Nhưng ngôn ngữ học chức năng hệ thống – một đại diện của hướng tiếp cận ngôn ngữ theo mô hình chức năng đã nghiên cứu ẩn dụ không chỉ ở bình diện từ vựng.. Trong ngôn ngữ học chức
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀM THỊ THUÝ
ÁP DỤNG ẨN DỤ NGỮ PHÁP CỦA HALLIDAY VÀO VIỆC PHÂN TÍCH MỘT SỐ KIỂU CÂU
TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀM THỊ THUÝ
ÁP DỤNG ẨN DỤ NGỮ PHÁP CỦA HALLIDAY VÀO VIỆC PHÂN TÍCH MỘT SỐ KIỂU CÂU
TIẾNG VIỆT
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học
Mã số: 60220240
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Hồng Dương
Hà Nội - 2015
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Đối tượng nghiên cứu 3
3 Tư liệu nghiên cứu 4
4 Mục đích nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu và thủ pháp nghiên cứu 4
7 Ý nghĩa đề tài 4
8 Bố cục của luận văn 5
CHƯƠNG 1 6
CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Dẫn nhập 6
1.2 Sơ lược về ngữ pháp chức năng hệ thống 6
1.2.1 Ngữ pháp chức năng hệ thống 6
1.2.2 Các siêu chức năng trong ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday 8
1.3 Về khái niệm ẩn dụ ngữ pháp Error! Bookmark not defined 1.4 Về các kiểu câu trong tiếng Việt Error! Bookmark not defined 1.5 Tiểu kết Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2 Error! Bookmark not defined
MÔ HÌNH ẨN DỤ CHUYỂN TÁC TRONG CÂU TIẾNG VIỆT Error! Bookmark not defined 2.1 Dẫn nhập Error! Bookmark not defined 2.2 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu Error! Bookmark not defined 2.2.1 Các kiểu quá trình Error! Bookmark not defined 2.2.2 Tham thể và chu cảnh Error! Bookmark not defined 2.3 Mô hình ẩn dụ chuyển tác trong câu tiếng Việt Error! Bookmark not defined.
2.4 Cách lập ngôn ẩn dụ ngữ pháp trong tiếng Việt Error! Bookmark not defined.
2.4.1 Danh hóa động từ Error! Bookmark not defined 2.4.2 Danh hóa tính từ Error! Bookmark not defined 2.5 Tiểu kết Error! Bookmark not defined.
MÔ HÌNH ẨN DỤ LIÊN NHÂN TRONG CÂU TIẾNG VIỆT Error!
Bookmark not defined
3.1 Dẫn nhập Error! Bookmark not defined 3.2 Ẩn dụ thức trong tiếng Việt Error! Bookmark not defined 3.2.1 Câu trần thuật Error! Bookmark not defined 3.2.2 Câu nghi vấn Error! Bookmark not defined 3.2.3 Câu cầu khiến Error! Bookmark not defined.
Trang 43.2.4 Câu cảm thán Error! Bookmark not defined 3.3 Vấn đề tình thái Error! Bookmark not defined 3.3.1 Khái niệm tình thái Error! Bookmark not defined 3.3.2 Một số phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt Error! Bookmark not defined.
3.3.3 Ẩn dụ tình thái Error! Bookmark not defined 3.4 Tiểu kết Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đã từ lâu, các đề tài về ẩn dụ luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm và khai thác Mỗi ngành khoa học như triết học, văn học, nhân chủng học, xã hội học, tâm lí học,… lại tiếp cận lí thuyết ẩn dụ từ một góc nhìn khác nhau Đối với ngôn ngữ học, ẩn dụ được nghiên cứu từ bình diện ngữ nghĩa Có thể nói rằng, các lí thuyết ngôn ngữ học về ẩn dụ lấy lí thuyết nghĩa làm nền tảng nghiên cứu Vì thế, lí thuyết ngữ nghĩa khác nhau dẫn đến các lí thuyết ẩn dụ khác nhau Trong đa số các trường phái ngôn ngữ, ẩn dụ thường được tiếp cận từ bình diện nghĩa từ vựng Điển hình như trong bộ khung ngữ pháp tạo sinh, ẩn dụ được giải thích bằng ngữ nghĩa học thành tố (ẩn dụ được xem là sự chuyển tải các nét nghĩa từ Phương tiện sang Chủ đề) Ngoài ra, còn có lí thuyết ngữ nghĩa ẩn dụ dựa trên lí thuyết trường nghĩa (các khía cạnh trường nghĩa của từ hay ngữ chỉ Phương tiện được chuyển vào từ hay ngữ chỉ Chủ đề) Nhưng ngôn ngữ học chức năng hệ thống – một đại diện của hướng tiếp cận ngôn ngữ theo mô hình chức năng đã nghiên cứu ẩn dụ không chỉ ở bình diện từ vựng Trong ngôn ngữ học chức năng của Halliday, một
