1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn tỉnh quảng bình

89 849 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, công tác xây dựng và áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng còn nhiều bất cập, vướng mắc như: Hệ thống pháp luật về xử phạt v

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN MẬU PHẤN

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ RỪNG

Hà Nội - Năm 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các thầy giáo,

cô giáo Học viện Khoa học xã hội, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới thầy giáo, GS.TS Võ Khánh Vinh - người hướng dẫn khoa học – đã tận tình hướng dẫn tôi phương pháp nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Chi cục Kiểm lâm t nh uảng Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ và cung cấp cho bản thân tôi các văn bản, số liệu liên quan đến luận văn

Tác giả luận văn

Phan Mậu Phấn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong các công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phan Mậu Phấn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ RỪNG 7

1.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng 7 1.2 Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng 12 1.3 Các điều kiện đảm bảo hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ BẢO VỀ RỪNG TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH 44

2.1 Khái quát về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và

2.2 Tổ chức bộ máy nhân sự và cơ sở vật chất phục vụ công tác và xử phạt

vi phạm hành chính của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình 50 2.3 Đánh giá kết quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý

và bảo vệ rừng tại tỉnh Quảng Bình 52

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ RỪNG 62

3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng 62 3.1.4 Xây dựng cơ chế phối kết hợp giữa các lực lượng liên ngành trong công tác quản lý và bảo vệ rừng 64 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng 65

KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC ẢNG

Số hiệu

2.1 Diện tích quy hoạch 3 loại rừng đến năm 2020 phân

2.2

Số vụ vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo

vệ rừng theo hành vi trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011 - 2015

47

2.3

Số vụ vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo

vệ rừng theo đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011 - 2015

48

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là một hệ sinh thái có vai trò rất lớn về bảo vệ và cải tạo môi trường sống, cung cấp lâm sản và phòng hộ môi trường… Trong quá trình phát triển kinh tế, đời sống của người dân càng cao thì nhu cầu về lâm sản ngày càng lớn Đặc biệt, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, công tác quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng có tác động tích cực đến việc phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp, tạo nhiều việc làm và từng bước nâng cao đời sống của người dân góp phần

ổn định tình hình kinh tế xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh quốc gia Vì vậy, công tác quản lý, bảo vệ rừng là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta

đặc biệt quan tâm

Tỉnh Quảng Bình nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ có “tổng diện tích tự nhiên 806.525 ha, đất quy hoạch cho lâm nghiệp 641.132 ha, trong đó: rừng tự nhiên 476.577 ha, rừng trồng 74.877 ha và đất chưa có rừng 89.678 ha; độ che

phủ rừng đạt 68%” [23] Rừng ở tỉnh Quảng Bình có chất lượng và trữ lượng

gỗ tương đối lớn so với cả nước, đặc biệt có di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẽ Bàng là nơi tập trung nhiều loài gỗ có giá trị cao và nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm sinh sống Những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình luôn được các cấp uỷ Đảng, Chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng quan tâm chỉ đạo

và thực hiện quyết liệt, đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Tình hình công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn cơ bản ổn định, các tụ điểm về khai thác gỗ trái phép đều được phát hiện, xử phạt kịp thời; các vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ phát triển rừng có tính chất nghiêm trọng giảm dần qua từng năm; công tác tuyên truyền pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng luôn được đổi mới và tăng cường, ý thức của người dân về bảo vệ rừng ngày được nâng

Trang 7

2

lên… Tuy nhiên, thực tiễn những năm qua cho thấy, cùng với sự tăng trưởng

và phát triển về kinh tế - xã hội, mức sống người dân được cải thiện thì tình hình vi phạm pháp luật nói chung, vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng và bảo vệ rừng nói riêng cũng diễn ra ngày càng phức tạp Trong khi đó, công tác xây dựng và áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng còn nhiều bất cập, vướng mắc như: Hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính chưa hoàn thiện, thiếu thống nhất, còn thiếu một số quy định cụ thể, chế tài chưa phù hợp, chưa đảm bảo yêu cầu răn đe, giáo dục người vi phạm; một số quy định chưa rõ ràng; một số quy định khó áp dụng trong thực tiển hoặc việc áp dụng chưa thống nhất, thiếu nghiêm minh; nhận thức của người dân, của cộng đồng doanh nghiệp và một

bộ phận cán bộ, công chức, viên chức kiểm lâm về pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng và bảo vệ rừng còn nhiều hạn chế

Lực lượng Kiểm lâm là lực lượng chuyên trách của Nhà nước có chức năng bảo vệ rừng, giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo

vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản Do tính chất, đặc thù vốn có của lĩnh vực quản lý, với yêu cầu ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bảo đảm tính ổn định, bền vững trong quản lý, sử dụng tài nguyên rừng; trong những năm gần đây, lực lượng Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình luôn phải đối mặt với nhiều thách thức khi phải giải quyết hài hòa giữa vấn đề thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội về lâm sản, nhu cầu về đất lâm nghiệp để phát triển kinh tế, song đồng thời phải bảo đảm tuân thủ pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng với mục tiêu bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có, giữ vững môi trường sinh thái và bảo tồn đa dang sinh học; đặc biệt là tại tỉnh Quảng Bình, nơi có di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẽ Bàng, đã

