1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng biện chứng trong triết học hy lạp cổ đại

14 506 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 2,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những điều trình bày trên, có thể nói, việc nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại nóichung, những tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng là một công việc hết sức qua

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI H ỌC KH OA HỌC XÃ HỘI VẦ NHÂN VĂN

ĐINH THANH XUÂN

TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

LUẬN VĂN TH ẠC SĨ

Mã số: 5 01 01

Người hướng dẫn: PGS.TS Đặng H ữu Toàn

HÀ NỘI - 2004

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mớiở nước ta hiện nay, việc chú trọng hơn nữa đến công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử triết học luôn có một ý nghĩa rất quan trọng đối với sự đổimới tư duy lý luận nóichung và sự phát triển các khoa học triết học nói riêng Ở nước ta, trong suốt một thờigian dài,

do nhiều nguyên nhân khác nhau, công việc này dường như chưa được quan tâm đúng mức Có thể nói, chúng ta chủ yếu mới chỉ biết đến triết học mácxít, mớichỉ nghiên cứu được phần nào lịch sử tư tưởng dân tộc và còn ít nghiên cứu về triết học ngoài mácxít, ít quan tâm tới lịch sử triết học, đặc biệt là triết học thời cổ đại- cội nguồn của triết học hiện đại, như Ph.Ăngghen đã viết “Từ các hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học

Hy Lạp, đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loạithế giới quan sau này”[24, tr 491](*) Tình hình đó hiện nay đã được cải thiện phần nào, nhưng so với nhu cầu phát triển của tư duy lý luận thì điều này vẫn chưa đáng là bao

Ph.Ăngghen đã từng nói “Một dân tộc đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”, nhưng tư duy lý luận ấy

“cần phải được phát triển hoàn thiện, và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước”[24, tr 487-489], vì “triết học là sự tổng kết tư duy” (Hêghen) Mặt khác, vì lịch sử phát triển của tư duy được tổng kết trong lịch sử triết học, nên chính lịch sử triết học là cơ sở để hình thành phép biện chứng

Phép biện chứng là một khoa học triết học và nếu xét trên nhiều phương diện, nó là hiện tượng có ý nghĩa thế giớiquan rộng lớn như bản thân triết học Lịch sử phép biện chứng hình thành, phát triển từ khi triết

(*)

Từ đây: - Số đầu à số hứ ự ài iệu ham k ảo.

- Số s u à số ran của ài iệu ham k ảo.

Trang 3

học ra đời, mà đỉnh cao là phép biện chứng mácxít Phép biện chứng

mácxít dựa trên truyền thống tư tưởng biện chứng của nhiều thế kỷ, vạch

ra những đặc trưng chung nhất của biện chứng khách quan, nghiên cứu những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy Nó là chìa khóa để con người nhận thức và chinh phục thế giới Nắm vững những nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật không những là một nhân tố cơ bản để hình thành thế giới quan khoa học, mà còn là điều kiện tên quyết cho sự sáng tạo của các chính đảng cách mạng

Lịch sử tư tưởng và thực tễn cách mạng cho thấy, khi nào chúng ta nắm vững lý luận phép biện chứng, biết vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của nó một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, biết lấy

“cái bất biến” ứng vào “cái vạn biến” - như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói - thì vaitrò và hiệu lực cảitạo tự nhiên, biến đổixã hộicàng được tăng cường Ngược lại, cách nghĩ, cách làm chủ quan duy ý chí, siêu hình sẽ dẫn đến sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, gây tổn thất cho cách mạng và quá trình phát triển xã hộinóichung Thắng lợi của cách mạng Việt nam trong

giai đoạn đấu tranh bảo vệ Tổ quốc là một minh chứng cho điều đó Hiện nay, nước ta đang trong giai đoạn tếp tục thực hiện công cuộc đổi mới,

tến hành công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, việc nắm vững bản chất phép biện chứng duy vật càng là một nhu cầu bức thiết để đổi mới tư duy Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh, quan điểm, đường lối của Đảng là biện chứng chủ quan phản ánh

biện chứng khách quan của thực tễn cách mạng Việt nam Nó đang là định hướng tư tưởng và là công cụ tư duy sắc bén để đưa cách mạng nước ta

tến lên giành thắng lợi trên con đường công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên, để nắm vững phép biện chứng mácxít, không thể không nghiên cứu sự hình thành và phát triển phép biện chứng trong lịch sử, đặc

Trang 4

biệt là phép biện chứng Hy Lạp cổ đại - một trong những thờikỳ dài nhất, chói lọi nhất trong sự phát triển tư tưởng biện chứng của nhân loại Việc nghiên cứu phép biện chứng Hy Lạp cổ đại còn cho phép tái hiện quá trình xuất hiện và “vượt bỏ” hợp quy luật của phép biện chứng duy vật mácxít như là một giai đoạn cao về chất của các hình thái của phép biện chứng

