1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của cuộc cách mạng công nghệ tới định hướng cải cách chương trình giáo dục ở việt nam

85 390 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 606,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giải đáp những câu hỏi trên, việc chọn nghiên cứu đề tài Tác động của cuộc cách mạng công nghệ tới định hướng cải cách chương trình giáo dục của Việt Nam hiện nay thực sự là một vấn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội, 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HỒ NGỌC LÂM

TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ TỚI ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH CHƯƠNG TRÌNH

GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Công nghệ

Mã số: 60 34 04 12

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Cao Đàm

Hà Nội - 2016

Trang 3

1

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG 5

DANH MỤC CÁC HÌNH 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 10

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Phạm vi nghiên cứu 11

5 Mẫu khảo sát 11

6 Câu hỏi nghiên cứu 11

7 Giả thuyết nghiên cứu 11

8 Phương pháp nghiên cứu 11

9 Kết cấu của luận văn 12

CHƯƠNG 1 13

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG 13

CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ 13

TỚI ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC 13

1.1 Các khái niệm cơ bản 13

1.1.1 Khái niệm giáo dục 13

1.1.2 Khái niệm khoa học 14

1.1.3 Khái niệm công nghệ 15

1.1.4 Khái niệm cách mạng khoa học và công nghệ 18

1.1.5 Khái niệm văn minh cơ học 19

1.1.6 Khái niệm văn minh thông tin 20

1.1.7 Khái niệm chương trình giáo dục 21

1.1.8 Khái niệm "cải cách" và "cải cách chương trình giáo dục" 22

1.2 Mối quan hệ giữa giáo dục và công nghệ 22

1.2.1 Giáo dục đi sau công nghệ 23

1.2.2 Giáo dục tiến lên đi sóng đôi với công nghệ 23

1.2.3 Giáo dục vượt lên, tiến trước công nghệ 23

1.3 Tác động của cách mạng công nghệ tới sự phát triển của giáo dục 24

1.3.1 Tác động tích cực của cách mạng công nghệ đến giáo dục 24

1.3.2 Tác động tiêu cực của cách mạng công nghệ đối với giáo dục 25

Tiểu kết chương 1 26

CHƯƠNG 2 27

SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ 27

ĐỐI VỚI ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC 27

2.1 Khái quát các chương trình giáo dục ở Việt Nam từ 1945 đến nay 27

2.1.1 Giai đoạn 1945 – 1954: Giáo dục Việt Nam trong những năm kháng chiến 28

Trang 4

2.1.2 Giai đoạn 1954 – 1975: Nền giáo dục "Nhân bản, Dân tộc và Khai

phóng" 32

2.1.3 Giai đoạn 1976 – nay: Nền giáo dục Việt Nam thống nhất 36

2.1.4 Đánh giá chung về diễn biến chương trình giáo dục Việt Nam 39

2.2 Chương trình giáo dục của một số nước trên thế giới 41

2.2.1 Chương trình giáo dục Hoa Kỳ 41

2.2.2 Chương trình giáo dục Nhật Bản 45

2.2.3 So sánh chương trình giáo dục Hoa Kỳ, Nhật Bản và Việt Nam 49

2.2.4 Kết quả phỏng vấn du học sinh về sự khác biệt giữa chương trình giáo dục trên thế giới và tại Việt Nam 52

2.3 Nhận diện sự tác động của cuộc cách mạng công nghệ đến chương trình giáo dục tại Việt Nam 55

2.3.1 Tác động tích cực của cuộc cách mạng công nghệ đến chương trình giáo dục tại Việt Nam 55

2.3.2 Tác động tiêu cực của cuộc cách mạng công nghệ đến giáo dục tại Việt Nam 58

Tiểu kết chương 2 61

CHƯƠNG 3 62

ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC VIỆT NAM TRƯỚC SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ 62

3.1 Định hướng cải cách chương trình giáo dục ở Việt Nam 62

3.1.1 Định hướng cải cách chương trình giáo dục theo Nghị quyết 88/2014/QH13 62

3.1.2 Đổi mới nội dung giáo dục Việt Nam đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghệ - nền văn minh thông tin 63

3.1.3 Đổi mới chương trình giáo dục để hội nhập với thế giới đương đại 68

3.1.4 Đổi mới mục tiêu đào tạo từ đào tạo người lao động chuyên sâu sang đào tạo người lao động đa năng 70

3.1.5 Đổi mới niên hạn đào tạo 72

3.2 Đề xuất một số chính sách nhằm thúc đẩy sự tác động của công nghệ tới định hướng cải cách chương trình giáo dục ở Việt Nam 75

3.2.1 Chính sách về nhân lực 75

3.2.2 Chính sách về tài chính 76

3.2.3 Chính sách về cơ sở vật chất 77

Tiểu kết chương 3 78

KẾT LUẬN 80

KHUYẾN NGHỊ 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 5

Đồng thời tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Ban Chủ nhiệm Khoa Khoa học quản lý, đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 15 tháng 01 năm 2016

Hồ Ngọc Lâm

Trang 6

KHXH&NV: Khoa học xã hội và nhân văn

NCCB: Nghiên cứu cơ bản

NCUD: Nghiên cứu ứng dụng

Trang 7

5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 So sánh chương trình đào tạo và niên hạn đào tạo tại Hoa Kỳ, Nhật Bản và Việt Nam trang 49 Bảng 2.2 Kết quả khảo sát đối tượng nghiên cứu du học sinh về sự khác biệt trong chương trình đào tạo và niên hạn đào tạo của các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới và tại Việt Nam trang 53

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa giáo dục, công nghệ .trang 23 Hình 1.2 Tác động của công nghệ đến giáo dục trang 24 Hình 2.1 Diễn biến chương trình giáo dục, niên hạn đào tạo của nước ta

từ năm 1945 đến nay .trang 27

Trang 9

mà áp dụng Xét ở khía cạnh thứ nhất, khi công nghệ phát triển thì nó có tác

động đến giáo dục, đòi hỏi giáo dục cũng phải phát triển phù hợp, chí ít cũng phải ngang bằng, sánh đôi với công nghệ

Cho đến nay, ở nước ta đã có bốn mốc cải cách chương trình giáo dục mang quy mô lớn với cách gọi mà các nhà nghiên cứu đặt bằng tên các vị bộ trưởng giáo dục chủ xướng các chương trình cải cách đó (1) Chương trình Hoàng Xuân Hãn, Chính phủ Trần Trọng Kim, 1945, (2) Chương trình Phan Huy Quát, Chính phủ Bảo Đại, 1951, (3) Chương trình Nguyễn Văn Huyên, Chính phủ Hồ Chí Minh, 1952, (4) Chương trình Nguyễn Dương Đôn, Chính phủ Ngô Đình Diệm, 1954 Các Chương trình Nguyễn Văn Huyên, Phan Huy Quát và Nguyễn Dương Đôn về cơ bản vẫn mang ảnh hưởng của Chương trình Hoàng Xuân Hãn

Mặc dù Chương trình Hoàng Xuân Hãn phản ánh đầy đủ và cập nhật trình độ của công nghệ đương thời, nhưng đó là trình độ của công nghệ nửa đầu thế kỷ XX- nền công nghệ thuộc Đợt sóng thứ hai, tức của xã hội công nghiệp, mà bản chất của nó là nền văn minh cơ học

Chương trình Hoàng Xuân Hãn đến nay đã gần 70 năm, chúng ta đang sống trong một thế giới công nghệ đang tiến mạnh mẽ sang Đợt sóng thứ ba,

đã và đang bước vào một nền văn minh khác, nền văn minh thông tin Về kinh tế, thế giới cũng đã chuyển mình từ nền kinh tế dựa trên khai thác tài nguyên sang nền kinh tế dựa trên tri thức Chương trình Hoàng Xuân Hãn, với

sự phản ánh cập nhật nền công nghệ tại thời điểm năm 1945 nay đã hoàn

Trang 10

thành nhiệm vụ lịch sử Lịch sử đã sang trang và chương trình giáo dục cũng buộc phải sang trang

Chúng ta cải cách chương trình giáo dục trong bối cảnh của công nghệ đương đại, của nền kinh tế và xã hội mới mẻ đó Chúng ta không thể xây dựng một chương trình "cập nhật trình độ của nền công nghệ đương đại" để

"hiện đại hóa" các chương trình đã được xây dựng trong lịch sử giáo dục Vì

"cập nhật hóa chương trình giáo dục" vẫn là cách tiếp cận của các chương trình giáo dục, mà tôi cho rằng đó là cách tiếp cận cổ điển, bởi vì, nền giáo dục đã sang trang

Vừa qua, tại hội nghị Trung ương 9 khoá XI, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận và ban hành nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Như vậy, cuộc cách mạng công nghệ có tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội của thế giới, trong đó có giáo dục, và giáo dục ở Việt Nam cũng không là một ngoại lệ Để đáp ứng với những thay đổi to lớn và nhanh chóng trong kỷ nguyên quá độ lên nền kinh tế tri thức, kỷ nguyên thông tin chương trình giáo dục phải thay đổi cho phù hợp là một yêu cầu tất yếu khách quan Nhưng vấn đề là cơ sở khoa học của việc tác động đó là gì; cơ chế tác động làm sao; mức độ tác động như thế nào; làm gì để có thể tận dụng triệt để mặt tích cực, hạn chế tiêu cực của những tác động của cuộc cách mạng công nghệ đang diễn ra như vũ bão đến định hướng cải cách giáo dục ở Việt Nam