Trang 8

3

được UNESCO vinh danh với hai tiêu chí về “địa tầng địa mạo” và “đa dạng sinh học” Thực tế này đặt ra nhiệm vụ nặng nề cho lực lượng Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng tại tỉnh Quảng Bình nơi tác giả đang công tác là rất cần thiết cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn để có thể đánh giá đầy đủ, đúng thực trạng và đề xuất những giải pháp đảm bảo áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng và bảo vệ rừng Với những lý do trên,

tác giả chọn đề tài: “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn t nh Quảng Bình” để làm luận văn tốt nghiệp Đây là

vấn đề mang tính cấp bách vừa phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước vừa phù hợp với thực tiễn của địa phương

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua tìm hiểu tác giả nhận thấy, trong thời gian qua, đã có khá nhiều

đề tài, công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng như: “Quản lý nhà nước về xã hội hoá bảo vệ và phát triển rừng ở Tây Nguyên” của Lê Văn Từ, Luận án Tiến sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Khoa học xã hội, năm 2015; “Đảm bảo hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” của Phạm Đình Hùng, Luận văn thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2011; "Pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, lý luận và thực tiễn", của Bùi Tiến Đạt, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008; "Tình hình thực hiện pháp luật trong lĩnh vực quản

lý và bảo vệ tài nguyên rừng", của Võ Mai Anh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2007

Những đề tài, công trình nêu trên mang tính chất khái quát về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng; thực thi pháp luật bảo vệ và phát triển rừng hay áp dụng pháp luật xử phạt vi phạm hành chính với việc phân tích

Trang 9

4

dựa trên cơ sở lý luận mà chưa đề cập sâu đến vấn đề thực tiển của công tác

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản

lý lâm sản và mối liên hệ tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ

và phát triển rừng trên địa bàn một tỉnh có diện tích rừng lớn thứ hai toàn quốc như Quảng Bình

Tuy nhiên, những đề tài, công trình đó là nguồn tư liệu quý có giá trị tham khảo, kế thừa để bản thân tôi tiến hành nghiên cứu đề tài của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa, phân tích, đánh giá làm sáng tỏ những vấn đề

về lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; đồng thời kiến nghị một số nội dung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ cụ thể sau:

- Khái quát những vấn đề lý luận về xử phạt vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác thực thi và áp dụng pháp luật về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

- Đề xuất và luận chứng một số giải pháp phù hợp với thực tiển nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo

vệ rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Trang 10

5

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Là những vấn đề về lý luận và thực tiễn về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng; các giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác-Lênin, kết

hợp các phương pháp lịch sử - thực tiễn; phân tích tổng hợp; thống kê, so sánh…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trang 11

6

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

Chương 2: thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản

lý và bảo về rừng tại tỉnh Quảng Bình

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

Trang 12

7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT

VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ

VÀ ẢO VỆ RỪNG

1.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo

vệ rừng

“Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi

phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm

và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” [22, tr.7]

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng có thể hiểu

là hành vi vô ý hoặc cố ý của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản chưa gây thiệt hại hoặc đã gây thiệt hại đến rừng, lâm sản, môi trường rừng nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự

- Quản lý rừng có thể hiểu là những hoạt động của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình, quy phạm, định mức kinh tế - kỹ thuật về lâm nghiệp đã được phê duyệt; tổ chức thực hiện thống kê, kiểm kê rừng và đất lâm nghiệp; bảo vệ các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, bảo tồn đa dạng sinh học, các loài thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của pháp luật

- Bảo vệ rừng là tổng thể các hoạt động của các tổ chức, các nhân tác động vào rừng nhằm phòng chống những tác động tiêu cực đến rừng để duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng, sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi

Trang 13

- Phát triển rừng là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng ngèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và

các giá trị khác của rừng [21, tr.6]

- Lâm sản là sản phẩm khai thác từ thực vật, động vật, vi sinh vật và các

bộ phận dẫn xuất của chúng có nguồn gốc từ rừng (kể cả động vật thuỷ sinh có nguồn gốc bản địa hoặc không có nguồn gốc bản địa nhưng được cơ quan có

thẩm quyền cho phép nuôi, thả tại các ao, hồ, sông, suối trong rừng [15, tr.6]

- Quản lý lâm sản có thể hiểu là hoạt động của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và xử lý các cá nhân, tổ chức

vi phạm pháp luật trong hoạt động gây nuôi, trồng cấy nhân tạo động vật, thực vật rừng, các hoạt động khai thác, sản xuất, kinh doanh, chế biến, cất giữ, vận chuyển lâm sản theo quy định của pháp luật

1.1.2 Đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng cũng thuộc phạm vi của vi phạm hành chính nên cũng phải hội tụ đủ 4 yếu tố cấu thành vi

Trang 14

9

phạm hành chính, gồm: Khách thể, Mặt khách quan, Chủ thể và Mặt chủ quan của hành vi vi phạm hành chính

- Khách thể: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ

rừng cũng như mọi vi phạm pháp luật khác đều xâm hại đến quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Dấu hiệu khách thể để nhận biết vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng là hành vi vi phạm này đã xâm phạm đến trật tự quản lý trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng

và quản lý lâm sản được pháp luật bảo vệ

- Mặt khách quan: Dấu hiệu bắt buộc về mặt khách quan của vi phạm

hành chính là hành vi phạm pháp luật được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động

Mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo

vệ rừng gồm các dấu hiệu chính như sau: Hành vi, tính trái pháp luật của hành

vi, hậu quả thiệt hại mà hành vi gây ra cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại, thời gian, địa điểm, tang vật, phương tiện vi phạm

Hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng là hình vi có tính chất trái pháp luật, vi phạm các quy định của nhà nước trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, dưới hình thức không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những qui định của pháp luật về bảo vệ

và phát triển rừng, xâm phạm đến những khách thể được pháp luật bảo vệ

Hành vi không thực hiện đúng những qui định về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản như: Không có phương án phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) và công trình PCCCR theo quy định; không đảm bảo an toàn về PCCCR khi được phép sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt,

sử dụng chất cháy trong rừng và ven rừng; lấy lâm sản trong rừng khi không được phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc được phép nhưng thực hiện không đúng quy định cho phép; vận chuyển lâm sản không có hồ sơ hợp pháp

Trang 15

10

hoặc có hồ sơ hợp pháp nhưng hồ sơ không phù hợp với lâm sản thực tế đang vận chuyển

- Chủ thể: Chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ

rừng là các tổ chức, cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính Theo qui định của pháp luật nói chung và pháp luật trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng hiện hành, cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng phải là người không mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật,

cụ thể:

- Người đủ 14 đến 16 tuổi là chủ thể của vi phạm hành chính trong trường hợp thực hiện hành vi với lỗi cố ý Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi này có vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng hay không cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ

- Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng trong mọi trường hợp

- Tổ chức là chủ thể vi phạm hành chính bao gồm: Các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trạng nhân dân và các tổ chức khác có tư cách pháp nhân theo qui định của pháp luật

- Mặt chủ quan: Dấu hiệu bắt buộc về mặt chủ quan của hành vi vi

phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng là dấu hiệu lỗi của chủ thể vi phạm Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng phải là hành vi có lỗi thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý

Nói cách khác, người thực hiện hành vi phải có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã vô tình hay thiếu thận trọng, không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội hoặc có nhận thức được điều đó nhưng vẫn cố tình thực hiện Khi có đủ căn cứ cho

Trang 16

11

rằng chủ thể thực hiện hành vi không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, chúng ta có thể kết luận rằng đã không có vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng Trong một số trường hợp cụ thể pháp luật còn đòi hỏi xác định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc của một số vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo

a) Các hành vi vi phạm quy định về quản lý rừng, sử dụng rừng

- Lấn, chiếm rừng;

- Khai thác trái phép cảnh quan, môi trường và các dịch vụ lâm nghiệp;

- Vi phạm quy định về chi trả dịch vụ môi trường rừng;

- Vi phạm quy định về thiết kế khai thác gỗ;

- Vi phạm các quy định khai thác gỗ;

- Khai thác rừng trái phép

b) Các hành vi vi phạm quy định về phát triển rừng, bảo vệ rừng

- Vi phạm quy định về trồng rừng mới thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích khác;

- Vi phạm quy định của Nhà nước về trồng rừng;

- Vi phạm các quy định của Nhà nước về phòng cháy, chữa cháy rừng gây cháy rừng;

Trang 17

12

- Vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng;

- Chăn thả gia súc trong những khu rừng đã có quy định cấm;

- Vi phạm quy định về phòng trừ sinh vật hại rừng;

- Phá hủy các công trình phục vụ việc bảo vệ và phát triển rừng;

- Phá rừng trái pháp luật

c) Các hành vi vi phạm quy định về quản lý lâm sản

- Vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật rừng;

- Vận chuyển lâm sản trái pháp luật;

- Mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái với các quy định của Nhà nước;

- Vi phạm thủ tục hành chính trong quản lý rừng, sử dụng rừng; mua, bán, vận chuyển, chế biến, kinh doanh, cất giữ lâm sản

1.2 Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

1.2.1 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý

và bảo vệ rừng

“Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp

dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt

vi phạm hành chính” [22, tr.8]

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng có

thể hiểu là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ các quy định của pháp luận hiện hành, quyết định các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với các cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng chỉ được áp dụng với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản chưa

Trang 18

Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản

lý và bảo vệ rừng thể hiện ở quyết định xử phạt vi phạm hành chính ghi nhận các hình thức, biện pháp xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính

1.2.2 Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý

- Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng phải được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;

- Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

Trang 19

14

- Đối tượng vi phạm hành chính không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì mức phạt tiền là mức trung bình của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm

- Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm;

- Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;

- Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân

- Không xử phạt vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình

Trang 20

Hình thức xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với mỗi hành

vi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính; có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung Thông thường hình thức xử phạt bổ sung chỉ được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính; tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định hình thức xử phạt bổ sung có thể áp dụng là hình thức xử phạt chính

- Trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong những hình thức xử phạt chính là: Cảnh cáo hoặc Phạt tiền

+ Cảnh cáo (chỉ được quy định là hình thức xử phạt chính);

Phạt cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức VPHC không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức

xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện Cảnh cáo được áp dụng bằng văn bản

+ Phạt tiền (chỉ được quy định là hình thức xử phạt chính):

Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính nói chung từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân vi phạm; Trường hợp tổ chức

vi phạm thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân

Trang 21

16

Trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, mức phạt tiền thấp nhất là 50.000 đồng và mức cao nhất là 500.000.000 triệu đồng đối với cá nhân vi phạm Đối với tổ chức vi phạm mức phạt tiền thấp nhất là 100.000 đồng và mức cao nhất là 1.000.000.000 đồng

- Tuy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung như: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính Các hình thức xử phạt bổ sung trên có thể được quy định là hình thức xử phạt chính hoặc hình thức xử phạt bổ sung tùy từng trường hợp cụ thể

+ Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường

và trật tự, an toàn xã hội;

+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến

vi phạm hành chính, được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng

do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức;

- Ngoài hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung, các nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau:

+ Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra;

+ Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép của cấp có thẩm quyền;

Trang 22

+ Buộc trồng lại rừng hoặc thanh toán chi phí trồng lại rừng theo suất đầu tư được áp dụng ở địa phương tại thời điểm vi phạm hành chính;

