1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ngai cuu đối với nhu cầu sử dụng của con nguời

19 462 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiên cứu về ngãi cứu vè thức ăn, con người, trong y dược và thực phẩ cấp hàm lượng dùng trong chế biến tinh dầu. Các chất phụ gia cung cấp trong y dược. nghiên cứu về ngãi cứu vè thức ăn, con người, trong y dược và thực phẩ cấp hàm lượng dùng trong chế biến tinh dầu. Các chất phụ gia cung cấp trong y dược. nghiên cứu về ngãi cứu vè thức ăn, con người, trong y dược và thực phẩ cấp hàm lượng dùng trong chế biến tinh dầu. Các chất phụ gia cung cấp trong y dược.

Trang 1

Ngãi cứu rừng

Tên khoa học : Artemisia japonica Thunb

Đồng danh Artemisia vulgaris var, indica

Phân bố : Tam Đảo

Bộ phận cho tinh dầu : phần trên mặt đất (0.2%) Thành phần hóa học : β-cariophilen (24,1%); β-cubeben (12,0%);

Ngãi cứu nhà

Tên khoa học : Artemisia orientalis Linn Phân bố : cây mọc khắp nơi

Bộ phận cho tinh dầu : phần trên mặt đất (0.2%) Thành phần hóa học : α-pinen; β-pinen; camphor; borneol; α-humulen; β -cariphilen; β-farnesen;

Ngãi cứu

Tên khoa học : Artemisia vulgaris Linn Phân bố : cây mọc hoang ở miền núi, nhưng chủ yếu được trồng để làm thuốc

Bộ phận cho tinh dầu : phần trên mặt đất (0,2 – 0,34%) Thành phần hóa học : 1,8-cineol; α-tujon; borneol;

Thông thường, người ta chỉ biết đến công dụng bổ máu, điều kinh và chữa cảm cúm của cây ngãi cứu Thực ra, từ xưa ngãi cứu còn được sử dụng để chữa ngứa

và một số bệnh ngoài da Gần đây, có thêm một số tài liệu củ Nhật Bản nói về tác dụng dưỡng da và làm đẹp của cây ngãi cứu

Cây ngãi cứu, một loại dược thảo thiên nhiên rất quen thuộc, có sẵn ở khắp nơi Trong ngãi cứu có tới 13 loại thành phần dinh dưỡng và tinh dầu, trong số đó ó nhiều thành phần dễ dàng được hấp thụ trực tiếp qua da Do đó phụ nữ Nhật thường chế ngãi cứu một loại “ Mỹ phẩm thiên nhiên”, sử dụng để dưỡng da hàng ngày

Trước hết: Trong ngãi cứu có một số chất có tác dụng thúc đẩy sự tuần hoàn của máu, nhờ đó có thể cải thiện quá trình trao đổi chất, giúp da được nuôi dưỡng tối hơn và có đủ nước Ngãi cứu còn có tác dụng kích thích lên da non, giúp cho các vết thương chóng liền miệng Do đó, có thể làm cho da xù xì, đẩy những mục nước nhỏ mau chóng trở lại bình thường, bằng phẳng như trước Trong ngãi cứu còn có một thành phần có ích đối với việc làm đẹp da là chất tanin

NGẢI CỨU

Tên gọi khác : Thuốc cứu, Ngải diệp, Nhả ngải (Tày), cỏ Linh ly (Thái), Quá sú (H’Mông), Ngỏi (Dao).

Tên khoa học : Artemisia vulgaris L.

Họ : Cúc (Asteraceae).

BỘ PHẬN DÙNG

Trang 2

Phần trên mặt đất thu hái khi cây có hoa, dùng tươi hay phơi khô trong râm Nếu tán nhỏ rồi rây lấy phần lông trắng thì được ngải nhung

MÔ TẢ CÂY

Hình 1: dược liệu tươi Ngải cứu

Cây thảo, sống lâu năm, cao 0,40-1m Thân cành mọc sum sê, có rãnh và lông nhỏ Lá mọc so le, chẻ lông chim, phiến men theo cuống đến tận gốc, dính vào thân như có bẹ, các thùy hình mác hẹp, đầu nhọn, mặt trên màu xanh lục sẫm, nhẵn hoặc có ít lông, mặt dưới phủ đầy lông nhung màu trắng; những lá ở ngọn có hoa không chẻ