Để giải đáp những câu hỏi trên, việc chọn nghiên cứu đề tài Tác động

của cuộc cách mạng công nghệ tới định hướng cải cách chương trình giáo dục của Việt Nam hiện nay thực sự là một vấn đề mang tính cấp thiết, cần

được nghiên cứu một cách nghiêm túc và khoa học

Luận văn này nghiên cứu trên cơ sở đánh giá sự tác động của công nghệ đến chương trình giáo dục của Việt Nam, trong đó đi sâu phân tích những bất cập của chương trình giáo dục Việt Nam hiện thời trước sự phát triển mạnh

mẽ của công nghệ trong thế giới đương đại; các luận cứ khoa học nhằm đề xuất định hướng cải cách chương trình giáo dục ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu

Trang 11

9

của cuộc cách mạng công nghệ, kỷ nguyên thông tin và hội nhập quốc tế

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa công nghệ với giáo dục cũng như tác động của sự phát triển công nghệ đến đổi mới chương trình giáo dục ở những góc độ khác nhau đã có một số tác giả, một số công trình nghiên cứu; có thể

kể đến ở đây một số công trình, cuốn sách như:

- Nguyễn Quốc Thắng (1994), Khoa cử và giáo dục Việt Nam, NXB Văn

hóa và Thông tin Tác phẩm này đã điểm lịch sử khoa cử và giáo dục Việt Nam, nhận xét về tác động của chế độ khoa cử và giáo dục đến sự phát triển của xã hội Việt Nam trong từng thời kỳ, đồng thời đề xuất các giải pháp cho giáo dục Việt Nam đương đại đến những cơ quan có thẩm quyền để "kiến nghị" một số ý kiến về giáo dục Việt Nam

- Nguyễn Đức Chính (2008), Thiết kế và đánh giá chương trình Giáo

dục, Khoa Sư phạm, Đại học quốc gia Hà Nội Cuốn sách này cung cấp

những kiến thức cơ bản nhất về chương trình giáo dục khoá học và môn học, phương pháp thiết kế, thực thi và đánh giá cải tiến chương trình giáo dục Với mục tiêu: Nêu được vai trò của chương trình giáo dục, của phát triển chương trình giáo dục, chương trình một môn học đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục trong bối cảnh hiện tại của quốc tế và trong nước Phân tích được các bước của một chu trình phát triển chương trình giáo dục từ phân tích nhu cầu, xác định mục tiêu, thiết kế, thực thi và đánh giá cải tiến chương trình

- Vũ Cao Đàm (2014), Nghịch lý và Lối thoát – Bàn về triết lý Khoa

học và Giáo dục Việt Nam, NXB Thế giới Trong tác phẩm này, tác giả đã tập

trung nghiên cứu về triết lý giáo dục và khoa học Gắn hai lĩnh vực này trong một mối tương quan hữu cơ không thể tách rời, coi việc tách rời hai lĩnh vực này trong thể chế, trong tổ chức hoạt động là phi lý Đó cũng là một triết lý của Tác giả dành nhiều công sức cho triết lý giáo dục trong mối tương quan

đó, làm rõ nội hàm của triết lý giáo dục, rồi so sánh các triết lý trong lịch sử, trong hiện tại của thế giới và Việt Nam, nêu bật những tư tưởng cải cách trong Tuyên ngôn Bologne 1999 và trong báo cáo của Jacques Delors năm 1996

Trang 12

Nhấn mạnh với đầy bức xúc rằng một cuộc cách mạng giáo dục thật sự đang diễn ra sôi động trên thế giới như dự báo của Alvin Toffler cách đây nhiều thập niên mà Việt Nam chưa sẵn sàng nhập cuộc Vũ Cao Đàm đã cân nhắc lựa chọn, nêu ra một bộ khung triết lý hợp lý cho nền giáo dục và khoa học nước ta hiện tại và tương lai Tác phẩm này ra đời trong bối cảnh đang triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương

Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu

công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban

Chấp hành Trung ương Khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Nhận xét: các tác giả, các công trình nghiên cứu trên cũng đã đề cập đến

xu hướng đổi mới giáo dục ở Việt Nam với những cách giải quyết khác nhau Tuy nhiên, trong giới hạn tài liệu tác giả nghiên cứu, tham khảo, chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và đề xuất định hướng cải cách chương trình giáo dục ở Việt Nam trước sự phát triển của cách mạng công nghệ, mặt khác đây cũng là vấn đề lần đầu tiên được nghiên cứu ở góc độ một luận văn Thạc sỹ, tác giả có kế thừa những kết quả của các nghiên cứu nói trên, để có một hướng tiếp cận mới đề xuất hướng cải cách chương trình giáo dục đáp ứng đòi hỏi của cuộc cách mạng công nghệ mà giáo dục Việt Nam còn đang lúng túng chưa tìm ra hướng đi phù hợp

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn đề ra mục tiêu nghiên cứu đánh giá tác động của cuộc cách mạng công nghệ tới định hướng cải cách chương trình giáo dục của Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

+ Phân tích cơ sở lý luận về sự tác động của cuộc cách mạng công nghệ

Trang 13

11

tới định hướng cải cách chương trình giáo dục

+ Đánh giá thực trạng về sự tác động của cách mạng công nghệ đối với định hướng cải cách chương trình giáo dục của Việt Nam

+ Đề xuất định hướng cải cách chương trình giáo dục Việt Nam trước sự phát triển của cách mạng công nghệ

5 Mẫu khảo sát

Mẫu khảo sát được thực hiện ở trong nước và một số nước có nền giáo dục tiên tiến (Mỹ, Nhật Bản), một số chương trình sách giáo khoa có sự đổi mới theo hướng hiện đại của một số tác giả trong nước

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Cách mạng công nghệ đã tác động như thế nào đến định hướng cải cách chương trình giáo dục của Việt Nam?

- Cần những định hướng gì để cải cách chương trình giáo dục Việt Nam trước sự phát triển của cách mạng công nghệ?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Cách mạng công nghệ đã tác động tích cực đến định hướng cải cách chương trình giáo dục của Việt Nam

- Cần định hướng thoát khỏi khuôn khổ của nền văn minh cơ học bằng nền văn minh thông tin là định hướng cải cách chương trình giáo dục trước sự phát triển của công nghệ đương đại

8 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, Đề tài sử dụng các phương pháp

nghiên cứu sau:

Trang 14

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tác giả Luận văn nghiên cứu các tài liệu đã công bố về lĩnh vực chương trình giáo dục, mối quan hệ giữa khoa học

và giáo dục;

- Phương pháp phân tích, so sánh: Luận văn tiến hành nghiên cứu so sánh các chương trình giáo dục của một số quốc gia có nền giáo dục tiên tiến, phân tích và so sánh với chương trình giáo dục của Việt Nam

- Phương pháp phỏng vấn sâu trực tiếp các cá nhân là chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, quản lý khoa học và công nghệ, phỏng vấn du học sinh là người Việt Nam đã từng học tập và công tác ở nước ngoài Phương pháp phỏng vấn:

+ Liên hệ với người được phỏng vấn, chuyển câu hỏi đến trước;

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, tài liệu đính kèm, luận văn có kết cấu 3 chương cụ thể như sau:

- Chương 1 Cơ sở lý luận về sự tác động của cuộc cách mạng công nghệ tới định hướng cải cách chương trình giáo dục

- Chương 2 Sự tác động của cách mạng công nghệ đối với định hướng cải cách chương trình giáo dục

- Chương 3 Định hướng cải cách chương trình giáo dục Việt Nam trước

sự phát triển của cách mạng công nghệ

Trang 15

13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ TỚI ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm giáo dục

Theo Hà Văn Hội trong giáo trình "Quản trị nguồn nhân lực", ấn phẩm xuất bản tại NXB Bưu điện năm 2008, khái niệm "giáo dục" được hiểu như sau:

"Giáo dục được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp mới thích hợp trong tương lai" 1

Theo Luận văn Thạc sỹ Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật "Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" của tác giả Hoàng Thị Tú Oanh, dưới sự hướng dẫn của Phạm Hồng Thái, bảo vệ năm 2007 của trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, khái niệm "giáo dục" được đề cập đến như sau:

"Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra

Giáo dục là một quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thể hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử – xã hội của loài người

Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội"2

1

[Hà Văn Hội, 2008]

2 [Hoàng Thị Tú Oanh, 2007]

Trang 16

Về cơ bản, có thể hiểu, "giáo dục" là quá trình đào tạo một con người, giúp họ có đầy đủ những kiến thức và kỹ năng để họ tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất một cách hiệu quả và có thể hoàn thành tốt công việc

1.1.2 Khái niệm khoa học

Theo tác giả Strauss và Cropseyeds trong tác phẩm "History of Political Philosophy" tái bản lần thứ ba, cách hiểu về khoa học được nhắc đến như sau:

"Khoa học đã được phân biệt là kiến thức về tự nhiên, và những gì là sự thật đối với mỗi cộng đồng, và tên gọi của việc theo đuổi những kiến thức như thế là triết học - lĩnh vực của những nhà vật lý- triết học đầu tiên Họ chủ yếu là những người suy đoán hoặc các nhà lý thuyết, đặc biệt quan tâm đến thiên văn học Ngược lại, việc cố gắng sử dụng kiến thức về tự nhiên để bắt chước tự nhiên được nhìn thấy bởi các nhà khoa học cổ điển như là một điều thích thú phù hợp hơn đối với các nghệ nhân hạng thấp hơn"3

