Trong các phương tiện truyền thông đại chúng, báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc thông tin một cách kịp thời về tất cả các vấn đề trong xã hội, trong đó có vấn đề phòng chống buô
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐÀO THỊ HIỀN
VẤN ĐỀ BUÔN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM QUA BIÊN GIỚI
PHÍA BẮC TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH
(Khảo sát trên kênh VTV1, ANTV và Đài PT-TH Lạng Sơn,
từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐÀO THỊ HIỀN
VẤN ĐỀ BUÔN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM QUA BIÊN GIỚI
PHÍA BẮC TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH
(Khảo sát trên kênh VTV1, ANTV và Đài PT-TH Lạng Sơn,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Dương Xuân Sơn
Các số liệu, những đánh giá, phân tích, nhận xét, nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và khách quan, chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy, cô cũng như sự động viên, ủng hộ của đồng nghiệp, bạn bè trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Dương Xuân Sơn, người đã giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Báo chí và Truyền thông - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia
Hà Nội) đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các anh/chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Học viên
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU, ẢNH
2.1 Bảng, biểu thống kê số lượng tin bài có nội dung về tuyên truyền
phòng, chống BBPNTE qua biên giới phía Bắc trên 3 chương trình
truyền hình
41
2.2 Bảng, biểu thống kê số lượng tin bài có nội dung về thủ đoạn mà
bọn tội phạm đã sử dụng để BBPNTE qua biên giới phía Bắc trên 3
chương trình truyền hình
47
2.3 Bảng thống kê số lượng tác phẩm sử dụng tiếng động hiện trường
tuyên truyền phòng, chống BBPNTE qua biên giới phía Bắc trên 3
chương trình truyền hình
58
2.4 Bảng, biểu thống kê các thể loại được sử dụng để thông tin về vấn
đề phòng, chống BBPNTE qua biên giới phía Bắc trên 3 chương
trình truyền hình
60
Ảnh
2.1 Thông tin truy nã đối tượng mua bán trẻ em - Bản tin 113 Online 50
2.2 Hỗ trợ tra cứu, xem chương trình Cuộc sống thường ngày – VTV1 66
2.4 Cận cảnh khuôn mặt nạn nhân bị bán sang Trung Quốc 70
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2 CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRUYỀN HÌNH VÀ VẤN ĐỀ BUÔN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM TRÊN TRUYỀN HÌNH 17 1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài 17 1.2 Đường lối quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em 26 1.3 Vai trò của báo chí truyền hình trong việc phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em 35
Tiểu kết chương 1 41
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ BUÔN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM TRÊN TRUYỀN HÌNH 43 2.1 Vài nét về các chương trình truyền hình 43 2.2 Khảo sát vấn đề buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới phía Bắc trên truyền hình 46 2.3 Ưu điểm và hạn chế của 3 kênh truyền hình trong thông tin về phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em 68 2.4 Nguyên nhân hạn chế 81
Tiểu kết chương 2 84
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ TRONG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN PHÕNG CHỐNG BUÔN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM 86 3.1 Nhóm giải pháp chung 86 3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình có nội dung phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em 96
Tiểu kết chương 3 108
KẾT LUẬN 109
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Dương Xuân Sơn
Các số liệu, những đánh giá, phân tích, nhận xét, nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và khách quan, chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Trang 9LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh
sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy, cô cũng như sự động viên, ủng hộ của đồng nghiệp, bạn bè trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Dương Xuân Sơn, người đã giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Báo chí và Truyền thông - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia
Hà Nội) đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các anh/chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Học viên
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Buôn bán người (BBN), trong đó có buôn bán phụ nữ, trẻ em (BBPNTE) là vấn nạn toàn cầu, bắt nguồn từ việc mất cân bằng giới, thất nghiệp và đói kém Vấn nạn này xảy ra tại tất cả các quốc gia trên thế giới, với mức độ khác nhau, trong đó nóng nhất là khu vực Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ
Ngày 30/7/2015, tổ chức chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp quốc (UNODC) đã có bản Báo cáo Toàn cầu về tình hình mua bán người (báo cáo được thực hiện 2 năm/lần) đã chỉ rõ mức độ nghiêm trọng của loại hình tội phạm này Theo đó, trên thế giới hiện có hơn 510 đường dây mua bán người; phát hiện 152 quốc gia là điểm xuất phát và 124 quốc gia là đích đến chịu tác động của nạn mua bán người Cũng theo báo cáo, nạn nhân là trẻ em chiếm 33%, trong đó cứ 3 nạn nhân trẻ em thì có 2 nạn nhân là trẻ em gái Nạn nhân
là nữ chiếm tới 70% số nạn nhân của các vụ mua bán người trên toàn thế giới
Việt Nam có đường biên giới dài, tiếp giáp với 3 nước: Trung Quốc, Lào, Campuchia Đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam mở rộng hợp tác, phát triển kinh tế, tăng cường giao lưu, hữu nghị với các quốc gia Tuy nhiên, đường biên giới dài, hiểm trở, có nhiều đường mòn tự phát là điều kiện để bọn tội phạm xuyên quốc gia dễ dàng hoạt động, trong đó có tội phạm BBPNTE Mặt khác, phần lớn dân số dân tộc ít người ở Việt Nam trình độ dân trí thấp, điều kiện kinh tế chưa phát triển, thiếu việc làm và thất nghiệp còn cao cũng là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng PNTE bị buôn bán Những địa điểm nóng của BBPNTE tập trung tại các tỉnh có đường biên giới giáp với Trung Quốc, gồm: Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn,… Theo thống kê, trong 10 năm qua có 22.000 phụ nữ và trẻ em đã bị bán sang Trung
Trang 11Quốc Tuy nhiên, đây là con số chưa đầy đủ, bởi nhiều nạn nhân do bị đe dọa hoặc mặc cảm, sợ ảnh hưởng đến tương lai nên không dám khai báo, tố cáo
Tội phạm BBPNTE ngày càng gia tăng và có dấu hiệu phức tạp, nguy hiểm làm ảnh hưởng xấu đến phong tục tập quán, đạo đức xã hội, pháp luật của nhà nước, phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp, cướp đi những quyền con người cơ bản nhất của nạn nhân, như: quyền tự do di chuyển, lựa chọn, kiểm soát cơ thể, tinh thần và cả tương lai, cướp đi hạnh phúc của nhiều gia đình, làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội,…
Để đấu tranh, phòng chống BBPNTE, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều giải pháp, chỉ đạo cấp, các ngành, các địa phương Ngoài các biện pháp nâng cao công tác điều tra, truy tố, xét xử còn tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân hiểu được sự ảnh hưởng của BBPNTE đối với cá nhân và toàn xã hội, từ đó đưa ra các biện pháp phòng, chống kịp thời
