ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ****** NGUYỄN THỊ THÚY THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA CÁC NỮ TÁC GIẢ VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI - NHÌN TỪ PHÊ BÌNH SIN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
******
NGUYỄN THỊ THÚY
THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA
CÁC NỮ TÁC GIẢ VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI
- NHÌN TỪ PHÊ BÌNH SINH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
******
NGUYỄN THỊ THÚY
THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA
CÁC NỮ TÁC GIẢ VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI
- NHÌN TỪ PHÊ BÌNH SINH THÁI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN HẢI YẾN
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Trần Hải Yến Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa học nào Những luận điểm sử dụng của tác giả khác, tác giả luận văn đều có ghi chú rõ ràng nguồn gốc Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thúy
Trang 4Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, những người đã nhiệt tình giảng dạy để tôi hoàn thành tốt khóa học và luận văn tốt nghiệp
Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu nhà trường, phòng Sau Đại học đã tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Tác giả luận văn chân thành biết ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian qua
Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Thúy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 8
7 Cấu trúc của luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 10
1.1 Thiên nhiên trong quan niệm Việt Nam thời trung đại 10
1.1.1 Quan niệm của tam giáo về quan hệ thiên – nhân 10
1.1.2 Thiên nhiên trong sáng tác văn học trung đại Việt Nam 13
1.2 Nhìn lại “nữ lưu” trong lịch sử văn chương thời trung đại 35
1.3 Những nét phác về phê bình sinh thái và tiềm năng của nó trong nghiên cứu văn chương 41
1.3.1 Đôi nét về phê bình sinh thái 41
1.3.2 Phê bình sinh thái với nghiên cứu văn chương 44
Tiểu kết 45
Chương 2 TOÀN CẢNH THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA CÁC CÂY BÚT NỮ VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI 47
2.1 Sáng tác về thiên nhiên của các tác giả nữ qua những con số thống kê 47
2.2 Thế giơ ́ i tự nhiên - con người theo cái nhìn của tác giả nữ 52
2.2.1 Thiên nhiên được biểu hiện qua thảm thực vật 52
2.2.2 Thiên nhiên xuất hiện qua thế giới động vật 57
Trang 62.2.3 Thiên nhiên chuyển vận theo bốn mùa 61
2.2.4 Thiên nhiên danh thắng 66
Tiểu kết 68
Chương 3 THIÊN NHIÊN – HÌNH DUNG VÀ BIỂU TẢ CỦA NỮ GIỚI VỀ MÔI SINH TRONG VĂN HÓA THỜI TRUNG ĐẠI 69
3.1 Những khoảng thiên nhiên khuyết vắng và dôi dư 69
3.2 Đặc điểm của chủ thể sinh thái trong thơ văn nữ Việt Nam thời trung đại 77
Tiểu kết 84
KẾT LUẬN 85
TƯ LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thờ i trung đại của Viê ̣t Nam , các sáng tác văn chương không chỉ thể hiện những tư tưởng lớn như yêu nước, nhân đạo qua tinh thần chống giă ̣c ngoại xâm, qua tình yêu con người ở nhiều cung bâ ̣c cảm xú c… mà còn có nhiều sáng tác về thiên nhiên Bởi tình yêu vốn có của người cầm bút với thế giới tự nhiên , và còn bởi những quan niê ̣m đă ̣c biê ̣t của thời đại đó về mối quan hê ̣ con người – tự nhiên
1.2 Thiên nhiên trở thành nguồn cảm hứng lớn trong văn chương,
không chỉ ở các bâ ̣c nam nhân của Viê ̣t Nam thời trung đa ̣i Những tác gia nữ đầy tài năng như Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Ngô Chi Lan, Trương Thị Trong, Nguyễn Tĩnh Hòa… đều có nhiều đóng góp cho tiến trình vận động , phát triển của văn học nước nhà nói chung và mảng sáng tác này nói riêng Sự khác biê ̣t về giới tính hiển nhiên sẽ chi phối nhiều phương diê ̣n của sáng tác mà chủ đề thiên nhiên là mô ̣t Khảo sát chủ đề này
ở các cây bút nữ vì vậy sẽ làm sáng tỏ thêm những vấn đề xung quanh thái độ của con người với thế giới tự nhiên , vai trò của tự nhiên trong tình cảm , nhâ ̣n thức của con người ; thêm nữa, tìm hiểu cách nhìn, cách phản ánh thiên nhiên
ở các tác giả nữ thời trung đại còn góp phần hiểu thêm đặc thù văn hoá giới của giai đoạn này
1.3 Những dẫn nhập phê bình văn ho ̣c sinh thái ho ̣c gần đây vào đời sống nghiên cứu văn ho ̣c Viê ̣t Nam đã đem la ̣i nhi ều gợi ý cho việc nhìn lại thế giới tự nhiên trong văn chương Đối tượng của hình th ức phê bình khá mới mẻ này là những sáng tác thể hiê ̣n thiên nhiên trong tính nguy cơ ở cuô ̣c sống bình thường của con người Nói cách khác, phê bình sinh thái tập trung chú ý vào những tác phẩm văn chương thể hiện cảm quan bất an của con người về mô ̣t môi sinh đang bi ̣ tổn thương , trong đó thiên nhiên là mô ̣t hình
Trang 8ảnh chủ yếu ; hoă ̣c tìm hiểu chiều sâu văn hoá , tư tưởng của cách con người hình dung thiên nhiên , tác động vào tự nhiên Ngoài ra , với tính chất liên ngành, phê bình sinh thái luôn có xu hướng kết hợp với những tiếp câ ̣n khác , như: giới, chủng tộc, dân tô ̣c… Đó là mô ̣t kiểu tiếp câ ̣ n hứa he ̣n nh ững nhìn nhận khả th ủ trong viê ̣c tìm hiểu sáng tác của các tác gi ả nữ Việt Nam thời trung đại ở mảng thiên nhiên
Vì tất cả những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Thiên nhiên trong sáng
tác của các nữ tác giả Việt Nam thời trung đại – nhìn từ phê bình sinh thái
với hy vọng bổ sung thêm mô ̣t vài lý giải mới cho mô ̣t chủ điểm đã được giới nghiên cứu tìm hiểu trước đây
Năm 1929 trong cuốn Nữ lưu văn học sử Sở Cuồng, Lê Dư đã có những đánh
giá, ghi nhận đầu tiên về các tác giả nữ trong văn học Việt Nam như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm… Theo đánh giá của tác giả thì đây đều là những nhà thơ nữ tài năng, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của văn học… Đến
năm 2010 Đỗ Thị Hảo cho ra mắt cuốn Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam thì
tác phẩm văn chương nữ được nhìn nhận, sắp xếp một cách có hệ thống hơn theo tiến trình phát triển của lịch sử Trong cuốn sách này Đỗ Thị Hảo đã điểm danh mười hai gương mặt nữ tác giả trong suốt tiến trình phát triển của văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỳ XIX đó là: Lý Ngọc Kiều, Lê Thị Yến, Ngô Chi Lan, Đoàn Thị Điểm, Trương Thị (Ngọc) Trong, Phạm Lam Anh, Lê Ngọc Hân, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Trinh Thận, Nguyễn Tĩnh Hòa, Nguyễn Thị Nhược Bích Ngoài ra
Trang 9còn một số công trình như: Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn
Gia Thiều: tuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình, bình luận văn học của các nhà văn, nghiên cứu Việt Nam và thế giới (Tiến Quỳnh, 1991)… Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (Trần Nho Thìn, 2012), cũng
dành một lượng trang viết nhất định cho tác giả nữ
Thứ nhất về lịch sử nghiên cứu thơ văn của Hồ Xuân Hương Hồ Xuân
Hương được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm, tên tuổi của bà cũng được đặt cạnh những đại thi hào của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du…Thơ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng độc đáo, không dễ bị trộn lẫn Với số luợng sáng tác không nhiều nhưng ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX đã có nhiều chuyên luận, bài nghiên cứu, bài phân tích, bình giảng, luận văn, luận
án nghiên cứu về thơ bà Nhiều cuốn sách viết về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương được tái bản nhiều lần1
Nói về thiên nhiên trong sáng tác của Hồ Xuân Hương, ngay từ những
năm 1955 trong cuốn Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ, văn học và giáo
dục (1955) Văn Tân đã khẳng định Hồ Xuân Hương là nhà thơ tả chân và yêu
thiên nhiên Trong cuốn Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương của Lê Chí Viễn (1987)
nhà nghiên cứu Hoài Nam đánh giá Hồ Xuân Hương là một nhà thơ yêu thiên nhiên và thiên nhiên trong thơ bà là thiên nhiên luôn dồi dào sức sống2
Bên cạnh đó, nhiều luận án tiến sĩ đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của thơ
Hồ Xuân Hương như: Lý giải cái dâm tục trong thơ Hồ Xuân Hương từ góc
độ tín ngưỡng phồn thực (Đỗ Lai Thúy, 1994), Hồ Xuân Hương và nền văn hóa dân gian (Nguyễn Thị Ngọc, 1996), Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương (Trương Xuân Tiếu, 2002) Trong đó Luận
1 Như Hồ Xuân Hương tiểu sử văn bản - Tiến trình huyền thoại dân gian hóa của Đào Thái Tôn năm 1999, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX của tác giả Nguyễn Lộc năm 2005, hay Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm do Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới thiệu (2003)…
2 Lê Trí Viễn (chủ biên) - Lê Xuân Lít - Nguyễn Đức Quyền (1987), Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, NXB Sở
Giáo dục Nghĩa Bình, tr.162
Trang 10án của Trương Xuân Tiếu [45] đã giới thiệu khái quát về không gian nghệ thuật trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương theo cách phân loại thành không gian vũ trụ, không gian địa lý phong tục và không gian sinh hoạt của con người Còn tác giả Đỗ Lai Thúy với công trình Hồ Xuân Hương , hoài
niê ̣m phồn thực3
lại dùng phương pháp tiếp câ ̣n của phân tâm ho ̣c để tìm kiếm cội nguồn và dịch chuyển của tín ngưỡng phồn thực từ các sinh hoạt văn hoá dân gian vào hiê ̣n tượng thơ Hồ Xuân Hương Từ góc nhìn này, Đỗ Lai Thuý đã phân tích tính lấp lửng của các biểu tượng trong thơ Hồ Xuân Hương để chỉ ra triết lý , mỹ học phồn thực có cội nguồn dân gian trong những sáng tác này Có thể thấy , qua cách nhìn của Đỗ Lai Thuý , những hình ảnh trong thơ Hồ Xuân Hương , trong đó có hình ảnh của thế giới tự nhiên (như: Ốc nhồi, Quả mít, và chùm bài vịnh cảnh , đối đáp) tuy dựa trên những quan sát thực tế và được mô tả bằng các chi tiết cu ̣ thể nhưng chúng chủ yếu thuô ̣c về thế giới biểu tượng của sự sùng ngưỡng phồn thực
Thứ hai về lịch sử nghiên cứu thơ văn Bà Huyện Thanh Quan - tác giả
nữ của những năm đầu thế kỷ XIX Thơ bà để lại không nhiều chủ yếu là thơ Nôm viết theo thể Đường luật Giáo sư Dương Quảng Hàm nhận xét “Những bài thơ Nôm của bà phần nhiều là tả cảnh, tả tình nhưng bài nào cũng hay và tỏ ra bà
là một người có tính tình đoan chính, thanh tao, một người có học thức, thường nghĩ ngợi đến nhà đến nước, lời văn rất trang nhã điêu luyện” [19, tr.396-397] Qua khảo sát có thể thấy thơ Bà Huyện Thanh Quan được quan tâm nghiên cứu
từ khá sớm với nhiều cuốn sách được xuất bản như Luận đề về Bà Huyện Thanh
Quan của Nguyễn Sỹ Tế xuất bản năm 1953, Bà Huyện Thanh Quan, Đoa ̀ n Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều tuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình, bình luận văn học của các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam và thế giới của Tiến Quỳnh
xuất bản năm 1991, Người đẹp Nghi Tàm cuộc đời và thơ Bà Huyện Thanh
Quan của Bội Tinh xuất bản năm 1996…
Trang 11
Khác đôi chút với Hồ Xuân Hương, thiên nhiên trong thơ Bà Huyện
Thanh Quan được các học giả quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Trong cuốn Bà
Huyện Thanh Quan , Đoàn Thị Điểm , Nguyễn Gia Thiều tuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình, bình luận văn học của các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam và thế giới (1991), soạn giả Tiến Quỳnh đã tập hợp những bài phê
bình, bình luận về thơ Huyện Thanh Quan, trong đó những bài thơ viết thiên nhiên của Huyện Thanh Quan được nhiều nhà nghiên cứu phân tích Chẳng hạn, nhà nghiên cứu Phạm Văn Diêu cho rằng “tâm hồn bà là một không gian lặng lẽ đìu hiu và thơ bà là tiếng lòng sầu muộn, những hơi thở dài chán nản” [48, tr.8] và vì thế nên khung cảnh trong thơ văn bà Huyện Thanh Quan thường là thu cảnh và chiều tà, những cảnh mờ nhạt của cổ họa, cổ thi [48]
Một nữ tác gia nữa cũng làm tốn không ít giấy mực của các nhà nghiên
cứu, đó là Đoàn Thị Điểm Bà có biệt hiệu là Hồng Hà Nữ sĩ, một nữ sĩ tài
hoa hội tụ đủ công, dung, ngôn, hạnh, nổi tiếng về tài thơ văn đối đáp Theo các nhà văn bản học thì bà sáng tác nhiều nhưng tản mát phần lớn, ngoài bản
dịch Chinh phụ ngâm bà còn là tác giả của tập truyện Truyền kì tân phả và
một số ít câu văn câu đối chữ Hán và chữ Nôm Viết về Đoàn Thị Điểm ngoài
Thơ tình nữ sĩ Việt Nam (Kiều Văn tuyển chọn), Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm [12],
Nữ lưu văn học sử [11] còn một số luận án như Về từ ngữ Hán Việt trong bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm4, Nhân vật người phụ nữ trong Truyền kì Tân phả và Lan trì kiến văn học 5 , Nghiên cứu Đoàn Thị Điểm qua Đoàn Thị Thực Lục 6 , Không gian và thời gian trong Chinh phụ ngâm khúc 7 … Tuy nhiên, xét riêng về thiên nhiên trong thơ Đoàn Thị Điểm thì chưa
6 Nguyễn Thị Thanh Vân (2007), Nghiên cứu Đoàn Thị Điểm qua Đoàn Thị Thực Lục, NXB ĐHSP Hà Nội
7 Phạm Thị Thanh Hải (1999), Không gian và thời gian trong Chinh phụ ngâm khúc, NXB ĐHSP Hà Nội
Trang 12Ngoài ba nữ tác gia trên, văn học trung đại Việt Nam còn ghi nhận sự đóng góp của nhiều nữ sĩ tài hoa như: Trương Thị (Ngọc) Trong, Ngô Chi Lan, Nguyễn Thị Nhược Bích, Nguyễn Tĩnh Hòa, Nguyễn Trinh Thận… tuy nhiên do số lượng tác phẩm của các tác giả nữ này không nhiều hoặc chưa được dịch nên việc tìm hiểu về họ còn hạn hẹp