Theo Luật Khoa học Công nghệ số 29/2013/QH13 ban hành ngày 18

tháng 6 năm 2013, khái niệm "khoa học" được đề cập đến như sau:

"Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy"4

Theo "Giáo trình môn học Phương pháp luận nghiên cứu khoa học", của

Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, khái niệm "khoa học" được hiểu như sau:

- "Là hệ thống những tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, tư duy"

- "Là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện qui luật của sự vật và hiện tượng và vận dụng các qui luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào các sự vật và hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng"

- "Là một hình thái ý thức xã hội, tồn tại mang tính độc lập tương đối với

3 [Strauss và Cropsey eds, trang 209]

4 [Luật Khoa học Công nghệ số: 29/2013/QH13, 2013, Điều 3, Khoản 1]

Trang 17

15

các hình thái ý thức xã hội khác (ở đối tượng và hình thức và hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt)"5

Trong cuốn Lý luận và phương pháp luận khoa học của Vũ Cao Đàm, khoa học được định nghĩa theo một số cách tiếp cận Theo cách tiếp cận khoa học là một hệ thống tri thức thì Khoa học được hiểu là "hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy"

Theo cách tiếp cận khoa học là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính độc lập tương đối với các hình thái xã hội khác Khoa học phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tượng và hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt

Khoa học là một thiết chế xã hội được hiểu là một hệ thống những quy tắc, giá trị và cấu trúc nhằm tới một mục đích xác định: "là một hệ thống các quan hệ ổn định, tạo nên một loạt các khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất được xã hội công khai thừa nhận nhằm thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của

1.1.3 Khái niệm công nghệ

Theo Phan Tú Anh trong "Giáo trình quản trị công nghệ", Học viện bưu chính viễn thông, Hà Nội, ấn hành năm 2006, "Khái niệm công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành xã hội loài người Từ "công nghệ" xuất phát

từ chữ Hy Lạp (teknve – Tenkhne) có nghĩa là một công nghệ hay một kỹ

5 [Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, 2013]

6 [Vũ Cao Đàm, 2009, trang 59]

Trang 18

năng, và (λoyoσ –logos) có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu Thuật ngữ technology (Tiếng Anh) hay technologie (Tiếng Pháp) có ý nghĩa là khoa học về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật – thường được gọi

là "Công nghệ học".7

Thực tế cho thấy, người ta thường đồng nhất nội dung của hai thuật ngữ

kỹ thuật và công nghệ làm một Nguyên nhân, theo tài liệu "Góp phần nhận

thức thế giới đương đại" của các tác giả đồng chủ biên Nguyễn Đức Bình, Lê

Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến, ấn phẩm xuất bản tại NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội năm 2003, cho rằng: Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây thường dùng thuật ngữ "kỹ thuật" thay cho "công nghệ", chẳng hạn việc dùng thuật ngữ

"khoa học và kỹ thuật" thay cho thuật ngữ "science and technology" ở phương Tây; nhưng "hiện nay, đa số các nước đó sử dụng cơ chế thị trường nên cũng dùng thuật ngữ công nghệ"8

Cũng theo tài liệu này, các tác giả cho rằng: "Công nghệ là bộ phận đặc biệt quan trọng của lực lượng sản xuất"9

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen trong tài liệu "C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn

tập – Tập 4", xuất bản tại NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1995, cách

hiểu về "công nghệ" như sau:

"Công nghệ làm nổi bật thái độ tích cực của con người đối với tự nhiên, vạch rõ quá trình sản xuất trực tiếp ra đời sống của con người và những điều kiện của đời sống xã hội của họ, cũng như những khái niệm tinh thần bắt nguồn từ điều kiện ấy"10

Quan niệm trên đây của Mác đã chỉ ra: (1) Thông qua công nghệ, bộc lộ mối quan hệ của con người với tự nhiên; (2) Thông qua công nghệ, bộc lộ mối quan hệ giữa người với người; (3) Thông qua công nghệ, hình thành nên mối quan hệ biện chứng tự nhiên – con người – xã hội

7 [Phan Tú Anh, 2006, trang 3]

8 [Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến, 2003, trang 98]

9 [ Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến, 2003, trang 99]

10 [C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, trang 187]

Trang 19

17

Theo tác giả Nguyễn Mạnh Quân (Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Bộ KH&CN) trong tài liệu "Cách tiếp cận hệ thống đổi mới trong quản lý nhà nước về KH & CN", đăng trên Tạp chí Hoạt động Khoa học, số

12 năm 2009, các tác giả Dahlman C.J và Westphal L.E còn mở rộng khái niệm công nghệ đến mức cho rằng: "Công nghệ bao gồm các quá trình vật chất chuyển hoá các đầu vào thành các đầu ra và những kết cấu xã hội có liên quan đến quá trình chuyển hoá này"11

Đồng thời, ESCAP đã chỉ ra bốn thành phần cơ bản của công nghệ, gồm:

• Kỹ thuật (Techno ware): bao gồm các máy móc thiết bị hay các công

cụ và phương tiện kỹ thuật Đây là thành phần cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào, nhờ đó mà con người tăng được sức mạnh cơ bắp và trí tuệ trong hoạt động sản xuất

• Con người (Human ware): Bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng

do học hỏi, tích luỹ được trong mọi hoạt động, kể các tố chất sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức và kỷ luật lao động, các tri thức của người lao động tham gia vào quá trình sản xuất

• Thông tin (Info ware): Bao gồm các dữ liệu về phần kỹ thuật, về con người và tổ chức; các thông số về đặc tính của thiết bị, số liệu về vận hành thiết bị để duy trì và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu để thiết kế các

bộ phận của phần kỹ thuật Thành phần thông tin là tập hợp tất cả các tri thức được tích luỹ trong công nghệ

• Tổ chức (Orga ware): Bao gồm các hoạt động tổ chức và quản lý sản

11 [Nguyễn Mạnh Quân, 2009]

12 [Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến, 2003, trang 99]

Trang 20

xuất, với tư cách là nhân tố kết nối các thành phần khác của công nghệ

Bên cạnh đó, ESCAP còn chỉ ra cấu tạo của công nghệ gồm: phần cứng

và phần mềm, dựa trên bốn yếu tố T-I-H-O nêu trên13

Theo Luật Khoa học Công nghệ số: 29/2013/QH13 ban hành ngày 18

tháng 6 năm 2013, khái niệm "công nghệ" được đề cập đến như sau:

"Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm"14

Như vậy, theo nghĩa hẹp, thuật ngữ "công nghệ" được hiểu tương đương với thuật ngữ "kỹ thuật" và là một bộ phận của lực lượng sản xuất Theo nghĩa rộng, thuật ngữ "công nghệ" bao trùm rộng hơn "kỹ thuật" và chứa đựng trong đó những yếu tố then chốt nhất của cả lực lượng sản xuất lẫn quan

1.1.4 Khái niệm cách mạng khoa học và công nghệ

Theo 2 tác giả Shapin, Steven trong tài liệu "The Scientific Revolution"

ấn hành năm 1996, nhà triết học và sử gia Alex Koyre đã đặt ra thuật ngữ Scientific Revolution (cách mạng khoa học) vào năm 1939 để mô tả giai đoạn này Cách mạng KH&CN là quá trình biến đổi những yếu tố chủ yếu trong lực lượng sản xuất của xã hội được thực hiện nhờ vào vai trò dẫn đường của

13

[Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến, 2003, trang 99]

14 [Luật Khoa học Công nghệ số: 29/2013/QH13, 2013, Điều 3, Khoản 2]

Trang 21

19

khoa học trong chu trình khép kín: khoa học - công nghệ - sản xuất - con người - môi trường" Về cơ bản có thể hiểu "cách mạng KH&CN" là quá trình thay thế, biến đổi toàn diện quy mô, trình độ, nhịp độ phát triển khoa học, tạo

ra những lý thuyết khoa học mới, từ đó làm thay đổi các phương tiện kỹ thuật, tạo nên những nguyên lý mới và biến đổi những yếu tố chủ yếu trong lực lượng sản xuất của xã hội

Theo Thomas Kuln: "Các cuộc cách mạng khoa học bắt đầu bằng cảm nhận ngày càng tăng rằng mẫu hình hiện hành không còn vận hành một cách thỏa đáng trong việc tìm hiểu một khía cạnh của tự nhiên mà trước đó chính hình mẫu này đã soi đường chỉ lối cho việc nghiên cứu khía cạnh ấy Cảm nhận này thường cũng chỉ giới hạn trong một bộ phận của cộng đồng khoa học"

Theo Phạm Thị Ngọc Trầm trong tài liệu "Cách mạng thông tin - công nghệ và nền văn minh" (Tạp chí Triết học năm 2005), "Vật chất, năng lượng, thông tin là những thuộc tính cơ bản vốn có của thế giới Thế giới hay hệ thống Tự nhiên - Con người - Xã hội luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng, nhưng đồng thời cũng luôn ở trong trạng thái thống nhất hữu cơ chính là nhờ những thuộc tính vốn có này - nhờ sự trao đổi, chuyển hoá thường xuyên của các dòng vật chất, năng lượng, thông tin Kết quả của quá trình biến đổi vật chất, năng lượng, thông tin do trí tuệ và lao động được định hướng bởi trí tuệ đó của con người đã tạo nên các cuộc cách mạng thông tin - công nghệ và cùng với chúng là sự thay đổi của nền văn minh nhân loại"