Trong các phương tiện truyền thông đại chúng, báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc thông tin một cách kịp thời về tất cả các vấn đề trong xã hội, trong đó có vấn đề phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em Qua báo chí người dân được cung cấp thông tin về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các vụ việc, mô hình phòng, chống BBPNTE, giúp người dân có biện pháp phòng chống kịp thời với những thủ đoạn mới của bọn tội phạm
Trong các loại hình truyền thông đại chúng, truyền hình chuyển tải thông tin sống động, hấp dẫn bằng hình ảnh và âm thanh về tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống, được đông đảo người dân đón nhận Ngày nay, nhờ sự phát triển của kỹ thuật - công nghệ, truyền hình có mặt tại tất cả các tỉnh, thành, từ đồng bằng, nông thôn tới biên giới, hải đảo xa xôi, Truyền hình đóng vai trò không nhỏ trong việc góp phần đẩy lùi các hiện tượng xấu, biểu dương những
Trang 12yếu tố tích cực Qua các thông tin trên truyền hình, nhận thức của người dân
sẽ được nâng cao, huy động sức mạnh của toàn dân trong việc đấu tranh, ngăn ngừa với các loại tội phạm trong đó có tội phạm BBPNTE
Nhằm đánh giá kết quả, những ưu điểm, hạn chế trong công tác tuyên truyền phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em trên các kênh truyền hình, để đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tác phẩm trong tuyên truyền phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em Vì những lý do đó,
tác giả chọn đề tài “Vấn đề buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới phía
Bắc trên sóng truyền hình” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề BBPNTE hiện đã và đang diễn ra hết sức phức tạp và gây ảnh
hưởng tới cuộc sống của người dân Trước đây, đã có một số sách, luận văn,
khóa luận, các bài viết trên báo chí nghiên cứu đề tài về đối tượng là PNTE Tuy nhiên, những đề tài này chủ yếu nhằm mục đích thông tin về một số vấn
đề như: bạo lực trẻ em, giáo dục đạo đức, bình đẳng giới cho phụ nữ,…
Trong quá trình tìm hiểu, tác giả chú ý đến một số cuốn sách liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài như:
Phòng, chống buôn bán và mại dâm trẻ em của tác giả Vũ Ngọc Bình,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 Tác phẩm này đề cập tới thực trạng, nguyên nhân của tình trạng buôn bán trẻ em và ảnh hưởng của tệ nạn buôn bán, mại dâm tới sức khỏe, tinh thần của trẻ em Từ đó, đưa ra một số giải pháp đề phòng, chống buôn bán, mại dâm, bảo vệ quyền của trẻ em
Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu của tác giả Lê Thị Quý,
gồm: Phòng, chống buôn bán phụ nữ các tỉnh phía Bắc Việt Nam, Nxb Phụ
nữ, năm 1999; Vấn đề ngăn chặn nạn buôn bán phụ nữ ở Việt Nam, Nxb Lao động – xã hội, năm 2000 và Phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới, Nxb Phụ nữ, năm 2004 Đây là những công trình nghiên cứu sâu về
Trang 13nguyên nhân của tình trạng BBPNTE, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong phân tích về vấn nạn BBPNTE, một số giải pháp để phòng chống BBPNTE,… Dưới góc độ xã hội học, những công trình trên có nhiều giá trị,
là nguồn tư liệu quan trọng giúp tác giả có thêm thông tin “làm nền” cho luận văn của mình
Một số sinh viên và học viên cao học tại Khoa Báo chí và Truyền thông
- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đã chọn đề tài liên quan đến đối tượng là PNTE để làm khoá luận, luận văn tốt nghiệp Điển hình là một số luận văn, khóa luận báo chí:
Vũ Thị Thúy Huyền, Báo chí với vấn đề phòng chống bạo lực trẻ em hiê ̣n nay (Khảo sát báo Lao động và Xã hội , báo Pháp luật Việt Nam , báo
Giáo dục và Thời đa ̣i, báo Thiếu niên Tiền phong và báo Hoa ho ̣c trò, từ tháng 6/2011 đến tháng 6/2012) Luận văn Thạc sĩ Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2012 Trên cơ sở khảo sát, phân tích những thành công và hạn chế trong công tác tuyên truyền về phòng chống bạo lực đối với trẻ em trên các báo Giáo dục và Thời đại, báo Lao động và Xã hội, báo Pháp luật Việt Nam, báo Hoa học trò và báo Thiếu niên Tiền phong Từ đó, đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền phòng chống bạo lực trẻ em trên báo chí nói chung, ở những báo cho trẻ em và chuyên ngành nói riêng
Trần Thị Phương Hoa, Đổi mới công tác tuyên truyền bình đẳng giới cho phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Báo chí, Học
viện Báo chí và Tuyên truyền và Tuyên truyền, 2013 Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về đổi mới công tác tuyên truyền bình đẳng giới cho phụ nữ và khảo sát thực trạng đổi mới công tác tuyên truyền bình đẳng giới cho phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh Từ đó, đề xuất một số phương hướng,
Trang 14giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bình đẳng giới cho phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh
Đỗ Thị Thơm, Hoàn thiện pháp luật về quyền trẻ em ở Việt Nam, Luận
văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2010 Tác giả đã trình bày các văn bản pháp luật liên quan tới quyền trẻ em và phân tích những ưu, nhược điểm, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật về quyền trẻ em ở Việt Nam
Đỗ Trần Quân, Tuyên truyền phòng, chống mua bán phụ nữ và trẻ em trên báo in của lực lượng Công an nhân dân, Luận văn Thạc sĩ Báo chí, Học
viện Báo chí và Tuyên truyền, 2015 Trên cơ sở quan niệm và khung lý thuyết
về vấn đề vai trò của báo chí truyền thông với việc tham gia phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em; Luận văn khảo sát thực trạng vai trò của báo Công an nhân dân với vấn đề tuyên truyền phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em Từ đó, đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của công tác tuyên truyền phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ
và trẻ em trên báo Công an nhân dân
Nguyễn Thị Quỳnh Vinh, Vấn đề phòng, chống tội phạm lừa đảo, mua bán phụ nữ và trẻ em trên báo Công an Nhân dân, Khóa luận, 2008 Trên cơ
sở khảo sát, phân tích vai trò của báo Công an Nhân dân trong việc phòng, chống tội phạm lừa đảo, mua bán phụ nữ và trẻ em, tác giả đã kiến nghị một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của công tác tuyên truyền phòng, chống tội phạm lừa đảo, mua bán phụ nữ và trẻ em trên báo Công an nhân dân
Ngoài ra, đã có nhiều hội thảo được tổ chức nhằm đánh giá thực trạng
và đưa ra giải pháp nhằm giải quyết vấn đề BBN nói chung và BBPNTE nói riêng
Trang 15Trong hội thảo Quốc tế Phòng chống buôn bán người: Viễn cảnh Quốc
tế Asean và Việt Nam do khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Tạp chí Pháp luật và Phát triển, Hội Luật gia Việt Nam tổ chức vào tháng 12/2010, đã đề cập tới vấn đề BBPNTE và một số biện pháp để tăng cường đấu tranh một cách hiệu quả với vấn nạn này
Hội nghị cấp Bộ trưởng ASEAN về vấn đề người di cư bất thường hiện nay trong khu vực Đông Nam Á, tổ chức tại thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia
vào ngày 2/7/2015 Hội nghị đã thảo luận về các hướng hành động tiếp theo
để giải quyết vấn đề di cư bất thường hiện nay, công tác đấu tranh với tội phạm mua bán người và chống di cư bất hợp pháp