Từ những lược điểm trên, có thể nhận thấy hầu hết các bài nghiên cứu, chuyên luận đều tập trung tìm hiểu thân thế, sự nghiệp, tìm hiểu khát vọng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ trong văn học, còn ở một số tác giả nữ tiêu biểu, thiên nhiên được quan tâm như một vấn đề trung gian để phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu khác
2.2 Lịch sử dẫn nhập và thử nghiệm tìm hiểu văn chương từ phê bình sinh thái ở Việt Nam
Được manh nha vào những năm 70 của thế kỷ XX nhưng phải đến những năm 90 của thế kỷ XX phê bình sinh thái mới thực sự trở thành một khuynh hướng nghiên cứu văn học ở Mỹ và tiếp đó lan ra nhiều nước trên thế giới Theo Scott Slovic, phê bình sinh thái “khảo sát cặn kẽ những ngụ ý về môi trường sinh thái và quan hệ giữa con người - tự nhiên trong bất kỳ văn bản văn chương nào, kể cả những văn bản (thoạt nhìn) dường như không để ý
gì đến thế giới con người” [39] Như vâ ̣y, phê bình sinh thái ra đời bổ sung
thêm mô ̣t hướng tiếp câ ̣n văn chương, và hứa hẹn đem lại những gợi ý đối với viê ̣c “đo ̣c” la ̣i các sáng tác thời trung đa ̣i vốn hình dung mô ̣t quan niê ̣m con người hài hoà với thế giới tự nhiên
Ở Việt Nam từ sau đổi mới, giới nghiên cứu khá cởi mở trong việc tiếp thu các luồng tư tưởng, học thuyết mới nhưng đối với phê bình sinh thái thì
vẫn còn nhiều dè dặt Lí giải hiện tượng đó, Đỗ Văn Hiểu với bài viết Phê
bình sinh thái – khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân (2012)
đã chỉ ra những đặc điểm riêng khiến phê bình sinh thái gặp trở ngại cho sự
Trang 13phát triển, mở rộng ở Việt Nam như: sự cách tân về tư tưởng nòng cốt, chuyển đổi từ tư tưởng “nhân loại trung tâm luận” sang lấy “sinh thái trung tâm luận” làm nền tảng, mang sứ mệnh mới là “nhìn nhận lại văn hóa nhân loại”, đồng thời có nguyên tắc mỹ học riêng và xác lập đối tượng, phạm vi nghiên cứu riêng
Những dẫn nhập về phê bình sinh thái được giới thiệu ở Việt Nam chủ
yếu là qua các bài dịch của Đỗ Văn Hiểu và Hải Ngọc như Những tương lai
của Phê bình sinh thái và văn học [39] [40], Phê bình sinh thái cội nguồn và
sự phát triển [3]… và Trần Đình Sử với bài viết Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học hiện nay [33] thì tư tưởng sinh thái đã được vận dụng để xem xét quan hệ giữa văn học và môi trường văn hóa, tinh thần xã hội Những bài viết trên là nguồn tư liệu quan trọng cho giới nghiên cứu Việt Nam vận dụng những lí thuyết của phê bình sinh thái vào nghiên cứu văn học Đến nay nghiên cứu văn học dưới góc nhìn sinh thái học ở nước ta đã có
những thử nghiệm với các bài viết Đọc cánh đồng bất tận từ điểm nhìn phê
bình sinh thái và Bước đầu tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của Đặng
Thị Thái Hà, Khí quyển thơ sinh thái của Mai Văn Phấn: Thơ, bầu trời và
những linh hồn của Nhã Thuyên… trình bày tại một số hội thảo Những tham
luận đó có ý nghĩa như mô ̣t thử nghiê ̣m tìm tòi cho một hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Từ những khảo sát cu ̣ thể thế giới thiên nhiên qua ngòi bút nữ , phương thức hình dung/biểu tả thiên nhiên, người viết sẽ tìm hiểu: 1) các chủ thể sáng tạo văn chương nữ giới này quan niệm như thế nào về mối quan hệ thiên - nhân quen thuô ̣c đó; 2) quan hê ̣ chi phối, tương tác giữa diễn ngôn chung của
mô ̣t thời đa ̣i với mô ̣t bô ̣ phâ ̣n của nó là giới nữ
Nói cách khác, có thể coi đây là một thử nghiệm tiếp cận văn chương từ phê bình sinh thái với sự kết hợp với góc nhìn giới ở mức độ nhất định
Trang 144 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi tư liệu : Triển khai đề tài Thiên nhiên trong sáng tác của các
nữ tác giả Việt Nam thời trung đại - nhìn từ phê bình sinh thái, tôi sử dụng
các tác phẩm được tuyển chọn trong cuốn Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam
với các tác giả nữ như: Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Trương Thị (Ngọc) Trong, Nguyễn Trinh Thận, Nguyễn Tĩnh Hòa… Ngoài ra, người viết cũng tham khảo các tuyển tâ ̣p thơ văn riêng biê ̣t của những nhà văn nữ tiêu biểu
- Phạm vi vấn đề : Luận văn chỉ tâ ̣p trung tìm hiểu các sáng tác của các nhà văn nữ thời trung đại viết về thiên nhiên với tư cách một môi trường sống chứ không tìm hiểu toàn bộ thế giới văn thơ của họ
Trong thực tế, đề tài có phần liên quan đ ến một hướng tiếp cận khác là giới và đòi hỏi phải được xử lý cả từ góc nhìn như vậy mới thấu đáo Tuy nhiên, do khuôn khổ hạn hẹp của một tiểu luận Cao học, chúng tôi xin được gác lại đòi hỏi này, hy vọng sẽ có dịp trở lại trong một dịp khác
5 Phương pháp nghiên cứu
Do đối tượng và pha ̣m vi nghiên cứu quy đi ̣nh , phương pháp chủ yếu của luận văn là vận dụng kết hợp giữa phương pháp văn học sử và phương pháp liên ngành để giải quyết vấn đề Đồng thời, luâ ̣n văn sẽ kết hợp phân tích, lý giải các sáng tác về thiên nhiên của giới nữ cầm bút thời trung đại Việt Nam với những gợi ý của phê bình sinh thái ho ̣c (và thi thoảng với vấn đề giới)
Tất cả những tiếp câ ̣n trên sẽ được cu ̣ thể hoá thành thao tác như : phân tích, thống kê, so sánh, để từ đó có cái nhìn chi tiết , đầy đủ và chính xác các
nô ̣i dung nghiên cứu
6 Đóng góp của đề tài
Với đề tài này, Luâ ̣n văn sẽ góp phần làm rõ thêm mô ̣t vài phương diê ̣n của đời sống văn chương Việt Nam thời trung đại , như: đă ̣c điểm của nhóm tác giả nữ trong cách cảm nhận và hình dung môi trường thiên nhiên , thiên
Trang 15nhiên trong văn chương như mô ̣t phản chiếu của quan niê ̣m về quan hê ̣ con người [nữ] với thế giới tự nhiên
Nguy cơ sinh thái đang là vấn đề vô cùng hệ trọng liên quan đến sự tồn
vong của nhân loại Với việc nghiên cứu “Thiên nhiên trong sáng tác của các
nữ tác giả Việt Nam thời trung – nhìn từ phê bình sinh thái” chúng tôi thử
nghiệm một cách tiếp cận mới với sáng tác của các nữ tác giả trung đại Bằng việc thống kê và dựng lại bức tranh thiên nhiên của các tác giả nữ, luận văn sẽ chỉ ra các đặc điểm của việc thể hiện đề tài này qua cái nhìn của người viết [nữ] Và thiên nhiên ở đây sẽ được luận giải chủ yếu như một môi trường sống, thể hiện qua cách hình dung [nữ] về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, tác động giữa con người với tự nhiên và ngược lại trong thời kì trung đại
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần MỞ ĐẦU, KẾT LUẬN, và danh mục TÀI LIỆU THAM KHẢO, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Trang 16NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Thiên nhiên trong quan niệm Việt Nam thời trung đại