Như vậy, về cơ bản, có thể hiểu, "cách mạng khoa học và công nghệ" là quá trình thay thế, biến đổi toàn diện về quy mô, trình độ, nhịp độ phát triển của khoa học, tạo ra những lý thuyết khoa học mới, từ đó làm thay đổi các phương tiện kỹ thuật, tạo nên những nguyên lý mới và biến đổi những yếu tố chủ yếu trong lực lượng sản xuất của xã hội

1.1.5 Khái niệm văn minh cơ học

Có thể hiểu một cách tổng quát, "văn minh" là sự kết hợp đầy đủ các yếu

tố tiên tiến tại thời điểm xét đến để tạo nên, duy trì, vận hành và tiến hoá xã

Trang 22

hội loài người Đối nghịch với văn minh là hoang dã, man rợ, lạc hậu Một nền văn minh là một xã hội phức tạp, thể hiện phẩm chất tiên tiến từ một xã hội đồng nhất Mọi cư dân sinh sống trong xã hội cùng một văn hoá, nhưng không phải tất cả mọi cư dân đều sống trong nền văn minh

Về các yếu tố cấu thành, "văn minh" gồm các giá trị di sản tích lũy tri thức, tinh thần và vật chất của con người kể từ khi loài người hình thành cho đến thời điểm xét đến

Về khái niệm "cơ học", có thể hiểu "cơ học" là ngành khoa học nghiên cứu chuyển động của vật chất trong không gian và tương tác giữa chúng Như vậy, văn minh cơ học là quá trình biến đổi vật chất do trí tuệ và lao động được định hướng bởi trí tuệ đó của con người và tạo nên các cuộc cách mạng về cơ học và cùng với chúng là sự thay đổi của nền văn minh nhân loại Trong giáo dục, "văn minh cơ học" chỉ thời kỳ mà ở đó, giáo dục chú trọng vào các môn học tự nhiên, trong đó nội dung thường đơn giản là các lý thuyết về sự chuyển động của vật chất trong không gian và tương tác giữa chúng

1.1.6 Khái niệm văn minh thông tin

Theo Phạm Thị Ngọc Trầm trong tài liệu "Cách mạng thông tin - công nghệ và nền văn minh", đăng trên Tạp chí Triết học năm 2005, "Vật chất, năng lượng, thông tin là những thuộc tính cơ bản vốn có của thế giới Thế giới hay hệ thống Tự nhiên - Con người - Xã hội luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng, nhưng đồng thời cũng luôn ở trong trạng thái thống nhất hữu cơ chính là nhờ những thuộc tính vốn có này - nhờ sự trao đổi, chuyển hoá thường xuyên của các dòng vật chất, năng lượng, thông tin Kết quả của quá trình biến đổi vật chất, năng lượng, thông tin do trí tuệ và lao động được định hướng bởi trí tuệ đó của con người đã tạo nên các cuộc cách mạng thông tin - công nghệ và cùng với chúng là sự thay đổi của nền văn minh nhân loại"15

15 [Phạm Thị Ngọc Trầm, 2005]

Trang 23

21

Như vậy, "văn minh thông tin" là quá trình biến đổi về thông tin do trí tuệ và lao động được định hướng bởi trí tuệ đó của con người và tạo nên các cuộc cách mạng về thông tin và cùng với chúng là sự thay đổi của nền văn minh nhân loại, hay còn gọi là "văn minh thông tin"

Theo đó, "văn minh thông tin" có thể được hiểu như là sự kết hợp đầy đủ các yếu tố tiên tiến về thông tin và tương tác giữa chúng tại thời điểm xét đến

để tạo nên, duy trì, vận hành và tiến hoá xã hội loài người

Do cuộc cách mạng công nghệ nên nền văn minh cơ học đã chuyển sang nền văn minh thông tin và còn được gọi là kỷ nguyên thông tin

Trong giáo dục, "văn minh thông tin" chỉ thời kỳ mà ở đó, giáo dục chú trọng vào các môn học tự nhiên mà các nội dung thường phức tạp hơn, chứa đựng nhiều thông tin hơn về nhiều lĩnh vực khác nhau

1.1.7 Khái niệm chương trình giáo dục

Theo Lâm Quang Hiệp và Lê Viết Khuyến trong tài liệu "Phát triển chương trình giáo dục/đào tạo đại học", "Chương trình giáo dục/đào tạo được xem xét ở đây tương đương với thuật ngữ curriculum trong tiếng Anh (sau đây sẽ gọi là chương trình đào tạo - CTĐT) Có rất nhiều quan niệm khác nhau về CTĐT ở nước ta và ngay cả trong các văn bản tiếng Anh

"…quan niệm về chương trình đào tạo không đơn giản là cách định nghĩa mà nó thể hiện rất rõ quan điểm về đào tạo."16

Theo tác giả Wentling T trong tài liệu "Planning for effective training:

A guide to curriculum development" ấn hành bởi Tổ chức thực phẩm và nông nghiệp quốc tế vào năm 1993, "Chương trình đào tạo là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (đó có thể là một khóa học kéo dài vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm) Bản thiết kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì có thể trông đợi ở người học sau khóa học, nó phác họa ra qui trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho biết các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học

16 [Lâm Quang Hiệp và Lê Viết Khuyến]

Trang 24

tập, và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ"17

Như vậy, có thể hiểu một cách tổng quát "chương trình đào tạo" hay

"chương trình giáo dục" là tổng thể bản thiết kế về các hoạt động và nội dung, hình thức đào tạo "Chương trình đào tạo" hay "chương trình giáo dục chỉ ra toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì có thể trông đợi ở người học sau khóa học, phác họa các phương pháp đào tạo cụ thể và cách thực hiện các bước trong quy trình đào tạo ở một đơn vị giáo dục nào đó

1.1.8 Khái niệm "cải cách" và "cải cách chương trình giáo dục"

"Cải cách": Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở, cải là từ Hán-Việt có nghĩa là thay đổi, cách là phương pháp, hình thức hành động Cải cách là thay

đổi phương pháp, hành động của một công việc, hoặc một hoạt động cụ thể để đạt mục tiêu tốt hơn

Ví dụ: Cải cách hành chính: thay đổi phương thức, quy trình làm việc

về thủ tục hành chính với mục đích nhanh, gọn

Cải cách giáo dục: thay đổi cách dạy, học, số lượng, chất lượng kiến

thức nhằm đào tạo con người tốt hơn

"Cải cách chương trình giáo dục" là thay đổi nội dung, phương pháp, và cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập nhằm mục tiêu đào tạo con người tốt hơn

1.2 Mối quan hệ giữa giáo dục và công nghệ

Theo Vũ Cao Đàm mối quan hệ giữa giáo dục, công nghệ được ghi nhận những giai đoạn với những nét khác biệt cơ bản: (1) Giáo dục đi sau công nghệ, (2) Giáo dục tiến lên đi sóng đôi với công nghệ, và (3) Giáo dục vượt lên, tiến trước công nghệ18

Trang 25

23

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa giáo dục và công nghệ

Nguồn: Vũ Cao Đàm, (2014), Nghịch lý và Lối thoát – Bàn về triết lý Khoa học và Giáo dục Việt Nam, NXB Thế giới

Cụ thể:

1.2.1 Giáo dục đi sau công nghệ

Mối quan hệ giữa giáo dục và công nghệ có thể được thể hiện ở khía cạnh giáo dục đi sau công nghệ Theo đó, các tiến bộ về công nghệ xuất hiện, sau đó sẽ được quá trình giáo dục truyền đạt lại cho các thế hệ sau

Ở khía cạnh này, giáo dục đóng vai trò truyền đạt lại những kiến thức, lý thuyết mới về công nghệ cho người học, thông qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu quá trình công nghệ đã phát triển, đã tiến bộ

1.2.2 Giáo dục tiến lên đi sóng đôi với công nghệ

Ở khía cạnh này, giáo dục phát triển đi đôi với sự xuất hiện của những tiến bộ công nghệ, giáo dục phát triển, đi lên và cùng với công nghệ tạo nên những biến đổi mới, đồng thời, công nghệ phát triển tạo thêm nhiều kiến thức,

kỹ thuật mới để đưa vào chương trình giảng dạy trong giáo dục

1.2.3 Giáo dục vượt lên, tiến trước công nghệ

Ở khía cạnh này, giáo dục đồng nghĩa với quá trình nghiên cứu, tìm tòi các lý thuyết, công nghệ mới Giáo dục phát triển vượt bậc với sự đóng góp ở nhiều lĩnh vực, trong đó, giáo dục tạo nên những biến chuyển trong công nghệ nhờ quá trình nghiên cứu, tìm tòi để cho ra đời những lý thuyết mới liên quan đến công nghệ

Mối quan hệ giữa giáo dục và công nghệ

Giáo dục đi sau công

Trang 26

1.3 Tác động của cách mạng công nghệ tới sự phát triển của giáo dục

1.3.1 Tác động tích cực của cách mạng công nghệ đến giáo dục

Công nghệ tác động đến giáo dục được thể hiện ở những khía cạnh sau đây: (1) Công nghệ là một nội dung, một lĩnh vực trọng yếu của giáo dục, (2) Công nghệ góp phần giúp giáo dục phát triển tốt hơn, (3) Công nghệ làm thay đổi căn bản giáo dục truyền thống, và (4) Công và nghệ tác động đến sự biến đổi, cải cách trong giáo dục