+ Buộc trả lại diện tích rừng bị lấn, chiếm;

+ Buộc thực hiện ngay việc hoàn thổ;

+ Buộc ký hợp đồng chi trả dịch vụ môi trường rừng;

+ Buộc kê khai số tiền phải chi trả dịch vụ môi trường rừng;

+ Buộc chi trả đầy đủ tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng, tiền lãi phát sinh từ việc chậm chi trả ứng với số tiền và thời gian chậm chi trả (nếu có);

+ Buộc chi trả đầy đủ tiền dịch vụ môi trường rừng cho người nhận khoán bảo vệ rừng theo hợp đồng đã ký kết

1.2.4 Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

1.2.4.1 Buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính

Buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính được người có thẩm quyền đang thi hành công vụ áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng đang diễn ra nhằm chấm dứt ngay hành vi vi phạm Buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính được thực hiện bằng lời nói, còi, hiệu lệnh, văn bản hoặc hình thức khác theo quy định của pháp luật

1.2.4.2 Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản

Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong

Trang 23

18

trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, địa chỉ của cá nhân vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; địa điểm xảy ra vi phạm; chứng cứ và tình tiết liên quan đến việc giải quyết vi phạm; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định xử phạt; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng Trường hợp phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt

1.2.4.3 Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính

Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm không thuộc trường hợp trên (Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản) Việc xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản phải được người có thẩm quyền xử phạt lập thành hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính Hồ sơ bao gồm biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt hành chính, các tài liệu, giấy tờ có liên quan và phải được đánh bút lục Hồ sơ phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ Cụ thể như sau:

1.2.4.4 Lập biên bản vi phạm hành chính

Người có thẩm quyền xử phạt quy định tại Nghị định 157/2013/NĐ-CP, Công chức, viên chức kiểm lâm đang thi hành công vụ khi phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình phải kịp thời lập biên bản Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì việc lập biên bản vi phạm hành chính được tiến hành ngay khi xác định được tổ chức, cá nhân vi phạm Biên bản vi phạm hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức

vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc

Trang 24

19

tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm; biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử phạt; tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ; lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ, lời khai của họ; quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của người vi phạm hoặc đại diện của tổ chức vi phạm; cơ quan tiếp nhận giải trình Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc

cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của hai người chứng kiến Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành

ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện

tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ, thì những người được quy định tại khoản này phải ký vào từng tờ biên bản Nếu người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ

lý do vào biên bản Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản; trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt Trường hợp người chưa thành niên vi phạm hành chính thì biên bản còn được gửi cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người đó

1.2.4.5 Xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính

Khi xem xét ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong trường

hợp cần thiết người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xác minh các tình tiết sau đây: (i) có hay không có vi phạm hành chính; (ii) cá nhân, tổ chức

Trang 25

Trong quá trình xem xét, ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền

xử phạt có thể trưng cầu giám định Việc trưng cầu giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định Việc xác minh tình tiết của vụ việc

vi phạm hành chính phải được thể hiện bằng văn bản

1.2.4.6 Xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt

Trong trường hợp cần xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt, người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải xác định giá trị tang vật và phải chịu trách nhiệm về việc xác định đó Tùy theo loại tang vật cụ thể, việc xác định giá trị dựa trên một trong các căn cứ theo thứ tự ưu tiên sau đây: (a) giá niêm yết hoặc giá ghi trên hợp đồng hoặc hoá đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu; (b) giá theo thông báo của cơ quan tài chính địa phương; trường hợp không có thông báo giá thì theo giá thị trường của địa phương tại thời điểm xảy ra vi phạm hành chính; (c) giá thành của tang vật nếu là hàng hoá chưa xuất bán; (d) đối với tang vật là hàng giả thì giá của tang vật đó là giá thị trường của hàng hoá thật hoặc hàng hoá có cùng tính năng, kỹ thuật, công dụng tại thời điểm phát hiện vi phạm hành chính

Trường hợp không thể áp dụng được căn cứ trên làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì người có thẩm quyền đang giải quyết

vụ việc có thể ra quyết định tạm giữ tang vật vi phạm và thành lập Hội đồng định giá Hội đồng định giá gồm có người ra quyết định tạm giữ tang vật vi phạm hành chính là Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp và

Trang 26

21

đại diện cơ quan chuyên môn có liên quan là thành viên Thời hạn tạm giữ tang vật để xác định giá trị không quá 24 giờ, kể từ thời điểm ra quyết định tạm giữ, trong trường hợp thật cần thiết thì thời hạn có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 24 giờ Mọi chi phí liên quan đến việc tạm giữ, định giá và thiệt hại do việc tạm giữ gây ra do cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ chi trả Thủ tục tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong trường hợp này được thực hiện như trong trường hợp có quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính của người có thẩm quyền

1.2.4.7 Giải trình

Đối với hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật quy định áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi phạm

có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xem xét ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trước khi ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức không có yêu cầu giải trình trong thời hạn tối đa là 05 ngày làm việc đối với trường hợp giải trình bằng văn bản

và 02 ngày làm việc đối với trường hợp giải trình trực tiếp Việc giải trình trực tiếp được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các bên liên quan; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ thì các bên phải ký vào từng tờ biên bản Biên bản này phải được lưu trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính và giao cho cá nhân,

tổ chức vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ 01 bản

1.2.4.8 Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu

trách nhiệm hình sự

Khi xem xét vụ vi phạm để quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu

Trang 27

22

xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình

sự Trong quá trình thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu hành

vi vi phạm được phát hiện có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đó và trong thời hạn