1.1.1 Quan niệm của tam giáo về quan hệ thiên – nhân
Quan niệm của Phật giáo về mối quan hệ thiên - nhân
Phật giáo, đặc biệt là Thiền tông, đã tạo nên sự hòa hợp con người và thế giới bên ngoài , trong đó có tự nhiên, xóa bỏ ranh giới ta – vật, nội tâm – ngoại cảnh, trạng thái hòa hợp đó cùng với quan niệm “đối cảnh vô tâm” được coi là chuẩn mực trong cách ứng xử với tự nhiên, xã hội Bên cạnh đó, Phật giáo coi thiên nhiên là sự bảo đảm cho trạng thái cân bằng của con người
vì vậy con người phải có nghĩa vụ đối với thế giới tự nhiên Nói cách khác đây là vấn đề đạo đức sinh thái mà Phật giáo đã đặt ra cho con người
Phật giáo coi chúng sinh bình đẳng ở Phật tính Phật giáo Đại thừa xem vạn pháp đều có Phật tính Vạn pháp này không chỉ bao gồm loài vật hữu tình
mà bao gồm cả thực vật, vật vô cơ không có tình cảm ý thức Đại sư Trạm Nhiên (711–782) của Thiên Thai Tông định nghĩa rõ ràng: “Loài vô tình có tính giác là chỉ sông núi, đất đai, gạch đá… không có tình cảm ý thức đều có phật tính” [17, tr.128] Thiền Tông còn nhấn mạnh hơn “Hoa vàng thơm ngát không gì chẳng phải là Bát – nhã, trúc biếc xanh tươi há lại chẳng phải là Pháp thân” [17, tr.128] Dựa trên những nguyên lý này ta có thể thấy theo Phật giáo một cành cây, ngọn cỏ đều có giá trị tồn tại của nó, hành vi của con người phải có lợi ích cho sự cộng tồn của vạn vật, yêu quý thiên nhiên cũng chính là bổn phận của mỗi con người
Hơn thế, Phật giáo chủ trương hiếu sinh, luôn răn bảo con người không sát sinh Theo thuyết vũ trụ học của Phật giáo thì có hàng hà sa số các thế giới
và chủng loài, vì vậy mỗi con người cần phải mở rộng tấm lòng từ bi hỉ xả
Trang 17của mình với tất cả các loài dù là có nhìn thấy hay không nhìn thấy Tất cả các loài có sự sống và không có sự sống trong thiên nhiên đều có mối liên hệ mật thiết với nhau, giúp đỡ nhau để sinh tồn lâu dài hơn Phật giáo vì vậy được coi
là một tôn giáo thân thiện với môi trường, đề xuất một chuẩn mực đạo đức môi sinh cho con người
Quan niệm của Nho giáo về mối quan hệ thiên – nhân
Nếu Phật giáo đề xuất tư tưởng thiên nhân bất nhị (con người và thế giới sinh tồn là một) thì Nho giáo lại chủ trương con người và thiên nhân hợp nhất, coi sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên là chuẩn mực sống của nhân sinh
Nho giáo là một học thuyết đạo đức, quan tâm các quan hệ ứng xử của con người trong gia đình và xã hội như “tam cương ngũ thường”, “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”… Tuy xuất phát từ mối quan tâm đến cuộc sống xã hội của con người nhưng Nho giáo cũng có những luận bàn cụ thể về quan hệ của con người với thế giới bên ngoài, nhất là từ thời kỳ Tống Nho
Nho giáo quan niệm rằng, con người sở dĩ có vị trí hàng đầu là bởi hội
tụ mọi tinh hoa của vạn vật trong trời đất "Thủy hỏa hữu khí nhi vô sinh, thảo mộc hữu sinh nhi vô tri, cầm thú hữu tri nhi vô nghĩa Nhân hữu khí, hữu
sinh, hữu tri diệc thả hữu nghĩa Cố tối vi thiên hạ quý dã" (Nước lửa có khí,
nhưng không có sự sống, cây cỏ có sự sống, nhưng không hiểu biết, cầm thú hiểu biết nhưng lại không có nghĩa Con người có khí, có sự sống có hiểu biết lại có nghĩa Do đó con người là quý nhất trên đời) [13, tr.11]
Đổng Trọng Thư cũng nhận thấy con người có địa vị trọng yếu giúp trời đất mà hoàn thành vạn vật Ông khẳng định: trời, đất, âm, dương, mộc, hỏa, thổ, kim, thủy, cộng với người nữa là mười, đến đó là con số của trời Như vậy theo ông khi con người đạt được khí, có sự sống, có hiểu biết…thì con người sẽ đạt tới con số của trời tức là sự hoàn thiện, hoàn mỹ, mới trở thành
Trang 18người đứng đầu vạn vật [13, tr.11] Mặc dù xếp con người vào vị trí hàng đầu trong tự nhiên như vậy nhưng Nho giáo cũng nhận thấy rằng con người và tự nhiên luôn hài hòa với nhau Nho giáo nhìn vũ trụ thành trời, đất và người, nhưng cho rằng ba bộ phận này hài hòa thể hợp trong một “thiên nhân hợp nhất” Theo đó mỗi bộ phận trên cơ thể con người đều tương ứng với một thực tiễn tự nhiên, mỗi đặc tính của con người sẽ là một đặc tính của thiên nhiên phù hợp, con người có cái gì thì trời có cái đó và ngược lại "Nhân hữu tam bách lục thập tiết, ngẫu nhiên chi số dã; hình thể cốt nhục, ngẫu địa chi hậu dã; thượng hữu nhĩ mục thông minh, nhật nguyệt chi tượng dã; thể hữu
không khiếu lý mạch, xuyên cốc chi tượng dã" (Người có ba trăm sáu chục
đốt xương, số đó tương phù với số của trời; hình thể xương thịt của người hợp với hình thể dày dặn của đất, trên có tai mắt sáng tỏ là hình tượng của mặt trời, mặt trăng, đó là hình tượng của sông, hang) [13, tr.15-16]
Nhìn chung, triết lý Nho giáo về con người cố gắng chứng minh con người luôn gắn liền với trời đất, là hạt nhân của trời đất, hòa quyện với trời đất, là cầu nối giữa trời và đất Con người không chỉ được hình dung là sản phẩm của giới tự nhiên một cách trừu tượng mà còn được cụ thể hóa là kết quả của sự giao cảm giữa trời và đất, giữa âm và dương
Quan điểm của Đạo giáo về mối quan hệ thiên - nhân
Như đã nói ở trên, Nho giáo là một học thuyết đạo đức, chính trị, chủ trương cai trị bằng Đức thông qua những quy ước ứng xử gọi là Lễ Quan niệm này bị Lão Tử “phản ứng” lại bởi tính chất “nhân vi” Thay vào đó, Lão
Tử chủ trương phải thuận theo tự nhiên
Đối với Lão Tử, nguyên thủy của vũ trụ và vạn vật là Đạo Đạo là thể
vô hình vô tướng, không sinh không diệt, hằng hữu đời đời Ở chương bốn,
sách Đạo đức kinh ông viết: “Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất danh, uyên hề
tự vạn vật chi tôn Tỏa kỳ nhuệ, giải kỳ phân, hòa kỳ quang, đồng kỳ trần,
Trang 19trạm hề tự hoặc tồn” (Đạo bản thể thì hư không mà tác dụng thì vô cùng, nó uyên áo mà tựa như làm chủ mọi vật Nó không để lộ tinh nhuệ ra, gỡ những rối loạn, che bớt ánh sáng, hòa đồng với trần tục, nó sâu kín mà dường như trường tồn) [14, tr.11-12] Cũng trong sách này, Lão Tử khẳng định “Nhân pháp Địa,
Địa pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên” (Người bắt chước Đất,
Đất bắt chước Trời, Trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước Tự nhiên) Có thể thấy Lão Tử đã coi tự nhiên là điểm đầu và cũng là tối thượng của vũ trụ Từ
quan điểm này, Lão Tử khẳng định triết lý sống tối ưu là vô vi với ý nghĩa
không làm những gì trái với tự nhiên
Phát triển tư tưởng của Lão Tử, Trang Tử đã tuyệt đối hóa sự vận động, xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người với tự nhiên, giữa tồn tại và hư vô Trang Tử đề xuất quan điểm con người cần biết hưởng thụ tự nhiên, ông đề xuất tư tưởng “tiêu dao phóng nhiệm”