Cụ thể, tác giả tổng hợp các tác động của công nghệ tác động đến giáo dục trong hình 1.2 dưới đây:

Hình 1.2 Tác động của công nghệ đến giáo dục

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Cụ thể:

(1) Công nghệ là một nội dung, một lĩnh vực trọng yếu của giáo dục

Trước tiên, công nghệ là một nội dung, một lĩnh vực trọng yếu của giáo dục Theo đó, trong giảng dạy, trong giáo dục, các kiến thức về công nghệ là những kiến thức cơ bản và nâng cao luôn đóng vai trò quan trọng cần phải truyền đạt cho người học trong quá trình tham gia các hoạt động xã hội, góp phần phát triển kinh tế, xã hội Công nghệ phát triển đồng nghĩa với việc các

Tác động tích cực của công nghệ đến giáo dục

Công nghệ làm thay đổi căn bản giáo dục truyền thống

Công nghệ tác động đến sự biến đổi, cải cách trong giáo dục

Trang 27

25

lý thuyết mới được hình thành, điều này tạo nên nội dung đa dạng và phong phú hơn để giáo dục có thể lấy đó làm nội dung truyền đạt cho người học

(2) Công nghệ góp phần giúp giáo dục phát triển tốt hơn

Ngoài ra, công nghệ phát triển góp phần giúp giáo dục phát triển tốt hơn Theo đó, những tiến bộ về công nghệ sẽ giúp cải thiện quá trình giáo dục "thủ công", bổ sung thêm nhiều trang thiết bị hiện đại, từ đó giúp quá trình giáo dục được diễn ra hiệu quả hơn

(3) Công nghệ làm thay đổi căn bản giáo dục truyền thống

Hơn nữa, công nghệ còn làm thay đổi căn bản giáo dục truyền thống Giáo dục truyền thống thường sử dụng các công cụ dạy học cũng như phương pháp dạy học cũ kỹ, lạc hậu Công nghệ phát triển đồng nghĩa với việc giáo dục thoát khỏi những phương thức cũ kỹ đó Sự xuất hiện internet, công nghệ thông tin góp phần đưa nền giáo dục truyền thống chuyển đổi thành giáo dục hiện đại, nâng cao khả năng tiếp thu của người học và lượng kiến thức đến với người học cũng nhiều hơn, hiệu quả hơn

(4) Công nghệ tác động đến sự biến đổi, cải cách trong giáo dục

Thêm vào đó, công nghệ còn tác động đến sự biến đối, cải cách trong giáo dục Theo đó, việc hình thành những tiến bộ công nghệ mới sẽ góp phần giúp cải cách toàn diện hệ thống giáo dục Khi công nghệ tự động phát triển, Internet cùng với điện thoại di động và truyền hình vô cùng phổ biến đã tạo ra những thay đổi mới, đặt ra yêu cầu phải cải cách giáo dục để theo kịp những yêu cầu từ phía người học

1.3.2 Tác động tiêu cực của cách mạng công nghệ đối với giáo dục

(1) Công nghệ phát triển đi đôi với quá trình tự động hóa dần dần đi vào đời sống Việc giới trẻ tiếp cận với các công nghệ hiện đại về internet, công nghệ thông tin sẽ tạo nên một lượng lớn thông tin đến từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có những nguồn thông tin không đáng tin cậy, làm ảnh hưởng đến kiến thức, lối sống cũng như văn hóa giới trẻ Thực trạng này gây nên khó khăn cho quá trình giáo dục giới trẻ của nền giáo dục quốc gia

(2) Công nghệ phát triển nhanh chóng kéo theo những tác động về yêu

Trang 28

cầu cấp thiết phải cải cách, biến đổi nền giáo dục truyền thống Theo đó, những khó khăn liên quan đến quá trình cải cách, biến đổi này sẽ tạo nên áp lực cho nền giáo dục ở các quốc gia khác nhau, tùy thuộc vào mức độ tiếp cận của công nghệ

Tiểu kết chương 1

1- Nhìn chung, công nghệ cùng với giáo dục có mối quan hệ tương quan lẫn nhau Công nghệ phát triển sẽ có tác động mạnh mẽ đối với giáo dục Giáo dục phát triển cũng góp phần giúp quá trình phát triển công nghệ có nền tảng để thực hiện tốt hơn Có thể khẳng định: Với nền công nghệ cụ thể nào thì nền giáo dục phải tương ứng với nền công nghệ đó

2- Vấn đề nằm ở chỗ, các quốc gia nắm rõ những tác động của cách mạng công nghệ đối với giáo dục nói chung và định hướng cải cách chương trình giáo dục nói riêng đến mức độ nào để đưa ra phương hướng và kế hoạch, chiến lược cụ thể, để các mục tiêu về phát triển giáo dục, phát triển công nghệ được thực hiện một cách hiệu quả và đạt hiệu quả tối ưu

Trang 29

27

CHƯƠNG 2

SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ

ĐỐI VỚI ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC

2.1 Khái quát các chương trình giáo dục ở Việt Nam từ 1945 đến nay

Diễn biến chương trình giáo dục, niên hạn đào tạo của nước ta từ năm

1945 đến nay có thể được tóm lược trong hình 2.1 dưới đây:

Hình 2.1 Diễn biến chương trình giáo dục, niên hạn đào tạo của nước

Giai đoạn 1945 –

1954 Giáo dục Việt Nam

trong những năm

kháng chiến

Giai đoạn 1954 –

1975 Nền giáo dục "Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng"

Giai đoạn 1976 –

nay Nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Trang 30

2.1.1 Giai đoạn 1945 – 1954: Giáo dục Việt Nam trong những năm kháng chiến

2.1.1.1 Lịch sử hình thành, phát triển nền giáo dục Việt Nam 1945 - 1954 Ngày 10-8-1946, Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 146/SL và Sắc lệnh

số 147/SL khẳng định những nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới và mục đích tôn chỉ của nó Tại Sắc lệnh 146/SL, Hồ Chí Minh đã quy định ba

nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới là: đại chúng hoá, dân tộc hoá và

khoa học hoá, theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ Nền giáo

dục mới giai đoạn 1945 – 1954 theo quy định của sắc lệnh 146/SL gồm ba bậc học:

- Bậc học cơ bản gồm 4 năm và bắt đầu từ 1950 sẽ là bậc học cưỡng bách;

- Bậc học trung học và chuyên nghiệp;

- Bậc học đại học

Sắc lệnh 147/SL đã ấn định thêm những điều khoản pháp chế để thực hiện bậc học cơ bản, không phải trả tiền, các môn học dạy bằng tiếng Việt ở tất cả các bậc từ tiểu học đến đại học, trong tất cả các bộ môn khoa học: khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kỹ thuật Chính phủ cũng định ra một chương trình giáo dục, tổ chức ngạch thanh tra và lập hội đồng sách giáo khoa…

Những năm 1948- 1949, phong trào Thi đua ái quốc phát triển sôi nổi,

nhất là ở các vùng tư do Ngành giáo dục đã có nhiều hoạt động hưởng ứng cuộc thi đua và giành thêm nhiều kết quả mới, nổi bật là phong trào bình dân học vụ và phong trào xây dựng, chấn chỉnh giáo dục cấp tiểu học

Cho đến năm 1950, ngành giáo dục vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể

trong chương trình cũng như trong cách tổ chức Trừ bình dân học vụ, "các hoạt động đều chậm chuyển biến, chưa đáp ứng được đầy đủ những đòi hỏi của nhân dân ngày càng nhiều và càng cao", chưa phù hợp với những chuyển biến lớn của đất nước, chưa tương xứng với sự tiến bộ của nhân dân và học sinh Thực tế ấy đòi hỏi phải có một cuộc cải cách giáo dục, không phải chỉ là

Trang 31

29

sửa đổi chắp vá để thích nghi hoàn cảnh mà phải thay đổi căn bản toàn bộ hệ thống giáo dục

Vì vậy, vào năm 1950, Đảng, Nhà nước đã chỉ đạo tiến hành cuộc "Cải

cách giáo dục" và mở cuộc vận động "Rèn luyện cán bộ, chỉnh đốn cơ sở",

gọi tắt là "Rèn cán chỉnh cơ" sâu rộng để xây dựng nền giáo dục mới, xóa bỏ triệt để những quan điểm, chương trình, nội dung giáo dục lạc hậu của nền giáo dục cũ

Tháng 2 năm 1950, tại Việt Bắc, Bộ Quốc gia Giáo dục đã triệu tập Hội nghị trù bị về cải cách giáo dục Hội nghị đã đề ra phương hướng và nguyên tắc cải cách giáo dục là: Dân chủ hoá nền giáo dục; Đào tạo con người mới, gột rửa những tàn tích cũ; Chương trình học phải thiết thực theo nhu cầu của

xã hội hiện tại Sau hội nghị này, Bộ đã thành lập Tiểu ban chương trình để

dự thảo chương trình mới cho các cấp học, cho từng năm và từng môn và Tiểu ban kế hoạch tổ chức nghiên cứu, thảo dự án tổ chức lại hệ thống giáo dục cũ và sắp đặt lại các cấp học theo tinh thần của hệ thống mới