03 ngày, kể từ ngày tạm đình chỉ phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; trường hợp đã thi hành xong quyết định xử phạt thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự Cơ quan tiến hành tố tụng hình

sự có trách nhiệm xem xét, kết luận vụ việc và trả lời kết quả giải quyết bằng văn bản cho người có thẩm quyền đã chuyển hồ sơ trong thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; trường hợp không khởi tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày có quyết định không khởi tố vụ án hình

sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải trả hồ sơ vụ việc cho người có thẩm quyền

xử phạt đã chuyển hồ sơ đến Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng hình sự

có quyết định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải huỷ bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính và chuyển toàn bộ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tài liệu về việc thi hành quyết định xử phạt cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự Việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự phải được thông báo bằng văn bản cho cá nhân vi phạm

Trang 28

23

phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Việc xử phạt vi phạm hành chính được căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền xử phạt tiến hành xác minh thêm tình tiết để làm căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 30 ngày, kể từ ngày nhận được các quyết định trên và kèm theo hồ sơ vụ vi phạm Trong trường hợp cần xác minh thêm thì thời hạn tối đa không quá 45 ngày

1.2.4.9 Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

- Trường hợp một cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính mà bị xử phạt trong cùng một lần thì chỉ ra 01 quyết định xử phạt,

trong đó quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm;

- Trường hợp nhiều cá nhân, tổ chức cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì có thể ra 01 hoặc nhiều quyết định xử phạt để quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng cá nhân, tổ chức;

- Trường hợp nhiều cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính khác nhau trong cùng một vụ vi phạm thì có thể ra 01 hoặc nhiều quyết định xử phạt để quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng hành vi

Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo

vệ rừng quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc về hai cơ quan chính là: (i) Ủy ban nhân dân các cấp và (ii) lực lượng kiểm lâm Ngoài

ra, có cơ chế phối hợp và phân định thẩm quyền giữa lực lượng Kiểm lâm,

Trang 29

24

Thanh tra chuyên ngành, Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Quản lý thị trường về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo

vệ rừng bao gồm các nội dung chính sau:

1.2.5.1 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Kiểm lâm

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Kiểm lâm được quy định tại Điều 25 và Điều 26, Nghị định 157/2013/NĐ-CP của Chính phủ, cụ thể:

+ Kiểm lâm viên đang thi hành công vụ có quyền: (i) Phạt cảnh cáo; và (ii) Phạt tiền đến 500.000 đồng

+ Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm có quyền: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 10.000.000 đồng; và (iii) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị đến 10.000.000 đồng

+ Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm; Đội trưởng Đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng, có quyền: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 25.000.000 đồng; (iii) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị đến 25.000.000 đồng; và (iv) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c, đ và i Khoản 1 Điều 28 của Luật xử phạt vi phạm hành chính; Khoản 1 và Khoản 2 Điều 4 Nghị định 157/2013/NĐ-CP

+ Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Đội trưởng Đội Kiểm lâm đặc nhiệm Cục Kiểm lâm có quyền: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng; (iii) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị đến 50.000.000 đồng; (iv) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn (kể cả hoạt động khai thác khoáng sản trên đất lâm nghiệp) quy định tại Nghị định 157/2013/NĐ-CP; và (v) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điểm a, b, c, đ và i Khoản 1 Điều 28 Luật xử phạt vi phạm hành chính; Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 4 Nghị định 157/2013/NĐ-CP

+ Cục trưởng Cục Kiểm lâm có quyền: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền

Trang 30

25

đến mức tối đa đối với lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; (iii) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; (iv) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn (kể cả hoạt động khai thác khoáng sản trên đất lâm nghiệp) quy định tại Nghị định 157/2013/NĐ-CP; và (v) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điểm a, b, c, đ và i Khoản 1 Điều 28 Luật xử phạt vi phạm hành chính; Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 4 Nghị định 157/2013/NĐ-CP

1.2.5.2 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp được quy định tại Điều 27 Nghị định 157/2013/NĐ-CP, cụ thể:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 5.000.000 đồng; (iii) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị đến 5.000.000 đồng; và (iv) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, b, c và đ Khoản 1 Điều 28 của Luật xử phạt vi phạm hành chính

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng; (iii) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị đến 50.000.000 đồng; (iv) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn (kể cả hoạt động khai thác khoáng sản trên đất lâm nghiệp) quy định tại Nghị định 157/2013/NĐ-CP; và (v) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điểm a, b, c, đ và i Khoản 1 Điều 28 Luật xử phạt vi phạm hành chính; Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 4 Nghị định 157/2013/NĐ-CP

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; (iii) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành

Trang 31

26

chính; (iv) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn (kể cả hoạt động khai thác khoáng sản trên đất lâm nghiệp) quy định tại Nghị định 157/2013/NĐ-CP; và (v) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điểm a, b, c, đ và i Khoản 1 Điều 28 Luật xử phạt vi phạm hành chính; Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 4 Nghị định 157/2013/NĐ-CP

- Cơ quan Kiểm lâm các cấp ở địa phương có trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền quy định

1.2.5.3 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của một số cơ quan chức năng

- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra chuyên ngành được quy định tại Điều 28 Nghị định 157/2013/NĐ-CP của Chính phủ:

+ Thanh tra viên được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 500.000 đồng; (iii) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị đến 500.000 đồng; và (iv) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c, đ Khoản 1 Điều 28 của Luật xử phạt vi phạm hành chính