Tựu chung, Lão Trang chủ trương trở lại với trật tự thế giới vốn có, cổ súy sống theo tự nhiên, hòa nhập vào tự nhiên, hưởng thụ tự nhiên Thiên nhiên là nguyên tố hàng đầu của vũ trụ và con người vì thế con người có bổn phận thuận theo tự nhiên
Có thể thấy Nho, Phật, Đạo là ba học thuyết quan trọng có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng, đạo đức và văn hóa văn chương Việt Nam thời trung đại, tuy có xuất phát điểm quan tâm khác nhau như: Nho giáo quan tâm đến xã hội loài người, Phật giáo quan tâm đến đời sống tâm linh, còn Đạo giáo lại coi trọng mô hình đời sống tự nhiên, nhưng cả ba học thuyết này lại có điểm gặp
gỡ là khẳng định sự gắn bó, quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên
1.1.2 Thiên nhiên trong sáng tác văn học trung đại Việt Nam
Sáng tác về thiên nhiên chịu ảnh hưởng của Phật giáo
Phật giáo có ảnh hưởng đến đời sống và văn hóa Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, tuy nhiên nó có ảnh hưởng sâu
Trang 20đậm nhất ở thời kỳ Lý - Trần Vì vậy, ở đây chúng tôi xin khoanh lại phạm vi khảo sát trong giai đoạn Lý - Trần như một trường hợp tiêu biểu về ảnh hưởng của quan niệm Phật giáo (Thiền) đối với sáng tác văn chương thời trung đại
Vào thời Lý, Phật giáo chiếm vị trí độc tôn trong đời sống tinh thần dân tộc Văn học thời kỳ này vì thế mang đậm tinh thần Phật giáo với lực lượng sáng tác chủ yếu là các nhà sư Đáp ứng nhu cầu truyền bá rộng rãi đạo Phật các nhà sư đã tìm cách thể hiện những triết lý Phật giáo vốn trừu tượng qua hình thức các bài kệ ngắn gọn, sinh động Và họ đã tìm thấy một phương tiện hữu hiệu là văn thơ, đặc biệt là thơ
Phật giáo cho rằng vạn vật trong vũ trụ này cùng chung một bản thể Cùng một bản thể mà lại biến hóa và biểu hiện dưới muôn vàn dạng thức khác nhau Cũng như con người, trời đất và muôn loài chẳng qua chỉ là cùng một thể chất Với quan niệm ấy, văn học Thiền Tông đã dễ dàng đem nhập con
người làm một với thiên nhiên Đoàn Văn Khâm trong Vãn Quảng Trí thiền
sư đã tỏ lòng thương tiếc nhà sư vừa qua đời:
Đạo lữ bất tu thương vĩnh biệt, Viện tiền sơn thủy thị chân hình (Các bạn tu hành chớ nên đau thương vì nỗi vĩnh biệt, Núi sông trước chùa trông xa, ấy là hình ảnh chân thực của người)
Như vậy quan niệm của Phật đồng nhất bản thể của con người với thiên nhiên Cho dù nhà sư có mất đi thì đó chỉ là sự hủy diệt về thân xác, còn bản thể của nhà sư vẫn tồn tại mãi trong thiên nhiên, cỏ cây, sông núi
Hình ảnh thiên nhiên xuất hiện trong thơ văn thời Lý không chỉ giúp các nhà sư giảng dạy lý thuyết nhà Phật của họ mà còn bày tỏ quan niệm về
sự hài hòa giữa vạn vật và con người Trong bài Cáo tật thị chúng, Mãn Giác
Trang 21thiền sư đã làm sáng tỏ cho quan niệm "sắc không" của nhà Phật qua sự đối sánh giữa thời gian tuần hoàn của vũ trụ với thời gian ngắn ngủi của đời người, đồng thời thể hiện niềm hi vọng của con người trong cuộc sống:
Xuân khứ bách hoa lạc, Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
(Xuân qua trăm hoa rụng, Xuân đến trăm hoa nở
Việc đời trôi qua trước mắt, Cảnh già hiện ra trên mái đầu
Chớ bảo rằng xuân tàn hoa rụng hết, Đêm qua sân trước một nhành mai.) Còn Vạn Hạnh thì chủ trương con người cũng như muôn vật không thể thoát khỏi lẽ sinh hóa:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô, Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy, Thịnh suy như lộ thảo đầu phô
(Thân như bóng chớp có rồi không, Cây cối xuân tươi thu não nùng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi, Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.) (Thị đệ tử - Dặn học trò)
Trang 22Người không giác ngộ thường sợ hãi, đau buồn trước cái chết Còn bậc
tu hành có thể vượt lên trên “sự biến động vô thường” mà đến với cái đại ngã của vũ trụ Đó là tinh thần “vô úy” chấp nhận sự kết thúc của một dạng thức tồn tại, hướng tới bản thể trường tồn Đó là sự hài hòa giữa nội tâm và ngoại cảnh đạt đến cảnh giới cao của Phật giáo Trạng thái này được nhánh Phật giáo Thiền tông của Viê ̣t Nam thể hiê ̣n khá nhiều ở s ự hài hòa giữa con người
và thiên nhiên trong thơ văn
Không chỉ thể hiện những yếu chỉ của Phật giáo mà sáng tác của các nhà sư thời kỳ này còn thể hiện mối lo đối với đất nước:
Quốc tộ như đằng lạc, Nam thiên lí thái bình
(Ngôi nước như dây leo quấn quýt
Ở góc trời nam mở ra cảnh thái bình
Dùng đường lối vô vi ở nơi cung điện
Thì khắp mọi nơi đều tắt hết đao binh)
Tác giả mượn hình ảnh cây đằng lạc – một sinh vâ ̣t t ự nhiên để nói về mối lo đối với đất nước, giang sơn Đất nước muốn được thái bình thịnh trị thì trên dưới triều đình phải đoàn kết như cây đằng lạc – sống quấn quýt, bền chặt thì mới có sức mạnh Ở đây tác giả cũng đề xuất ý niệm trong trị quốc,
đó là dùng Đức trị - lấy Đức giáo hóa chúng dân Tâm thế của nhà sư là tâm thế rất đặc biệt của con người thời đó Thiên nhiên lúc này không chỉ gắn với
số phận của một cá nhân riêng lẻ mà nó là biểu tượng của vận nước – của cộng đồng người rộng lớn, tương đồng với vận mệnh đất nước
Trang 23Nếu như trong thời kỳ Phật giáo chiếm vị trí độc tôn, thiên nhiên trong thơ văn thời Lý gắn liền với những thuyết giáo của nhà Phật thì đến đời Trần
xu hướng tam giáo đồng nguyên bộc lộ mạnh mẽ, văn học chịu ảnh hưởng của
cả Nho, Phật, Đạo thì thiên nhiên trong thơ văn lúc này lại có những sắc thái bổ sung Người viết bắt đầu chú ý đến miêu tả cuộc sống bình dị xung quanh:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên, Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lý ngưu quy tận, Bạch lộ song song phi hạ điền
(Xóm trước, thôn sau tựa khói lồng, Bóng chiều như có thoắt dường không
Mục đồng thổi sáo trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.) (Trần Nhân Tông - Thiên Trường vãn vọng –
Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra) Bài thơ tựa như một bức tranh phong cảnh thực, không biểu tượng, không ẩn dụ, điển tích Thiên nhiên gần như độc chiếm, chỉ có một hình bóng nhỏ của con người (mục đồng) chìm trong cảnh Nhìn và khắc họa người – cảnh như thế rõ ràng phản ánh một hàm ý đặc biệt về môi sinh
Trong một tình huống khác, thiên nhiên lại được các nhà thơ vay mượn
để giãi bày, bộc lộ tâm sự Ân hận, day dứt khôn nguôi suốt ba mươi năm vì một quyết định sai lầm của mình mà dẫn đến cái chết vô tội của hàng trăm người trong vụ án Trần Quốc Chẩn (1328) Trần Minh Tông đã mượn cảnh vật
Trang 24Khẳng bã nhàn sầu đối vũ thanh
(Hơi thu hòa cùng ánh đèn mờ đi trước ánh ban mai, Giọt mưa rơi trên tàu là chuối ngoài song cửa tiễn canh tàn
Tự biết sai lầm của mình ba mươi năm trước,
Nay đành ôm sầu ngồi nghe mưa rơi.)