khái niệm ẩn dụ mới về ẩn dụ được xây dựng: ẩn dụ ngữ pháp Vì sự khác biệt ấy,
hiện nay ở Việt Nam hiện có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này Vì thế,
chúng tôi lựa chọn đề tài “Áp dụng ẩn dụ ngữ pháp của Halliday vào việc phân
tích một số kiểu câu tiếng Việt” cho nghiên cứu của mình Từ đó xác định rõ ẩn dụ
hoạt động như thế nào và tác động ra sao trong một số thể loại văn bản nói chung và trong một số kiểu câu tiếng Việt nói riêng
Nghiên cứu về ẩn dụ ngữ pháp giúp chúng ta khẳng định rằng ẩn dụ không chỉ nằm trong khuôn khổ của cấu trúc mang tính so sánh , không chỉ nằm trong phạm vi ngữ nghĩa từ vựng mà còn là vấn đề ngữ nghĩa – ngữ pháp và dụng học
2 Đối tượng nghiên cứu
Trang 6Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ẩn dụ ngữ pháp trong một số kiểu câu tiếng Việt
3 Tư liệu nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát một số truyện ngắn của
c tác giả Nguyễn Nhật Ánh (Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Bảy bước đến mùa hè,
Chú bé rắc rối, Phòng trọ ba người, Thiên thần nhỏ của tôi), và hai cuốn: Truyện ngắn hay 2014, Truyện ngắn đặc sắc 2014 (nhiều tác giả)
4 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu và làm sáng rõ ẩn dụ ngữ pháp theo quan niệm của Halliday , cụ thể là tập trung làm nổi bật các phương thức thể hiện mô hình chuyển tác và mô hình liên nhân trong tiếng Việt
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Tìm hiểu và làm rõ khái niệm ẩn dụ , cụ thể là ẩn dụ ngữ pháp theo quan điểm của Halliday để làm cơ sở cho việc nghiên cứu
- Thu thập tư liệu và phân loại các kiểu quá trình
- Phân tích các phương thức thể hiện mô hình ẩn dụ chuyển tác và mô hình
ẩn dụ liên nhân của các kiểu câu tiếng Việt
6 Phương pháp nghiên cứu và thủ pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp miêu tả , phương pháp phân tích ngữ nghĩa ngữ pháp để làm nổi bật các mô hình ẩn dụ ngữ pháp
- Ngoài ra , luận văn còn sử dụng các thủ pháp nghiên cứu như : thủ pháp thống kê, đó là thống kê số lần sử dụng các kiểu câu theo quá trình , các vị từ tình thái, … trên các nguồn tư liệu nghiên cứu
7 Ý nghĩa đề tài
Trang 7- Ý nghĩa lí luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ rằng
ẩn dụ ngữ pháp chính là con đường lập ngôn giúp con người tạo ra những cách biểu hiện ẩn dụ mới, làm cho ngôn ngữ hành chức luôn sống động
- Ý nghĩa thực tiễn : Các kết quả nghiên cứu của đề tài hi vọng phần nào sẽ góp thêm hiểu biết và cách nhìn nhận về ẩn dụ ngữ pháp với sự hành chức của nó trong một số kiểu câu tiếng Việt
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Mô hình ẩn dụ chuyển tác trong câu tiếng Việt
Chương 3: Mô hình ẩn dụ liên nhân trong câu tiếng Việt
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Dẫn nhập
Hiện nay, nghiên cứu về ngôn ngữ học chức năng hệ thống, đặc biệt là nghiên cứu ngữ pháp chức năng là một hướng nghiên cứu được nhiều người quan tâm Lí thuyết chức năng hệ thống có nguồn gốc trực tiếp từ các công trình nghiên cứu của J.R Firth (1890-1960), một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Anh Chương 1 của luận văn tập trung đến các vấn đề lí luận cơ bản của ngữ pháp chức năng hệ thống, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến nội dung chính của ngữ pháp chức năng và các siêu chức năng trong ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday, để từ
đó xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài, làm định hướng để tiến hành khảo sát thực tiễn ở các chương tiếp theo
1.2 Sơ lược về ngữ pháp chức năng hệ thống
1.2.1 Ngữ pháp chức năng hệ thống