Cụm hoa mọc ở ngọn thân và đầu cành thành chùm kép mang nhiều đầu nhỏ, màu vàng lục nhạt; tổng bao gồm những lá bắc nguyên giống như những vảy có lông; đầu mọc chúc xuống cùng phía, hình trứng cụt, mang hoa cái hoặc hoa lưỡng tính trên cùng một cụm hoặc ở những cụm khác nhau; thường hoa cái chiếm nhiều hơn; hoa không có mào lông; tràng hoa cái có ống mảnh, cụt hoặc có 2 răng ở đầu, tràng hoa lưỡng tính hình phễu, có

5 thùy uống cong ra phía ngoài; nhị 5

Quả bế, thuôn nhỏ, không có túm lông

Toàn cây có mùi thơm hắc

Mùa hoa quả: tháng 10-12

PHÂN BỔ

- Phân bố:

Ngải cứu có nguồn gốc từ vùng ôn đới ấm châu Âu hoặc châu Á, hiện nay cây được trồng

và trở nên hoang dại hóa ở vùng nhiệt đới Nam Á, Đông – Nam Á và Ấn Độ, Pakistan, Srilanca, Bangladesh, Lào, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc …Ở Việt Nam, cây được trồng

từ lâu đời trong nhân dân từ nam đến bắc Ở độ cao từ khoảng 800m trở lên, có cây ngải dại mọc tự nhiên rất nhiều ở tỉnh Lào Cai( Sa Pa, Bắc Hà, Bát Xát, Mường Khương, Than Uyên); Lai Châu ( Phong Thổ, Sìn Hồ, Tuần Giáo, Tủa Chùa); Yên Bái (Mù Cang Chải); Cao Bằng (Trùng Khánh, Bảo Lạc); Lạng Sơn (Vùng Mẫu Sơn); Hòa Bình (Mai Châu) và Hà Giang…chính ngải dại nguồn dược liệu được khai thác thường xuyên, mỗi năm phải đến

Trang 3

1000 tấn để sản xuất thuốc Còn Ngải cứu trồng chỉ được sử dụng tại chỗ, trong phạm vi nhân dân

Ngải cứu là cây ưa ẩm, có thể hơi chịu bóng, thường được trồng phân tán trong các vườn gia đình, hay các vườn thuốc của các cơ sở y học dân tộc Cây mọc thành từng khóm, nếu không bị thu hái, tỉa thưa sẽ nhanh chóng bò lan tạo thành đám lớn khó phân biệt giữa các cá thể Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân - hè; về mùa đông, phần thân cành trên mặt đất có hiện tượng tàn lụi một phần Ngải cứu ra hoa quả nhiều hàng năm, song hạt không được sử dụng để gieo trồng

THÀNH PHẦN HÓA HỌC

- Toàn cây Ngải cứu chứa tinh dầu có hàm lượng 0,20 – 0,34% Thành phần chủ yếu

của tinh dầu là các monoterpen và sesquiterpen Gồm 1,8-cineol, camphor, terpinen 4-O-l, β-pinen, (–)-borneol, mycren và vulgrin (là những thành phần ít thay đổi) còn thuyon (α hoặc ) thường có mặt với hàm lượng thấp hoặc đôi khi không có (PROSEA – 1999) Ngoài

ra còn dehydromatricaria ester, tetradecatrilin, tricosanol, aracholalcol

- Các flavonoid hầu hết là 3-0- flavonol luterosid, một triterpene là fermenol Đáng chú

ý là hợp chất sesquiterpenlacton rất phổ biến trong chi artemisia, nhưng hiếm thấy trong Ngải cứu Người ta mới phát hiện một chất là psilostachyin trong một mẫu Ngải cứu ở Nam Tư (cũ)

- Trong Ngải cứu Việt Nam, có nhiều chất màu indigo – base, gần 50 hợp chất đã phân

tích và xác định có trong lá chủ yếu là β caryophylen 24% và β cubedene 12% ( PROSEA -1999)

Trang 5

TÁC DỤNG DƯỢC LÝ

- Theo tài liệu nước ngoài các chất herniarin và umbelliferon tồn tại trong than, lá ngải chân vịt có tác dụng an thần, lợi mật, kháng khuẩn, diệt giun sán, cầm máu Chất herniarin còn có tác dụng bảo vệ gan để điều trị viêm gan Chất lactiflorenol trong tinh dầu có tác dụng bình suyễn, kháng khuẩn