Còn Trần Nhân Tông lại viết về mùa xuân với những tín hiệu đầy sức sống:
Thụy khởi khải song phi, Bất tri xuân dĩ quý
Nhất song bạch hồ điệp,
Phách phách sấn hoa phi
(Ngủ dậy ngỏ song mây
Song song đôi bướm trắng,
Phấp phới sấn hoa bay)
(Xuân hiểu – Sớm xuân) Không gian vũ trụ được miêu tả bằng những gì tinh khôi, trong sáng nhất Con người trước thiên nhiên đó mang một tâm thế ngưỡng mộ, tin yêu Thiên nhiên lúc này trở thành phương tiện để nhà thơ bộc lộ tình yêu đối với
vẻ đẹp của đất nước, tâm hồn con người và thiên nhiên như được hòa làm một
Như vậy dưới ảnh hưởng của Phật giáo, thiên nhiên trong thơ Lý – Trần
là phương tiện để các tác giả thể hiện những giáo lý đạo đức, bày tỏ cảm xúc trước thiên nhiên đất nước; đồng thời qua miêu tả thiên nhiên các tác giả còn thể hiện quan niệm riêng về sự giao hòa giữa con người và tự nhiên
Sáng tác về thiên nhiên chịu ảnh hưởng của Nho giáo
Triết lí của Nho giáo về mối quan hệ con người – tự nhiên như trình bày
ở mục 1.1.1 đã chi phối mảng sáng tác về thiên nhiên kéo dài từ thế kỉ XV
Trang 25đến thế kỉ XIX Bên cạnh đó, nguyên tắc sáng tạo “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí” của Nho giáo cũng sẽ ước thúc cách biểu tả của các tác giả thời kì này Toàn bộ những nguyên lý đó sẽ được ba mẫu tác giả Nho gia thể hiện với những điểm nhấn khác nhau trong các sáng tác về thế giới thiên nhiên
Đối với mẫu hình nhà nho hành đạo, văn chương của họ chịu ảnh
hưởng sâu sắc của nguyên tắc sáng tác “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí” – văn chương là nơi nói chí, bày tỏ quan điểm, cách hành xử của nhà nho trước cuộc đời, để truyền thụ giáo lí thánh hiền, là phương tiện để các nhà nho bộc
lộ cái chí “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Văn chương cũng chính là hành vi lập ngôn của người quân tử Thiên nhiên trong sáng tác của các nhà nho vì thế cũng trở thành phương tiện để nói chí, để thể hiện cốt cách của Nho gia
Những nhà nho hành đạo là những người có cơ hội đi ngao du sơn thủy,
họ được đặt chân đến nhiều vùng miền khác nhau của đất nước và qua mỗi vùng miền đó cảnh vật của núi non, cây cỏ, đặc biệt là các danh lam thắng
cảnh di tích lại được họ thu vào tầm mắt, ghi lại vào trong thơ Văn thơ viết
về các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử thể hiện niềm tự hào về những
chiến công oanh liệt của dân tộc Những địa danh như sông Bạch Đằng trở thành biểu tượng cho chiến công lịch sử:
Sóc phong xuy hải khí lăng lăng Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc Qua trầm kích triết ngạn tầng tầng (Gió bấc thổi trên biển khí thế bừng bừng Nhẹ kéo buồm thơ qua cửa Bạch Đằng Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi chia từng khúc một Như cây giáo bị chìm, cây kích bị gãy, bên bờ lớp lớp chồng lởm chởm)
(Bạch Đằng hải khẩu – Cửa biển Bạch Đằng)
Trang 26Đến thăm cửa biển Bạch Đằng với cánh buồm thơ lộng gió, ngắm biển trời bát ngát mênh mông, nhà thơ xúc động miêu tả cảnh núi non, bờ bãi nơi cửa biển mênh mang nhiều chiến công oanh liệt Chiến trận được gợi lên không phải bằng tiếng trống, tiếng chiêng mà bằng kết quả cụ thể của một trận đánh Thi nhân được sống lại một thời đã qua - thời kỳ lừng lẫy, oanh liệt của Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo Cũng viết về dòng sông Bạch Đằng nhưng
ở Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu ta lại thấy vẻ đẹp hùng vĩ, bát
ngát mênh mông của dòng sông:
Tiếp kình ba ư vô tế, Trám diêu vĩ chi tương mâu Thủy thiên nhất sắc,
Phong cảnh tam thu (Bát ngát sóng kình muôn dặm Thướt tha đuôi trĩ một màu Nước trời một sắc, phong cảnh ba thu) Với Nguyễn Sưởng, đó là:
Kinh quán như sơn thảo mộc xuân Hải triều húng húng thạch tân tuân Thùy trí vạn cổ Trùng Hưng nghiệp Bán tại quan hà bán tại nhân
(Mồ chôn quân thù cao như núi, cây cỏ xanh tươi Nước thủy triều ngoài biển ầm ầm, đá núi lởm chởm Mấy ai biết sự nghiệp muôn thủa đời Trùng Hưng Một nửa do địa thế sông núi, một nửa do con người)
(Bạch Đằng giang – Sông Bạch Đằng) Những địa danh nổi tiếng như cửa Hàm Tử, núi Chí Linh… xuất hiện đặc biệt dày đặc trong các sáng tác thời kỳ Lý - Trần - Lê:
Trang 27Thung mộc mai hà xuân thảo lục Độc lâu khiếu nguyệt dạ triều hàn
(Chông gỗ chốn lòng sông bờ cỏ mùa xuân xanh biếc Đầu lâu kêu bóng nguyệt ngọn triều đêm tối lạnh lùng)
(Nguyễn Mộng Tuân - Hàm Tử Quan – Cửa Hàm Tử)
Hay:
Nhìn núi này cao vợi vợi chừ, nhớ xưa gian khổ Gây dựng nên nghiệp vương trừ, quên lãng sao đang
Xin ghi thinh đức vào đá chừ, lưu truyền bất hủ
Mãi nghìn đời, vạn đời chừ, cùng trời đất miên trường
Chí Linh) Đọc thơ Nguyễn Trãi ta không thể không chung vui với niềm vui của thi nhân, nhưng bên cạnh niềm vui, niềm tự hào trước chiến thắng là một nỗi niềm cô đơn, cảm khoái trước số phận anh hùng của Nguyễn Trãi:
Giang sơn như tạc anh hùng thệ
Thiên địa vô cùng sự biến đa
(Non sông vẫn như trước mà anh hùng đã mất
Trời đất thật vô tình sinh ra sự biến nhiều)
(Quá Thần Phù hải khẩu – Qua cửa biển Thần Phù) Non sông thì vẫn còn nhưng con người thì đã mất Đó không chỉ là sự biến thiên của trời đất mà còn cho thấy sự hữu hạn của cuộc sống con người
so với cái vô hạn của tự nhiên “non sông”
Không chỉ ca ngợi những chiến thắng của dân tộc, các nhà thơ cũng
luôn mơ ước về một đất nước hòa bình, thống nhất Nguyễn Trãi trong bài Hạ
quy Lam Sơn I cũng đã vẽ nên một hình ảnh rất đẹp về đất nước trong cảnh
thái bình:
Trang 28Viễn phương ngọc bạch đồ vương hội, Trung quốc uy nghi đổ Hán quan
Sóc tẩm dĩ thanh kình lãng tức,
Nam châu vạn cổ cựu giang san
(Phương xa mang ngọc lụa đến dâng, vẽ thành bức tranh vương hội,
Uy nghi của nước cũ lại được thấy ở các quan triều đình mới khôi phục
Thu đến cây nào chẳng lạ lùng, Một mình lại thuở ba đông
Lâm tuyền ai rặng già làm khách, Tài đống lương cao ắt cả dùng
(Quốc âm thi tập - Tùng I)