Từ những điều trình bày trên, có thể nói, việc nghiên cứu triết học Hy Lạp

cổ đại nóichung, những tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng là một công việc hết sức quan trọng và cần thiết, vừa mang ý nghĩa lý luận, vừa mang ý nghĩa thực tễn Chính từ những suy nghĩ như vậy, chúng tôi chọn vấn đề “Tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp

2 Tình hình nghiên cứu đề tài.

Triết học Hy Lạp cổ đại nói chung và phép biện chứng Hy Lạp cổ đại nói riêng luôn nhận nhận được sự quan tâm từ phía các nhà triết học, đặc

biệt là các nhà triết học mácxít Có thể nói, tất cả các nhà triết học trước khi xây dựng học thuyết của mình, họ đều phải nghiên cứu lịch sử triết học trước đó Ngay từ thờicổ đại, Platôn, Arixtôt đều là những nhà lịch sử triết học Đặc biệt, trong thờikỳ cổ đại, phảikể đến Điôgien Laécxơ - nhà triết học Hy Lạp cổ đại sống vào nửa đầu thế kỷ thứ I I trước công nguyên, ngườiduy nhất đã để lại cho chúng ta một tác phẩm đồ sộ gồm 10 tập có

giá trịnhư một công trình về lịch sử triết học, trong đó trình bày tểu sử và học thuyết của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, từ các nhà duy vật đầu tên thuộc trường phái Miê đến Xếchtút Empiriquýt Gần đây, trong nhiều bộ

lịch sử triết học phương Tây đồ sộ, bao giờ cũng có phần dành riêng cho triết học Hy Lạp cổ đại Tuy nhiên, đối với họ, vấn đề phép biện chứng không phảilà vấn đề được quan tâm đặc biệt Có thể kể ra đây một số tác phẩm có trong thư viện của Viện triết học, chẳng hạn như:Sourc s of the

Trang 5

Image books, 1962; A history of Western Phi osophy. Vo1 Beginnings to

plotnus, Ralph M.McInerny - Chicago: Henry regnery company, 1963;

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin là những người rất quan tâm tới triết học Hy Lạp cổ đạinói chung và phép biện chứng Hy Lạp cổ đại nói riêng Quan điểm của các ông về lịch sử triết học có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng cho việc nghiên cứu phép biện chứng Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là quan điểm sau đây của V.I.Lênin trong Bút k triết học : “Ủng hộ tính lịch sử nghiêmkhắc trong lịch sử triết học để khỏi gán cho những người thời cổ một sự “phát triển” nào đó của các ý niệm của

họ, dễ hiểu đối với chúng ta, nhưng trên thực tế chưa thể có ở họ”[18, tr 262]

Ở Liên Xô, từ những năm20 của thế kỷ XX, vấn đề phép biện chứng

Hy Lạp cổ đại đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà triết học Xôviết M.A.Đưnnhíc (Phép biện chứng của Hêracl t Ephedơ), B.X.Chanưsép (Phái ngụy biện) và V.K.Xêrêgiơnicốp (Khảo luận về lịch sử triết học)

Bút k triết học của V.I.Lênin lần đầu tên đã được M.A.Đưnnic sử dụng như một hệ thống phương pháp luận để phân tích lịch sử triết học và lịch

sử phép biện chứng trong Khảo luận về lịch sử triết học ở Hy Lạp thời cổ điển.

Sau đó các vấn đề của phép biện chứng cổ đại đã được các nhà triết học Nga nghiên cứu trong rất nhiều ấn phẩm đa dạng,trong số đó có ba tác phẩm mang tính tổng kết của tập thể tác giả: Lịch sử triết học (t.1,

M 1940), Lịch sử triết học (t.1, M 1957) và Từ điển bách khoa triết học

(t.I V, M 1960 -1970), cũng như tác phẩm chuyên về triết học cổ đại của các nhà lịch sử triết học lớn của Nga: Lịch sử triết học cổ đại của V.Ph.Asmuxơ (M 1965), Lịch sử lôgic học của A.O.Ma ôvenxki (M 1967), Lịch sử mỹ học cổ đại (t.I, M 1963; t.I , M 1969) của A.Ph.Lôxép

Trang 6

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại không nhiều, có thể kể ra đây một số công trình têu biểu, như Triết học Hy Lạp cổ đại của Thái Ninh (Nhà xuất bản sách giáo khoa Mác - Lênin, 1987); Triết học cổ đại Hy Lạp - La mã của Phó giáo sư Hà thúc