Hội thảo Tham vấn ý kiến về lồng ghép giới và phòng, chống mua bán người trong Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) và Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp với Tổ chức Tầm nhìn Thế giới Quốc tế tổ chức ngày 18/6/2015 Tại hội thảo, các chuyên gia đã đánh giá thực trạng gia tăng và diễn biến phức tạp của các tội phạm xâm phạm đến PNTE; tập trung làm rõ những bất cập của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành áp dụng vào thực tiễn trong điều kiện hiện nay
Các sách, luận văn, khóa luận, bài viết nghiên cứu, nội dung tại các hội nghị, hội thảo trên đã phản ánh các đối tượng khác nhau, ở các giai đoạn khác nhau Tuy nhiên, trên thực tế còn ít công trình nghiên cứu, đánh giá, tổng kết kinh nghiệm công tác thông tin tuyên truyền về vấn đề BBPNTE trên
truyền hình Vì vậy, nội dung nghiên cứu: “Vấn đề buôn bán phụ nữ, trẻ em
qua biên giới phía Bắc trên sóng truyền hình” là đề tài mới, chưa có công
trình nào nghiên cứu
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 16Luận văn nhằm mục đích nghiên cứu vấn đề BBPNTE, đánh giá những kết quả của công tác thông tin tuyên truyền về vấn đề BBPNTE qua biên giới phía Bắc trên chương trình Cuộc sống thường ngày (VTV1) - Đài Truyền hình Việt Nam (Đài THVN); chuyên mục Vì an ninh xứ Lạng - Đài PT – TH Lạng Sơn (LSTV) và bản tin 113 Online - kênh truyền hình Công an nhân dân (ANTV) Qua đó, tìm ra những ưu điểm, hạn chế, đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin tuyên truyền phòng, chống BBPNTE
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống một số khái niệm liên quan đến đề tài
Hệ thống các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề BBPNTE
Phân tích, đánh giá vai trò của truyền hình đối với việc thông tin về vấn
Đề xuất và khuyến nghị một số giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò
của truyền hình với việc thông tin về vấn đề phòng, chống BBPNTE
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là thông tin về vấn đề phòng, chống BBPNTE qua biên giới phía Bắc trên các kênh truyền hình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn xác định rõ phạm vi nghiên cứu đề tài là các chương trình Cuộc sống thường ngày, phát kênh VTV1, chuyên mục Vì an ninh xứ Lạng,
Trang 17phát trên kênh LSTV và bản tin 113 Online, phát trên kênh ANTV Thời gian phát sóng từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiê ̣n đề tài , tác giả sử du ̣ng cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
5.1 Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện dựa trên:
Nền tảng lý luận: Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về báo chí, truyền thông
Lý luận báo chí, truyền thông
5.2 Phương pháp cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử và sử dụng các tài liệu thứ cấp:
Để thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành sưu tầm các văn bản pháp luật của Việt Nam và thế giới liên quan đến việc phòng, chống BBN, BBPNTE
Cụ thể: Công ước về quyền trẻ em (1990), Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước về Quyền trẻ em về việc Buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm (2000), Nghị định thư về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (2010), Luật Báo chí năm 1989 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo
chí, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013),
Luật Phòng, chống mua bán người (2011),…
Đồng thời, tập hợp hệ thống tài liệu lý luận từ các sách, tạp chí, các công trình khoa học liên quan đến đề tài
- Phương pháp phân tích nội dung:
Đề tài sử dụng phương pháp này để khảo sát, phân tích nội dung và hình thức của các chương trình truyền hình nhằm đánh giá thực trạng, thành
Trang 18công, hạn chế của việc thông tin tuyên truyền về phòng, chống BBPNTE qua biên giới phía Bắc trên sóng truyền hình trong thời gian thực hiện nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp:
Đề tài nghiên cứu trường hợp chuyên mục của đài PT – TH Lạng Sơn (LSTV), một trong những đài địa phương đại diện cho các cơ quan báo chí ở khu vực miền núi phía Bắc Đồng thời, đề tài khảo sát, nghiên cứu chương trình của Đài truyền hình Việt Nam (VTV) và kênh truyền hình chuyên biệt
về an ninh, trật tự xã hội và pháp luật (ANTV) trong việc thông tin tuyên truyền phòng, chống BBPNTE qua biên giới phía Bắc
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Đề tài phỏng vấn lãnh đạo cơ quan báo chí, phóng viên phụ trách đưa thông tin về phòng, chống BBPNTE, chuyên gia nghiên cứu về vấn đề BBPNTE, để tổng hợp ý kiến và đóng góp ý kiến để nâng cao chất lượng công tác thông tin tuyên truyền phòng, chống BBPNTE
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trang 196.3 Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài góp phần cung cấp cơ sở khoa học đánh giá nghiêm túc việc
tuyên truyền để giải quyết một trong những vấn đề còn tồn tại trong xã hội
Đề tài là tài liệu bổ ích cho các bạn đồng nghiệp tham khảo, áp dụng vào thực tiễn khi thông tin về phòng, chống BBPNTE, định hướng cho người dân sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
Trang 20CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRUYỀN HÌNH VÀ VẤN ĐỀ BUÔN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM TRÊN TRUYỀN HÌNH 1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài
1.1.1 Truyền hình và đặc điểm của truyền hình
Truyền hình ra đời đầu tiên trên thế giới vào khoảng những năm 20 của thế kỷ XX Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công chúng Truyền hình đã góp phần vào việc truyền tải thông tin tới công chúng một cách nhanh chóng, sống động và hấp dẫn
Trong cuốn Giáo trình Báo chí truyền hình của tác giả Dương Xuân
Sơn: “Thuật ngữ Truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là ''ở xa'', còn “videre”
là ''thấy được'', tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa Ghép hai từ đó lại thành “Televidere” có nghĩa là xem được từ xa Tiếng anh là “Television”, Tiếng Pháp là “Television” tiếng Nga gọi là “телевидение” Như vậy, dù phát triển bất cứ ở đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa là nhìn được từ xa” [36, tr.13]
Trong cuốn Truyền thông – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản của tác giả
Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng thì: “Truyền hình là kênh truyền thông, truyền tải thông điệp bằng hình ảnh động với hầu như đầy đủ màu sắc vốn có của cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động Nhờ thế, truyền hình đem lại cho công chúng bức tranh sống động với cảm giác như đang trực tiếp tiếp xúc và cảm thụ” [14, tr.197]
Tác giả Tạ Ngọc Tấn, Nguyễn Tiến Hài trong cuốn Truyền thông đại
chúng nhấn mạnh: “Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải nội dung thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh
Trang 21Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình (television) bắt nguồn từ hai từ “Tele” có nghĩa là ''ở xa'' còn “vision” là ''thấy được'', tức là “thấy được ở xa” Thực chất cội nguồn trực tiếp của truyền hình là điện ảnh Chính điện ảnh đã cung cấp cho truyền hình những ý tưởng, gợi ý đầu tiên về một phương thức truyền thông cũng như một kho tàng những phương tiện biểu hiện phong phú, có sức thuyết phục mạnh mẽ, làm cơ sở cho truyền hình có thể thích ứng nhanh chóng với đặc trưng kỹ thuật riêng của mình” [40,