Đống lương tài có mấy bằng mày Nhà cả đòi phen chống khoẻ thay Cội rễ bên đời chẳng động
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày
(Quốc âm thi tập - Tùng II)
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày,
Có thuốc trường sinh càng khoẻ thay
Trang 29Hổ phách phục linh nhìn mới biết, Dành còn để trợ dân này
Còn Nguyễn Công Trứ lại khẳng định:
Kiếp sau xin chớ làm người Làm cây thông đứng giữa trời mà reo Giữa trời vách núi cheo leo
Ai mà chịu rét thì trèo với thông
Tùng (cây thông) là loài cây mọc trên núi cao, khô cằn, suốt một mùa đông chịu nhiều sương gió, bão tuyết mà vẫn xanh tươi Ở đây cây tùng được dùng với ý nghĩa biểu trưng cho người quân tử, bậc trượng phu
Còn cây trúc:
Ưa mi vì bởi tiết mi thanh
Là loài cây có đặc tính ruột rỗng, ngay thẳng, không vì mưa gió mà nghiêng mình, nó được dùng để so sánh với người quân tử Đã là con người,
là bậc nam nhi sống trong trời đất thì phải học lấy cái cốt cách của cây tùng, cây trúc, cây mai sống bền bỉ, kiên cường, bất chấp mọi khó khăn gian khổ:
Xuân đến hoa nào chẳng tốt tươi;
Ưa mày vì tiết sạch hơn người
Gác đông ắt đã từng làm khách,
Há những Bô tiên kết bạn chơi
Cây mai với những đóa hoa vàng nho nhỏ, thân cây thanh tao được tác giả sử dụng làm biểu tượng cho cốt cách thanh cao của người quân tử
Nằm trong bộ tứ tùng, cúc, trúc, mai nhưng nếu tùng, trúc, mai gắn với bậc trượng phu, với người hành đạo thì cúc lại gắn với hình tượng nhà nho ẩn dật:
Trang 30Người đua nhan sắc thủa xuân dương Nghỉ chờ thu cực lạ nhường
Hoa nhẫn dành đeo danh ẩn dật Thức còn phô bạn khách văn chương Tính tình nào đoái bề ong bướm Tiết muộn chẳng nài thủa tuyết sương Dầu thấy xuân lan cùng lọn được
Ai ai đều có mỗ mùi hương
(Nguyễn Trãi – Quốc âm thi tập – Cúc)
Hoa cúc nở muộn màng nhưng vẫn đẹp, cái đẹp kín đáo, không phô trương
Có thể thấy với các nhà nho hành đạo thì thiên nhiên là phương tiện để
họ nói chí, tỏ lòng, là chuẩn mực về đạo đức, phẩm chất của kẻ sĩ Thái độ của con người với thiên nhiên ở đây là thái độ yêu mến, tự hào, con người tìm thấy ở thiên nhiên bản thể của chính mình
Khác với mẫu hình nhà nho hành đạo nói trên, nhà nho ẩn dật vốn là
những con người xuất thân từ cửa Khổng sân Trình nhưng vì nhiều lí do khác nhau mà cuối cùng họ vẫn quyết định rời chốn quan trường lui về ở ẩn theo triết lí “lánh đục về trong” để bảo toàn khí tiết Nhà nho ẩn dật là những con người gần gũi với thiên nhiên nên trong ba loại hình nhà nho thì thơ viết về thiên nhiên của các nhà nho ẩn dật chiếm số lượng nhiều nhất Tiêu biểu cho loại hình nhà nho ẩn dật là Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hãng Khảo sát thơ viết về thiên nhiên của các nhà nho ẩn dật ta thấy xuất hiện trong thơ Nguyễn Trãi phần lớn là thiên nhiên tĩnh lặng, thanh bình và hầu như
vắng bóng những sinh hoạt của cuộc sống con người Trong Quốc âm thi tập
của Nguyễn Trãi, ta bắt gặp những bức tranh quê mộc mạc, giản dị:
Trang 31Rừng nhiều cây rợp hoa chầy động
Đường ít người đi cỏ kíp xâm
Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén
Con người ở trong tư thế hưởng thụ tự nhiên:
Ao quan thả gửi bè rau muống Đất bụt ương nhờ một rảnh mùng
Những ước lệ tượng trưng khi miêu tả thiên nhiên đã dần được thay thế bằng những chất liệu của đời sống thực Những hình ảnh thiên nhiên đi vào trong thơ là những hình ảnh gần gũi, gắn bó với cuộc sống hàng ngày của con người: bè rau muống, rảnh mùng tơi Tâm thế của nhà thơ lúc này là tâm thế của một con người hòa mình vào thiên nhiên, mượn thiên nhiên để bầu bạn,
để giãi bày tâm sự Nguyễn Trãi là một nhà thơ yêu thiên nhiên, đọc thơ ông
ta bắt gặp một hồn thơ chan hòa tình cảm đối với thiên nhiên và con người Với ông thiên nhiên là tri kỉ, là bạn, là làng giềng:
Cò nằm hạc lặn nên bầy bạn
Ấp ủ cùng ta làm cái con
Trang 32có những khi ám dụ một đời sống hoặc quan hê ̣ xã hô ̣i:
Trăng trong gió mát là tương thức, Nước biếc non xanh ấy cố tri
Trăng, gió, nước non không còn là vật vô tri vô giác mà là bạn hữu Ở đây không còn khoảng cách giữa con người và thiên nhiên Thiên nhiên với thơ hài hòa, gắn bó với nhau:
Cày mây, cuốc nguyệt, gánh yên hà,
Nào của nào chăng phải của ta
Đêm đợi trăng cài bóng trúc
Ngày chờ gió thổi in hoa
Trang 33Hiểu lâm thái phố sương niêm lý,
Dạ phiếm ngư cơ nguyệt mãn thuyền
(Vườn rau sáng dạo sương vương dép
Bến cá đêm về trăng đầy thuyền)
(Ngụ hứng - bài 4) Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm có những mảng rất hiện thực, không tượng trưng, không ước lệ Tác giả nhìn thiên nhiên như những gì vốn có của nó:
Thớt có tanh tao ruồi đậu đến
Ang không mật mỡ kiến bò chi
Mượn hiện tượng tự nhiên để hàm ngụ về cuộc sống của con người, mượn thiên nhiên để đưa ra triết lí sống phù hợp cho con người:
Thế gian biến cải vũng nên đồi
Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi
Còn bạc còn tiền còn đệ tử
Hết cơm hết gạo hết ông tôi
Hay: Hoa càng khoe nở, hoa nên rữa
Nước chớ cho đầy nước ắt vơi
Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm còn thể hiện triết lý "nhàn", sống nhàn
là trở về với đời sống tự nhiên, thuận theo quy luật của tự nhiên:
Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao
Trang 34Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
Sống nhàn với Nguyễn Bỉnh Khiêm là sống một cách thanh cao, phủ nhận danh lợi, là gần gũi, chan hòa với thiên nhiên Ông vui với bữa cơm dưa muối, ao bô, hài cỏ…
Cơm ăn chẳng mùi xa bạc
Áo mặc nề chi tấm rách lành Đẹp gót mong theo người ẩn dật Bận lòng lại tưởng án công danh
Còn đối với Nguyễn Hãng – cũng là một nhà nho sống ẩn dật chốn lâm tuyền, nét nổi bật trong thơ ông là niềm tự hào của kẻ ẩn sĩ trong cảnh “an bần lạc đạo”, là niềm yêu mến thiết tha thiên nhiên đất nước hùng vĩ, tươi đẹp
Tịch cư ninh thể phú là bức tranh thiên nhiên nên thơ, bình dị:
Yêu thay miền thôn tịch, Yêu thay miền thôn tịch!