+ Chánh Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng; (iii) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị đến 50.000.000 đồng; (iv) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn quy định tại Nghị định 157/2013/NĐ-CP; và (v) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điểm a, b, c, đ và i Khoản 1 Điều 28 Luật xử phạt vi phạm hành chính; Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 4 Nghị định 157/2013/NĐ-CP

+ Chánh Thanh tra Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến mức tối đa

Trang 32

27

đối với lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; (iii) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; (iv) Tước quyền

sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động

có thời hạn quy định tại Nghị định 157/2013/NĐ-CP; và (v) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điểm a, b, c, đ và i Khoản 1 Điều 28 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 4 Nghị định 157/2013/NĐ-CP

+ Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 250.000.000 đồng; (iii) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị đến 250.000.000 đồng; (iv) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn quy định tại Nghị định 157/2013/NĐ-CP;

+ Trưởng đoàn thanh tra Tổng cục Lâm nghiệp, Trưởng đoàn thanh tra cấp sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng; (iii) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị đến 50.000.000 đồng; (iv) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn quy định tại Nghị định 157/2013/NĐ-CP;

- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Quản lý thị trường được quy định tại Điều 29 Nghị định 157/2013/NĐ-CP của Chính phủ:

Người có thẩm quyền xử phạt thuộc lực lượng Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Quản lý thị trường quy định tại Điều 39, Điều 40, Điều 45 Luật xử phạt vi phạm hành chính có thẩm quyền kiểm tra, lập biên bản, xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định 157/2013/NĐ-CP nếu thuộc lĩnh vực ngành mình quản lý theo quy định tại Điều 52 Luật xử phạt vi phạm hành chính

Trang 33

28

1.2.5.4 Xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý

và bảo vệ rừng được quy định tại Điều 30 Nghị định 157/2013/NĐ-CP, cụ thể:

- Xác định và phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phụ hậu quả thực hiện theo quy định tại Điều 52 Luật xử phạt vi phạm hành chính

- Trường hợp một hành vi vi phạm hành chính mà tang vật gồm nhiều loại lâm sản khác nhau cả gỗ thông thường và gỗ quý, hiếm; động vật rừng thông thường và động vật rừng quý, hiếm; gỗ và động vật rừng, sau khi tổng hợp tiền phạt (cộng lại) thành tổng số tiền phạt chung, nếu thuộc thẩm quyền

xử phạt vi phạm hành chính của cấp nào thì cấp đó quyết định xử phạt

- Xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính (kể cả lâm sản thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IA, IB) để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thực hiện theo quy định tại Điều 60 Luật xử phạt vi phạm hành chính

- Hành vi vi phạm hành chính gây hậu quả đối với rừng của nhiều địa phương liền kề thì thẩm quyền xử phạt thuộc về địa phương phát hiện vụ vị phạm đầu tiên

- Trường hợp người lập biên bản vi phạm hành chính là người có thẩm quyền thuộc lực lượng Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Quản lý thị trường và Thanh tra chuyên ngành khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền xử phạt của ngành mình thì trong thời hạn 5 ngày kể

từ ngày lập biên bản phải chuyển giao hồ sơ, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính cho cơ quan Kiểm lâm để xử phạt theo quy định

1.2.5.5 Giải quyết những trường hợp vượt thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Những trường hợp vượt thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng được quy định cụ thể như sau:

Trang 34

29

- Trong trường hợp mức phạt tiền đối với vụ vi phạm hoặc tang vật, phương tiện của vụ vi phạm có giá trị vượt thẩm quyền xử phạt của cấp mình, thì người đã thụ lý hồ sơ vụ vi phạm phải chuyển toàn bộ hồ sơ vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền để xử phạt trong thời hạn quy định tại Điều 66 của Luật xử phạt vi phạm hành chính Việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm quy định như sau:

a) Trường hợp vụ vi phạm vượt thẩm quyền xử phạt của nhân viên kiểm lâm thì chuyển đến thủ trưởng trực tiếp

b) Trường hợp vụ vi phạm vượt thẩm quyền xử phạt của Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thì chuyển đến Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm

c) Trường hợp vụ vi phạm vượt thẩm quyền xử phạt của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thì chuyển đến Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi xảy ra vi phạm xử phạt

d) Trường hợp vụ vi phạm vượt thẩm quyền của Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng, thì chuyển Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm xử phạt

đ) Trường hợp vụ vi phạm vượt thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chi cục trưởng Kiểm lâm thì chuyển đến Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xử phạt

e) Trường hợp hành vi vi phạm vượt thẩm quyền xử phạt của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia trực thuộc Cục Kiểm lâm, thì chuyển đến cấp có thẩm quyền (Chi cục Kiểm lâm hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi hành vi vi phạm xảy ra để

xử phạt

- Việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt được thực hiện qua hệ thống cơ quan Kiểm lâm Lâm sản, phương tiện vi phạm đang tạm giữ, cơ quan ra quyết định tạm giữ phải bảo quản tại nơi tạm giữ,

Trang 35

1.2.6.1 Khám người người theo thủ tục hành chính

Biện pháp khám người theo thủ tục hành chính được quy định tại Điều

127 Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012; cụ thể:

- Việc khám người theo thủ tục hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng người đó cất giấu trong người đồ vật, tài liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính

- Thẩm quyền khám người theo thủ tục hành chính:

+ Hạt trưởng Hạt kiểm lâm, Đội trưởng Đội kiểm lâm cơ động có quyền quyết định khám người theo thủ tục hành chính

+ Trong trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu không tiến hành khám ngay thì đồ vật, tài liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính bị tẩu tán, tiêu hủy, thì Kiểm lâm viên đang thi hành công vụ được khám người theo thủ tục hành chính và báo cáo ngay bằng văn bản cho thủ trưởng của mình và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc khám người