- Theo kinh nghiệm dân gian, Ngải cứu được dùng chữa bế kinh, đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, đại tiểu tiện ra máu, ho, vết thương dồn dập

- Tại Châu âu Ngải cứu được sử dụng kích thích tiết dịch dạ dày ở bệnh nhân chán ăn, chống đầy hơi, chướng bụng, đau bụng, tiêu chảy, táo bón, chuột rút, nhiễm giun sán, động kinh, nôn, các vấn đề về kinh nguyệt, kinh nguyệt không đều

CÔNG DỤNG

Trong cuộc sống

Trang 6

Dùng sống hoặc chế biến như sau:

- Ngải diệp sao: Dùng Ngải nhỏ, sao lá ngải cho khô, hơi vàng

- Ngải diệp sao cháy: Lấy lá Ngải cho vào nồi, sao đến khi có màu đen, vẩy ít nước để trừ hỏa độc

- Ngải diệp chích mật:

Ngải cứu: 10kg

Mật ong: 2kg

Đem mật ong pha loãng đun sôi, cho lá ngải vào đảo đều cho đến khi khô vàng, sờ không dính tay là được

- Ngải diệp chích giấm:

Ngải cứu : 10kg

Giấm : 1.2kg

Trộn đều lá ngải với giấm để 30 phút.Sao đến khô khi dược liệu có màu đen

- Ngải diệp chích rượu:

Ngải cứu: 10kg

Rượu: 1.5 – 2kg

Trộn đều sao cho đến khô đen hoặc sao lá ngải cho đen rồi phun rượu vào, vẩy ít nước để trừ hỏa độc

- Ngải diệp chưng với rượu, giấm, gừng, muối:

Ngải cứu: 10kg

Rượu, giấm: mỗi thứ 1kg

Gừng tươi: 20kg

Muối ăn: 80kg

Các bài thuốc đông y

Bài 1: Chữa đại tiện ra máu

Ngải cứu, Hạn liên thảo, Lá Diễn (Dicliptera chinensis (L.)Ness) mỗi vị 60g, Xa tiền thảo 30g Giã nhỏ, thêm nước gạo 90 mL,gạn lấy nước, thêm đường trắng uống.Ngày 1 lần, trong 2-3 ngày

Bài 2: Chữa vết thương tụ máu

Ngải cứu 250g, Thủy trạch lan 120g, giã nát dung rượu sao nóng, gạn lấy 60ml nước uống, bã đắp ngoài

Trang 7

Trong y học hiện đại

Chế phẩm Cao Ích Mẫu và OP.CIM của CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM OPC được bào chế với công nghệ tiên tiến, phối hợp Ích mẫu, Hương phụ, Ngãi cứu, có hiệu quả làm giảm đau đối với chứng đau bụng kinh, có tác dụng điều chỉnh chu kỳ hành kinh, làm thông kinh

Nước chưng cất tinh dầu từ lá của cây Artemisia absinthium L thu thập từ Ardabil, miền tây bắc Iran, được phân tích bằng sắc ký khí và khối phổ (GC và GC-MS) Trong lá dầu của A absinthium, 19 thành phần, trong đó đại diện 100% tổng thành phần đã được xác định: 1,8-cineole (36.46%), borneol (25,99%) và long não (10,20%) là thành phần chính trong dầu này

Những chiếc lá của A absinthium đã được điều tra để phân tích hoạt tính kháng khuẩn của họ, hoạt động chống oxy hóa và tổng hàm lượng phenolic Các nghiên cứu hiện nay cho thấy lá dầu thiết yếu của A Absinthium chỉ hoạt động đáng

kể đối với Candida albicans Killing động học của các vi sinh vật khác nhau xử lý bằng dầu lá của A absinthium chỉ ra rằng C albicans là dễ bị tổn thương nhất Tổng phenol nội dung của tinh dầu lá của A absinthium được xác định là 168,67 ± 9,50

mg gallic axit tương đương / mg mẫu vật

Trong số đó, Artemisia absinthium (absinthium, absinthe cây ngải, ngải cứu, ngải cứu chung, gừng xanh lá cây hoặc cây ngải lớn) là một loài ngải cứu nguồn gốc

từ vùng ôn đới lục Á-Âu và Bắc Phi (Linnaeus, 1753; Wyk và Wink, 2004))

Nó phát triển một cách tự nhiên trong khu vực rộng của Iran A absinthium là

sử dụng trong y học như một loại thuốc bổ, thuộc về bao tử, sát khuẩn, chống co thắt, thuốc tống tiểu, giải nhiệt và thuốc trừ giun sán Các thành phần của lá và ra hoa của