Khéo chiều người yêu mến cảnh yên hà;
Dễ quyến khách vui miền tuyền thạch…”
Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Hãng không tĩnh tại, và ở đó con người gắn bó, hòa hợp với thiên nhiên, coi thiên nhiên như bè bạn:
Khách nhàn họp ba chồi cúc muộn, đứng dựa bên thềm Bạn lão sum mấy gốc mai già, chen kề tận ngạch
Trang 35Gió nhân là quạt mát, điểm trần ai thay thảy tan không; Nước trí ấy gương trong, niềm tục lụy lâng lâng rửa sạch Nếu như “người hành đạo và người ẩn dật là con sinh đôi, thay thế nhau xuất hiện trong những tình thế khác nhau của xã hội nông thôn – cung đình cố hữu” [23, tr.52] thì “người tài tử ra đời chậm, gắn với sự phát triển eo hẹp của
đô thị Nhà nho tài tử đối lập Tài với Đức, Tình với Tính, coi trọng thích thú
cá nhân, đòi tự do, phóng khoáng và hưởng thụ lạc thú trần tục” [23, tr.52–53] Nhà nho tài tử cũng trải qua quá trình học tập, đào tạo nơi cửa Khổng sân Trình nhưng trong một môi trường sống mới, cảm quan và nhận thức về đời sống của họ dần biến đổi, họ dần rời xa những giáo lí, quy phạm khắt khe của Nho giáo Điểm khác biệt cơ bản giữa người tài tử với người hành đạo và người ẩn dật là ở chỗ người tài tử coi tài và tình chứ không phải đạo đức làm nên giá trị con người Họ quan niệm tài theo nhiều cách, đó là tài trị nước cầm quân, tài kinh bang tế thế và đặc biệt là tài “nhả ngọc phun châu”, “cầm, kì, thi, họa” Tài phải gắn với tình thì mới trở thành người tài tử Ở nhóm nhà nho tài tử chúng tôi lấy trường hợp của Nguyễn Công Trứ làm ví dụ điển hình Nguyễn Công Trứ, cũng như bao nhà nho cùng thời mong đỗ đạt làm quan, mang thân ra giúp nước giúp đời:
Chí làm trai nam bắc đông tây Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
…Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ Quyết ra tay chèo lái trận cuồng phong Chí những toan xẻ núi lấp sông
Làm nên đấng anh hùng đâu đó tỏ
Mong ước là như vậy nhưng ông không bị ràng buộc bởi những khắt khe của lễ giáo phong kiến, trong thơ ông ta thấy hiện lên rất rõ hình ảnh của con người tài tử, sống tự do thích thỏa như ông từng tuyên bố:
Trang 36Sách có chữ "Nhân sinh thích chí"
Đem ngàn vàng đổi lấy tiếng cười
Hay:
Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi đấy
Nếu không chơi thiệt ấy ai bù
(Chơi xuân kẻo hết xuân đi) Lối sống hưởng thụ là một cách khẳng định, một sự đối lập đối với xã hội phong kiến nhiều quy tắc khắt khe:
Nhân sinh bất hành lạc Thiên tuế diệc vi thương (Đời người mà không hành lạc Sống nghìn năm cũng như đứa trẻ chết yểu)
Ở đây tư tưởng của nhà nho tài tử có sự chuyển dịch từ Nho sang Trang Ông đề cao triết lí hưởng lạc, với ông muốn có công danh thì phải đợi thời, nhưng hưởng lạc thì tự bản thân có thể làm bất cứ lúc nào:
Chen chúc lợi danh đà chán ngắt Cúc tùng phong nguyệt mới vui sao (Thoát vòng danh lợi)
Và hưởng lạc chính là cơ hô ̣i thể hiện tài tình
Bước sang khoảng thế kỉ XVIII – nửa đầu XIX, văn học bên cạnh việc phát triển những nội dung trước đó thì văn học thời kì này cũng có bước chuyển với chủ nghĩa nhân đạo nổi lên như một nội dung chủ đạo Nó quan tâm nhiều hơn đến thân phận của những con người bình thường, đến những cảm xúc mang tính người, đi sâu vào miêu tả đời sống nội tâm nhân vật Thiên nhiên trong giai đoạn này được thể hiện vô cùng phong phú, đa dạng,
Trang 37thiên nhiên xuất hiện với nhiều sắc thái khác nhau, gắn liền với phong cách của từng tác giả
Mở đầu văn học giai đoạn này là tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn do Đoàn Thị Điểm diễn Nôm Trong Chinh phụ ngâm ta thấy thiên
nhiên và con người có sự gắn bó chặt chẽ với nhau Ngoại cảnh gắn bó với tình người, với tình yêu đôi lứa:
Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun
Thiên nhiên cũng gắn liền với nỗi khát khao thầm kín nhưng mạnh mẽ của người chinh phụ:
Lòng này gửi gió đông có tiện
Nghìn vàng xin gửi đến non yên
Non yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông
Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu
Thiên nhiên trong Chinh phụ ngâm là thiên nhiên mang tính tượng
trưng ước lệ, thiên nhiên chủ yếu được dùng để miêu tả nội tâm nhân vật và những khát vọng thầm kín của người phụ nữ
Với Hồ Xuân Hương cảnh vật trong thơ bà luôn tràn trề sức sống, tươi tắn, khỏe mạnh, đầy tính gợi hình:
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo
Trang 38Còn với Nguyễn Du thì thiên nhiên trở thành chuẩn mực cho cái đẹp
của con người Đọc Truyện Kiều ta không khó để tìm thấy những vần thơ sử
dụng thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người:
Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen đua thắm liễu hờn kém xanh
Vẻ đẹp ngoại hình của con người được so sánh với vẻ đẹp tinh túy của thiên nhiên (trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết, núi, liễu…) Nhìn hình ảnh “khuôn trăng đầy đặn”, “nét ngài nở nang” ta hình dung ra vẻ đẹp phúc hậu của Vân,
sự sắc sảo của Kiều qua “Hoa ghen đua thắm, liễu hờn kém xanh” Vẻ đẹp tinh thần, cốt cách thanh tao được ví với cây mai, tuyết:
Mai cốt cách tuyết tinh thần Thiên nhiên không chỉ là chuẩn mực cho con người về nhan sắc và
phẩm hạnh mà trong Truyện Kiều thiên nhiên còn làm nền cho tự sự, cho
hành vi và thế giới tinh thần của nhân vật:
Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa Thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp giàu sức sống tương đồng với tâm trạng vui tươi, náo nức của chị em Thúy Kiều trong tiết thanh minh:
Bước dần theo ngọn tiểu khê Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh Nao nao dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
Trang 39Thiên nhiên gắn với hầu hết các xúc cảm của con người mà Nguyễn Du thể hiện Đó có khi là cảnh tâm trạng náo nức của chị em Thúy Kiều khi đi tảo mộ, cũng có khi là cảnh gắn với tâm trạng buồn khi phải chia li:
Người lên ngựa, kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
Dặm hồng bụi cuốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Thiên nhiên và con người dường như có sự tương đồng về thân phận và tâm trạng Thiên nhiên trở thành một tạo vật có hồn, là nhân vật chứng kiến
và cảm thông với mọi nỗi buồn đau của con người Nói cách khác trong thơ văn Nguyễn Du có sự giao hòa giữa hai chiều cảnh và người như ông từng tổng kết:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
Có thể thấy trong văn học cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX thiên nhiên chịu ảnh h ưởng của quan niệm Nho giáo được miêu tả với nhiều sắc thái, và được mở rộng hơn nội hàm biểu cảm
Sáng tác về thiên nhiên chịu ảnh hưởng của Đạo giáo
So với Nho giáo và Phật giáo, ảnh hưởng của Đạo giáo không phổ biến bằng, đồng thời ảnh hưởng này cũng thường đan xen với hai hệ tư tưởng Nho
- Phật Tư tưởng Lão Trang thích hợp với sáng tác nghệ thuật, tạo nên cảm hứng tiêu dao, đặc biệt là ở những nghệ sĩ cá tính hay những nhân vật tài tử
mà chúng tôi đã đề cập ở trên Nguyễn Trãi và Nguyễn Công Trứ có thể được xem như hai trường hợp điển hình
Trong thời kỳ phong kiến trí thức Việt Nam đều được đào tạo theo nền Hán học, trưởng thành từ cửa Khổng sân Trình Con đường lập thân của họ là chăm lo đèn sách, đỗ đạt ra làm quan cho triều đình, tuy nhiên con đường
Trang 40công danh không phải với ai cũng thuận lợi Cuộc đời của một nho sĩ thường trải qua nhiều thăng trầm, biến động và không ít người trong số họ ngoài thời
kỳ làm quan là lui về sống ẩn dật, chọn triết lý sống an bần lạc đạo trong cảnh tiêu dao Tiêu biểu cho những nhà nho chọn con đường ẩn dật sau những năm
tháng cống hiến cho triều đình là Nguyễn Trãi Ông có tác phẩm Côn Sơn ca
được viết trong những năm tháng về ở ẩn tại Côn Sơn Đọc bài thơ ta thấy một trạng thái tự tại giữa đất trời:
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đó như ngồi chiếu êm Trong rừng thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm, Trong rừng có bóng trúc râm, Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn
Một con người đang hưởng thụ tự nhiên, tận hưởng những ưu đãi của thiên nhiên: đá rêu làm chiếu, thông làm bóng mát
Còn đối với cái tôi phóng khoáng Nguyễn Công Trứ, tiếp nhận học thuyết Lão Trang ở những khía cạnh tích cực nhất của nó đã tạo nên cảm hứng tiêu dao, tự do tự tại của ông Cái ngông của Nguyễn Công Trứ kế tục cái ngông của Trang Tử, thơ ông thể hiện ước vọng được du lãm đến cùng cốc thâm sơn với thơ rượu, địch đàn, tỏ với đời phẩm chất thanh cao của kẻ sĩ không màng danh lợi:
Đường ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay Đàn năm cung réo rắt tính tình dây
Cờ đôi nước rập rình xe ngựa đó Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