- Việc khám người phải có quyết định bằng văn bản, trừ trường hợp cần khám ngay

- Trước khi tiến hành khám người, người khám phải thông báo quyết định cho người bị khám biết Khi khám người, nam khám nam, nữ khám nữ

và phải có người cùng giới chứng kiến

- Mọi trường hợp khám người đều phải lập biên bản Quyết định khám người và biên bản khám người phải được giao cho người bị khám 01 bản

Trang 36

31

1.2.6.2 Tạm giữ người theo thủ tục hành chính:

Tạm giữ người theo thủ tục hành chính được quy định tại Điều 122 Luật xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể:

- Việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác

- Thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính: Hạt trưởng Hạt kiểm lâm, Đội trưởng đội kiểm lâm cơ động và cấp phó của họ (khi cấp trưởng vắng mặt và đã giao quyền bằng văn bản) có quyền quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính

- Mọi trường hợp tạm giữ người đều phải có quyết định bằng văn bản

và phải giao cho người bị tạm giữ một bản

- Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không được quá 12 giờ; trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 24 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm Đối với người vi phạm quy chế biên giới hoặc vi phạm hành chính ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 48 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm

- Theo yêu cầu của người bị tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải thông báo cho gia đình, tổ chức nơi làm việc hoặc học tập của họ biết Trong trường hợp tạm giữ người chưa thành niên vi phạm hành chính vào ban đêm hoặc giữ trên 06 giờ, thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo ngay cho cha mẹ hoặc người giám hộ của họ biết

- Nơi tạm giữ người theo thủ tục hành chính là nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính được bố trí tại trụ sở cơ quan, đơn

vị nơi làm việc của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ người vi phạm hành chính Trường hợp không có nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính thì tạm giữ tại phòng trực ban hoặc phòng khác

Trang 37

32

tại nơi làm việc, nhưng phải bảo đảm các quy định chung Nghiêm cấm việc giữ người vi phạm hành chính trong các phòng tạm giữ, phòng tạm giam hình sự hoặc những nơi không bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người

bị tạm giữ

1.2.6.3 Khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính

Khi có căn cứ để cho rằng trong phương tiện vận tải, bao túi, thùng chứa hàng có cất giấu lâm sản trái phép, Đội trưởng Đội Kiểm lâm đặc nhiệm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR, công chức Kiểm lâm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát lâm sản có quyền sử dụng cờ hiệu, biển hiệu, còi, đèn pin (trường hợp trời tối) báo hiệu yêu cầu người điều khiển phương tiện vận tải trên đường bộ, đường thủy dừng lại để kiểm soát lâm sản

Phương tiện gồm: Các loại xe cơ giới đường bộ, xe mô tô, xe đạp, xe thô

sơ, súc vật, tàu thủy, ca nô, thuyền, các phương tiện khác được sử dụng vận chuyển lâm sản trái pháp luật (Điểm c, Khoản 6, Điều 3 của Nghị định 157/2013/NĐ-CP)

Việc khám phương tiện, đồ vật theo thủ tục hành chính được quy định tại Điều 128 Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012; cụ thể:

- Việc khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng trong phương tiện vận tải, đồ vật đó có cất giấu tang vật vi phạm hành chính

- Thẩm quyền khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính: + Hạt trưởng Hạt kiểm lâm, Đội trưởng đội kiểm lâm cơ động có quyền khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính

+ Trong trường hợp có căn cứ cho rằng nếu không tiến hành khám ngay thì tang vật vi phạm hành chính sẽ bị tẩu tán, tiêu hủy thì Kiểm lâm viên đang thi hành công vụ được khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính và phải báo cáo ngay cho thủ trưởng trực tiếp của mình và phải chịu

Trang 38

- Mọi trường hợp khám phương tiện vận tải, đồ vật đều phải lập biên bản Quyết định khám và biên bản phải giao cho chủ phương tiện vận tải, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vận tải 01 bản

1.2.6.4 Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

Việc khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được quy định tại Điều 129 Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012; cụ thể:

- Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ để cho rằng ở nơi đó có cất giấu tang vật, phương tiện

vi phạm hành chính

- Thẩm quyền khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính: Hạt trưởng Hạt kiểm lâm, Đội trưởng Đội kiểm lâm cơ động có quyền quyết định khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính Trong trường hợp nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là chỗ ở thì đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định

- Khi khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải

có mặt người chủ nơi bị khám hoặc người thành niên trong gia đình họ và người chứng kiến Trong trường hợp người chủ nơi bị khám, người thành niên trong gia đình họ vắng mặt mà việc khám không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và 02 người chứng kiến

- Không được khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp hoặc việc khám đang được thực

Trang 39

34

hiện mà chưa kết thúc nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản

- Mọi trường hợp khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có quyết định bằng văn bản và phải lập biên bản Quyết định

và biên bản khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải được giao cho người chủ nơi bị khám 01 bản

1.2.6.5 Tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng ch hành nghề theo thủ tục hành chính

Tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính được quy định tại Điều 125 Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012; cụ thể như sau:

- Tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp: (i) Để xác minh tình tiết làm căn cứ ra quyết định xử phạt; (ii) để định giá tang vật làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt; (iii) để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội; (iv) để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt Việc tạm giữ phải được chấm dứt ngay sau khi những mục đích trên đã đạt được

- Thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính: Trạm trưởng Trạm kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm, Đội trưởng Đội kiểm lâm cơ động, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Cục trưởng Cục Kiểm lâm