A absinthium bao gồm : silica, hai chất đắng (Absinthin và anabsinthine), Thujone, tannic và chất nhựa, axit malic và axit succinic Các vị đắng của cây ngải là từ

Trang 8

sesquiterpene lactones (0,15-0,4%) (Anonymous, 2003); absinthin và artabsin là những cái chính (Thomsen, 2005; Mills và Bone, 2005) và guainolides (Anonymous, 2003) Đắng thuốc bổ (Mills và Bone, 2005), thơm cay đắng (Wichtl, 2004), thuốc trừ giun sán (Mills và Bone, 2005), thuộc về bao tử (Anonymous, 2003) Ký sinh trùng (Mills và Bone, 2005) khử trùng và lợi mật (Thomsen, 2005) tống hơi, chống viêm và thuốc chống trầm cảm nhẹ (Hoffmann, năm 2003; Mahmoudi et al., 2009)

Hiệu quả của cây ngải như là một đắng thơm và đặc tính kháng khuẩn của nó đến từ những cay đắng hợp chất và tinh dầu của nó Chất chiết xuất của nhà máy đã cho thấy để triển lãm hoạt tính kháng khuẩn mạnh, đặc biệt là chống lại các vi khuẩn gây bệnh Gram dương (Fiamegos et al., 2011) Dầu của nhà máy có thể được sử dụng như một chất kích thích tim để cải thiện lưu thông máu Nguyên chất dầu cây ngải là rất độc hại, nhưng với liều lượng thích hợp đặt ra rất ít hoặc không có nguy hiểm (Lust, 1979) Dầu là một nguồn tiềm năng của các đại lý mới để điều trị

leishmaniasis (Tariku et al., 2011) Mặc dù A.absinthium đã được sử dụng như là phương thuốc dân gian để điều trị bệnh khác nhau trong y học, như được nêu ra có rất ít nỗ lực thực hiện để nghiên cứu các chất chống oxy hóa và kháng khuẩn tiềm năng của các nhà máy này chống lại một loạt các vi sinh vật Như vậy, mục đích của nghiên cứu này là để ước tính tổng hàm lượng phenolic, chất chống oxy hóa và hoạt tính kháng khuẩn của A absinthium Hiện tại giao dịch nghiên cứu với các thành phần hóa học, kháng khuẩn, chống oxy hóa và gốc tự do nhặt rác thuộc tính của Tinh dầu của A absinthium thu được bằng steamdistillation

Trang 10

MÔ tẢ CHUNG

Ngãi đắng ( ngãi áp xanh) là một cây bụi lâu năm thảo mộc với màu trắng

xám thân cây phủ đầy lông mượt mịn, cao 30-90 cm; lá cũng mượt, lông, và các

tuyến nội tiết, 2-3-pinnatisect, thùy petiolate, chủ yếu là tù; mùi thơm, vị cay; vị

đắng; nguồn gốc từ châu Âu, Bắc Châu Phi, Á và phương Tây, tịch Bắc Mỹ; trồng

rộng rãi Bộ phận dùng là lá và ngọn hoa (tươi và khô), thu hoạch ngay trước hoặc

trong quá trình ra hoa; từ các loại dầu dễ bay hơi thu được bằng chưng cất hơi nước

(EVANS; FERNALD; YOUNGKEN)

THÀNH PHẦN HÓA HỌC

Ngãi đắng chứa lên đến 1,7% dầu dễ bay hơi gồm chủ yếu là Thujone (α-β)

và β-caryophyllene Bitterprinciples bao gồm:

 artabsin (monome tương tự của absinthin)

 guaianolides dime (absinthin và absintholide)

 artabsinolides A-C (EVANS)

 artemetin (5-hydroxy-3,6,7,30,40-pentamethoxyflavone)

 lactones biệt khác bao gồm arabsin

 Artabin

 ketopelenolide một (Một germacranolide)

 artenolide, artemoline, và deacetylglobicin (guaianolides monomeric),

8 anabsin

 isoabsinthin (dime guaianolides)

 các thành phần khác có số lượng dầu tương đối cao bao gồm

sabinene, trans-sabinyl acetate + lavandulyl acetate, (−) - sabinyl acetate, (Z) -epoxy-α-ocimene, chrysanthendiol (+), và chrysanthenyl acetate,