tr.127]
Trong cuốn Thuật ngữ báo chí - truyền thông của tác giả Phạm Thành
Hưng đã đưa ra định nghĩa: “Truyền hình là hệ thống kỹ thuật, chuyển hình ảnh, tiếng động đi xa qua tín hiệu truyền hình và được tiếp nhận trực tiếp qua màn huỳnh quang Chức năng truyền thông của đài truyền hình là sáng tạo và truyền phát các chương trình truyền hình” [20, tr.220]
Trong cuốn Báo chí Truyền hình (tập 1) tác giả G.V.Cudơnhetxốp,
X.L.Xvích, A.la lurốpxki có viết đặc thù của truyền hình đó là: “khả năng chuyển tải thông tin dưới hình thức những hình ảnh chuyển động, có kèm theo
âm thanh Chúng ta gọi thuộc tính này là tính chất hiện hình trên màn ảnh của truyền hình Nhờ khả năng hiện hình trên màn ảnh, hình ảnh truyền hình được cảm thụ trực tiếp bằng cảm giác, vì vậy tiếp cận được số công chúng rộng rãi nhất” [15, tr.43]
Hai tác giả người Pháp Brigitte Besse Didier Desormeau trong cuốn
Phóng sự truyền hình quan niệm về truyền hình như sau: “Truyền hình đó là hình ảnh, trước hết là hình ảnh Đó là thế mạnh của nó và cũng là cái thu hút những lời phê phán tệ hại nhất (phê phán nó hời hợt) Thế nhưng nếu không
có hình ảnh, truyền hình liệu sẽ trở thành một cái gì khác, không còn là truyền hình nữa Làm thông tin ở truyền hình là cho xem Truyền hình là lời nói: Truyền hình, đó cũng là lời nói, những từ ngữ, một nội dung Làm thông
Trang 22tin trên truyền hình cũng là nói Và nói tức là mô tả bằng cách trả lời những câu hỏi: Ai? Khi nào? Ở đâu? Cái gì? Tại sao?” [7, tr.67 - 68]
Theo Điều 3, Luật Báo chí, được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 12 năm
1989 có giải thích: “báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau)”
Như vậy, có nhiều quan niệm khác nhau của các tác giả ở trong nước
và trên thế giới về truyền hình, có thể hiểu: Truyền hình là phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin về các sự kiện, vấn đề, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan bằng hình ảnh và âm thanh sống động nhờ phương tiện truyền thông truyền hình
Ở Việt Nam, vào ngày 7/9/1970, chương trình truyền hình đầu tiên được phát sóng, trở thành dấu mốc kỷ niệm ngày truyền thống ngành truyền hình Việt Nam Qua hơn 45 năm, truyền hình Việt Nam đã trưởng thành và nhanh chóng phát triển với tiến bộ vượt bậc Theo số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông tại Hội nghị cán bộ báo chí toàn quốc tổng kết công tác năm 2015 và triển khai nhiệm vụ năm 2016, hiện cả nước 66 đài phát thanh, truyền hình (Trong đó có: 02 đài Trung ương, 64 đài địa phương (riêng TP Hồ Chí Minh có 02 đài: Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh và Đài Tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh) Với số lượng như vậy, cơ bản đã đáp ứng nhu cầu người xem truyền hình cho nhân dân Nội dung các chương trình truyền hình đang ngày càng có sự đổi mới theo hướng đa dạng, sinh động, phong phú, hấp dẫn hơn Các chương trình, bản tin thời sự được làm mới, các chương trình chuyên đề về nhiều lĩnh vực và được đầu tư chuyên sâu hơn Một trong những mục tiêu mà ngành truyền hình Việt Nam đang hướng tới là việc đầu tư hiện đại hóa về công nghệ, chuyên nghiệp hóa hoạt động sản xuất chương trình, đa dạng hóa thể loại và loại hình dịch vụ Năm 2011, Chính phủ
Trang 23đã phê duyệt và triển khai đề án số hóa phát thanh truyền hình Việt Nam đến năm 2020, nhằm phục vụ nhu cầu tiếp nhận thông tin ngày càng cao của công chúng
Ngay từ khi ra đời, truyền hình đã khẳng định vai trò là loại hình báo chí hiện đại, thiết yếu trong đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng, phong phú, sinh động về tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội, Thông tin về con người, sự kiện, hiện tượng được phản ánh ngay khi vừa mới diễn ra thậm chí là đang diễn ra Do vậy truyền hình trở thành một phương tiện nghe - nhìn phổ biến, có độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện, vấn đề
Mặc dù ra đời muộn so với các loại hình báo chí khác nhưng truyền hình là một trong những phương tiện truyền thông có nhiều ưu thế: tính thời
sự, sinh động, hấp dẫn lan tỏa Điều này, giúp việc tuyên truyền phòng, chống BBPNTE tới công chúng trở nên dễ dàng
Tính thời sự
Tính thời sự có thể hiểu là những sự việc, sự kiện vừa mới xảy ra, đang xảy ra và sắp xảy ra Thông tin mang tính thời sự là đòi hỏi của xã hội và tự thân báo chí Nếu không có tính thời sự, báo chí sẽ không thể tồn tại và phát triển, bởi cơ quan báo chí nào đưa thông tin nhanh thì sẽ thu hút được sự quan tâm theo dõi của công chúng
Tính thời sự là điểm chung của báo chí nhưng truyền hình với tư cách
là một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có khả năng thông tin
nhanh chóng, kịp thời Bởi “Với truyền hình, sự kiện được phản ánh ngay lập tức khi nó vừa diễn ra thậm chí nó đang diễn ra, người xem có thể quan sát một cách chi tiết, tường tận qua truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình Bên cạnh đó, truyền hình có khả năng phát sóng liên tục 24/24h trong ngày, luôn mang đến cho người xem những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện diễn
Trang 24ra, cập nhật những tin tức mới nhất Đây là ưu thế đặc biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác” [36, tr.15]
Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, truyền hình là loại hình báo chí cung cấp thông tin nhanh, có độ tin cậy cao thậm chí công chúng
có thể theo dõi trực tiếp hình ảnh và âm thanh sống động khi sự kiện, sự việc đang diễn ra Nhờ ưu thế về tính thời sự, khi tuyên truyền phòng, chống tội phạm trong đó có tội phạm BBPNTE, các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các thủ đoạn của bọn tội phạm, những vụ việc vừa mới xảy được thông tin một cách kịp thời, giúp công chúng tiết kiệm thời gian, tiền bạc và có các biện pháp phòng ngừa kịp thời và hiệu quả
Tính hấp dẫn, chân thực, cụ thể
Trong các loại hình báo chí (báo in, phát thanh), truyền hình ra đời khá muộn, nó là sản phẩm của nền văn minh khoa học công nghệ phát triển Truyền hình đã thừa hưởng kinh nghiệm và phương pháp tạo hình của điện ảnh và âm thanh của phát thanh Nếu như công chúng chỉ có thể tiếp nhận thông tin bằng thị giác đối với báo in, thính giác đối với phát thanh thì đối với truyền hình, khán giả tiếp nhận thông tin bằng cả hai giác quan là thính giác
và thị giác Hơn nữa, hình ảnh trên truyền hình có tính sinh động, hấp dẫn, xác thực bởi hình ảnh của truyền hình là hình ảnh động, trong khi đó hình ảnh của báo in là hình ảnh tĩnh
Khi tuyên truyền về vấn đề phòng, chống BBPNTE qua hình ảnh và âm thanh của truyền hình khán giả có thể theo dõi cụ thể diễn biến của các vụ việc, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm BBPNTE, nhìn thấy gương mặt của tội phạm BBPNTE và nghe thấy lời khai của bọn chúng,
Để tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, phòng chống các loại tội phạm trong đó có tội phạm BBPNTE trên truyền hình đạt được hiệu quả cao đòi hỏi các chương trình cần phải xây dựng các bản tin, chuyên mục, cập