Trong trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu không tạm giữ ngay thì tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tẩu tán, tiêu hủy thì thủ trưởng trực tiếp của Kiểm lâm viên đang thi hành công vụ có quyền tạm giữ ngay tang vật, phương tiện vi phạm hành chính Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi lập biên bản, người lập biên bản phải báo cáo thủ trưởng của mình là người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xem xét ra quyết định;

Trang 40

35

- Thời hạn tạm giữ là 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản tạm giữ; những

vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì tạm giữ tối đa không quá 30 ngày Nếu cần có thêm thời gian để xác minh thì người có thẩm quyền đang thụ lý vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn việc tạm giữ; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày

- Khi tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề phải được lập thành biên bản Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, tình trạng của tang vật, phương tiện bị tạm giữ và phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ, người vi phạm

1.2.7 Vai trò của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý

và bảo vệ rừng

Xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng cũng như xử phạt VPHC trong các lĩnh vực khác, không những để trừng trị chủ thể vi phạm mà quan trọng hơn là để răn đe, giáo dục chính chủ thể vi phạm và tất cả mọi cá nhân, tổ chức khác trong xã hội nhằm ngăn ngừa những hành vi tương tự, hạn chế và khắc phục những thiệt hại xảy ra; đồng thời đảm bảo trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Vai trò của xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng bao gồm:

1.2.7.1 Để trừng trị chủ thể vi phạm và răn đe, giáo dục chung

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng là chủ thể vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất và tinh thần Điều đó đã nói lên mục đích của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực

quản lý và bảo vệ rừng là “trừng trị” chủ thể vi phạm

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

không chỉ có mục đích trừng trị mà quan trọng hơn là để “răn đe, giáo dục”

các chủ thể vi phạm và mọi cá nhân, tổ chức khác nhằm ngăn ngừa những hành vi tương tự, hạn chế và khắc phục những thiệt hại xảy ra

Ngày đăng: 16/11/2016, 10:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2002), Văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
2. Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình (2011, 2012, 2013, 2014, 2015), Báo cáo tình hình vi phạm và xử phạt vi phạm hành chính, UBND tỉnh Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình vi phạm và xử phạt vi phạm hành chính
19. Phạm Dũng, Hoàng Sao (1986), Một số vấn đề về xử phạt hành chính, Nxb Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về xử phạt hành chính
Tác giả: Phạm Dũng, Hoàng Sao
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 1986
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1995
21. Quốc hội Khoá XI (2004), Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
Tác giả: Quốc hội Khoá XI
Năm: 2004
22. Quốc hội Khoá XIII (2012), Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật số 15/2012/QH13, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Quốc hội Khoá XIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
23. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Bình (2012), Báo cáo rà soát, điều ch nh quy hoạch 3 loại rừng t nh Quảng Bình đến năm 2020, UBND tỉnh Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà soát, điều ch nh quy hoạch 3 loại rừng t nh Quảng Bình đến năm 2020
Tác giả: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Bình
Năm: 2012
25. Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BNNPTNT-BNV ngày 25/3/2015, Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về NN&PTNT thuộc UBND cấp t nh, huyện; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về NN&PTNT thuộc UBND cấp t nh, huyện
26. Thông tư số 15/2015/BNNPTNT ngày 26/3/2015 Hướng dẫn về nhiệm vụ của các Chi cục và tổ chức sự nghiệp trực thuộc Sở NN&PTNT; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn về nhiệm vụ của các Chi cục và tổ chức sự nghiệp trực thuộc Sở NN&PTNT
27. Thông tư số 90/2008/TT-BNN ngày 28/8/2008, Hướng dẫn xử phạt tang vật là động vật rừng sau khi xử phạt tịch thu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn xử phạt tang vật là động vật rừng sau khi xử phạt tịch thu
28. Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011, Hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ
29. Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/9/2012, uy định về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật thông thường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: uy định về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật thông thường
30. Thông tư số 01/2012/TT-BNNPTNT ngày 04/01/2012, Quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản
31. Thông tư số 40/2015/TT-BNNPTNT ngày 21/10/2015, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT
32. Thông tư số 137/2010/TT-BTC ngày 15/9/2010, Quy định việc xác định giá khởi điểm của tài sản nhà nước bán đấu giá và chế độ tài chính của hội đồng bán đấu giá tài sản; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định việc xác định giá khởi điểm của tài sản nhà nước bán đấu giá và chế độ tài chính của hội đồng bán đấu giá tài sản
33. Thông tư số 153/2013/TT-BTC ngày 31/10/2013, Quy định về thủ tục thu nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt VPHC; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về thủ tục thu nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt VPHC
34. Thông tư số 173/2013/TT-BTC ngày 20/11/2013, Hướng dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý TVPT VPHC bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý TVPT VPHC bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính
3. Chính phủ (1996), Nghị định số 77/1996/NĐ-CP, Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Khác
4. Chính phủ (2002), Nghị định số 17/2002/NĐ-CP ngày 08/02/2002, Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 77/1996/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Khác
5. Chính phủ (2004), Nghị định số 139/2004/NĐ-CP, Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tên bảng  Trang - Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn tỉnh quảng bình
ng Tên bảng Trang (Trang 5)
Bảng 2.1. Diện tích quy hoạch 3 loại rừng đến năm 2020 phân theo địa - Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn tỉnh quảng bình
Bảng 2.1. Diện tích quy hoạch 3 loại rừng đến năm 2020 phân theo địa (Trang 50)
Bảng 2.3. Số vụ vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng  theo đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn - Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn tỉnh quảng bình
Bảng 2.3. Số vụ vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng theo đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w