Chủ nghĩa chức năng không coi ngôn ngữ như là một tập hợp các quy tắc mà như là một nguồn lực, một cách thức của hành động, hay một hành vi xã hội Nói theo cách nói của Dik (1978), trong chủ nghĩa chức năng, "nó (ngôn ngữ) được xem như là một công cụ của sự tương tác xã hội giữa người với người, được sử dụng với mục đích chủ yếu là thiết lập các mối quan hệ giữa người nói và người nghe" Bình diện này của ngôn ngữ tạo cơ sở cho một số lí thuyết chức năng như ngữ pháp chức năng của Dik, ngữ pháp Tagmemic của Kenneth Pike, ngữ pháp về bình diện câu chức năng (Functional Sentence Perspective) của trường phái ngôn ngữ học Praha, ngữ pháp chức năng của Hagege Pháp, và nổi bật nhất là ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday
Định ngữ “hệ thống” (systemic) trong tên gọi Ngữ pháp chức năng hệ thống nhấn mạnh đến tính hệ thống của những sự chọn lựa khả dụng (available) ở bất kì thời điểm nào trong một cuộc giao tiếp Đó là hệ thống những sự lựa chọn đồng
Trang 9thời về từ vựng-ngữ pháp và ngữ nghĩa khả dụng để biểu thị nghĩa kinh nghiệm, nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản Nói cách khác, hệ thống ngôn ngữ, với tư cách là nguồn lực tạo nghĩa, cung cấp cho chúng ta những sự lựa chọn cần thiết, đảm bảo
có thể biểu đạt các loại nghĩa khác nhau
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt được bắt đầu muộn hơn nhiều so với việc nghiên cứu các ngôn ngữ khác trên thế giới, nhưng những thành tựu mà các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và các nhà ngôn ngữ học nước ngoài nghiên cứu tiếng Việt đã đạt được là đáng kể Việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp chức năng xuất hiện vào những năm của thập niên 80 của
thế kỉ XX qua một số bài viết mang tính chất giới thiệu như: Giới thiệu lý thuyết
phân đoạn thực tại câu của Lý Toàn Thắng (1981), Vấn đề thành phần câu của
Hoàng Tuệ (1988), nhưng công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt theo
quan điểm chức năng có hệ thống đầu tiên là sự ra đời của cuốn sách Tiếng Việt: sơ
thảo ngữ pháp chức năng (quyển 1) của Cao Xuân Hạo (1991) Quan niệm về ngữ
pháp chức năng của Cao Xuân Hạo nhìn chung không khác với quan niệm của các nhà ngữ pháp chức năng trên thế giới như Dik (1978), Martinet (1975), Givón (1979, 1982) Theo ông, ngữ pháp chức năng là "một lí thuyết và một hệ thống phương pháp được xây dựng trên quan điểm coi ngôn ngữ như là một phương tiện thực hiện sự giao tiếp giữa người với người" [ 11] "Ngữ pháp chức năng tự đặt cho mình cái nhiệm vụ nghiên cứu, miêu tả và giải thích các quy tắc chi phối hoạt động của ngôn ngữ trên các bình diện của mặt hình thức và mặt nội dung trong mối liên hệ có tính chức năng (trong mối liên hệ giữa những phương tiện và những mục đích) thông qua việc quan sát cách sử dụng ngôn ngữ trong những tình huống giao
tế hiện thực không phải chỉ để lập những danh sách đơn vị và tiểu hệ thống đơn vị ngôn ngữ, mà còn để theo dõi cách hành chức của ngôn ngữ qua những biểu hiện sinh động của nó trong khi được sử dụng" [ 15-16]
Trang 10Để làm rõ quan điểm chức năng của mình Cao Xuân Hạo viết "Những quy tắc xây dựng cấu trúc ngôn từ cơ bản - câu - được ngữ pháp chức năng trình bày và giải thích trên cơ sở những mối liên hệ khăng khít giữa ngôn ngữ và tư duy trong việc cấu trúc hóa và tuyến tính hóa những sự tình được phản ánh và trần thuật, trong môi trường tác động của những nhân tố đa dạng của những tình huống và văn cảnh, dưới
sự tham gia của những mục tiêu hữu thức hay vô thức của người nói dưới sự chi phối của những công ước cộng tác giữa những người tham dự hội thoại" [ 16]
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về ngữ pháp chức năng hiện nay ở Việt Nam chưa nhiều
1.2.2 Các siêu chức năng trong ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday
Theo Halliday, cú (clause) là sự hiện thực hóa đồng thời của các chức năng
kinh nghiệm (một số tác giả như Hoàng Văn Vân gọi là chức năng tư tưởng/ biểu ý hay siêu chức năng phản ánh), chức năng liên nhân và chức năng văn bản (hay