Minh (Tài lệu lưu hành nội bộ của Viện khoa học xã hội Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh; 1993); Triết học Hy Lạp cổ đại của Tiến sĩ Đinh Ngọc Thạch (Nhà xuất bản Chính trịQuốc gia; 1999)

Đó là những công trình chuyên về lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại Còn trong các công trình sau, triết học Hy Lạp cổ đại cũng được bàn tới như một bộ phận cấu thành của nó: Lịch sử triết học phương Tây của Đặng Thai Mai (Nhà xuất bản sách giáo viên; 1950); Bộ Lịch sử triết học do Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hữu Vui làm chủ biên Cuốn sách đã được tái bản nhiều lần và lần gần đây nhất là vào năm 1998; Lịch sử triết học của Phó

giáo sư Bùi Thanh Quất (Nhà xuất bản giáo dục, 2000); Lịch sử triết học

2000); Triết học Tây Âu trước Mác của Tiến sĩ Lê Thanh Sinh (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2001); Lịch sử triết học - t.1: Triết học cổ đại do tến sĩ Nguyễn Thế Nghĩa và Tiến sĩ Doãn Chính làm chủ biên (Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2002) Tuy nhiên, còn phải kể đến những tác phẩm dịch, đặc biệt là từ tếng Nga, như Lịch sử triết học phương Tây do Đặng Thai Maidịch, xuất bản năm 1956; Lịch sử triết học: triết học của xã

này, khi trình bày học thuyết của các nhà triết học têu biểu trong lịch sử triết học cổ đại, tư tưởng biện chứng của họ cũng được đề cập tới Đặc biệt

là cuốn Lô gích học biện chứng của E.V.Ilencôp do Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn dịch (Nxb Văn hóa thông tn, 2003) Trong cuốn sách này, Ilencôp đã đưa ra những suy ngẫm sâu sắc về con đường giảiquyết nhiệm vụ tạo lập Lôgic học vớichữ L viết hoa mà V.I.Lênin đã nói Đó là việc phải làm thế nào, dựa trên những nguyên tắc nào và cần tính đến những mối lên hệ

Trang 7

lôgic và lịch sử nào để xây dựng, phát triển học thuyết biện chứng duy vật như là khoa học triết học chỉnh thể Điều đó cũng có ý nghĩa định hướng đối vớichúng tôi khi nghiên cứu đề tài này

Ngoàira, còn những bài viết đăng trên Tạp chí Triết học của Phó giáo

sư, Tiến sĩ Đặng Hữu Toàn, chẳng hạn như: Học thuyết về “dòng chảy”

1năm 2002); Bức tranh nguyên tử về thế giới trong triết học Đêmôcrít (số

8 năm 2002); Khái niệm Logos trong triết học Hêracl t (số 4 năm 2004) Cũng đã có một số công trình chuyên bàn về một vấn đề nào đó của một tác gia nào đó trong triết học Hy Lạp cổ đại, như: Arixtôt với học thuyết

Đương nhiên, triết học Hy Lạp cổ đại nói chung, phép biện chứng Hy Lạp cổ đạinói riêng còn được trình bày trong những tác phẩm bàn về các nhà tư tưởng lớn thờicổ đại vớicách tếp cận khác như: Câu chuyện triết học của Wi Durant do Trí Thảo và Bửu Đính dịch (Nxb Đà nẵng, 2000);

Minh do Phong Đảo dịch (Nhà xuất bản Văn hóa - thông tn, Hà nội, 2003); Triết học Đông - Tây (Viện Thông tn khoa học xã hội, 1996) Như vậy, có thể nói, ở Việt Nam ta đã có một số công trình nghiên cứu về triết học Hy Lạp cổ đại, song trong số các công trình đó, chưa có

một công trình nào chuyên sâu về vấn đề tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại, trừ tập 1 Phép biện chứng cổ đại nằm trong bộ bốn tập

Viện Hàn lâm khoa học Liên xô cũ xuất bản Tập sách này đã được Tiến sĩ

Đỗ Minh Hợp dịch sang tếng Việt, Phó giáo sư Tiến sĩ Đặng hữu Toàn

hiệu đính Đây là bộ sách có tầm quan trọng bậc nhất của bộ môn lịch sử triết học mà lần đầu tên đã được dịch trọn bộ ra tếng Việt Nó cung cấp nhiều thông tn hữu ích cho việc nghiên cứu lịch sử phép biện chứng nói

Trang 8

chung, lịch sử phép biện chứng Hy Lạp cổ đạinói riêng Tuy nhiên, ở đó cách tếp cận của các nhà triết học Nga là theo từng trường phái, từng triết

gia Khác vớicách tếp cận đó, chúng tôimuốn đưa ra một cách nhìn mới, cách nhìn theo tến trình phát triển những tư tưởng biện chứng xuyên suốt triết học Hy Lạp cổ đại

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.

