Chính Hòa thứ 17 (1696) nhắc cho ta biết đã có việc trùng tu ở đền vua Đinh Căn cứ vào phong cách thì chiếc sập đá trước bài đường, đôi nghê đá chầu hai bên bái đường, một số mảng chạm gỗ tiên cưỡi rồng được làm trong lần trùng tu này
Sang tới thời Nguyễn, qua tấm bia bia Tiền triều Đinh Tiên
Hoàng đế miếu công đức bi ký lập năm Thiệu Trị thứ 3 cho thấy ngôi
đền đã xuống cấp nghiêm trọng Triều đình đã cử viên quan Trần Chương tới đây tiến hành trùng tu lại ngôi đền Riêng với đền vua Đinh, lần trùng tu năm Thành Thái thứ 10 (1898) tuy không có bia
đá lưu lại với sử xanh nhưng vẫn được dân làng truyền tụng về công lao của cụ Bá Dương Đức Vĩnh Hạng mục chính yếu của lần trùng
tu này là nâng cao kích thước đền vua Đinh bằng hệ thống chân tảng