Tháng 7 năm 1950, Hội đồng Chính phủ họp, chính thức thông qua Đề

án cải cách giáo dục, xét duyệt và quyết định cho thi hành hệ thống trường phổ thông 9 năm và chương trình giảng dạy mới

Mùa hè 1951, tại Đào Dã (Phú Thọ), Bộ Quốc gia Giáo dục đã tập hợp

30 giáo viên giỏi của tất cả các cấp học, tổ chức một trung tâm viết sách giáo khoa Ngày 21-8-1951, khi nói chuyện với cán bộ dự biên soạn sách giáo khoa, đồng chí Trường Chinh đề nghị trước hết tập trung vào các môn quốc văn, lịch sử, địa lý và chính trị thường thức Tháng 9-1951, Hội nghị Trung ương lần thứ 2 đã đề ra nhiệm vụ, phương châm của công tác giáo dục trong giai đoạn mới là: "tiếp tục công tác sửa chữa chương trình, soạn sách giáo khoa, phát triển giáo dục các tầng lớp công nông"19

Cuối năm 1951, Bộ Quốc gia Giáo dục đã có nghị định chỉ đạo áp dụng

Kế hoạch giảng dạy theo chương trình mới, tập trung vào các môn quốc văn,

19 [Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 12, 1951, 2001, tr.582]

Trang 32

toán, lý, sinh ngữ (sau đó môn sinh ngữ tạm hoãn vì thiếu điều kiện học tập) Biên chế năm học theo hệ thống giáo dục mới quy định năm học bắt đầu từ tháng 1 dương lịch đến tháng 12 năm đó Thời gian học chia làm 2 kỳ, mỗi kỳ 4 tháng, xen giữa 2 đợt nghỉ để học sinh có thời gian tham gia sản xuất vào lúc mùa màng bận nhất, hoặc vào lúc thời tiết khắc nghiệt nhất đều đảm bảo sức khoẻ cho học sinh20

Năm 1952, sự nghiệp giáo dục được đẩy mạnh, tập trung vào bốn nhiệm

vụ trọng tâm là: Xúc tiến tiếp tục cuộc cải cách giáo dục, nhằm kiện toàn giáo dục phổ thông; bổ túc văn hóa cho cán bộ và nhân dân; Xúc tiến công cuộc xây dựng ngành giáo dục chuyên nghiệp; Tiến hành giáo dục chính trị cho cán

bộ quản lý Ngoài ra, ngành Giáo dục còn có nhiệm vụ hoàn thành công tác thanh toán nạn mù chữ, kiện toàn các cơ sở Dự bị đại học và Y học, chỉnh đốn

tổ chức và cải tạo tư tưởng cho cán bộ và học sinh để đẩy mạnh công tác giáo dục, đồng thời kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục với công tác trung tâm sản xuất tiết kiệm21

Năm 1953, để phục vụ công tác trung tâm số một là Phát động quần

chúng, bồi dưỡng lực lượng cho kháng chiến, tiến hành cách mạng phản đế và phản phong, Bộ Giáo dục đã chỉ đạo toàn ngành thực hiện chương trình công tác gồm 6 điểm: Cải tạo tư tưởng cho cán bộ; Bổ túc văn hóa cho nhân dân; Huy động lực lượng các trường phổ thông phục vụ phát động quần chúng; Phát triển giáo dục chuyên nghiệp; Đào tạo cán bộ miền núi; Tăng cường cơ

sở giáo dục ở miền mới giải phóng và trong địch hậu", chủ yếu là ba việc đầu22

Năm 1954, yêu cầu đặt ra cho ngành giáo dục có những nét mới, bức xúc

phải kịp thời giải quyết Đó là tập trung mọi lực lượng để nâng cao trình độ cho cán bộ địa phương vì sau các đợt Phát động quần chúng, đa số cán bộ được quần chúng đề bạt vào chính quyền và đoàn thể đều kém văn hóa, có

20 [Nguyễn Văn Huyên, 1953, tr 1069-1070, 1076-1077]

21 [Nguyễn Văn Huyên, 1953, tr 1069-1070, 1076-1077]

22 [Nguyễn Văn Huyên, 1953, tr 1127]

Trang 33

Về cơ bản, đặt trong thời điểm lịch sử lúc bấy giờ, những chủ trương,

quan điểm, phương châm, sắc lệnh và việc làm nói trên, nhất là ba nguyên tắc (ba tính chất) của nền giáo dục do Đảng và Nhà nước và Hồ Chí Minh xác định, đã trực tiếp xóa bỏ tính chất phản dân tộc, phản khoa học, phản đại chúng của chính sách giáo dục thực dân, phong kiến, đặt nền móng cho sự ra đời của nền giáo dục Việt Nam mới Nền giáo dục mà theo Hồ Chí Minh là

“một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các em"24

2.1.1.2 Chương trình và niên hạn đào tạo giáo dục Việt Nam 1945 -

1954

* Chương trình đào tạo

Xét về chương trình đào tạo, giai đoạn 1945 - 1954, trước năm 1950, các môn học dạy bằng tiếng Việt ở tất cả các bậc từ tiểu học đến đại học, và tập trung vào ba môn chính là: khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kỹ thuật Sau năm 1950, nước ta thi hành hệ thống trường phổ thông 9 năm và kéo theo đó là thi hành hệ thống chương trình giảng dạy mới Theo đó, tập trung vào các môn quốc văn, lịch sử, địa lý và chính trị thường thức (năm 1950), hoặc tập trung vào các môn quốc văn, toán, lý, sinh ngữ (năm 1951)

Trong giai đoạn này, chương trình đào tạo cũng liên tục được cải cách để tìm ra hệ thống chương trình, môn học chuẩn, áp dụng trên toàn quốc và đem lại hiệu quả giáo dục tối ưu

23 [Nguyễn Văn Huyên, 1953, tr 1136-1137]

24 [Ngô Đăng Tri, 2014]

Trang 34

* Niên hạn đào tạo

Ngay từ năm 1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cho áp dụng chương trình học của Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời Đế quốc Việt Nam dưới chính phủ Trần Trọng Kim) ở cấp tiểu học và trung học

Xét về niên hạn đào tạo, giai đoạn 1945 – 1954 có ba bậc học:

- Bậc học cơ bản gồm 4 năm và bắt đầu từ 1950 sẽ là bậc học cưỡng bách;

- Bậc học trung học và chuyên nghiệp;

- Bậc học đại học

Bắt đầu từ năm 1950, nước ta thi hành hệ thống trường phổ thông 9 năm Biên chế năm học theo hệ thống giáo dục mới quy định năm học bắt đầu từ tháng 1 dương lịch đến tháng 12 năm đó Thời gian học chia làm 2 kỳ, mỗi kỳ

4 tháng, xen giữa 2 đợt nghỉ để học sinh có thời gian tham gia sản xuất vào lúc mùa màng bận nhất, hoặc vào lúc thời tiết khắc nghiệt nhất đều đảm bảo sức khoẻ cho học sinh Năm 1950, hai bậc tiểu học và trung học được quy hoạch lại tổng cộng có 9 lớp: tiểu học (cấp I), bốn năm; trung học cơ sở (cấp II), ba năm; và trung học phổ thông (cấp III), hai năm

2.1.2 Giai đoạn 1954 – 1975: Nền giáo dục "Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng"

* Diễn biến lịch sử giáo dục Việt Nam giai đoạn 1954 – 1976

Ở Miền Bắc: Về cơ bản, sự phát triển hệ thống giáo dục VN trong thời

gian 1954-1974 được xem như là bắt nguồn từ sự phổ biến quyền Luật lệ về Giáo Dục của Albert Sarraut, toàn quyền Liên Bang Đông Dương vào năm

1917

Trước đó, trong một thời gian nhiều thế kỷ, VN đã rập khuôn theo hệ thống giáo dục Khổng giáo Sau đó, người Pháp ban hành chính sách giáo dục

ở VN và mở ra còn đường phát triển mới cho giáo dục Việt

Theo đó, diễn biến lịch sử giáo dục Việt Nam giai đoạn 1954 – 1976 bao gồm các cột mốc lịch sử quan trọng sau đây:

Năm 1954, quân đội Pháp hoàn toàn rút khỏi Nam Việt Nam và đệ nhất

Trang 35

33

Cộng Hòa được thành lập Trong khung cảnh chính trị đó, trong những năm đầu của nền Cộng Hòa, giáo dục chỉ là một sự nối tiếp của những gì đã có Với không khí mới của một nền Cộng Hòa, nhiều ý tưởng giáo dục mới được bàn cãi rất nhiều Nhưng thực sự những người có trách nhiệm về giáo dục còn lúng túng, và đang tìm một hướng đi cho giáo dục VN lúc đó25

Năm 1958, cuộc "Hội thảo Giáo dục Toàn quốc" (lần thứ nhất) được tổ

chức Hội thảo đã chú ý tới và đem đến cho giáo dục VN một cái nhìn mới liên quan đến triết lý giáo dục bằng cách đề nghị ba nguyên tắc hướng dẫn cho một nước Cộng hòa VN trong khuynh hướng dân chủ Ba nguyên tắc (hay đường hướng, triết lý) đó là: "Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng"26