Trang 25nhật thông tin một cách kịp thời, sáng tạo, sinh động, hấp dẫn về công tác phòng ngừa, đấu tranh tội phạm để tạo cho người dân có thói quen tìm hiểu pháp luật, điều chỉnh các hành vi theo pháp luật về phòng chống tội phạm
Tác động lan tỏa rộng khắp
Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, truyền hình ngày càng
mở rộng phạm vi phủ sóng, phục vụ được nhiều đối tượng người xem ở vùng
sâu vùng xa, có thể truyền tải thông hàng tỉ người xem cùng một lúc “Tính quảng bá của truyền hình còn thể hiện ở chỗ một sự kiện xảy ra ở bất kỳ đâu được đưa lên vệ tinh sẽ truyền đi khắp cả thế giới, được nhiều người biết đến Ngày nay ngồi tại phòng nhưng người ta vẫn có thể nắm bắt được sự kiện diễn ra trên thế giới” [36, tr.16]
Với thế mạnh thông tin một cách nhanh chóng, hấp dẫn, dễ hiểu và lan tỏa,… truyền hình đang chiếm được thiện cảm của công chúng Qua các chương trình truyền hình, công chúng biết thông tin về các vụ việc sai trái, coi thường pháp luật hoặc không hiểu pháp luật đã dẫn đến những hậu quả khó lường cho cá nhân, gia đình và xã hội Từ các vụ việc được thông tin một cách sống động, dễ hiểu trên truyền hình có tác động mạnh tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm của mỗi người, khiến họ phải tự điều chỉnh hành vi của mình theo quy định của pháp luật Hiện nay, khi tội phạm BBPNTE hoạt động với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi thì việc tuyên truyền tới người dân ở tất cả các địa phương nhất là ở vùng sâu, vùng xa là vô cùng cần thiết, giúp phòng chống những vụ việc đáng tiếc xảy ra
Tóm lại, truyền hình đóng vai trò vô cùng quan trọng, giúp cung cấp thông tin một cách nhanh chóng, sinh động, hấp dẫn, lan tỏa rộng khắp tới công chúng về tất cả các lĩnh vực trong đời sống, xã hội, góp phần cung cấp thông tin, định hướng dư luận,…
Trang 261.1.2 Khái niệm mua bán người, buôn bán phụ nữ, trẻ em
Từ khi xã hội loài người bước vào giai đoạn phát triển hình thái kinh tế
xã hội chiếm hữu nô lệ đã xuất hiện việc trao đổi, mua bán người Ban đầu, con người bị trao đổi, lựa chọn, mua bán như hàng hóa và việc mua bán người được thực hiện một cách công khai, thường xuyên tại các địa điểm công cộng Người bị bán làm nô lệ có thể là người nghèo hoặc tù nhân bị bắt sau các cuộc chiến tranh Họ phải làm việc cực nhọc trong hầm mỏ, công trường, nông trại,… Nhưng họ còn không được coi là một con người, một công dân bởi bị kiểm soát gắt gao Ví như, họ không được tự do thân thể, không được sở hữu tài sản, vũ khí, không được đi học, không được tự do tụ họp, không được di chuyển nếu không được sự cho phép của chủ nô Họ bị đối xử thô bạo, số phận nằm trong tay chủ nô, do chủ nô định đoạt Ở một số quốc gia thời phong kiến, việc trao đổi phụ nữ cũng sớm được thực hiện vì lợi ích chính trị, kinh tế,…
Hiện nay, tệ nạn mua bán người vẫn còn tồn tại trên phạm vi toàn cầu
và đang có chiều hướng gia tăng tới mức đáng lo ngại Hành vi buôn bán người không chỉ gây ảnh hưởng tới cuộc sống của nạn nhân và gia đình họ mà còn gây ảnh hưởng không nhỏ tới trật tự an ninh, xã hội
Xác định được mức độ nghiêm trọng đối với thể xác và tinh thần của các nạn nhân bị buôn bán và đối với xã hội, nên nhiều nước đã sớm ban hành những văn bản quy phạm pháp luật để tạo ra cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc đấu tranh và phòng, chống tệ nạn buôn bán người Mặc dù vậy, đến nay trong khoa học cũng như trong thực tiễn vẫn chưa có khái niệm thống nhất về khái niệm buôn bán người, buôn bán phụ nữ, trẻ em
Từ năm 1949, Liên Hiệp Quốc đã đưa ra Công ước về trấn áp việc buôn
bán người và bóc lột mại dâm người khác theo đó: “….mại dâm và tệ nạn đi kèm với nó là buôn bán người vì mục đích mại dâm là trái với nhân phẩm, giá
Trang 27trị con người và đe dọa đến hạnh phúc của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng”
Tại điều 3, Nghị định thư về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là BBPNTE, bổ sung công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của Liên hợp Quốc (được thông qua và mở cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 55/25 ngày 15/11/2000):
a) “Buôn bán người” có nghĩa là việc mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay
đe dọa sử dụng vũ lực hay bằng hình thức ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gạt, hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ tổn thương hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người đang kiểm soát những người khác Hành vi bóc lột sẽ bao gồm, ít nhất, việc bóc lột mại dâm những người khác hay hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay phục vụ cưỡng bức nô lệ hay những hình thức tương tự như nô lệ, khổ sai hoặc lấy các bộ phận cơ thể;
b) Sự chấp thuận của một nạn nhân của việc buôn bán người đối với sự bóc lột có chủ ý được nêu trong khoản (a) là không thích đáng nếu bất kỳ cách thức nào được nêu trong khoản (a) đã được sử dụng;
c) Việc mua, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận một đứa trẻ nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là “buôn bán người” ngay cả khi việc này được thực hiện không cần đến bất kỳ hình thức nào được nói trong khoản (a) điều này;
d) “Trẻ em” có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi”
Trong Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước về Quyền trẻ
em về việc Buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm
năm 2000 có định nghĩa: “Buôn bán trẻ em có nghĩa là bất kỳ hành động hoặc
Trang 28giao dịch nào mà qua đó mà trẻ em bị chuyển giao từ bất kỳ một người hay một nhóm người nào hay bất kỳ một người hay một nhóm người khác để lấy tiền hay một giá trị trao đổi gì khác”
Trong những năm qua, cùng với các nước trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng chống mua bán người
Trong pháp luật quốc tế hiện nay, các văn bản thường sử dụng khái niệm buôn bán người Ở Việt Nam các văn bản hiện hành chủ yếu sử dụng
khái niệm "mua bán phụ nữ và trẻ em" hoặc "mua bán người", điều đó được
thể hiện trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009), tại các Điều 119 và 120 Tuy nhiên, tại hai Điều luật này cũng không đưa ra định nghĩa về hành vi mua bán người
Trong Nghị định Quy định căn cứ xác định nạn nhân bị mua bán và bảo
vệ cho nạn nhân, người thân thích của họ (Điểm a, khoản 1, Điều 5), “mua
bán người” được hiểu là: “Coi người như một loại hàng hóa để trao đổi bằng tiền hoặc lợi ích vật chất khác”
Cho đến nay, mới có một văn bản đề cập đến định nghĩa về mua bán trẻ
em, đó là Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 1985 Theo Nghị quyết này thì thuật ngữ:
“Mua bán trẻ em” được hiểu là “việc mua hoặc bán trẻ em vì mục đích tư lợi,
dù là mua của kẻ đã bắt trộm hay mua của chính người có con đem bán Hành vi mua trẻ em khi biết rõ là đứa trẻ bị bắt trộm cũng bị xử lý về tội mua bán trẻ em Tòa án cần phân biệt loại tội phạm này với trường hợp bố mẹ vì đông con hoặc vì hoàn cảnh khó khăn đặc biệt như quá nghèo khổ không nuôi được con mà phải bán con mình (dưới hình thức cho làm con nuôi và nhận số
Trang 29tiền giúp đỡ) hoặc trường hợp vì hiếm con mà mua của người có con đem bán