Mục đích của luận văn này là tái hiện một cách có hệ thống một số tư tưởng biện chứng cơ bản trong triết học Hy Lạp cổ đạiđể trên cơ sở đó, chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế của những tư tưởng biện chứng sơ khai này

Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ mà luận văn này phải giải quyết là:

- Phân tích những tền đề cho sự ra đờitriết học Hy Lạp cổ đại nói chung, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại nói riêng

- Phân tích một số tư tưởng biện chứng cơ bản trong triết học

Hy Lạp cổ đại

- Đưa ra một số đánh giá về những tư tưởng này

4 Giới hạn nghiên cứu của luận văn.

Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ của luận văn, chúng tôichỉ tập trung vào các vấn đề về phép biện chứng được đặt ra ở giaiđoạn cổ điển, hay còn gọi là giaiđoạn Hy Lạp hóa - La mã trong lịch sử Hy Lạp cổ đại Bởivì, chính giaiđoạn này, bắt đầu từ Talét và kết thúc ở Arixtốt (khoảng

từ đầu thế kỷ thứ VI đến cuốithế kỷ IV tr.CN), triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra các tư tưởng biện chứng sâu sắc nhất trong suốt toàn bộ lịch sử triết học cổ đại Mặc dù, tư tưởng biện chứng vẫn được tếp nối trong nhiều thế

kỷ cho tới tận thế kỷ V-VI

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.

Trang 9

Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng lý luận là quan điểm của các nhà sáng lập triết học Mác - Lênin về lịch sử triết học nóichung, triết học Hy Lạp cổ đạinói riêng, đồng thờikế thừa, tham khảo có chọn lọc các công trình của những nhà khoa học có lên quan đến đề tài

pháp nghiên cứu của lịch sử triết học, cụ thể là: phương pháp lôgic kết hợp với phương pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh

6 Cái mới của luận văn.

Đây là luận văn đầu tên ở Việt nam tập trung phân tích và luận giải

một số tư tưởng cơ bản trong phép biện chứng Hy Lạp cổ đại Trên cơ sở

đó, sơ bộ đánh giá những mặt tích cực cũng như những hạn chế trong các

tư tưởng biện chứng này

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.

học Hy Lạp cổ đại nói chung, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại nói riêng

Về mặt thực t ễn, luận văn có thể được dùng làmtàilệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy triết học nóichung, lịch sử triết học nói riêng

8 Kết cấu của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học đã công bố của tác giả lên quan đến đề tàiluận văn và danh mục tài lệu tham khảo, nội dung cơ bản của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tết

Trang 10

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KH OA H ỌC CỦA TÁC GIẢ

ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

1 Đinh Thanh Xuân (2003), Biện chứng khái niệm trong triết học Platôn- Tạp chí Triết học (10), tr 56-62

Trang 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM K HẢO TIẾNG VIỆT

1 Arixtốt (1977), Vật lý học, (Trần Thái Đỉnh dịch)

2 Alan C.Bowen (2004), Khoa học và triết học Hy Lạp cổ đại, Bản

dịch của trung tâm dịch thuật (Lê Sơn hiệu đính), Nxb Văn hoá thông

tn, Hà Nội

3 C.Brinton, J.B.Christopher ( 1971) Văn minh Tây Phương. Bản

dịch của Nguyễn Văn Lượng, t.1, Sài Gòn

4 A.Dantê (1978), Thần khúc, Nxb Văn học, Hà Nội

5 W.Durant (1974), Nguồn gốc văn minh, Bản dịch của Nguyễn Hiến

Lê, Sài gòn

6 Wi Durant (2000), Câu chuyện triết học (Trí Thảo và Bửu Đính

dịch), Nxb Đà Nẵng

7 Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hóa tâm l nh, Nxb Hà Nội

8 Nguyễn Văn Dũng (1996), Arixtốt với học thuyết phạm trù, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

9 Trần Đỗ Dũng (1967), Luận lý và tư tưởng trong huyền thoại, Sài Gòn

10 Phạm Cao Dương (1972), Nhập môn lịch sử các nền văn minh thế giới, t.1, Sài Gòn

11 Mặc Đỗ (1974) Thân nhân và thần thoại Tây Phương, Sài Gòn

12 J Ga rder (1998) Thế giới của Sophie, Bản dịch của Huỳnh Phan Anh, Nxb Văn hóa thông tn

13 Homère (1997), Il ade, (bản dịch của Hoàng Hữu Đản), Nxb Văn học, Hà Nội

14 E.V.Ilencov, Lôgic học biện chứng, Bản dịch của Nguyễn Anh Tuấn, Nxb Văn hóa thông tn

15 Nguyễn Văn Khỏa (1998), Thần thoại Hy Lạp, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

Ngày đăng: 15/11/2016, 11:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w