ngôn bản theo cách gọi của Hoàng Văn Vân) Tuy nhiên không thể chỉ rõ phần nhỏ
này của cú chuyển tải nội dung ngữ nghĩa này, còn phần khác chuyển tải nội dung ngữ nghĩa khác bởi vì chúng thường không được thể hiện trong những cấu trúc riêng biệt, tách rời nhau Trong một cú (clause) có đến ba bình diện cấu trúc, mỗi
bình diện giải thích một loại ý nghĩa khu biệt Halliday gọi ba bình diện này là cú
như là một thông điệp (clause as message), cú như là sự trao đổi (clause as
exchange) và cú như là sự thể hiện (clause as representation)
Halliday nhận thấy ngôn ngữ có ba siêu chức năng, đó là:
Trang 11DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tiếng Việt
1 Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1 và tập
2, NXB Giáo dục
2 Diệp Quang Ban (chb), Hoàng Dân (2001), Ngữ pháp tiếng Việt: Giáo trình
đào tạo giáo viên Trung học cơ sở hệ Cao đẳng sư phạm, NXB Giáo dục
3 Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo Dục
4 Diệp Quang Ban (2008), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục
5 Diệp Quang Ban (2015), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục
6 Đỗ Hữu Châu, Giáo trình Việt ngữ, tập 2, Nxb Giáo Dục, H., 1962
7 Trần Văn Cơ (2007), Ghi chép và suy nghĩ, Nxb KHXH, Hà Nội
8 Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại (in lại và có bổ sung),
Nxb Giáo dục, Hà Nội
9 Đinh Văn Đức (2009), Bàn thêm về một vài khía cạnh dụng pháp của tính từ
tiếng Việt Tạp chí Ngôn ngữ, 2009
10 Đinh Văn Đức (2010), Các bài giảng về từ pháp học tiếng Việt: Từ loại nhìn từ
bình diện chức năng, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
11 Đinh Văn Đức (2013), Ngôn ngữ và tư duy: một tiếp nhận, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội
12 Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội
13 Cao Xuân Hạo (1998),Tiếng Việt - Mấy vấn đề về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ
pháp
14 Nguyễn Văn Hiệp (2004), Về một khía cạnh phát triển của tiếng Việt: Thể hiện
qua hiện tượng ngữ pháp hoá hình thành một số tiểu từ tình thái cuối câu, Tạp
chí Ngôn ngữ, số 11, tr.40-49
15 Nguyễn Văn Hiệp (2006), Về hàm ngôn quy ước (trên tư liệu tiếng Việt), Tạp
Trang 1216 Nguyễn Văn Hiệp (2006), Nghĩa chủ đề và những cách tiếp cận về nghĩa chủ
đề, Tạp chí Ngôn ngữ, số 11, tr.45-56
17 Nguyễn Văn Hiệp (2007), Một số tình thái chủ yếu trong ngôn ngữ, Tạp chí
Ngôn ngữ, số 8, tr.14-28
18 Nguyễn Văn Hiệp (2009), Về một số giải pháp miêu tả bình diện kết học của
câu, Tạp chí Ngôn ngữ số 11, tr.43-55
19 Nguyễn Văn Hiệp (2012), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nxb Giáo Dục,
Hà Nội
20 Nguyễn Lân, Ngữ pháp Việt Nam, lớp 7, Bộ giáo dục xuất bản, H., 1966
21 Vũ Đức Nghiệu (chb), Nguyễn Văn Hiệp (2009), Dẫn luận ngôn ngữ học,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
22 Nguyễn Thị Quy (2002), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt: Vị từ hành động,
NXB Khoa học xã hội
23 Nguyễn Thị Quy (2007), Góp ý một số điểm trong chương trình ngữ pháp tiếng
Việt ở phổ thông, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, tr.78-80
24 Đào Thản (1996), Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật, Nxb KHXH,
Hà Nội
25 Nguyễn Minh Thuyết (chb), Nguyễn Văn Hiệp (2001), Tiếng Việt thực hành,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
26 Nguyễn Minh Thuyết (chb), Nguyễn Văn Hiệp (2014), Thành phần câu tiếng
Việt, NXB Giáo dục, Tái bản lần thứ 1
27 Nguyễn Đức Tồn (2007), Để giúp thêm cho việc dạy khái niệm ẩn dụ Tạp chí
Ngôn ngữ, số 9
28 Nguyễn Đức Tồn (2007), Bản chất của ẩn dụ, Ngôn ngữ, số 10
29 Nguyễn Đức Tồn (2007), Bản chất của ẩn dụ, Ngôn ngữ, số 11
30 Nguyễn Văn Trào (2007), Ẩn dụ thời gian trong sách tiếng Anh hiện đại, Ngôn