để về nuôi thì cũng không coi là phạm tội”
Bên cạnh thuật ngữ “mua bán người”, “mua bán phụ nữ và trẻ em” thì thuật ngữ “buôn bán phụ nữ, trẻ em” xuất hiện trong một số văn bản quy phạm pháp luật của nước ta, đó là: khoản 2 Điều 130 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 quy định: “Nghiêm cấm lợi dụng việc kết hôn có yếu tố nước ngoài để buôn bán phụ nữ…”
Như vậy, tổng hợp các khái niệm của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về mua bán người có thể hiểu BBPNTE là hành vi lừa dối, ép buộc,
đe dọa, nhằm tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp và giao nhận phụ nữ, trẻ em
từ một người, một nhóm người này cho một người hay một nhóm người khác
để lấy tiền hoặc lợi ích vật chất
1.2 Đường lối quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em
1.2.1 Tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em ở biên giới phía Bắc
Biên giới phía Bắc nước ta giáp Trung Quốc với chiều dài hơn 1.460
km, kéo dài từ Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh Tiếp giáp với 7 tỉnh biên giới Việt Nam là hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc Khu vực này có cấu trúc địa hình tương đối phức tạp, gồm nhiều dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, khối núi, cao nguyên Nhiều ngọn núi có độ cao trên 2.000 mét, trong đó Phan Xi Păng là cao nhất, lên tới 3.143 mét
Khu vực này cũng có một số tài nguyên khoáng sản phong phú, với trữ lượng lớn than ở Quảng Ninh, Apatit ở Lào Cai Ngoài ra, khu vực này còn có các loại khoáng sản như: pirit, vàng, đá quý, đất hiếm, đá vôi xi măng, Đây cũng là những loại khoáng sản có tiềm năng, là thế mạnh để phát triển công nghiệp khai khoáng và chế biến khoáng sản của vùng và cả nước
Trang 30Tuy khu vực này có triển vọng về tài nguyên rừng, nhưng do sự khai thác không có kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng bền vững, tình trạng đốt rừng làm nương làm rẫy còn thường xuyên diễn ra Điều này khiến cho diện tích che phủ của rừng bị giảm sút nghiêm trọng, nhiều vùng rừng bị biến thành đất hoang cằn cỗi Kéo theo đó là dòng chảy của các con sông bị biến đổi, hiện tượng xói lở, lũ ống, lũ quét trở nên thường xuyên hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến vùng dân cư cả khu vực miền núi và đồng bằng
Các tỉnh biên giới phía Bắc là nơi tập trung của nhiều dân tộc ít người, như: Thái, Tày, Nùng, Dao, HMông,… Đồng bào các dân tộc nơi đây, còn lưu giữ được nhiều bản sắc văn hóa truyền thống
Theo Hiệp định về Cửa khẩu và Quy chế quản lý cửa khẩu biên giới đất liền Việt - Trung, ký ngày 18/11/2009, chính thức có hiệu lực từ ngày 14/7/2010, số lượng cửa khẩu được 2 bên chính thức công nhận là có 9 cặp cửa khẩu (5 cửa khẩu quốc tế và 4 cửa khẩu song phương) và 13 cặp cửa khẩu
sẽ được mở thêm khi có đủ điều kiện, ngoài ra còn có rất nhiều đường mòn tự phát Nhân dân hai bên biên giới thường trao đổi, giao thương với nhau Địa hình đường biên khá hiểm trở, phức tạp, nhiều đường mòn, đường tắt nối hai bên biên giới Trong khi đó, chúng ta chưa có đủ điều kiện xây dựng, bố trí các công trình kỹ thuật để quản lý biên giới một cách chặt chẽ, công tác quản
lý còn nhiều sở hở nên bọn tội phạm thường lợi dụng để thực hiện các hành vi phạm tội trong đó có đưa người, đặc biệt là PNTE xuất cảnh trái phép qua biên giới bán hoặc qua các đường mòn tự phát ở biên giới phía Bắc là nơi trung chuyển buôn bán người sang Trung Quốc Mặt khác, trình độ dân trí chưa cao, điều kiện kinh tế chưa phát triển, thiếu việc làm, cũng là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng PNTE bị buôn bán
Thời gian qua, các ngành, các cấp, các địa phương đã áp dụng các biện pháp quyết liệt, nhưng tình trạng BBPNTE qua biên giới phía Bắc vẫn không
Trang 31có dấu hiệu giảm Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, chỉ tính riêng trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, từ năm 2013 đến hết quý III năm 2015 đã xảy ra 705 vụ với 1.015 đối tượng, lừa bán trên 1.000 nạn nhân, chủ yếu xảy ra ở các tỉnh: Lào Cai, Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2015, đã có 28 vụ việc được phát hiện Những con số trên chưa đầy đủ, bởi còn rất nhiều vụ việc chưa được phát hiện, nhiều nạn nhân sau khi trốn thoát trở về do sợ trả thù, ảnh hưởng tới cuộc sống sau này nên đã không khai báo, tố giác tội phạm
Theo PGS.TS Lê Thị Quý - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giới và Phát
triển: “Phần lớn nạn nhân bị bán qua biên giới phía Bắc để làm vợ hoặc phục
vụ trong các động mại dâm Nạn nhân không những bị mất đi quyền tự do mà còn bị coi như là những món hàng, những vật sở hữu của bọn buôn người”
1.2.2 Quan điểm của Đảng về phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em
Đảng ta luôn quan tâm quyền con người, với quan điểm: “Mọi người
có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất
kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh
dự, nhân phẩm” [Khoản 1, điều 20, Hiến pháp năm 2013]
Quan điểm nhất quán của Đảng trong đấu tranh, phòng chống tội phạm bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là phải huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, sử dụng đồng bộ các biện pháp để phòng ngừa, chủ động tấn công ngăn chặn mọi hành động phạm tội Mỗi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân theo chức năng nhiệm vụ của mình đều có trách nhiệm tham gia vào công tác phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm BBPNTE nói riêng
Đấu tranh, phòng chống tội phạm BBPNTE đã được xác định là một trong những nội dung quan trọng Quyết định 138/1998/QĐ-TTg của Thủ
Trang 32tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm được ngày 31/7/1998
Để thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm BBPNTE cần phải quán triệt thực hiện các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo dưới đây của Đảng:
- Phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em là vấn đề mang tính toàn xã hội cao phải đặt trong mối quan hệ giữa phòng, chống tội phạm với giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng,
sự quản lý thống nhất của chính quyền, huy động sự tham gia của các ngành, đoàn thể xã hội
- Lấy phòng ngừa là chính; kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa với đấu tranh xử lý tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em và tái hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và pháp luật quốc tế
- Mục tiêu là tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong các cấp các ngành, đoàn thể và toàn xã hội về công tác phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em Đồng thời, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn và giảm cơ bản tình trạng phụ nữ và trẻ em bị buôn bán
Thực hiện quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về
phòng chống BBPNTE, các bộ, ban, ngành từ TƯ tới địa phương đã có nhiều
biện pháp, chính sách phù hợp để đảm bảo an ninh trật tự; phối hợp tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách liên quan đến hoạt động BBN, trong đó có BBPNTE với nhiều nội dung, hình thức phong phú, đa dạng Ví như lồng ghép với các buổi họp của thôn bản, tổ dân phố, nhà trường, nói chuyện chuyên đề cho học sinh, sinh viên, đoàn viên thanh niên, hội viên phụ nữ để tuyên truyền phương thức, thủ đoạn và hậu quả của tội phạm BBPNTE và cảnh báo nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm
Trang 33BBPNTE; tổ chức phát động các phong trào quần chúng tích cực tham gia phòng, chống tội phạm BBPNTE, viết cam kết gia đình không có người tham gia hoạt động BBPNTE, động viên nạn nhân và gia đình họ tố giác tội phạm; công an các địa phương giáp biên giới đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội biên phòng tổ chức tốt việc tiếp nhận nạn nhân, phân loại đối tượng phục vụ công tác giải cứu nạn nhân bị lừa bán và điều tra, bắt giữ, xử lý các đối tượng phạm tội, tổ chức tiếp nhận và tái hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân là phụ nữ bị mua bán trở về để nhanh chóng ngăn chặn và dẹp trừ tệ nạn nguy hiểm này
1.2.3 Pháp luật của Nhà nước Việt Nam về phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em
Theo Từ điển Tiếng Việt giải thích: “pháp luật là những quy phạm hành vi do nhà nước ban hành mà mọi người dân buộc phải tuân theo, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo vệ trật tự xã hội” [28, tr.951]
“Pháp luật còn được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự chung, do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện Nói cách khác, pháp luật cũng chính là
hệ thống các quy phạm pháp luật” [10, tr.35]
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, là phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, ổn định của xã hội, góp
phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Pháp luật không chỉ là một công cụ
quản lý tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa,
mà còn bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân bởi nó xuất phát nhu cầu khách quan của các tầng lớp nhân dân
Ở nước ta, vai trò của pháp luật đã được ghi nhận tại Điều 12, Hiến
pháp năm 1992 là: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”
Ở Việt Nam, pháp luật là công cụ để giữ vững an ninh, trật tự an toàn
xã hội; là phương tiện mà thông qua đó Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xã
Trang 34hội; là cơ sở pháp lý để bộ máy nhà nước Việt Nam tổ chức và hoạt động; là công cụ để Nhà nước quản lý hiệu quả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội; là công cụ để thiết lập, bảo đảm công bằng xã hội, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; là phương tiện giáo dục con người mới; tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc hình thành những quan hệ mới trong xã hội; là công cụ bảo
vệ hữu hiệu quyền công dân, quyền con người; đồng thời pháp luật bảo vệ, tạo điều kiện cho những công cụ quản lý xã hội khác phát triển vì xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Để phòng chống tội phạm BBPNTE, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật phòng, chống tội phạm BBPNTE như:
Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định Tội mua bán người (Điều 119)
và Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120) Bộ luật được xây dựng trên cơ sở Bộ luật Hình sự 1985 (sửa đổi bổ sung năm 2009) Theo
đó, mua bán người là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác
để trao đổi người (từ đủ 16 tuổi trở lên) như một loại hàng hóa Ngoài ra, mua
bán trẻ em là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi trẻ em (người dưới 16 tuổi) như một loại hàng hóa
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2005, thay thế Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
năm 1991 Tại điều 7 có quy định nghiêm cấm hành vi: “Hành hạ, ngược đãi, làm nhục, chiếm đoạt, bắt cóc, mua bán, đánh tráo trẻ em; lợi dụng trẻ em vì mục đích trục lợi; xúi giục trẻ em thù ghét cha mẹ, người giám hộ hoặc xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của người khác;”
Luật Hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm
2000 Trong điểm 5, Điều 69 của có hiệu lực từ ngày 01 tháng 1 năm 2001, tại điểm 5 điều 69 có quy định điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi
“Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con
Trang 35chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xóa án tích về một trong các tội
cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán; đánh tráo chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội”
Pháp lệnh phòng, chống mại dâm có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm
2003 Tại điểm 2 Điều 24 có yêu cầu xử lý đối với người có hành vi liên quan
đến mại dâm “Người môi giới mại dâm, chứa mại dâm, cưỡng bức mại dâm,
tổ chức mại dâm, mua bán phụ nữ trẻ em để phục vụ hoạt động mại dâm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự”
Quyết định số 130/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình hành động, phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ
em từ năm 2004 – 2010, phê duyệt ngày 14 tháng 7 năm 2004 Theo đó, đưa
ra 4 đề án phòng ngừa: Đề án phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm BBPNTE do Bộ Công an và Bộ Tư lệnh Biên phòng thực hiện Đề án tuyên truyền, giáo dục cộng đồng về phòng chống tội phạm do Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam chủ trì Việc tiếp nhận những nạn nhân là PNTE từ nước ngoài trở về do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đảm nhiệm Công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến việc phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm BBPNTE do Bộ Tư pháp chủ trì Ngoài ra, Bộ Tài chính và
Bộ Kế hoạch & Đầu tư cũng có trách nhiệm thực hiện những công việc liên quan
Ngày 29/03/2011, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật phòng, chống mua bán người (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012) Luật gồm 8 chương với 58 điều, quy định việc phòng ngừa, phát
Trang 36hiện, xử lý hành vi mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người; tiếp nhận, xác minh, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân; hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người; trách nhiệm của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương trong công tác phòng, chống mua bán người
Trong năm 2011, Thủ tướng phê duyệt Chương trình hành động phòng,
chống tội phạm mua bán người giai đoạn 2011 - 2015 (18/8/2011 trong Quyết
định số 1427/QĐ-TTg)
Do tính chất hoạt động xuyên quốc gia của tội phạm BBPNTE thời gian qua, các Bộ, ngành của Việt Nam đã tăng cường phối hợp chặt chẽ với nhiều tổ chức quốc tế như UNICEF, ILO, IOM, UNODC, UNIAP,… để đấu tranh, phòng chống mua bán người Đặc biệt, Việt Nam đã tham gia các hoạt động của Chương trình hành động về phòng, chống BBN của tiểu vùng sông MêKông từ năm 2005- 2007 (COMMIT)
Việt Nam đã tích cực tham gia vào việc xây dựng, thông qua và đã ký Công ước loại bỏ các hình thức phân biệt đối xử của phụ nữ (CEDAW) vào 29/7/1980, phê chuẩn Công ước CEDAW ngày 17/02/1982 Theo đó, Công ước khẳng định tất cả các hình thức phân biệt đối xử đều bị lên án Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp, kể cả biện pháp pháp luật nhằm đảm bảo cho phụ nữ được thực hiện, thụ hưởng các quyền con người và tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng với nam giới