Đường hướng "dân tộc" là một ước nguyện tối cao của dân VN trong thời điểm lịch sử đó và sẽ đứng vững mãi trong lòng dân tộc VN Đường hướng "nhân bản" rất cao quý, có tính cách phổ quát và có thể áp dụng cho bất cứ dân tộc nào trên thế giới Trong thực tế, từ "nhân bản" đã có nguồn gốc

từ truyền thống "giáo dục tổng quát" hay "kiến thức tổng quát" (culture générale tradition) ở Pháp Alfred Bouglé đã diễn tả truyền thống này như sau: "Truyền thống này gồm có ba đặc điểm: có tính cách nhân bản (humanism), có liên hệ đến việc giảng dạy xã hội học, và có liên hệ đến việc giảng dạy triết học" Theo ông Bouglé, nhân bản là sự bổ túc và hỗ trợ cần thiết cho lý thuyết cá nhân (individualism) Tuy nhiên "nhân bản và dân tộc" đều có tính cách trừu tượng, nên khó thể hiện qua một chương trình học thực

cụ thể, rõ ràng Môn Công dân giáo dục và môn Sử được dùng trực tiếp trong việc thể hiện hai đường hướng trên Ngoài ra, sự thể hiện đã rải rác trong các buổi tu nghiệp giáo chức, những bài diễn văn trong các buổi lễ khai trường, hay các buổi phát phần thưởng cho những học sinh ưu tú Chỉ có đường hướng "khai phóng" là nổi bật trong những công cuộc cải tổ chương trình học,

và việc thay đổi tổ chức các học đường để tiến theo trào lưu mới trên thế

25 [Nguyễn Hữu Phước, 1974]

26 [Nguyễn Hữu Phước, 1974]

Trang 36

Năm 1964, "Hội Thảo Giáo Dục Toàn Quốc" thứ hai được tổ chức Hội

thảo này chú trọng vào hai đề tài chính:

Đề tài đầu tiên là sự tổ chức lại hệ thống học đường với dự án nhấn mạnh sự học hành liên tục từ lớp 1 đến lớp 12 Tuy rằng, cuộc hội thảo không

hề nhắc đến một phong trào giáo dục mới ở Pháp có tên là phong trào "học đường độc đáo" (l’école unique) trong thời gian trước và cả sau thế chiến thứ

2 (1939-1945) mà dự án Hội Thảo 1964 đã phỏng theo Bên Pháp, ý tưởng về l’école unique, với trọng tâm đặt vào sự khác biệt cá nhân của mỗi học sinh, cũng gây tranh luận sôi nổi một thời gian gần hai thập niên, mới được đem ra

áp dụng28

Đề tài thứ hai là sự xác nhận lại ba đường hướng căn bản: "Nhân bản, Dân tộc,

và Khai phóng", đã được thảo luận và chấp nhận trong cuộc hội thảo sáu năm về trước29

Đầu năm 1970, ý tưởng đại học cộng đồng (ĐHCĐ) được giới thiệu ở

VN do một công chức kỳ cựu của Bộ Giáo dục Ông này đã được đào tạo trong hệ thống giáo dục Pháp và đã đi tu nghiệp ba năm ở HK và trở về VN với bằng Ph.D về giáo dục Chính luận án của ông về đại học cộng đồng và vai trò của ông trong Bộ Giáo dục mà ý tưởng về việc thành lập các Đại học cộng đồng được bàn cãi sâu rộng, và được chấp thuận30

Ở miền Nam: Năm 1971, Tổng thống VNCH ban hành nghị định thành

lập hệ thống đại học cộng đồng Hai ĐHCĐ đầu tiên ở VN: Tiền Giang (ở Mỹ Tho) và Duyên Hải (Đà Nẵng) được thành lập cùng năm 1971 Sau đó, có nhiều địa phương khác xin xúc tiến việc mở các đại học này vì thấy tính cách thực dụng của nó trong việc đào tạo các chuyên viên trung cấp ở nhiều ngành

Trang 37

35

cho phù hợp với sự phát triển ở địa phương31

Năm 1973, VN cũng thành lập một đại học bách khoa ở Thủ Đức với

nhiều trường chuyên nghiệp về kỹ thuật, canh nông, công kỹ nghệ v.v… nằm ngay trong khu đại học này Mục tiêu chánh là để mở rộng các ngành học thực tiễn cần thiết cho việc xây dựng đất nước32

Năm 1975, tất cả những cơ sở giáo dục tư thục từng hoạt động ở miền

Nam Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa giải thể, đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn

* Chương trình đào tạo

Ba đường hướng triết lý giáo dục "Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng" được coi là căn bản triết lý cho mọi thay đổi về chương trình hay tổ chức học đường cho những năm 1954- 1974 trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Chương trình đào tạo giai đoạn 1954 – 1975 tập trung vào khai thác về kiến thức tổng quát Quan niệm về "kiến thức tổng quát" (culture générale) là một quan niệm độc đáo trong triết lý giáo dục của Pháp Dân Pháp chấp nhận rằng, tâm trí của dân chúng phải được huấn luyện để suy nghĩ hợp lý, và đạt được những kiến thức tổng quát Một cách rõ ràng hơn, kiến thức này gồm triết lý, văn chương, khoa học lý thuyết, sử, và nghệ thuật Nó bao gồm sự đào tạo một con người với khối óc, một sự đào tạo quan trọng nhất của con người Ba năm cuối của bậc Trung học nhấn mạnh các môn học này Chúng được coi là quan trọng vì chúng góp phần vào kiến thức, giúp phát triển sự phán đoán của những nhà lãnh đạo tương lai33

Như vậy, giai đoạn 1954 – 1975, nền giáo dục Việt Nam tập trung vào các chương trình đào tạo về triết lý, văn chương, khoa học lý thuyết, sử, và nghệ thuật

* Niên hạn đào tạo

31 [Nguyễn Hữu Phước, 1974]

32 [Nguyễn Hữu Phước, 1974]

33 [Nguyễn Hữu Phước, 1974]

Trang 38

Năm 1956, chính quyền nước ta ban hành nghị quyết cải tổ giáo dục phổ thông, trong đó niên hạn đào tạo đổi lại thành 10 năm: tiểu học (cấp I), bốn năm; trung học gồm cấp II và cấp III, mỗi cấp ba năm Niên hạn này được duy trì từ năm 1956 cho đến năm 1975

Kể từ năm 1975, học trình của tất cả các trường trong Nam vẫn như cũ nghĩa là bậc Tiểu học vẫn có quy chế 5 năm, Trung học vẫn 7 năm tuy chỉ có một vài thay đổi nhỏ trong chương trình là môn Triết không được giảng dạy ở lớp 12 nữa Niên khóa 1975-1976, tất cả các trường Đại học tổ chức đoàn ngũ hóa Sinh viên để học tập Chính trị mà không học Văn hóa hoặc chuyên môn

2.1.3 Giai đoạn 1976 – nay: Nền giáo dục Việt Nam thống nhất

Giai đoạn 1976 đến nay là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Cụ thể một số cột mốc lịch sử quan trọng sau đây:

Năm 1976, khuôn mẫu giáo dục ở miền Bắc tiếp cận với hệ thống giáo

dục đã được thiết lập ở miền Nam; cụ thể nhất là học trình 10 năm tiểu học và trung học ở miền Bắc phải phù hợp với học trình 12 năm ở trong Nam Hai hệ thống này song hành; Miền Bắc tiếp tục hệ 10 năm và miền Nam giữ hệ 12 năm từ năm 1976 đến năm 1981

Từ năm 1976 tới nay, với việc ban hành Luật Giáo dục các đợt khác

nhau (1998, 2005, 2009 (sửa đổi)), hệ thống giáo dục Việt Nam liên tục có nhiều thay đổi Trong giai đoạn này, nhiều cải cách giáo dục của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã tạo nên những thay đổi lớn trong thi tốt nghiệp phổ thông và thi vào đại học Các đợt thay đổi này chủ yếu do Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến hành, thuộc bốn đời Bộ trưởng Trần Hồng Quân, Nguyễn Minh Hiển, Nguyễn Thiện Nhân, và Phạm Vũ Luận

Giai đoạn 2000-2015, các đợt cải cách mang tính manh mún Năm 2000,

Sách giáo khoa được chỉnh lý, hợp nhất Năm 2007, sách giáo khoa lại thay đổi

Năm 2005, giáo dục đại học đã thiết lập các bằng Cử nhân, Thạc sĩ và

Tiến sĩ nhưng đại đa số theo niên chế, chỉ có một vài trường thí điểm theo chế

Trang 39

37

độ tín chỉ

Năm 2006, nước ta bắt đầu thiết lập một số trường (khoảng 7 trường)

theo tín chỉ, và đến 2010 đa số các trường ứng dụng đào tạo theo tín chỉ

Từ năm 2014, theo đề xuất, sẽ có bốn trường đại học công lập thử

nghiệm cơ chế mới: tự chủ tài chính

* Chương trình đào tạo

Năm 1981, nước ta áp dụng chương trình giảng dạy của cuộc cải cách

giáo dục năm 1981 bị chính các nhà trường đánh giá quá tải Phương pháp giảng dạy không có phương pháp nào khác là phương pháp truyền thụ một chiều cho kịp với nội dung sách giáo khoa