Trang 11

 Cadinene, camphene, bisabolene, thujyl rượu, myrcene, 1,8-cineole,

và azulenes (ví dụ, chamazulene, 3,6-dihydrochamazulene, và 5,6-dihydrochamazulene) cũng được tìm thấy

 Chamazuleneatconcentrationsofupto0.29% là phát hiện trong những bông hoa vào đầu flowering

 Ngoài ra, (−) - và trans-epoxyoci-menes được phân lập từ một absinthium Ý dầu mà họ chiếm 16-57%

Thay đổi địa lý xuất xứ, độ cao, và phơi nhiễm ảnh hưởng đến sự khác biệt về chất lượng và số lượng của tinh dầu Các dầu dễ bay hơi của chemotypes khác nhau

có thể chứa> 40% của một trong hai p-Thujone, chrysanthenyl acetate,

trans-sabinylacetate, hoặc (−) - epoxyocimene (EVANS)

nguyên liệu thực vật thu thập được ở Argentina (Patagonia) gồm có 59,9% β -Thujone (2,34% athujone), sabinylacetate (18.11%), (−) - epoxyocimene (1,48%), caryophyllene (1,92%), linalool (1,15%), và sabinene (1,09%), với dấu vết lượng của

α-pinen, α-terpineol, germacrene D, nerylacetate, nerylpropionate, nerol, geranyl

propionate, và geraniol (<1% mỗi) các thành phần khác của nhà máy bao gồm inulobiose (một oligofructoside), coumarin (scopoletin, umbelliferone), acid phenolic, flavonoid, axit amin, tannin (4,0-7,7%), lignans (3,7-dioxabicyclo [3,3,0] -octanes), axit pipecolic, và sterol, bao gồm một sterol hạ sốt (24 ζ -ethylcholesta-7,22-dien-3β-ol)

DƯỢC VÀ Hoạt động SINH HỌC

Mặc dù rằng Thujone và tetrahydrocannabinol, nguyên tắc hoạt động của absinthe và cần sa, tương ứng, tương tác với một thụ thể phổ biến trong hệ thống thần kinh trung ương, không có bằng chứng về hoạt động đó là found

hoạt động chống ung thư cũng đã được reported và do một flavonoid, artemisetin

Tinh dầu và chiết xuất của nhà máy đã thể hiện trong ống nghiệm kháng khuẩn, kháng nấm ,nematocidal, acaricidal, và sốt rét activities In vitro antimaliarial Hoạt động này được tìm thấy từ hai homoditerpene peroxit cô lập từ các bộ phận trên không của plant Dầu đã được hiển thị để đẩy lùi muỗi, bọ chét, và flies

ĐỘC

Độc tính của A absinthium và Thujone vẫn chưa được hiểu rõ;

Tuy nhiên, khi uống liều lớn Thujone gây co giật sử dụng theo thói quen hoặc liều lượng lớn có cồn đồ uống có chứa A absinthium đã kết hợp với tổn thương não, động kinh, tự tử, ảo giác, bồn chồn, mất ngủ, ác mộng, nôn mửa, chóng mặt, run, và convulsions Với ngoại lệ có thể có của sau này do hoạt động GABA-điều chỉnh của a- và b-thujones, có bao nhiêu trong số này ảnh hưởng độc hại quan sát được gây ra bởi sự nhà máy vẫn chưa được biết Thujone là porphyrogenic và do đó có thể gây nguy hiểm cho bệnh nhân khiếm khuyết gan heme synthesis Áp dụng bên ngoài tinh dầu là nontoxic

SỬ DỤNG

Dược liệu, dược phẩm và Mỹ phẩm.

Dầu được sử dụng như một thành phần trong các chế phẩm rubefacient nhất định; chiết xuất hiện ít được sử dụng nội bộ, ngoại trừ một số thuốc bổ đắng cho chán ăn và các triệu chứng khó tiêu (đắng giá trị của ít nhất 15.000 người)

(Blumenthal 1) Các dầu đã được sử dụng như một thành phần hương thơm trong

xà phòng, chất tẩy rửa, các loại kem, sữa, và nước hoa, với mức độ sử dụng tối đa 0,01% trongchất tẩy rửa và 0,25% trong nước hoa

Món ăn

Ngày đăng: 15/11/2016, 11:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: dược liệu tươi Ngải cứu - ngai cuu  đối với nhu cầu sử dụng của con nguời
Hình 1 dược liệu tươi Ngải cứu (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w