Ngày 20 tháng 02 năm 1990, Việt Nam ký Công ước quốc tế về quyền trẻ em Đây là một văn bản pháp luật quốc tế nhằm bảo vệ trẻ em mà tất cả mọi người cần thực hiện Khi một quốc gia ký và phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em thì chính phủ của quốc gia đó phải tuân thủ điều ước quốc tế đó
để đạt được một số các tiêu chuẩn cơ bản nhất cho trẻ em Công ước này, đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào ngày 20/11/1989
Trang 37Công ước của Liên hiệp quốc về chống tội phạm có tổ chức liên quốc gia (ký 13/12/2000) Công ước này nhằm liên kết giữa các quốc gia, chủ động tấn công, ngăn chặn sớm tội phạm nhất là các băng nhóm tội phạm có tính chất xuyên quốc gia như: khủng bố, mua bán người, rửa tiền, mua bán ma túy
và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác,…
Ngoài ra, chúng ta cũng đã ký các thỏa thuận song phương với một số quốc gia liên quan đến việc hợp tác trong đấu tranh phòng, chống một số loại tội phạm, trong đó có tội mua bán người Việt Nam tham gia và ký kết Văn kiện ghi nhớ và Kế hoạch hành động 06 nước Tiểu vùng sông Mê Kông (Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Mianma và Việt Nam) Ký Hiệp định song phương với Campuchia (2005); Việt Nam - Thái Lan (2008), Việt Nam - Trung Quốc (2010) Ngoài ra, Việt Nam đã ký 15 hiệp định song phương và
13 hiệp định tương trợ tư pháp về phòng, chống tội phạm với các nước, trong
đó đều có nội dung phòng, chống tội phạm mua bán người
Ngày 15 tháng 12 năm 2010 tại Vương quốc Hà Lan, được sự ủy quyền của Chính phủ, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước CHXHCN Việt Nam tại Vương quốc Hà Lan đã ký Công ước Bảo vệ và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế Đây là một trong số 38 công ước quốc tế về tư pháp quốc tế trong khuôn khổ Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế Hiện tại, Công ước có
81 quốc gia thành viên
Ngày 27/8/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 1497/QĐ – TTg về Kế hoạch Hành động Quốc gia triển khai thực hiện Hiệp định giữa chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hoàng gia Campuchia để loại trừ nạn BBPNTE và giúp đỡ nạn nhân bị buôn bán Kế hoạch hoạt động cho giai đoạn 2013 đến hết năm 2015 bao gồm 6 lĩnh vực: trao đổi thông tin và hợp tác giữa hai quốc gia, giáo dục pháp luật, xác định
và bảo vệ các nạn nhân của nạn mua bán người, truy tố tội phạm mua bán
Trang 38người, nâng cao năng lực cho cán bộ liên quan đến các quy trình chuẩn ký kết năm 2009, và tăng cường hợp tác quốc tế Mỗi lĩnh vực được giao cho một cơ quan chính làm đầu mối và cơ quan ban, ngành khác sẽ trình kế hoạch ngân sách cho việc thực hiện các mục tiêu kế hoạch hoạt động
Hành vi BBN trong đó có BBPNTE xâm phạm đến những quyền cơ bản của con người, nhân phẩm, đạo đức thuần phong mỹ tục của dân tộc ta, gây ảnh hưởng tới ninh trật tự của đất nước Chính vì vậy, cùng với việc lãnh đạo nhân dân thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta cần quan tâm hơn nữa đến công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ phụ nữ, trẻ em
1.3 Vai trò của báo chí truyền hình trong việc phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em
Truyền thông ra đời ra đời do nhu cầu tiếp nhận thông tin của con người Theo tác giả Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng trong cuốn Truyền
thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, quan niệm: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường tính hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu
phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội” [14, tr.33]
Theo tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang trong
cuốn Cơ sở lý luận báo chí truyền thông: “Thuật ngữ truyền thông có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Commune” có nghĩa là chung hay cộng đồng Nội làm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau, giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, xã hội” [37,
tr.7]
Trang 39Mô hình truyền thông [37, tr.21]
Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong phòng, chống BBPNTE, giúp người dân nắm bắt thông tin về về tính chất, thủ đoạn phức tạp của tệ nạn này, đồng thời, tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm đối với cá nhân và toàn xã hội trong đấu tranh, phòng chống tội phạm BBPNTE
Trong các phương tiện truyền thông đại chúng, báo chí đóng vai trò quan trọng, giúp thông tin một cách kịp thời, phong phú, đa dạng về tất cả các vấn đề: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… Hiện nay, báo chí đang phát triển
cả về số lượng và chất lượng Theo số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông tại Hội nghị cán bộ báo chí toàn quốc tổng kết công tác năm
2015 và triển khai nhiệm vụ năm 2016, tính đến tháng 12/2015, cả nước có
858 cơ quan báo chí in, 659 tạp chí và 105 cơ quan báo điện tử, 207 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí; 66 đài phát thanh, truyền hình (Trong đó có: 02 đài Trung ương, 64 đài địa phương (riêng TP Hồ Chí Minh có 02 đài: Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh và Đài Tiếng nói nhân dân
TP Hồ Chí Minh) với gần 18.000 nhà báo được cấp thẻ đang hoạt động trên khắp mọi vùng miền của tổ quốc và ở nước ngoài
Trong các loại hình báo chí, mỗi loại hình đều có vị trí, thế mạnh riêng Mặc dù ra đời muộn so với các loại hình báo chí khác (báo in, phát thanh),
Trang 40nhưng truyền hình đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng và có những bước tiến vượt bậc, được đông đảo công chúng quan tâm, đón nhận
Đối với vấn đề phòng chống BBPNTE, truyền hình đóng vai trò quan trọng trong việc thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các vụ việc, mô hình phòng, chống BBPNTE, giúp đấu tranh, ngăn chặn kịp thời với những thủ đoạn mới của bọn tội phạm
1.3.1 Tuyên truyền phổ biến đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống BBPNTE
Trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng và Nhà nước đã đưa
ra nhiều chủ chương, đường lối, chính sách nhằm tăng cường công tác đảm bảo an ninh trật tự và tạo hành lang pháp lý cho các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm Đồng thời, chỉ đạo, ban hành các văn bản pháp luật, các chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm, trong đó có công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi BBPNTE
Trong các loại hình báo chí truyền hình đóng vai trò quan trọng, góp phần thông tin một cách hiệu quả về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước tới nhân dân Việc thường xuyên phổ biến kiến thức pháp luật giúp người dân nắm vững luật để phục vụ cho công việc, cuộc sống Nhờ đó, công tác phòng, chống hoạt động tội phạm có thể phát huy được hiệu quả
Trong nhiệm vụ tuyên truyền phòng, chống BBPNTE, truyền hình tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về chương trình phòng, chống BBN, các chính sách về tiếp nhận, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về, giúp
đỡ nạn nhân ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng,… Đặc biệt trong quá trình xây dựng và ban hành Luật Phòng, chống mua bán người 2011, truyền