Giai đoạn 2006-2010, giáo dục Việt Nam áp dụng đại trà chương trình

phân ban Năm 2006, Bộ Giáo dục Đào tạo bắt đầu triển khai việc phân ban trong khối trung học phổ thông Chương trình phân ban Trung học phổ thông được Bộ Bộ Giáo dục Đào tạo thí điểm từ năm học 2003-2004 tại gần 50 trường của 11 tỉnh/thành với 2 ban: khoa học tự nhiên (ban A, học nâng cao các môn toán, lý, hoá, sinh) và ban khoa học xã hội - nhân văn (ban C, học nâng cao văn, sử, địa, ngoại ngữ) Giai đoạn 2006-2007, chương trình mới triển khai được đại trà sau khi đã nhiều lần điều chỉnh phương án phân ban Lần điều chỉnh cuối cùng là thêm ban cơ bản, ban B - một ban được giới chuyên môn xem là "ban không phân ban" Học sinh học ban này sẽ không học nâng cao môn nào Rốt cuộc học sinh cả nước hầu như chỉ học "ban không phân ban", và học bổ sung nâng cao các môn để thi đại học theo khối

Năm 2009, trước đó, học sinh lớp 12 học hai chương trình với hai bộ

sách giáo khoa khác nhau (phân ban và không phân ban) Năm 2009 là năm đầu tiên học sinh lớp 12 cả nước tốt nghiệp và thi tuyển sinh Đại học Cao đẳng theo chương trình phân ban đại trà

Năm 2014, chương trình phân ban bị bãi bỏ

* Niên hạn đào tạo

Năm 1976, các kỳ thi vào Đại học Công lập được tổ chức chia làm 4 khối: Khối A thi Toán Lý Hóa, không có hệ số Và tùy theo nguyện vọng, thí

Trang 40

sinh được phép vào học trường Kỹ sư hoặc trường Đại học Khoa học hoặc Đại học Sư phạm Khối B thi Toán Hóa và Sinh để nhập trường Y Dược hoặc Đại học Khoa học Khối C thi Văn, Toán, Sử hoặc Địa để vào trường Văn khoa hoặc Đại học Kinh doanh hoặc trường Đại học Sư phạm Khối D thi Văn, Sử hoặc Địa và Ngoại ngữ

Vì có những người cán bộ hoặc bộ đội hoặc con em cán bộ từ Bắc vào Nam nên đề thi có hai hệ: Hệ trong Nam 12 năm, hệ ngoài Bắc 10 năm

Giai đoạn 1975 đến 1986, nền giáo dục Đại học ở miền Nam vẫn là 4

năm trừ Y Nha Dược, trong khi miền Bắc vẫn 3 năm và được nâng lên 4 năm

kể từ năm 1981 Ngoài ra, các trường Đại học Sư phạm và Văn Khoa trong 11 năm cũng đã cố gắng đào tạo các Giáo sư Sinh ngữ đặc biệt là Anh văn, Pháp văn, Nga văn và Trung văn Tất cả các trường Đại học ở miền Bắc tuyển sinh viên có bằng Phổ thông Trung học như trường Khoa học, Văn Khoa, Sư phạm, Kỹ Sư … và thời hạn chỉ có 3 năm nhưng sau năm 1981 được nâng lên

4 năm Các Đại học trong Nam như trường Văn khoa, Khoa học, Sư phạm,

Kỹ sư… được đổi theo niên học thay thế cho hệ thống chứng chỉ và cần 4 năm Y Khoa ở trường Đại học Sài Gòn vẫn là 7 năm, ngoài Bắc chỉ có 6 năm

Sau khi nâng cấp lên 12 năm, bậc Tiểu và Trung học chia ra làm 3 cấp: (1) Cấp 1 từ lớp 1 đến lớp 5, sau lớp 5 phải thi bằng Tiểu học, (2) Cấp 2 từ lớp 6 đến lớp 9, cuối lớp 9 phải thi Trung học Cơ sở rồi thi nhập học vào lớp

10 trường Công lập, (3) Cấp 3 từ lớp 10 đến lớp 12, sau lớp 12 thi bằng tốt nghiệp Trung học Phổ thông

Năm 1981, nước ta áp dụng hệ 11 năm cho miền Bắc Hệ thống giáo dục

chuyển từ 10 năm sang 12 năm (bỏ lớp vỡ lòng), kéo theo sự đổi mới chương trình sách giáo khoa và cải tiến chữ viết

Năm 1992-1993, hệ thống 11 năm phổ thông của miền Bắc được thay

đổi từ 11 năm sang 12 năm (thêm lớp 9)

Từ 1993 đến nay, toàn bộ hệ thống là 12 năm thống nhất cả nước

Ngày đăng: 15/11/2016, 15:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Tú Anh, (2006), "Giáo trình quản trị công nghệ", Học viện bưu chính viễn thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị công nghệ
Tác giả: Phan Tú Anh
Năm: 2006
2. Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến (đồng chủ biên), (2003), "Góp phần nhận thức thế giới đương đại", NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nhận thức thế giới đương đại
Tác giả: Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
3. Nguyễn Đức Chính (2011), Thiết kế và đánh giá chương trình Giáo dục, Khoa Sƣ phạm Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và đánh giá chương trình Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Năm: 2011
4. Vũ Cao Đàm (1999), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nxb KH&KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb KH&KT
Năm: 1999
5. Vũ Cao Đàm (2003), Lý thuyết hệ thống, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết hệ thống
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Năm: 2003
6. Vũ Cao Đàm (2005), Đánh giá Nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá Nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2005
7. Vũ Cao Đàm (2006), Xã hội học KH&CN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học KH&CN
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Năm: 2006
8. Vũ Cao Đàm (2007), Báo cáo Hội thảo "Công nghệ – Thực trạng và Giải pháp", Bộ KH&CN, Hà Nội, ngày 04-01-2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ – Thực trạng và Giải pháp
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Năm: 2007
9. Vũ Cao Đàm (2009), Vũ Cao Đàm Tuyển tập, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Cao Đàm Tuyển tập
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2009
10. Vũ Cao Đàm (2014), Nghịch lý và Lối thoát – Bàn về triết lý Khoa học và Giáo dục Việt Nam, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghịch lý và Lối thoát – Bàn về triết lý Khoa học và Giáo dục Việt Nam
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2014
11. Vũ Cao Đàm (2010). Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2010
12. Phạm Minh Hạc (2006) Chính sách phát triển nhân tài khoa học - công nghệ phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển nhân tài khoa học - công nghệ phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa
13. Hà Văn Hội (2008), Giáo trình "Quản trị nguồn nhân lực", NXB Bưu điện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nguồn nhân lực
Tác giả: Hà Văn Hội
Nhà XB: NXB Bưu điện
Năm: 2008
17. Nguyễn Quốc Thắng (1994), Khoa cử và giáo dục Việt Nam, NXB Văn hóa và Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa cử và giáo dục Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quốc Thắng
Nhà XB: NXB Văn hóa và Thông tin
Năm: 1994
18. Nguyễn Phương Thuỳ, Luận văn ThS ngành Triết học "Cách mạng khoa học - công nghệ và những tác động của nó đến đời sống chính trị ở Việt Nam hiện nay", Đại học KHXH&NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng khoa học - công nghệ và những tác động của nó đến đời sống chính trị ở Việt Nam hiện nay
19. Phạm Thị Ngọc Trầm (2005), "Cách mạng thông tin – công nghệ và nền văn minh", Tạp chí Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng thông tin – công nghệ và nền văn minh
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Trầm
Năm: 2005
23. Wentling T. (1993), "Planning for effective training: A guide to curriculum development” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Planning for effective training: A guide to curriculum development
Tác giả: Wentling T
Năm: 1993
15. Nguyễn Mạnh Quân (2009), "Cách tiếp cận hệ thống đổi mới trong Khác
16. Quốc hội (2013), Luật Khoa học Công nghệ Khác
20. Alvin Toffler (1970, Future Shock, Chương 18: "Cách mạng giáo dục&#34 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mối quan hệ giữa giáo dục và công nghệ - Tác động của cuộc cách mạng công nghệ tới định hướng cải cách chương trình giáo dục ở việt nam
Hình 1.1. Mối quan hệ giữa giáo dục và công nghệ (Trang 25)
Hình 1.2. Tác động của công nghệ đến giáo dục - Tác động của cuộc cách mạng công nghệ tới định hướng cải cách chương trình giáo dục ở việt nam
Hình 1.2. Tác động của công nghệ đến giáo dục (Trang 26)
Hình 2.1. Diễn biến chương trình giáo dục, niên hạn đào tạo của nước - Tác động của cuộc cách mạng công nghệ tới định hướng cải cách chương trình giáo dục ở việt nam
Hình 2.1. Diễn biến chương trình giáo dục, niên hạn đào tạo của nước (Trang 29)
Bảng 2.1. So sánh chương trình đào tạo và niên hạn đào tạo tại Hoa - Tác động của cuộc cách mạng công nghệ tới định hướng cải cách chương trình giáo dục ở việt nam
Bảng 2.1. So sánh chương trình đào tạo và niên hạn đào tạo tại Hoa (Trang 51)
Bảng 2.2. Kết quả khảo sát đối tượng nghiên cứu du học sinh về sự  khác biệt trong chương trình đào tạo và niên hạn đào tạo của các nền giáo  dục tiên tiến trên thế giới và tại Việt Nam - Tác động của cuộc cách mạng công nghệ tới định hướng cải cách chương trình giáo dục ở việt nam
Bảng 2.2. Kết quả khảo sát đối tượng nghiên cứu du học sinh về sự khác biệt trong chương trình đào tạo và niên hạn đào tạo của các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới và tại Việt Nam (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w